BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 LƯU VIẾT THỦY NGHIÊN CỨU TẠO RỄ TƠ CỦA CÂY HOÀNG LIÊN GAI Berberis juliane CHO MỤC TIÊU NUÔI CẤY SINH KHỐI DƯỢC LIỆU LUẬN VĂN
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LƯU VIẾT THỦY
NGHIÊN CỨU TẠO RỄ TƠ
CỦA CÂY HOÀNG LIÊN GAI (Berberis juliane)
CHO MỤC TIÊU NUÔI CẤY SINH KHỐI DƯỢC LIỆU
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hà Nội, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LƯU VIẾT THỦY
NGHIÊN CỨU TẠO RỄ TƠ
CỦA CÂY HOÀNG LIÊN GAI (Berberis juliane)
CHO MỤC TIÊU NUÔI CẤY SINH KHỐI DƯỢC LIỆU
Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số : 60 42 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Chu Hoàng Hà
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến những người đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành luận văn này:
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người Thầy của tôi:
PGS TS Chu Hoàng Hà – Trưởng phòng Công nghệ Tế bào thực vật, Viện
trưởng Viện Công nghệ sinh học, người Thầy đã định hướng nghiên cứu, đồng thời cũng chỉ bảo tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin được cảm ơn Cô giáo TS Phạm Bích Ngọc, Phó trưởng phòng
Công nghệ Tế bào thực vật, Viện Công nghệ sinh học đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho chúng tôi được học tập tại trường Tôi xin chân
thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Văn Đính – CN Khoa Sinh – KTNN,
các thầy, cô giáo đang công tác tại Khoa Sinh – KTNN đã tận tình dạy dỗ chúng tôi trong thời gian qua
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới sự giúp đỡ của CN Nguyễn Khắc
Hưng, Th.s Hoàng Đăng Hiếu cùng tập thể cán bộ phòng Công nghệ Tế
bào thực vật và phòng Công nghệ ADN ứng dụng, Viện Công nghệ sinh học đã dành cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Cảm ơn tất cả những người bạn cùng thực tập với tôi và các bạn lớp
Sinh học thực nghiệm K16, đặc biệt là bạn Phạm Văn Hoàng đã giúp đỡ rất
nhiều trong thời gian thực hiện đề tài
Trang 4Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm ơn chân thành tới những người thân trong gia đình và bạn bè – những người luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Học viên
Lưu Viết Thủy
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu tạo rễ tơ của cây Hoàng liên gai
(Berberis juliane) cho mục tiêu nuôi cấy sinh khối dược liệu” là công trình
nghiên cứu của tôi Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng
mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông
tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Lưu Viết Thủy
Trang 6MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
II NỘI DUNG 6
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1 Tổng quan về cây Hoàng liên gai 6
1.1.1 Phân bố địa lý 6
1.1.2 Phân loại 6
1.1.3 Hình thái và đặc điểm sinh thái 7
1.1.4 Tác dụng dược lý của cây Hoàng liên gai 8
1.1.5 Tính cấp thiết nghiên cứu, bảo tồn và sản xuất bền vững cây Hoàng liên gai 12
1.2 Tổng quan về nuôi cấy sinh khối rễ tơ 13
1.2.1 Giới thiệu về nuôi cấy sinh khối tế bào 13
1.2.2 Giới thiệu về Agrobacterium rhizogenes 15
1.2.3 Cơ chế chuyển các gen vùng T – DNA vào tế bào thực vật 16
1.2.4 Nuôi cấy sinh khối rễ tơ 19
1.3 Các nghiên cứu ứng dụng chỉ thị DNA vào việc xác định loài 23
Chương II: VẬT LIỆU – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Vật liệu 26
2.2 Dụng cụ - hóa chất 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Thu thập và nhận dạng loài bằng chỉ thị phân tử 26
Trang 72.3.2 Phương pháp khử trùng hạt và đưa mẫu vào nuôi cấy in vitro 28
2.3.3 Phương pháp chuyển gen thông qua A.rhizogenes 29
3.4 Kiểm tra hiệu quả chuyển gen thông qua biểu hiện tạm thời gen gus 31
Chương III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Thu thập và nhận dạng loài Hoàng liên gai 33
3.1.1 Thu thập mẫu 33
3.1.2 Nhận dạng loài bằng so sánh hình thái 35
3.1.3 Nhận dạng loài bằng chỉ thị DNA 37
3.2 Kết quả khử trùng hạt và đưa mẫu Hoàng liên gai vào nuôi cấy in vitro là nguyên liệu cho nuôi cấy mô tế bào và chuyển gen tạo rễ tơ 45
3.3 Tối ưu hóa quy trình chuyển gen và tiến hành chuyển gen tạo rễ tơ thông qua Agrobacterium rhizogenes 47
3.3.1 Ảnh hưởng của nguồn mẫu đến hiệu quả chuyển gen 47
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ vi khuẩn Agrobacterium tới hiệu quả chuyển gen 50
3.3.3.Ảnh hưởng của thời gian lây nhiễm đến hiệu quả chuyển gen 52
3.4 Ảnh hưởng của thời gian đồng nuôi cấy đến hiệu quả chuyển gen 54
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 69
Phụ lục 1: THÀNH PHẦN MÔI TRƯỜNG MS VÀ WPM 69
Phụ lục 2: KẾT QUẢ SO SÁNH TRÌNH TỰ DNA THÔNG QUA CÁC MỒI CỦA SẢN PHẨM PCR 71
Trang 8NHỮNG KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
A.rhizogenes Agobacterium rhizogenes
A.tumefaciens Agobacterium tumefaciens
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH VÀ BẢNG BIỂU
1 Danh mục các hình ảnh
Hình 1.1: Cây Hoàng liên gai 6
Hình 1.2: Một số bênh ở thực vật gây ra bởi Agrobacterium sp 15
Hình 1.3: Cấu trúc Ri - plasmid 16
Hình 1.4: Cơ chế chuyển gen của Agrobacterium sp 18
Hình 1.5 Các hệ rễ tơ được nuôi cấy 19
Hình 3.1: Hai loài Hoàng liên thu thập tại Vườn Quốc gia Hoàng liên 35
Hình 3.2 Kết quả khuếch đại và tách dòng đoạn gen ITS từ mẫu Hoàng liên gai 38
Hình 3.3 Cây phân loại xây dựng theo phương pháp NJ của chỉ thị trnL 41
Hình 3.4 Cây phân loại xây dựng theo phương pháp NJ của chỉ thị ITS 44
Hình 3.5: Quá trình vào mẫu hạt Hoàng liên gai 47
Hình 3.6: Ảnh hưởng của nguồn mẫu đến hiệu quả chuyển gen 49
Hình 3.7: Ảnh hưởng của mật độ vi khuẩn đến khả năng biểu hiện gen gus 51
Hình 3.8: Ảnh hưởng của thời gian lây nhiễm đến hiệu quả chyển gen 53
Hình 3.9: Ảnh hưởng thời gian đồng nuôi cấy đến hiệu quả chuyển gen 56
Hình 3.10: Kết quả chuyển gen tạo rễ tơ ở cây Hoàng liên gai 58
Trang 102 Danh mục bảng biểu
Bảng 1.1: Một số loài thực vật được nuôi cấy rễ tơ để thu hoạt chất sinh học 21 Bảng 2.1: Thông tin các mồi sử dụng trong nghiên cứu 27 Bảng 3.1 Thông tin và kí hiệu mẫu Hoàng liên gai thu thập tại Sa Pa 33 Bảng 3.2 Thông tin các trình tự của 2 loài Hoàng liên gai nghiên cứu đăng ký trên Genbank 34 Bảng 3.3: Đặc điểm hình thái hai loài Hoàng liên tại Sa pa - Lào Cai 35 Bảng 3.4: Đặc điểm phân biệt hai loài Hoàng liên 37
