1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phép tính cộng, trừ và giải bài toán đơn (có lời văn) ở môn toán lớp 1 và lớp 2

298 1,5K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 298
Dung lượng 340,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đôi khi giáo viên chỉ nắm đượchình thức chưa hiểu hết nội dung hàm ý và mối liên hệ của những sơ đồ vàhình vẽ trong hệ thống dạy Toán hiện hành nếu không nghiên cứu kĩ lưỡng.Những lí do

Trang 3

Tôi xỉn chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Tự nhiên của khoa Giáo dục Tiểu học và những người đã hết lòng dạy bảo lớp KI 6 chúng tôi trong suốt quá trình học tập.

Tôi cũng xỉn được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, khoa Giáo dục Tiểu học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá học.

Xin gửi lời tri ân sâu sẳc đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên khích lệ, giúp đõ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu.

Tác giả

Trang 4

trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rô nguồn gốc.

Trang 6

(CÓ LỜI VĂN) Ở MÔN TOÁN TIỂU HỌC LỚP 1 VÀ LỚP 2 46

1 Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động tương ứng với các tình huống thể hiện

2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công cuộc đổi mới đã đặt ra những yêu càu cấp bách về nguồn nhân lựcđối với ngành giáo dục đó là cần phải đào tạo ra những người lao động tự chủ,năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt

ra, tự lập nghiệp Nghị quyết TW 4 khoá VII đã đề ra nhiệm vụ: “Đổi mớiphương pháp dạy học ở tất cả các cấp bậc, bậc học, áp dụng những phươngpháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo,năng lực giải quyết vấn đề.” Ngay sau đó, điều này lại được khẳng định trongnghị quyết TW 2 khoá VIII: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục- đàotạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạocho người học.”

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí và ban hành Nghị quyết Hội nghị lầnthứ 8, Ban Chấp Hành Trung Ương khóa XI ( Nghị quyết số 29- NQ/TW) vớinội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầucông nghiệp hoá- hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục ViệtNam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực

Thực hiện chủ trương trên, ngành giáo dục đã và đang tiến hành cải cáchđổi mới từ mục tiêu, nội dung, chương trình sách giáo khoa cũng như cáchđánh giá và đặc biệt đổi mới phương pháp dạy học

Môn Toán là môn đóng vai trò quan trọng trong chương trình tiểu học,môn Toán ở tiểu học được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn học tập cơ bản (lớp1,2,3) và giai đoạn học tập sâu( lớp 4,5) Mục tiêu dạy học môn Toán ở giaiđoạn đầu chủ yếu là gồm các nội dung gần gũi với trẻ, sử dụng kinh nghiệm

Trang 8

toán cũng xuất phát từ thực tiễn Hình vẽ, sơ đồ là phương tiện thay thế cho sựvật hiện tượng Dạy Toán đã dựa vào hình vẽ, sơ đồ và coi đây là loại ngônngữ để mô tả Toán, nhất là Toán cho học sinh Tiểu học Theo tác giả PhạmVăn Hoàn việc kết họp giữa cái cụ thể và cái trừu tượng là cần thiết vì “ nóphù hợp với đặc điểm môn toán- toán học là trừu tượng, khái quát cao độnhưng có nguồn gốc trong thực tiễn học sinh chỉ có thể học toán có kêt quảnếu kết hợp được cái cụ thể và cái trừu tượng trong tư duy - phù hợp YỚi quyluật biện chứng của nhận thức “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng

và từ đó đến thực tiễn”

Đối với chương trình dạy học ở tiểu học khi dạy học người giáo viênthường chưa nêu bật tác dụng của việc sử dụng sơ đồ và hình vẽ trong sáchgiáo khoa một cách triệt để trong việc dạy học Đôi khi giáo viên chỉ nắm đượchình thức chưa hiểu hết nội dung hàm ý và mối liên hệ của những sơ đồ vàhình vẽ trong hệ thống dạy Toán hiện hành nếu không nghiên cứu kĩ lưỡng.Những lí do đó đã cho thấy việc sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phéptính cộng trừ và giải bài toán đơn (có lời văn) ở môn toán tiểu học các lớp 1 vàlớp 2 là cần thiết và quan trọng Nhờ đó học sinh thấy rõ được ý nghĩa trựcquan của những mối liên hệ trong toán học, trong quá trình sử dụng chúng, họcsinh sẽ đào sâu, củng cố và phát triển tư duy toán học Hình vẽ, sơ đồ đã được

sử dụng trong dạy học môn Toán Tiểu học Nhưng quan niệm về chúng thếnào? Vì sao cần sử dụng chúng trong dạy học Toán Tiểu học ? Sử dụng thếnào trong dạy học Toán Tiểu học cho hiệu quả?