Bảng 3.5 Bảng hệ số sai khác xây dựng trên trình tự nucleotit của gen trnL 39
Bảng 3.6: Kết quả khử trùng hạt Hoàng liên gai 46 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của nguồn mẫu đến hiệu quả chuyển gen 48 Bảng 3.8: Kết quả ảnh hưởng của mật độ vi khuẩn đến hiệu quả chuyển gen 50 Bảng 3.9: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian lây nhiễm đến hiệu quả chuyển gen 53 Bảng 3.10: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian đồng nuôi cấy đến hiệu quả chuyển gen 55 Bảng 3.11: Kết quả chuyển gen tạo rễ tơ ở cây Hoàng liên gai 57
Trang 11I MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hoàng liên gai (hay Hoàng mù – Hoàng mộc) Berberis juliane là cây
thảo dược quý hiếm phân bố tại vùng Tây Bắc Việt Nam Hoàng Liên gai mọc nhiều tại Sa Pa - Lào Cai và một số tỉnh thuộc vùng Tây Nam Trung Quốc Hoàng liên gai là vị thuốc được sử dụng từ lâu trong các bài thuốc Đông y chữa các bệnh tiêu hóa như: viêm ruột, tiêu chảy, lỵ, trĩ, viêm túi mật, sốt cao, viêm gan, hoàng đản, viêm ngứa ngoài da, mụn nhọt Thân rễ
Hoàng liên gai chứa nhiều hợp chất alkaloid (5 - 8%), trong đó chủ yếu là
berberin Ngoài ra trong thân rễ Hoàng liên gai còn có worenin, coptisin, palmatin… Các alkaloid trong Hoàng liên gai chia thành 2 nhóm chính: các alkaloid có nhân phenol và các alkaloid không có nhân phenol Các thành
phần alkaloid của Hoàng liên gai đều chứa trong hầu hết các bộ phận của cây
Tuy nhiên ở mỗi bộ phận lại có hàm lượng thay đổi, tùy theo mùa phát triển
của cây Vào tháng 9 - 10, hàm lượng berberin ở thân rễ và rễ nhánh cao, trong khi đó, vào khoảng tháng 10, hàm lượng alkaloid ở lá già trước khi rụng cũng thường cao Trong số các hợp chất alkaloid nói trên, berberin được y học quan tâm đến nhiều nhất, sau đó là palmatin
Hiện nay, số lượng cá thể Hoàng liên gai ngoài tự nhiên suy giảm mạnh
do bị khai thác quá mức Hoàng liên gai được đưa vào danh sách các loài thực vật đang nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "đang nguy cấp" (Bậc E) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Trước tình hình trên, bên cạnh việc nghiên cứu các giá trị y dược của cây Hoàng liên gai
ở Việt Nam, cần đưa ra các phương pháp bảo tồn cũng như khai thác hiệu quả
Trang 12cây Hoàng liên gai Bên cạnh việc trồng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) tại vườn
quốc gia Hoàng liên, việc ứng dựng các kỹ thuật công nghệ sinh học vào quá trình bảo tồn và phát triển bền vững cây Hoàng liên gai theo hướng thu sinh khối tế bào thực vật là một trong những yêu cầu cấp bách và cần thiết
Cùng với xu hướng chung trên thế giới, hướng nghiên cứu công nghệ sinh khối tế bào thực vật để sản xuất những sản phẩm thứ cấp đang bắt đầu được quan tâm phát triển trong nước Hiện có nhiều phương pháp nuôi cấy sinh khối tế bào thực vật như: nuôi cấy mô sẹo, nuôi cấy huyền phù, nuôi cấy
rễ bất định… Các phương pháp nuôi cấy tế bào cho phép thu lượng lớn tế bào trong thời gian nuôi cấy ngắn hơn, chất lượng đồng đều Bên cạnh đó, sản
lượng ổn định do được nuôi cấy trong điều kiện in vitro, các yếu tố tác động
đến quá trình nuôi cấy đều được kiểm soát, không bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố tự nhiên cũng như dịch bệnh
Hiện nay, một số công trình nuôi cấy sinh khối tế bào được áp dụng
trên đối tượng Hoàng liên gai nhằm thu sinh khối tách chiết berberin ứng
dụng trong y dược Đinh Thị Thu Hiền và công sự (2003) đã đưa ra qui trình
tái sinh cây Hoàng liên gai in vitro từ hạt Cây Hoàng liên gai in vitro được sử
dụng làm nguyên liệu cho quá trình tạo và nuôi cấy sinh khối mô sẹo Hoàng
liên gai tạo hợp chất berberin với hàm lượng cao [1] Lại Đức Lưu và công sự
(2013) ứng dụng kỹ thuật khí canh trong nghiên cứu nhân giống và thu sinh khối rễ cây Hoàng liên gai Nhóm tác giả đã thực hiện thu thập, đánh giá hàm lượng berberin và tìm ra chế độ nuôi cấy cũng như môi trường dinh dưỡng phù hợp cho sinh khối rễ Hoàng liên gai phát triển[4]
Tuy nhiên, quá trình nuôi cấy tạo sinh khối tế bào thực vật nhằm làm giảm hoặc mất tính biệt hóa ở các mô tế bào nuôi cấy cần bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng vào trong môi trường nuôi cấy Vấn đề này là một trong
Trang 13những trở ngại lớn do tồn dư của các chất điều hòa sinh trưởng trong sinh khối tế bào nuôi cấy ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm và sức khỏe người sử dụng Tuy nhiên, kỹ thuật nuôi cấy sinh khối rễ tơ ra đời giúp giải quyết các vấn đề khó khăn của hướng nuôi cấy sinh khối tế bào thực vật hiện tại
Rễ tơ là một bệnh ở thực vật được gây ra quá trình tương tác giữa vi
khuẩn Agrobacterium rhizogenes và tế bào vật chủ Rễ tơ có có khả năng sinh
trưởng nhanh, phát triển tốt trên môi trường không bổ sung chất điều hòa sinh trưởng và có thể nuôi cấy tạo sinh khối liên tục, điều này có ý nghĩa trong dây chuyền sản xuất các hợp chất thứ cấp hay các dược phẩm sinh học tái tổ hợp
Rễ tơ có thể sản xuất một lượng lớn các hợp chất thứ cấp và là cơ quan biệt hóa nên rễ tơ có sự di tuyền ổn định hơn nuôi cấy tế bào huyền phù hay nuôi cấy sinh khối mô sẹo
Xuất phát từ các ưu điểm trên và do hợp chất dược lý quý của cây
Hoàng liên gai chủ yếu thu được từ rễ, tôi đã thực hiện đề tài “ Nghiên cứu
tạo rễ tơ của cây Hoàng liên gai (Berberis juliane) cho mục tiêu nuôi cấy sinh khối dược liệu” Công trình này được thực hiện tại Phòng Công nghệ Tế
bào Thực vật, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2 Đối tượng nghiên cứu
Cây Hoàng liên gai (Berberis Juliane) thuộc chi Hoàng liên Berberis,
một loài thảo dược quý hiếm được sử dụng rộng rãi trong các bài thuốc y học
cổ truyền Thành phần chủ yếu của Hoàng liên gai là berberin, một hoạt chất
được ứng dụng trong điều trị các bệnh về hệ tiêu hóa
Mẫu vật nghiên cứu bao gồm quả, lá của cây Hoàng liên gai phân bố trong tự nhiên được thu thập tại tại vườn quốc gia Hoàng liên, địa phận huyện
Sa Pa tỉnh Lào Cai
Trang 143 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực nghiệm của việc tạo sinh khối cây Hoàng liên gai làm nguyên liệu dược bằng công nghệ nuôi cấy rễ tơ
4 Nội dung nghiên cứu
4.1 Thu thập và nhận dạng mẫu cây Hoàng liên gai bằng chỉ thị phân tử
Hoàng Liên tại địa phận tỉnh Sa Pa, tỉnh Lào Cai
- Nhận dạng các loài Hoàng liên gai thu thập được thông qua đặc điểm hình thái
liên gai
- Bước đầu đưa ra các chỉ thị đặc hiệu cho việc nhận dạng cây Hoàng liên gai trong tự nhiên bằng phương pháp chỉ thị phân tử sử dụng kỹ thuật
DNA Barcoding
4.2 Đưa mẫu cây Hoàng liên gai vào nuôi cấy in vitro
Nghiên cứu phương pháp khử trùng mẫu hạt Hoàng liên gai và kỹ thuật
nuôi cấy Hoàng liên gai in vitro tạo nguyên liệu cho các nghiên cứu chuyển
gen tạo rễ tơ
4.3 Nghiên cứu tối ưu quy trình chuyển gen sử dụng Agrobacterium rhizogenes, bước đầu tạo một số dòng rễ tơ Hoàng liên gai
tạo rễ tơ ở cây Hoàng liên gai qua phương pháp biểu hiện tạm thời với gen chỉ
thị GusA
- Bước đầu tạo một số dòng rễ tơ Hoàng liên gai
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu ngoài thực địa: Đánh giá đặc điểm hình thái, phân bố,
điều kiện sinh sống của cây Hoàng liên gai tại địa phận Sa Pa – Lào Cai
- Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Thực hiện các thí nghiệm trọng điều kiện in vitro tại Phòng Công nghệ tế bào thực vật, Viện Công nghệ
Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
6 Ý nghĩa khoa học
Việc xác định được chỉ thị phân tử đặc hiệu cho loài Hoàng liên gai sẽ đưa ra cơ sở khoa học vững chắc cho việc nhận dạng loài Hoàng liên gai
trong tự nhiên cũng như các loài khác nhau trong chi Berberis
Hoàn thiện quy trình chuyển gen tạo rễ tơ ở cây Hoàng liên gai qua vi
khuẩn Agrobacterium rhizogenese cung cấp cơ sở khoa học cho quá trình
chuyển gen tạo rễ tơ trên các đối tượng loài khác thuộc chi Hoàng liên
Xây dựng quy trình chuyển gen tạo rễ tơ ở cây Hoàng liên gai tạo tiền
đề cho nuôi cấy thu sinh khối rễ tơ trên qui mô bioreactor, nhằm thu lượng
lớn sinh khối Hoàng liên gai phục vụ cho các lĩnh vực y dược
Trang 16II NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây Hoàng liên gai
1.1.1 Phân bố địa lý
Hoàng liên gai (Berberis juliane) là cây thảo dược phân bố nhiều tại
vùng Tây Bắc Việt Nam và Tây Nam Trung Quốc (tây Vân Nam, nam Tây Tạng), nên Trung Quốc còn gọi Hoàng liên gai là Vân Nam Hoàng liên) Hoàng liên gai nguyên gốc mọc ở tỉnh Lào Cai (huyện Sa Pa), trên dãy núi cao Hoàng Liên Sơn, vùng núi cao từ 1000 – 2500m Hoàng liên gai ưa đất nhiều màu trên núi cao mưa nhiều ẩm ướt, lớp đất mùn ở trên càng dày càng tốt, cây ưa mát lạnh, sợ nóng, khô, nơi trồng thích hợp là khe núi, sườn dốc,
đủ ánh sáng, thoát nước
Hiện nay, Hoàng liên gai được trồng giữ giống tại Trạm dược liệu Sa
Pa (Lào Cai) nhằm bảo vệ nguồn gen, nghiên cứu các hình thức nhân và phát triển giống cây trồng
1.1.2 Phân loại
Giới : Thực vật - Plantate
Ngành: Ngọc Lan - Magnoliophyta
Lớp: Ngọc Lan - Magnoliopsida
Bộ : Mao lương - Ranunculales
Họ : Hoàng liên gai - Berberidaceae
Chi: Hoàng liên gai Berberis
Loài : Hoàng Liên gai
Trang 171.1.3 Hình thái và đặc điểm sinh thái
- Đặc điểm hình thái: Cây bụi, cao 2 - 3 m; thân và rễ có màu vàng
đậm; phân cành nhiều; có gai chia thành 3 nhánh, mọc dưới các túm lá Lá mọc vòng 3 - 7 cái, cuống lá ngắn; phiến lá cứng, thuôn, nhọn 2 đầu, hơi bóng ở mặt trên, kích thươc lá khoảng 3 - 9 cm x 1,2 - 2,5 cm, mép lá có răng cưa nhỏ, đều và nhọn
Hoa nhiều, gồm 10 - 30 mọc ở giữa các túm lá Hoa nhỏ, có cuống dài 1,3 cm, màu vàng, mẫu 3; tổng bao 3, hình mác rộng Đài hoa, hình trứng ngược xếp thành 2 vòng, những vòng trong lớn hơn vòng ngoài Cánh hoa, nhỏ hơn đài, hình trứng thuôn, đỉnh lõm, gốc có 2 tuyến nhầy Nhị hoa, ngắn hơn cánh hoa; bao phấn hình trứng Bầu hình trụ, hơi phình ở giữa noãn[2] Quả hình trứng thuôn, dài 0,5 cm; đầu nhuỵ tồn tại rõ; khi chín màu tím đen, hơi có phấn trắng Hạt, gần hình trụ, màu nâu nhạt
1 Đặc điểm sinh thái:Mùa hoa tháng 3-4 quả tháng 4-10 (11) Khối
lượng 1.000 hạt: 20,12 gam; tỷ lệ nảy mầm của hạt khi gieo 38,1%; thời gian nảy mầm từ 38-60 ngày Cây con nảy mầm từ hạt trong tự nhiên quan sát được vào tháng 4 và 5 Có khả năng tái sinh sau khi bị chặt phát Cây ưa ẩm, chịu bóng khi còn nhỏ, sau ưa sáng; thích nghi với vùng có khí hậu á nhiệt đới núi cao Thường mọc rải rác ở rừng cây bụi núi đá vôi, ở độ cao 1500 –
1600 m
- Tình trạng: Phân bố hẹp, số lượng cá thể hiện có không nhiều; Điểm
phân bố ở núi Hàm Rồng đã bị tàn phá (còn vài cây); Điểm ở Ô Quí Hồ đang
bị đe doạ (gần nơi khai thác đá) Đã từng bị khai thác thu mua, nguy cơ bị tuyệt chủng cao[2],[7],[8]
Trang 181.1.4 Tác dụng dược lý của cây Hoàng liên gai
Theo Đông y, Hoàng liên gai vị đắng, lạnh; có tác dụng tả hóa giải độc, thanh tâm nhiệt, táo tỳ thấp, trị tiêu hoá không tốt, viêm ruột, hạ lỵ, đau bụng nôn mửa, trị đau mắt đỏ, tổn thương mí mắt; tiết tả ra máu mủ lâu ngày, trừ thuỷ, lợi xương ích mật, mồm miệng bị nhiệt lở loét…
Còn theo y khoa hiện đại, thành phần hoá học có trong Hoàng liên gai
gồm 7 loại alkaloid, chủ yếu là chất berberin, panmatin, coptisin, worenin,
columbamin Berberin là thành phần chủ yếu trong cây Hoàng liên gai Tác
dụng chính của berberin là chống các loại vi khuẩn, ký sinh trùng đường ruột
gây hại cho cơ thể mà không ảnh hưởng tới hoạt động của các vi sinh vật có
lợi của đường tiêu hóa Berberin còn được bào chế thành thuốc nhỏ mắt điều
trị viêm kết mạc, đau mắt đỏ do các yếu tố kích ứng từ môi trường hoặc do
đau mắt hột gây nên Berberin có khả năng ngăn ngừa sự lây lan của nấm, bột nhiễm nấm, chống lại tác hại của vi khuẩn tả, E.Coli Khi dùng kết hợp với kháng sinh thì berberin còn có khả năng hạn chế lại tác dụng không mong
muốn của các loại kháng sinh là diệt hệ vi sinh vật có lợi trong hệ tiêu hóa [2]
Ở một số nước công nghiệp phát triển, Berberin được sản xuất với quy
mô lớn bằng phương pháp công nghệ sinh học nuôi cấy mô Berberin có tác dụng kháng khuẩn với shigella, tụ cầu và liên cầu khuẩn Những năm gần đây, một số nghiên cứu mới nhất ở nước ngoài đã xác định berberin có tác
dụng chống lại nhiều loại vi khuẩn gram dương, gram âm và các vi khuẩn kháng axit Ngoài ra, nó còn có tác dụng chống lại một số nấm men gây bệnh
và một số động vật nguyên sinh
Đặc biệt khi dùng berberin điều trị các nhiễm trùng đường ruột sẽ
không ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của hệ vi khuẩn có ích ở ruột Các nghiên cứu gần đây cũng chứng minh: Khi dùng một số thuốc kháng sinh
Trang 19nếu phối hợp với berberin sẽ hạn chế được tác dụng phụ gây ra bởi các thuốc
kháng sinh đối với hệ vi sinh vật đường ruột Bởi vậy, berberin đang được
chú ý phát triển ở nhiều nước