Những câu hỏi đó gợi ra lí do để có đề tài nghiên cứu Ba câu hỏi đó sẽ đặt

ra 3 nhiệm vụ nghiên cứu sau này

Trang 9

Xuất phát từ những lí do như đã trình bày ở trên, tôi quyết định chọn đề tài: “£«' dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phép tính cộng trừ và giải bài toán đơn (có lời văn) ở môn toán lớp 1 và lớp 2”.

Tôi mong rằng qua luận văn này có thể đưa ra các biện pháp hiệu quả sửdụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phép tính cộng trừ và giải bài toán đơn (cólời văn) ở môn toán các lớp 1 và lớp 2

2 Mục đích nghiên cứu

-Đưa ra được các biện pháp sư phạm sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong mônToán ở cấp Tiểu học để nâng cao hiệu quả dạy học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

-Nghiên cứu quan niệm và vai trò của sơ đồ, của hình vẽ trong môn ToánTiểu học, trong đó chú ý đến khác biệt của sơ đồ và hình vẽ trong quá trìnhnhận thức Toán học ở học sinh Tiểu học

-Nghiên cứu tình hình sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học môn Toán Tiểuhọc hiện hành

-Nghiên cứu các biện pháp sư phạm sử dụng sơ đồ hình vẽ trong môn ToánTiểu học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học đặc biệt chú ý tới việc phát triểnnăng lực người học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: cách sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phéptính cộng trừ và giải bài toán đơn (có lời văn) ở môn toán tiểu học cáclớp 1 và lớp 2 nói riêng và trong dạy học toán ở tiểu học nói chung-Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc sử dụng các hình vẽ, sơ đồ của giáoviên ở một số trường tiểu học trong Hà Nội

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu các tài liệu có liên quan đếnmột số biện pháp dạy học sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy toán ở tiểu học,nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu khác

- Phương pháp điều tra : thực hiện điều tra, phỏng vấn, dự giờ để quan sátviệc sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phép tính cộng trừ và giải bàitoán đơn (có lời văn) ở môn toán tiểu học các lớp 1 và lớp 2

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực hiện thực nghiệm theo hướng

đã đề xuất để xem xét tính khả thi và hiệu quả của công việc sử dụnghình vẽ, sơ đồ trong dạy học phép tính cộng trừ và giải bài toán đơn (cólời văn) ở môn toán tiểu học các lớp 1 và lớp 2

-Phương pháp thống kê: thống kê số liệu, phân tích kết quả điều tra thực trạng

và kết quả thực nghiệm

6 Giả thuyết khoa học

-Các hình vẽ, sơ đồ trong dạy học môn Toán nếu được khai thác , sử dụng một cách hợp lí sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở phép tính cộng trừ và giải bài toán đơn (có lời văn) ở môn toán tiểu học lớp 1, lớp 2

PHẦN II NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUÃN VÀ THƯC TIỄN

• •

Để hiểu rõ việc “ Sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phép tính cộng trừ

và giải bài toán đơn (có lời văn) ở môn toán lớp 1 và lớp 2” cần xuất phát từ

sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học để thấy rõ sự phù hợp của việc

sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy toán là phù hợp với đặc điểm tâm lí và phùhợp với sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ

1.1. Sự phát triển của quá trình nhận thức của học sinh tiểu học (sự phát

triển trí tuệ)

Trang 11

-Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác

đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện

-Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết

và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hànhđộng trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻthích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác củatrẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định(trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập

từ dễ đến khó, )

Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới,mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kíchthích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác

1.1.2 Nhận thức lý tính

-Tư duy : giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và

phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng,khái niệm, phán đoán và suy lí.[14 trang 1324]

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quanhành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừutượng khái quát.Khả năng khái quát hóa phát triển dàn theo lứa tuổi, lớp 4, 5bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợpkiến thức còn sơ đẳng ở phàn đông học sinh tiểu học