Thông thường, khi nhắc đến berberin, hầu hết chúng ta đều nghĩ ngay
đến tác dụng hữu hiệu của nó trên đường tiêu hóa Nhưng nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, hoạt chất này còn đóng một vai trò quan trọng trong việc
giảm cholesterol, ngăn ngừa bệnh mạch vành và cải thiện chức năng tim Các nhà khoa học phát hiện hoạt chất berberin có vai trò tích cực trong việc bảo
vệ thành mạch, ngăn ngừa hình thành mảng xơ vữa Do nó tác động lên lớp nội mạc mạch máu (lóp lót trong lòng mạch máu) và lớp tế bào cơ trơn thành mạch nên làm tăng độ đàn hổi và dẻo dai cho thành mạch; ngăn chặn phản ứng viêm, chống lại việc hình thành mảng xơ vữa từ những giai đoạn đầu tiên
Berberin tạo được mối quan tâm với các nhà dược học trong chuyển
hóa lipid thông qua quá trình ức chế tổng hợp Cholesterol và Triglycerid tại gan Thực tế, từ năm 2004, nhiều nước phương Tây đã ứng dụng berberin trong điều trị tăng lipid máu (mỡ trong máu) Các nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của hoạt chất này tương đương với statin - một nhóm thuốc hạ mỡ máu phổ biến hiện nay Đồng thời, việc kết hợp berberin với simvastatin trong điều trị mỡ máu giúp giảm đáng kể nồng độ LDL-c máu, Cholesterol toàn phần cũng như Trigicerid, hơn hẳn so với việc sử dụng Simvastatin đơn
độc
Bên cạnh những tác dụng trên mạch máu, nhiều nghiên cứu đã chứng
minh vai trò của berberin trong việc tăng cường sự dẻo dai của trái tim
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung Quốc đã mở ra hy vọng mới cho những người bệnh mắc chứng phì đại cơ tim và suy tim mạn tính bởi hoạt chất này
có khả năng ức chế phì đại cơ tim, cải thiện các chỉ số về sức co bóp, khả năng giãn nở của cơ tim và điều chỉnh hoạt động của thần kinh giao cảm tại tim
Trang 20Một nghiên cứu khác tại Trung Quốc trên bệnh nhân suy tim sung huyết hoặc thiếu máu cơ tim vô căn cho thấy, việc bổ sung hoạt chất này vào phác đồ điều trị chuẩn có sự cải thiện đáng kể chức năng thất trái, tăng khả năng hoạt động thể lực, biểu hiện khó thở, mệt mỏi cũng cải thiện rõ rệt
Từ những kết quả khả quan bước đầu, hiện berberin vẫn là đích đến
của nhiều nghiên cứu để ứng dụng sản xuất thuốc điều trị bệnh tim mạch
trong tương lai Việc sử dụng berberin đơn độc cho bệnh tim mạch vẫn còn
trong quá trình thử nghiệm và cần có khuyến cáo từ các nhà dược học trên thế giới
Khi nghiên cứu tác dụng dược lý của họ Hoàng liên, các nhà khoa học
đã chứng minh được vai trò của họ Hoàng liên trong việc điều trị một số loại bệnh như:
+ Tác dụng kháng khuẩn: Hoàng liên và 1 trong các hoạt chất của nó là berberin, có phổ kháng khuẩn rộng trong thí nghiệm Có tác dụng ức chế
mạnh đối với Streptococcus pneumoniae, Neisseria meningitidis và
Staphylococcus aureus Thuốc có tác dụng ức chế mạnh đối với khuẩn gây lỵ
nhất là Shigella dysenteriae và S.flexneri Thuốc có hiệu quả hơn thuốc Sulfa nhưng kém hơn Streptomicine hoặc Chloramphenicol Thuốc không có tác dụng đối với Shigella sonnei, Pseudomonas aeruginosa và Salmonella
paratyphi Nước sắc Hoàng liên có hiệu quả đối với 1 số vi khuẩn phát triển
mà kháng với Streptomicine, Chloramphenicol và Oxytetracycline
hydrochloride Nhiều báo cáo khác cho thấy độ hiệu quả khác biệt của Hoàng
liên đối với vi trùng lao, nhưng không có tác dụng giống như thuốc INH Hoạt chất kháng khuẩn của Hoàng liên thường được coi là do berberin Khi sao lên thì lượng berberin kháng khuẩn thấp đi
Trang 21+ Tác dụng kháng virus: Thí nghiệm trên phôi gà chứng minh rằng
Hoàng liên có tác dụng đối với nhiều loại virus cúm khác nhau và virus
Newcastle
+ Tác dụng chống nấm: Trong thí nghiệm, nước sắc Hoàng liên có tác
dụng ức chế nhiều loại nấm Nước sắc Hoàng liên và berberin tương đối có tác dụng mạnh diệt Leptospira
+ Tác dụng chống ho gà: Kết quả nhiều nghiên cứu về tác dụng của
Hoàng liên đối với ho gà có khác nhau Một nghiên cứu cho thấy trong thí
nghiệm tập trung Hoàng liên ức chế sự phát triển của Hemophilus pertussis cao hơn Streptomycine hoặc Chloramphenicol, ít nhất là thuốc có tác dụng
lâm sàng Tuy nhiên, nghiên cứu khác trên heo Hà Lan, cho uống Hoàng liên thì lại không làm giảm tỉ lệ tử vong
+ Tác dụng hạ áp: Chích hoặc uống dịch chiết berberin cho mèo, chó
và thỏ đã được gây mê và chuột không gây mê thấy huyết áp giảm Liều lượng bình thường, hiệu quả không kéo dài, liều lập lại cho kết quả không cao hơn Hiệu quả này xẩy ra dù tác dụng trợ tim ảnh hưởng đến lượng máu tim gây nên bởi liều thuốc này Huyết áp giảm dường như liên hệ với việc tăng dãn mạch, cũng như có sự gia tăng đồng bộ ở lách, thận và tay chân
+ Tác dụng nội tiết: Berberin cũng có tác dụng kháng Adrenaline Thí
dụ: đang khi berberin làm hạ áp thì phản xạ tăng – hạ của Adrenalin giảm rất nhiều nhưng phụ hồi lại nhanh Berberin cũng dung hòa sự rối loạn của
Adrenaline và các hợp chất liên hệ
+ Tác dụng đối với hệ mật: Berberin có tác dụng lợi mật và có thể làm
tăng việc tạo nên mật cũng như làm giảm độ dính của mật Dùng berberin rất
hiệu quả đối với những bệnh nhân viêm mật mạn tính
Trang 22+ Tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương: Berberin dùng liều nhỏ có
tác dụng kích thích vỏ não, trong khi đó, liều lớn lại tăng sự ức chế hoạt động của vỏ não
+ Tác dụng kháng viêm: Lịch sử nghiên cứu chất Granulomas gây ra
bởi dầu cotton trên chuột nhắt cho thấy chất berberin làm gia tăng đáp ứng kháng viêm của thể Chất Ethanol chiết xuất của Hoàng liên có tác dụng kháng viêm khi cho vào tại chỗ, nó làm cho chất Granulomas co lại Hiệu quả này giống như tác dụng của thuốc Butazolidin (http://thuocdongduoc.vn/cay-
lý và sử dụng các phương pháp khoa học để khai thác bền vững nguồn tài nguyên này
Hoàng liên gai được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "đang nguy cấp" (Bậc E) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Bảo vệ những cá thể còn sót lại ở núi Hàm Rồng Trồng được bằng hạt hay cành chiết Khuyến khích người dân trồng làm hàng rào vườn và
nương rẫy Trồng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) ở vườn Trạm nghiên cứu trồng
cây thuốc Sapa (Viện Dược liệu) [2],[7].Trước tình hình trên, cần sớm nghiên
Trang 23cứu áp dụng kỹ thuật nuôi cấy sinh khối tế bào thực vật tạo nguồn nguyên liệu
ổn định, đáp ứng yêu cầu làm thuốc
1.2 Tổng quan về nuôi cấy sinh khối rễ tơ
1.2.1 Giới thiệu về nuôi cấy sinh khối tế bào
Kỹ thuật nuôi cấy tế bào thực vật đóng góp nhiều cho tiềm năng khai thác các hợp chất có giá trị trong y học mà chỉ có thể có ở thực vật Vài năm trở lại đây, những hoạt chất sinh học từ thực vật được sử dụng như một nguồn dược liệu giá trị Những chất này thường được sản xuất với một lượng rất nhỏ trong tế bào thực vật [5] Để đáp ứng nhu cầu về dược phẩm, các nhà khoa
học đã đưa giải pháp nuôi cấy sinh khối (biomass) tế bào thực vật, nhằm thu
hoạt chất dược với trữ lượng lớn
Phương pháp này hoạt động trên cơ sở về tính toàn thể của tế bào Phương diện về di truyền cũng như hóa sinh của tế bào thực vật khi gặp điều kiện tương ứng sẽ biểu hiện các tính trạng như một cá thể hoàn chỉnh Có nhiều nghiên cứu cho thấy sản phẩm trao đổi chất được sản xuất theo phương pháp sinh khối cho chất lượng cũng như số lượng cao hơn ở cá thể cây hoàn chỉnh Các nhóm chất thường được sản xuất theo phương pháp này là các
alkaloid, tinh dầu và hợp chất glycosid Các loại vật liệu được nuôi cấy có thể
là: tế bào đơn, mô sẹo, protoplast hoặc nuôi cấy rễ
Cho đến nay, rất nhiều hoạt chất nguồn gốc thực vật có giá trị kinh tế cao là sản phẩm của nuôi cấy sinh khối tế bào thực vật: Các hoạt chất dùng
trong dược phẩm như caffein thu được từ nuôi cấy tế bào Coffea arabica [26],
betalain từ mô sẹo của cải đường, berberine từ cây Coptis Japonica (loài cây
này phải trồng từ 4 - 6 năm mới thu được hàm lượng berberine đáng kể trong
rễ, trong khi hàm lượng này có thể thu được sau 4 tuần nuôi cấy bằng sinh khối tế bào thực vật)[27]
Trang 24Các hoạt chất dùng trong thực phẩm: các chất tạo màu (anthocyanin,
crocin), các chất tạo mùi (vani, mùi hành và mùi tỏi) Một số chất khác như: shikonin (chất có khả năng diệt khuẩn), paclitaxel (sản phẩm của nuôi cấy
sinh khối tế bào thông đỏ), nuôi cấy sinh khối tế bào bằng hệ thống bioreactor
10.000 lít trong sản xuất reserpine (alkaloid chiết xuất từ cây Ba gác có tác
dụng chữa bệnh cao huyết áp và rối loạn tuần hoàn máu) có thể sản xuất được 3.500 kg resperin trong thời gian 30 ngày nuôi cấy
Đinh Thị Thu Hiền và cộng sự (2003) đã nghiên cứu thành công quy trình nhân nhanh sinh khối mô sẹo của cây Hoàng liên gai nhằm sản xuất
nguồn dược liệu berberine, thay thế nguồn tự nhiên đang ngày càng khan
hiếm Với quy trình này, sau khoảng 3 - 4 tuần nuôi cấy mô của cây Hoàng liên gai, có thể thu được một lượng mô lớn gấp hàng chục lần lượng ban đầu[1]
Tuy nhiên trong quá trình nuôi cấy tạo sinh khối tế bào thực vật các chất điều hòa sinh trưởng thường được bổ sung vào môi trường nuôi cấy nhằm làm giảm hoặc mất tính biệt hóa ở các mô tế bào nuôi cấy Việc làm này sẽ dẫn tới có sự tồn dư của các chất điều hòa sinh trưởng trong sinh khối
tế bào nuôi cấy gây ảnh hưởng đến ức khỏe người sử dụng và tính an toàn của sản phẩm Tuy nhiên, vấn đề này có thể khắc phục được thông qua nuôi cấy sinh khối từ rễ tơ, bởi rễ tơ có khả năng sinh trưởng cao và đặc biệt có thể sinh trưởng, phát triển tốt trên môi trường không cần bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng [17]
Trang 251.2.2 Giới thiệu về Agrobacterium rhizogenes – Phương pháp tạo rễ
tơ ở tế bào thực vật
Hình 1.2: Một số bênh ở thực vật gây ra bởi Agrobacterium sp
a)Agrobacterium sp b) Bệnh khối u ở thực vật, c) Bệnh rễ tơ ở thực vật
Agrobacterium sp thuộc nhóm vi khuẩn đất, gram âm, được biết đến từ
rất lâu trong nông nghiệp với vai trò là vi khuẩn cố định đạm, cung cấp nguồn
nitơ cho cây trồng Agrobacterium được phân loại dựa trên những căn bệnh
mà chúng gây ra trên thực vật hai lá mầm Agrobacterium gồm 4 nhóm chính:
Agrobacterium tumefaciens, Agrobacterium rubi là hai nhóm gây bệnh khối u
(crowwn gall) ở thực vật; nhóm Agrobacterium rhizogenes gây bệnh mọc rễ
tơ (hairy roots) tại các vết thương của cây; nhóm Agrobacterium radiobacter
không gây bệnh trên thực vật[10] Trong những thập kỉ gần đây thì các nhà
khoa học đã chú ý đến vai trò của hai loài vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes
và Agrobacterium tumefaciens trong mục đích chuyển gen vào thực vật
Chúng được xem như là các “kĩ sư trao đổi chất”, được áp dụng để chuyển gen vào tế bào thực vật nhằm mục đích đẩy mạnh quá trình sinh tổng hợp ra
các hợp chất thứ cấp cần thiết Khả năng gây bệnh của Agrobacterium sp đã được chứng minh là do sự có mặt của pTi (plasmid tumor induction) ở
Agrobacterium tumefaciens và pRi (plasmid root induction) ở Agrobacterium rhizogenes
Trang 26Agrobacterium rhizogenes, tên khoa học khác là Rhizobium rhizogenes,
là một loài vi khuẩn đất gram âm, thuộc họ Rhizobiaceae nằm trong bộ
Rhizobiales cố định đạm Chúng có khả năng nhận biết được các phân tử tín
hiệu từ các tế bào thực vật bị tổn thương và tấn công vào vị trí đó [12],[36]
1.2.3 Cơ chế chuyển các gen vùng T – DNA vào tế bào thực vật
Khi các vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes nhiễm vào viết thương của
thực vật thì chúng sẽ chuyển gen của chúng vào các tế bào thực vật tại vị trí
đó Các gen được chuyển từ Agrobacterium rhizogenes vào bộ gen của tế bào thực vật được gọi tên là T- DNA (transfer DNA) T-DNA sau khi chuyển vào
thì sẽ được gắn ổn định vào bộ gen của thực vật Tuy nhiên các gen mã hóa T-DNA có nguồn gốc từ vi khuẩn nhưng nó có mang các trình tự điều tiết ở
Eukaryote nên có thể biểu hiện được trong tế bào thực vật Vùng T-DNA này
trong một plasmid lớn của Agrobacterium rhizogenes và plasmid này được đặt tên là Ri-plasmid (root inducing plasmid) do A.rhizogenes có khả năng
cảm ứng tạo rễ bất định [23]
Hình 1.3: Cấu trúc Ri - plasmid
Trang 27Ri-plasmid được chia thành 2 nhóm chính là agropine và mannopine,
vi khuẩn A.rhizogenes chứa Ri-plasmid thuộc loại agropine được sử dụng chủ
yếu cho quá trình chuyển gen vào tế bào thực vật để cảm ứng tạo rễ tơ
Ri-plasmid được chia thành nhiều vùng như vùng gây độc (gọi tắt là vùng
vir-virulence)), vùng chuyển gen (T-DNA), vùng ori (vùng mã hóa chức năng tái
bản và khởi điểm tái bản), vùng phiên mã … chỉ có đoạn T-DNA của plasmid mới được chuyển vào bộ gen của thực vật và sự chuyển gen này thông qua sự
hỗ trợ bởi các đoạn gen trong vùng vir của Ri-plasmid Vùng vir chiếm khoảng 35 kb trong Ri-plasmid và mã hóa 6 locus phiên mã cho các protein (vir A, B, C, D, F, G ), có chức năng quan trọng trong quá trình chuyển gen [30] Sự phiên mã của vùng vir được cảm ứng với nhiều hợp chất thuộc nhóm