- Tưởng tượng :tạo ra trong trí hình ảnh những cái không ở trước mắt

hoặc chưa hề có.[14 trang 1337]

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so YỚi trẻ

Trang 12

- Ở đ ầ u t u ổ i t i ể u h ọ c thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa

bền vững và dễ thay đổi

- Ở c u ố i t u ổ i t i ể u h ọ c , tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện,

từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sángtạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triểnkhả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các emtrong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, nhữnghình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của cácem

Qua đây, chúng ta phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các embằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc,đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào cáchoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trìnhnhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

1.1.3 Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

-Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đen lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo vàbắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữphát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh

và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

-Ngôn ngữ: hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng,làm phương tiện để giao tiếp chung trong cộng đồng [14]

-Ngôn ngữ tự nhiên: tiếng nói của con người dùng để giao tiếp [14]Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảmtính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng

Trang 13

nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thểđánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.

Như chúng ta đã biết ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu nhiều tầng đượcngười bản ngữ chấp nhận ghi nhớ và sử dụng trong khi giao tiếp YỚi cộng

đồng [17 t r a n g S ]

Trong dạy học Toán học là ngôn ngữ Ngôn ngữ toán học- đó là ngôn ngữcủa những kí hiệu, những dấu tượng trưng, những sơ đồ, bản vẽ, biểu đồ, đồthị [19 trang 15]

Dạy toán là dạy một ngôn ngữ đặc biệt Kiến thức kĩ năng sử dụng sơ đồ vàhình vẽ như là ngôn ngữ để mô tả và giới thiệu về kiến thức toán học ở tiểuhọc

Khi học môn toán, học sinh dần làm quen với ngôn ngữ toán học Ngônngữ toán học là loại ngôn ngữ nhân tạo, được xây dựng và phát triển cùngkhoa học toán học và các khoa học khác Ngôn ngữ toán học có các chữ cáicủa mình [1]

Ngôn ngữ toán học có một số đặc điểm: nó sử dụng kí hiệu là chủ yếu (gọitắt là ngôn ngữ kí hiệu) Ngôn ngữ toán học chủ yếu là ngôn ngữ viết [9]Hình vẽ, sơ đồ được xem như loại ngôn ngữ trên Do đó, có thể cần giúp họcsinh học tập sử dụng trong toán học Trong thực tiễn hình vẽ, sơ đồ trongdạy học đã giúp học sinh phát hiện một cách có ý thức các mối phụ thuộc được

ẩn dấu của các đại lượng, mà còn kích thích các em suy nghĩ tích cực, tìm tòinhững phương pháp tốt nhất để giải toán Rõ ràng điều này rất cần thiết để việchọc tập có tính chất phát triển

Nhiệm vụ dạy học toán hiện nay không phải chỉ giới hạn của việc rèn luyện

Trang 14

quan là hết sức cần thiết được hình thành song song với sự phát triển tư duytrìu tượng.

N.A Menchinskaja và M.I Moro viết rằng: “Việc tăng cường thêm tỉ trọngkiến thức lí thuyết trong giáo trình, việc tăng cường vai trò tự khái quát hóacủa học sinh trong học tập, hoàn toàn không có nghĩa là giảm sự chú ý pháttriển tư duy cụ thể của học sinh Ngược lại, sự phát triển các hình thức phứctạp của tư duy cụ thể có một ý nghĩa lớn lao ”

Trong việc dạy học toán ở tiểu học, tồn tại thứ ngôn ngữ với các thuậtngữ ( như phép tính, số ) được sử dụng như ba thứ ngôn ngữ như ngôn ngữcông cụ, ngôn ngữ kí hiệu và ngôn ngữ tự nhiên mà học sinh dùng hàng ngàytrong cuộc sống Ba thứ ngôn ngữ này khác nhau nhưng không tách biệt rõràng, gây ra những khó khăn cho học sinh khi học toán Trong ba ngôn ngữ đó,toán học sử dụng hai thứ trên, đó là ngôn ngữ đặc trưng của nó, gọi là ngôn

ngữ toán học [9 t r a n g i o ]