phenol, điển hình là acetosyringone – hợp chất liên quan được xác định là có
vai trò làm tăng tần số của quá trình chuyển gen thông qua Agrobacterium ở
nhiều loài thực vật Nhiều loại đường cũng đóng vai trò như chất bổ trợ hoạt
động cho acetosyringone để cảm ứng sự biểu hiện của gen vir ở mức độ
cao[29]
Nhìn chung cơ chế quá trình xâm nhiễm và cơ chế phân tử của quá
trình vận chuyển T-DNA vào tế bào vật chủ của vi khuẩn A.tumefaciens và
A.rhizogenes được chứng minh là tương tự nhau [36] Tuy nhiên sự hình
thành khối u ở vi khuẩn A.tumefaciens do gen mã hóa sinh tổng hợp auxin quy định Trong khi đó, các gen mã hóa sinh tổng hợp auxin ở vi khuẩn
A.rhizogenes có vai trò rất nhỏ trong quá trình hình thành rễ tơ ở thực vật
[12],[36]
T-DNA ở Ri-plasmid của nhóm agropine bao gồm 2 vùng chính là
vùng biên trái TL-DNA và biên phải TR-DNA Hai vùng này đều có kích thước khoảng 15 – 20 kb và được xen kẽ bởi 1 đoạn DNA, đoạn DNA này sẽ
Trang 28được chuyển vào hệ gen của tế bào vật chủ Vùng TR-DNA mang các gen mã
hóa sinh tổng hợp auxin (tms1 và tms2), vùng TL-DNA bao gồm 18 khung
dọc (ORFs), trong đó có 4 locus 10, 11, 12 và 15 mã hóa cho rolA, B, C và D (root locus), Các Ri-plasmid của các chủng A.rhizogenes thuộc nhóm
mannopine, cucumopine và milimopine chứa vùng T-DNA đơn, có cấu trúc
rolD [16] Các gen rolA, rolB và rolC đóng vai trò quan trọng trong quá trình
tạo rễ tơ ở mô tế bào thực vật Sự biểu hiện đồng thời của 3 gen này gây lên kiểu hình rễ tơ ở mô tế bào thực vật bị xâm nhiễm Các rễ tơ này có khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh hơn rất nhiều so với rễ bình thường Trong 3
gen rol trên, gen rolB đóng vai trò quan trọng hơn cả, khi gen rolB được biểu
hiện, mô tế bào thực vật đã cảm ứng tạo kiểu hình rễ tơ, trong khi đó bất hoạt
gen rolB không tạo được kiểu hình rễ tơ [11]
Hình 1.4: Cơ chế chuyển gen của Agrobacterium sp (nguồn : www.zbook.vn)
Trang 291.2.4 Nuôi cấy sinh khối rễ tơ
Rễ tơ là tên gọi dùng để chỉ các rễ bất định được sản sinh ra mạnh mẽ
tại vị trí bị nhiễm bởi vi khuẩn A.rhizogenes T-DNA từ A.rhizogenes sau khi
chuyển vào tế bào thực vật thì chúng sẽ được gắn vào bộ gen của thực vật, từ
đó tế bào thực vật sẽ làm nhiệm vụ biểu hiện các gen rol và gen aux ( tổng
hợp ra các IAA) làm tăng khả năng tạo các lông rễ một cách mạnh mẽ ngay tại vị trí bị tổn thương ở mô thực vật đó Số lượng các lông rễ được tạo ra khá nhiều, phát triển thành một hệ thống lông rễ, hay còn gọi là hệ thống rễ tơ [36]
Hình 1.5 Các hệ rễ tơ được nuôi cấy
1 Rễ tơ Beta vulgaris phát triển trên môi trường agar
2 Rễ tơ của cây đậu phộng (Arachis hypogaea)
3 Rễ tơ G glabra nuôi trong môi trường lỏng
4 Nuôi cấy rễ tơ G.glabra bằng hệ thống bioreactor (a); thu hoạch
sinh khối rễ sau 30 ngày nuôi cấy (b,c)
Trang 30Điểm đặc trưng nổi bật của hệ thống tễ tơ là chúng có khả năng phát triển nhanh và ổn định trên môi trường nuôi cấy không cần bổ sung chất điều
hòa sinh trưởng thực vật, với sự chuyển gen của A rhizogenes vào tế bào rễ tơ
có khả năng tổng hợp ra nhiều loại hợp chất tự nhiên với hiệu suất cao mà các
tế bào không phân hóa và các rễ bất định không chuyển gen không tổng hợp được hay tổng hợp với hàm lượng không đáng kể [36]
Ứng dụng của nuôi cấy sinh khối rễ tơ
Công nghệ nuôi cấy rễ tơ đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nhờ vào những ưu điểm của mình Rễ chuyển gen có đặc tính
là tốc độ sinh trưởng nhanh và tính di truyền ổn định Rễ tơ có thể sản xuất một lượng lớn hợp chất thứ cấp hay hàng loạt hợp chất có liên quan tới thực vật
Sản xuất hợp chất thứ cấp
Thông thường, nuôi cấy rễ cần có sự xuất hiện của các chất điều hòa sinh trưởng ngoại sinh, hay là sự có mặt của các chất này trong môi trường nuôi cấy Phương pháp nuôi cấy rễ này tạo các dòng rễ sinh trưởng rất chậm
và có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt hay tổng hợp kém các hoạt chất thứ cấp Tuy nhiên, rễ tơ đã cải tiến công nghệ nuôi cấy tế bào thực vật trong thu nhận các hợp chất có giá trị sinh học cao Rễ tơ cũng đã cung cấp một nguồn hóa chất thiên nhiên dồi dào cho các ngành công nghiệp dược phẩm, hóa mỹ phẩm và phụ gia thực phẩm [9]
Kim và cs (2009) đã sử dụng 3 chủng A.rhizogenes là R1000, A4 và
ATCC 15834 cảm ứng với loài Taxus cuspidata và thu nhận được 107 dòng rễ
tơ Trải qua quá trình sàng lọc cho 3 dòng rễ tơ có thể sinh trưởng tốt trên môi trường MS không chất điều hòa sinh trưởng, và có khả năng sinh tổng hợp taxol - một hợp chất có công dụng mạnh trong điều trị ung thư [22]
Trang 31Bảng 1.1: Một số loài thực vật được nuôi cấy rễ tơ để thu hoạt chất sinh
học[19]
Artemisia annua Artemisinin
Panax hybird Ginsenosides
Rễ tơ được xem như là muột nguồn nguyên liệu có giá trị trong sản xuất các hợp chất tự nhiên có lợi như dược phẩm, các chất phụ gia trong ngành mỹ phẩm và thực phẩm Vào năm 2002, Sevon đã tổng kết lại những hợp chất ankaloid quan trọng nhất trong ngành được sản xuất bởi hệ thống rễ
tơ, bao gồm A.tropabelladonna L., Catharanthus tricophyllus L., và Datura
củadida L [36] Nhờ vào những đặc điểm như phát triển nhanh, dễ duy trì ổn
định và khả năng tổng hợp một số lượng lớn hợp chất tự nhiên, hệ thống rễ tơ thể hiện tiềm năng lớn trong việc sản xuất các hợp chất tự nhiên thông qua các hệ thống nuôi cấy liên tục Điều này có ý nghĩa lớn trong việc sản xuất các sản phẩm hợp chất tự nhiên trên quy mô công nghiệp với hiệu xuất cao, giảm chi phí trong quá trình sản xuất từ đó giảm giá thành sản phẩm
Bên cạnh việc chuyển T-DNA của A.rhizogenes vào tế bào thì ta có thể
chuyển các gen ngoại lai vào trong tế bào thông qua việc tái tổ hợp đoạn gen
đó vào trong đoạn T-DNA của A.rhizogenes Các gen này có thể là gen biểu hiện ra các hợp chất mục tiêu hay có thể là các gen mã hóa các enzyme chìa
khóa trong con đường sinh tổng hợp ra các chất tự nhiên mong muốn Phương pháp này có thể giúp ta điều khiển hay định hướng cho quá trình sinh tổng hợp các chất tự nhiên ở rễ tơ để tổng hợp ra một loại hợp chất tự nhiên với hàm lượng cao Nghiên cứu của Lodhi (1996) đã chứng minh hàm lượng
anthraquinone và alizarin trong hệ thống nuôi cấy rễ tơ của Rubia peregrina
L tăng cao khi gắn đoạn gen mã hóa ra enzyme izochorismate synthase vào đoạn T-DNA; và theo Banerjee (2002) thì rễ tơ của A.belladonna được