Do vậy, nó đòi hỏi HS càn vận dụng thành thạo các thao tác tư duy toánhọc như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa Như vậy,vai trò của trực quan hình vẽ, sơ đồtrong giảng dạy toán ở tiểu học không chỉphát triển tư duy trừu tượng mà còn có nhiệm vụ phát triển tư duy trìu cụ thể từđơn giản đến phức tạp

Năm 2006 sách giáo khoa Toán học được dùng làm tài liệu chuẩn vềdạy học toán ở tiểu học đến nay.Trong hệ thống kiến thức trong SGK toán hiệnnay kênh hình đã được tăng lên ( hình vẽ ,sơ đồ, biểu bảng ) và được thốngnhất về ngôn ngữ kí hiệu ở từng lớp theo hướng đồng tâm Hình vẽ, sơ đồ, kíhiệu được dùng để hình thành kiến thức không chỉ mang tính minh họa

1.1.4 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học -Ở đầu tuổi tiểu

Trang 15

còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý cóchủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồdùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi Sự tập trungchú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ

bị phân tán trong quá trình học tập

Do đó Toán học nếu sử dung ngôn ngữ tự nhiên dàn trải học sinh khó cóthể nắm bắt được nội dung càn học Hình vẽ, sơ đồ có tính khái quát cao sẽgiúp học sinh tăng sự chú ý và đạt được kiến thức cần thiết

1.1.5 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ logic [10]

-G i a i đ o ạ n l ớ p 1 , 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và

chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chứcviệc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biếtcách khái quát hóa hay xây dụng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

G i a i đ o ạ n l ớ p 4 , 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được

tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việcghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tậptrung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tìnhcảm hay hứng thú của các em

Nắm được điều này, chúng ta phải giúp các em biết cách khái quát hóa

và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cầnghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễhiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng

Trang 16

1.2.1 Phươns pháp dạy hoc

Thuật ngữ phương pháp dạy học trong tiếng Hy Lạp là “Methodos” cónghĩa là con đường, cách thức hạot động nhằm đạt được mục đích nhất định

Vì vậy, phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạtđược những kết quả phù hợp YỚi mục đích đã định

Trong phương pháp dạy học, chủ thể tác động - giáo viên và đối tượng tácđộng của họ là học sinh Còn học sinh lại là chủ thể tác động của mình vào nộidung dạy học Vì vậy, người giáo viên phải nắm được những quy luật kháchquan chi phối tác động của mình vào học sinh và nội dung dạy học thì mới đề

ra những phương pháp tác động phù hợp

1.2.2 Phương pháp trực quan là sì?

Trong lịch sử Giáo dục học, một trong những tên tuổi gắn liền với phươngpháp trực quan là Jan Amos Komensky Ông là người đầu tiên trong lịch sửđưa ra nguyên tắc trực quan để giải thích từ mới, và được xem là người đặt nềnmóng cho lí luận dạy học tiên tiến hiện đại

Trong những năm gần đây, phương pháp trực quan có nhiều thay đổi cănbản, khả năng áp dụng của nó tăng lên đáng kể nhờ tiến bộ của công nghệ tinhọc Các tiến bộ trong công nghệ khoa học kĩ thuật, các thiết bị điện tử chophép người giáo viên có nhiều lựa chọn các phương tiện phục vụ phương phápnày

Phương pháp trực quan ( v i s u a l t e a c h ỉ n g m e t h o d s ) nằm trong

nhóm các phương pháp lý luận dạy học tổng hợp có thể áp dụng cho tất cả cácmôn học trong quá trình dạy học Phương pháp trực quan sử dụng trực tiếp các

đồ vật, hiện tượng của thế giới xung quanh hoặc những mẫu vật đặc biệt (giáotrình trực quan) với mục đích giảm nhẹ quá trình tiếp thu, ghi nhớ và sử dụng

Trang 17

v ề hình thức phương pháp trực quan c ó t h ể chia làm 2 loại: m i n h

h o ạ ( i l l u t r a t ỉ o n ) : sử dụng các đồ vật, hành động( có thể quan sát trực

tiếp), tranh, ảnh, bảng, sơ đồ, mẫu chữ cái, cũng như âm thanh trực tiếp, và

t r ì n h chiếu ( d e m o n s t r a t i o n ) : dùng các thiết bị và các máy mọc để

chiếu các phim dương bản, tranh vẽ, hình ảnh đồ hoạ Phương pháp trìnhchiếu giúp học sinh nhận thức được một cách tổng thể, đa diện về sự vật hiệntượng

v ề nội dung phương pháp trực quan thành phương pháp trình bày trựcquan và phương pháp quan sát:

1 Phương pháp trình bày trực quan

Đây là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện

kĩ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới trong khi ôn tập, củng

cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

2 Phương pháp quan sát

Quan sát là sự tri giác có chủ định, có kế hoạch tạo khả năng theo dõitiến hành và sự biến đổi diễn ra trong đối tượng quan sát Quan sát là hình thứccảm tính tích cực nhằm thu thập những sự kiện, hình thành những biểu tượngban đầu về đối tượng của thế giới xung quanh Quan sát gắn liền với tư duy.Quan Sát được học sinh sử dụng khi giáo viên trình bày phương tiện trực quan,phương tiện dạy học hoặc khi học sinh tiến hành làm việc trong phòng thínghiệm

Phân loại: căn cứ vào cách thức quan sát có thể chia thành quan sát trựctiếp và quan sát gián tiếp

Căn cứ và thời gian quan sát có thể phân chia thành quan sát ngắn hạn, quan

Trang 18

Căn cứ vào phạm vi quan sát có thể phân ra quan sát toàn diện và quan sát khíacạnh.

Căn cứ vào mức độ tổ chức quan sát có thể phân chia thành quan sát tự nhiên

1.2.3 Phươngpháp dạy học trực quan trong môn Toán

a Bản chất:

- Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở Tiểu học nghĩa là

GV tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động trực tiếp trên các hiện tượng, sựvật cụ thể ( hình vẽ, đồ vật, hiện tượng thực tế xung quanh, ) để từ đónắm được kiến thức , kĩ năng của môn Toán

-Phương pháp trực quan có vị trí rất quan trọng trong dạy học toán ởTiểu học Nó giúp HS tích lũy những biểu tượng ban đầu của các đối tượngtoán học, tạo chỗ tựa cho quá trình suy nghĩ, tri giác tiếp theo đồng thời giúp

HS phát triển năng lực tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng

-Sử dụng tốt các phương tiện, đồ dùng dạy học ( của HS hoặc phươngtiện biểu diễn của GV) có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện cóhiệu quả tiến trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực

Trang 19

sung những kết luận được nêu ra, HS chỉ quan sát để củng cố niềm tin vàonhững điều GV giảng Trong dạy học tích cực hiện nay, vai trò của đồ dùngdạy học đã thay đổi, đồ dùng dạy học chủ yếu dùng cho HS thực hành và “khám phá” kiến thức mới Vì vậy, tăng cường sử dụng phương tiện và đồ dùngdạy học là một yêu cầu cấp thiết đối với GV.

b Một số lưu ý:

Khi sử dụng phương pháp trực quan GV cần lưu ý các yêu càu sau đây:

- Chuẩn bị chu đáo các phương tiện và đồ dùng trực quan phù hợp vớitừng giai đoạn học tập của HS

- Xác định rõ mục đích cũng như cách thức tiến trình sử dụng các phươngtiện, đồ dùng trực quan

- Xây dựng hệ thống câu hỏi và hoạt động làm mẫu nhằm giúp HS thựchiện các hoạt động thực hành trên các phương tiện và đồ dùng trựcquan Dự kiến những khó khăn, sai lầm mà HS có thể mắc phải

- Bố trí, sắp đặt vị trí các phương tiện và đồ dùng trực quan một cách hợp

lí để thuận tiện trong sử dụng

- Sử dụng đúng lúc, đúng mức độ các phương tiện và đồ dùng trực quan.Tránh lạm dụng phương pháp trực quan

- Chú ý bước đầu giúp HS hình thành kĩ năng thực hành YỚi các phươngtiện và đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học

Trang 20

- Số ô vuông bên trái ít hơn số ô vuông bên phải Vậy số 234 bé hơn số

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đếnthực tiễn”

+ Phạm vi sử dụng: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong khihình thành kiến thức mới, những nội dung có tính chất trừu tượng

Khi hình thành khái niệm số tự nhiên cho học sinh lớp 1, lớp 2, giáoviên thường dùng các que tính, các hình vẽ về các đồ dùng, vật dụng gần gũitrong đời sống hàng ngày của trẻ để giúp học sinh hình thành kiến thức