Trang 32chuyển gen P450 2E1 thể hiện khả năng tổng hợp chất tự nhiên với mức độ
rất cao [31]
Tại Hàn Quốc, một số công ty đang sản xuất rễ tơ nhân sâm với bioreactor có dung tích 10.000 đến 20.000 lít Sản phẩm này được làm nguyên liệu cho các dạng thực phẩm chức năng và thực phẩm khác nhau trên thị trường Đã có rất nhiều nghiên cứu thành công trong tạo các hoạt chất từ nuôi cấy sinh khối rễ tơ [5],[6]
Với tiềm năng to lớn của hệ thống rễ tơ, các hệ thống rễ tơ của nhiều loài thực vật đã được nghiên cứu rộng rãi cho mục đích sản xuất hợp chất tự
nhiên in vitro Đặc biệt là những cây thuốc có ứng dụng lớn cho việc chữa
bệnh
Ứng dụng của rễ tơ trong phân tích chức năng của gen
Rễ tơ không chỉ được ứng dụng để sản xuất hợp chất thứ cấp mà còn được sử dụng trong các thí nghiệm nghiên cứu chức năng gen Các đoạn gen
chức năng được tái tổ hợp với gen chỉ thị gus, hoặc chỉ thị bằng huỳnh quang
và được đưa vào A.rhizzogenes để chuyển vào thực vật Thông qua quá trình biểu hiện của gen chỉ thị gus mà các gen chuyển vào rễ tơ được nghiên cứu chức năng Một ví dụ là gen gus kết hợp với promotor alcohol dehydrogenase
(Adh) và được chuyển vào rễ tơ đậu nành Chức năng của promotor được nghiên cứu dưới các điều kiện môi trường như: nhiệt độ thấp, thiếu khí, bị tổn
thương và xử lý acid abscisic Tất cả các chức năng đều được nghiên cứu thông qua sự biểu hiện của gen gus [47]
Biểu hiện protein ngoại lai
Rễ tơ còn được dùng để biểu hiện các protein công nghiệp và các loại protein chức năng Nhờ vào khả năng chuyển một đoạn gen ngoại lai vào thực
vật, A.rhizogenes đã được thiết kế mang các vector tái tổ hợp để có thể biểu
Trang 33hiện các loại protein trong rễ tơ Các gen ngoại lai này được gắn kết vào
genome thực vật và ổn định về mặt di truyền nên khả năng biểu hiện không bị
suy giảm Ryan (2008) đã tạo thành công dòng rễ tơ mang gen mã hóa cho
acetylcholinesterase- một protein có khả năng xử lý các hợp chất phosphat
gây độc cho cơ thể Các dòng rễ này tuy tăng trưởng chậm nhưng có hàm
lượng acetylcholinesterase lên tới 3,3% hàm lượng protein tổng số [33] Mặt
khác, các nghiên cứu cho thấy có thể tạo rễ tơ mang cấu trúc kháng thể ở người hay cấu trúc vỏ protein của các virus gây bệnh nhằm bước đầu tạo nguồn vaccine thực vật Sharp (2001) đã thành công trong việc tạo dòng rễ tơ thuốc lá mang kháng thể đơn dòng IgGI ở người[38]
Với tiềm năng và khả năng ứng dụng to lớn của mình, hệ thống rễ tơ của nhiều loài thực vật đã được nghiên cứu rộng rãi cho mục đích sản xuất các hợp chất tự nhiên in vitro, đặc biệt là những cây thuốc có ứng dụng lớn cho việc chữa bệnh Bên cạnh đó, rễ tơ còn là một công cụ hữu hiệu trong các nghiên cứu về gen hay công nghệ protein
1.3 Các nghiên cứu ứng dụng chỉ thị DNA vào việc xác định loài
Trong nghiên cứu này, việc thu thập các nguồn mẫu cây Hoàng liên gai ngoài tự nhiên làm nguyên liệu cho nuôi cấy là một việc cần thiết Tuy nhiên nguồn nguyên liệu ngoài tự nhiên nếu chỉ dựa vào hình thái và kinh nghiệm dân gian đôi khi dễ nhầm lẫn với những đối tượng cây có hình thái tương tự sống tại cùng một khu vực Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến nghiên cứu Do đó việc nhận dạng các mẫu cây ngoài tự nhiên bằng phương pháp sinh học phân tử sẽ mang ý nghĩa rất quan trọng
Trong vài thập kỷ gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của các phương pháp
và kỹ thuật sinh học phân tử đã tạo ra các công cụ hữu hiệu cho các nghiên cứu sự sống ở mức độ phân tử Các kỹ thuật sinh học phân tử cũng nhanh
Trang 34chóng được ứng dụng trong nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học, nhận dạng loài, tạo ra các lĩnh vực khoa học mới như tiến hóa phân tử, di truyền và bảo tồn loài Đặc biệt, đối với lĩnh vực phân loại học, việc sử dụng các DNA chỉ thị để nhận dạng loài đang được các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu và có những đóng góp đáng kể trong việc phân loại loài Nhận
dạng loài bằng chỉ thị DNA hay “DNA barcoding” là một khái niệm tương
đối mới mẻ Đó là công cụ phục vụ nhận dạng loài một cách chính xác, nhanh chóng, tự động hóa bằng cách sử dụng một vùng DNA chuẩn hay còn gọi là
chỉ thị DNA hay mã vạch DNA (DNA barcoding) Xác định loài bằng DNA
chỉ thị sẽ cho mức độ chính xác cao và đặc biệt hữu dụng với các loài gần gũi
và những quan sát hình thái, sinh trưởng và phát triển chưa đủ cơ sở để nhận dạng hoặc phân biệt loài [24],[25]
Hiện nay trên thế giới, phương pháp này đang được sử dụng chủ yếu bởi các nhà phân loại học và nhiều nhà khoa học ở các lĩnh vực khác như khảo cổ học, công nghiệp sinh học và chế biến thực phẩm…
Đối với thực vật, quá trình tìm kiếm một chỉ thị DNA chung cho các loài thực vật gặp nhiều khó khăn Hệ gen ty thể ở thực vật thường quá bảo thủ nên không được dung cho thỉ thị DNA, trong khi đó hệ gen lục lạp lại mang nhiều đặc điểm mong muốn đối với chỉ thị DNA như ở hệ gen ty thể ở động
vật [44] Ở hệ gen nhân, vùng DNA nằm giữa các gen hay còn gọi ITS
(Internal Transcribed Spacer) cũng được sử dụng làm DNA chỉ thị trong một
Trang 35không chỉ một mà nhiều vùng DNA chỉ thị để định danh loài đối với thực vật
và hệ gen lục lạp là nơi chứa các vùng DNA chỉ thị tiềm năng, trong đó một
số vùng DNA lục lạp đã được nhiều nhà nghiên cứu đề xuất là chỉ thị DNA [13],[14],[43]
Chỉ thị DNA barcode là một trong những phương pháp phổ biến có độ
chính xác cao đã được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng Nhiều vùng gen đã được nghiên cứu và đề xuất làm chỉ thị DNA cho thực vật [13],[25],[43] tuy nhiên chưa có chỉ thị DNA nào được đa phần các nhà phân loại học thực vật hoàn toàn chấp nhận [13],[16] Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu cũng đã đi tới một quan điểm thống nhất là sẽ cần không chỉ một mà nhiều vùng DNA chỉ thị để xác danh loài đối với thực vật và hệ gen lục lạp là nơi chứa các vùng DNA chỉ thị tiềm năng, trong đó một số vùng DNA lục lạp
đã được nhiều nhà nghiên cứu đề xuất là chỉ thị DNA [13],[14],[43]
Do số lượng loài Hoàng liên gai trong tự nhiên khan hiếm và ngày càng sụt giảm về số lượng nên việc xây dựng một công cụ phân loại nhanh chóng
và chính xác cho loài cây này là một yêu cầu cấp thiết nhằm bảo tồn và phát
triển cây Hoàng liên gai tại Việt Nam, chỉ thị DNA barcod là phương pháp
phân loại cho kết quả nhanh chóng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước sử dụng trên nhiều đối tượng khác nhau Vì vậy chúng tôi tiến
hành nghiên cứu xây dựng mã vạch DNA với 5 chỉ thị rpoB, rpoC1,
psbA-trnH, trnL:(nằm trên plasmid phân bố trong lục lạp), ITS ( nằm trong genome
thực vật) để phục vụ cho việc phân loại và nhân dạng cây Hoàng liên gai tại
Sa Pa
Trang 36Chương II VẬT LIỆU – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu
- Thực vật : Mẫu hạt, lá cây Hoàng liên gai thu thập tại Vườn Quốc Gia Hoàng liên - Sa Pa – Lào Cai
và Sinh học phân tử, trường Đại học Heidelberg cung cấp
2.2 Dụng cụ - hóa chất
- Box cấy vô trùng, các loại thiết bị trong phòng nuôi cấy vô trùng, tủ tối, tủ 370C
bào thực vật – Viện Công nghệ Sinh học
- Các muôi trường cơ bản nuôi cấy tế bào thực vật như MS (Murashige and Skoog); YMB (Woody plant medium); LB (Lauria Broth)
kháng sinh (cefotaxime, spectinomycine …) Nước cất, javen, ethanol 70o
Ngoài ra còn có các hóa chất thông dụng khác (agar, gellam gum …) của các
hãng Sigma, Fermentas, Duchefa
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thu thập và nhận dạng loài bằng chỉ thị phân tử
- Thu thập ngoài thực địa: Dựa vào đặc điểm hình thái, sinh thái của
cây Hoàng liên gai và vùng phân bố của chúng, tôi tiến hành thu thập mẫu tại Vườn Quốc gia Hoàng liên - Sa Pa – Lào Cai
Trang 37- Phương pháp xác định loài bằng chỉ thị DNA: Việc định loài giúp
ta tránh việc sử dụng nhầm đối tượng nghiên cứu Qui trình xác định loài bằng chỉ thị phân tử gồm các bước:
Tách chiết và tinh sạch DNA: Các mẫu lá Hoàng liên gai được tiến hành tách chiết DNA bằng phương pháp CTAB theo Saghai-Maroof et al., 1984 [34]
Tinh sạch và giải trình tự sản phẩm PCR: DNA tổng số sau khi tách chiết thành công được sử dụng làm khuôn cho phản ứng PCR với như sau: bước 1: 94oC, 5 phút; bước 2: 94oC, 30s; bước 3: 54oC, 50s; bước 4: 72oC, 1 phút; từ bước 2 đến bước 4 lặp lại 30 chu kì; bước 5: 72oC, 10 phút; bước 6:
4oC bảo quản mẫu
Sản phẩm PCR sau đó được điện di trên gel agarose 1% trong đệm 1X
TAE, nhuộm gel trong dung dịch Ethidium brommide và tinh sạch bằng kit
thôi gel của QIAamp Chúng tôi tiến hành phản ứng PCR với các mồi sau:
Bảng 2.1: Thông tin các mồi sử dụng trong nghiên cứu
1 psbA- trnH P10F P10R GTTATGCATGAACGTAATGCTC CGCGCATGGTGGATTCACAATCC
Tách dòng và xác định trình tự gen: Sản phẩm PCR sau tinh sạch được
gắn vào vector tách dòng pBT và biến nạp vào tế bào khả biến E.coli DH5-α
theo phương pháp sốc nhiệt của Cohen et al.(1972) Chọn lọc khuẩn lạc
Trang 38xanh/trắng trên môi trường thạch LB có bổ xung 50mg/l Carbenicilin, 0,004% X-gal và 0,1mM IPTG Tách plasmid theo hướng dẫn của bộ Kit tách plasmid (Bioneer, Hàn Quốc) và của Sambrook và Russell (2001) Kiểm tra sự có mặt của DNA tái tổ hợp bằng phương pháp clony-PCR với cặp mồi pUC18-F và
pUC18-R Trình tự DNA các đoạn gen rpob, rpoC1, psbA-trnH, trnL, ITS của
hai mẫu Hoàng liên gai được xác định bằng máy đọc trình tự tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ gen, Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Các trình tự được phân tích và so sánh bằng phần mềm BioEdit, DNAstar và dựng cây phát sinh chủng loại trên cơ
sở dữ liệu thu được
2.3.2 Phương pháp khử trùng hạt và đưa mẫu vào nuôi cấy in vitro
Bước 1: Hạt cây Hoàng liên gai được rửa sạch bằng nước xà phòng pha
loãng, sau đó xả dưới vòi nước khoảng 10 phút
Bước 2: Khử trùng hạt với dung dịch C2H5OH 70o trong thời gian từ 1
- 3 phút sau đó rửa lại với nước cất khử trùng 4 - 5 lần ( mỗi lần từ 3 - 4 phút )
Bước 3: Khử trùng hạt với dung dịch HgCl2 0,1% lắc đều trong khoảng thời gian từ 9 - 10 phút rửa lại với nước cất khử trùng 4 - 5 lần ( mỗi lần 3 - 4 phút )
Bước 4: Đưa hạt ra giấy thấm khử trùng để khô ráo nước, sử dụng
panh, dao tách hết lớp vỏ ngoài lấy phôi nhũ Đưa phôi nhũ vào cấy trong môi trường MS đã chuẩn bị sẵn
Số mẫu phôi đưa vào cấy 10 - 12 phôi/đĩa Sau khi cấy xong để trên giá phòng nuôi cấy mô tế bào thực vật với điều kiện chiếu sáng theo quang chu
kỳ 16 giờ sáng và 8 giờ tối, nhiệt độ phòng 22 -240C cường độ chiếu sáng
2000 lux Theo dõi khả năng sinh trưởng phát triển của phôi trên môi trường
MS
Trang 392.3.3 Phương pháp chuyển gen thông qua A.rhizogenes
Để thực hiện chuyển gen bằng A.rhizogenes phương pháp chủ yếu tiến
hành là lây nhiễm trực tiếp mẫu với dịch huyền phù vi khuẩn trong môi trường lỏng trong một khoảng thời gian nhất định
Chuẩn bị mẫu mô thực vật: Các mẫu mô thực vật được cắt nhỏ, tạo vết thương trên biểu bì Các mẫu lá được tạo tổn thương bằng lưỡi dao, cắt bốn cạnh xung quanh Thân cây Hoàng liên gai cắt nhỏ có chiều dài khoảng 0,3 – 0,4 cm đặt vào trong đĩa petri có sẵn môi trường MS lỏng
Phương pháp chuyển gen tạo rễ tơ ở cây Hoàng liên gai thông qua vi
khuẩn A.rhizogenes ATCC 15834 bao gồm các bước chính sau:
- Chủng khuần A.rhizogenes ATCC 15834 gốc được cấy ria trên môi
trường YMB đặc nuôi trong tủ ấm 28oC trong 48 giờ
- Lấy một khuẩn lạc nuôi phục hồi trong trong 20 ml YMB lỏng nuôi lắc 200 v/p qua đêm
- Nuôi nhân thu sinh khối: lấy 5 ml dịch khuẩn phục hồi cho vào 45 ml YMB lỏng, nuôi lắc 200 v/p, 28o C trong 4-6 giờ Các môi trường nuôi khuẩn đều không bổ sung kháng sinh do vector pRi 15834 không có gen kháng kháng sinh
- Dịch khuẩn được đem ly tâm 6500 v/p ở 4o C thu sinh khối, loại bỏ môi trường nuôi cấy Cặn khuẩn được hòa tan trong môi trường MS lỏng tạo dịch huyền phù vi khuẩn Các mẫu thực vật được cắt tạo tổn thương sau đó
được lây nhiễm bằng cách ngâm trong dịch huyền phù vi khuẩn
- Sau khi lây nhiễm, mẫu biến nạp được thấm khô bằng giấy thấm khử trùng rồi được đặt vào môi trường đồng nuôi cấy: MS + saccharose 30 g/l +
agar 8g/l
Trang 40- Sau thời gian đồng nuôi cấy, chuyển mẫu lên môi trường diệt khuẩn:
MS + saccharose 30 g/l + agar 8g/l + cefotaxime 500 mg/l Sau 2-4 tuần, các mẫu thực vật bắt đầu cảm ứng tạo rễ và được cắt ra chuyển lên môi trườngMS + saccharose 30 g/l + agar 8g/l + cefotaxime 500 mg/l
Quy trình tóm tắt tạo rễ tơ ở cây Hoàng liên gai
Hạt cây Hoàng liên gai Chủng vi khuẩn A.Rhizogenes
Khử trùng bằng: C2H5OH ( 70%) Nuôi lỏng tạo huyền phù
Các dòng rễ được cấy chuyển sang từng đĩa petri riêng biệt
Tiếp tục lưu giữ trên môi trường MS đặc Cấy chuyển sang môi trường
MS đặc tạo sinh khối