Khi hình thành các công thức tính chu vi diện tích các hình ở lớp 3, 4, 5giáo viên thường dùng các hình vẽ, các mẫu vật hoặc các mô hình làm phươngtiện dạy học Các que tính, các hình vẽ về các đồ dùng, vật dụng, các hình vẽ,các mẫu vật hoặc các mô hình là các phương tiện trực quan

Trong chương trình Toán tiểu học có một số bài nhất thiết cần sử dụng

phương pháp trực quan đó là: bài “Số 1, 2, 3” S G K T o á n 1 hoặc bài “Hình

Trang 21

e Mức độ sử dụng phương pháp dạy học trực quan trong môn Toán

Phương pháp trực quan cũng như các phương pháp khác không thể sửdụng tuy tiện mà khi sử dụng cần lưu ý những vấn đề sau:

M ộ t l à : Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở tiểu

học không thể thiếu phương tiện (đồ dùng) dạy học Các phương tiện (đồdùng) dạy học phù hợp với từng giai đoạn nhận thức của trẻ ở giai đoạn 1, cácphương tiện chủ yếu là các đồ vật thật hoặc hình ảnh của đồ vật thật, gần gũivới cuộc sống của trẻ Ở giai đoạn 2, các phương tiện trực quan thường ở dạng

sơ đồ, mô hình có tính chất tượng trưng, trừu tượng và khái quát hơn

Các đồ dùng trực quan với mục đích chủ yếu là tạo chỗ dựa ban đầu chohoạt động nhận thức của trẻ, YÌ vậy phương tiện (đồ dùng) cần phải tập trungbộc lộ rõ những dấu hiệu bản chất của các mối quan hệ Toán học, giúp họcsinh dễ thấy, dễ cảm nhận được các nội dung kiến thức toán học Các đồ dùng(phương tiện) phù hợp với nội dung yêu cầu của các bài học, dễ làm, dễ kiếm,phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa phương, phù hợp với điều kiện kinh tế củagiáo viên và phụ huynh học sinh Tránh dùng các phương tiện quá máy móc

Đồ dùng (phương tiện) cần đảm bảo tính thẩm mỹ nhưng không quá cầu

kỳ về hình thức, và không quá loè loẹt về màu sắc, gây phân tán sự chú ý củahọc sinh vào những dấu hiệu không bản chất

H a i l à : cần sử dụng đúng lúc, đúng mức độ phương tiện trực quan.

Khi cần tạo điểm tựa trực quan để hình thành kiến thức mới thì dùng cácphương tiện, khi học sinh đã hình thành được kiến thức thì phải hạn chế bớtviệc dùng các phương tiện, thậm chí cấm sử dụng phương tiện trực quan, giúphọc sinh tư duy trừu tượng

Trang 22

Đối với trẻ nhỏ(ở giai đoạn các lớp 1,2,3) thì các phương tiện mang tính cụ thểhơn Các tác giả SGK môn Toán cũng đã thể hiện rõ yêu cầu này trong việcthể hiện nội dung các bài học và hướng dẫn giảng dạy.

B ố n l à : Không quá đề cao và tuyệt đối hoá phương pháp trực quan.

Phương pháp trực quan có nhiều ưu điểm và có vai trò quan trọng trong dạyhọc toán ở tiểu học, tuy nhiên, nếu tuyệt đối hoá phương pháp trực quan, dùngquá mức cần thiết sẽ gây phản tác dụng, làm cho học sinh lệ thuộc vào phươngtiện trực quan, tư duy máy móc, kém phát triển tư duy trừu tượng, vì vậy cần

sử dụng linh hoạt, đúng mức phương pháp dạy học trực quan, trên cơ sở phốihợp hợp lý với các phương pháp dạy học khác

f Ưu điểm và nhược điểm:

+ ƯU điểm

- Các phương pháp dạy học trực quan nếu được sử dụng khéo léo sẽ làmcho các phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học tạo nênnguồn tri thức Chức năng đó của chúng chủ yếu gắn liền YỚi sự kháiquát những hiện tượng, sự kiện YỚi phương pháp nhận thức quy nạp

- Chúng cũng là phương tiện minh hoạ để khẳng định những kết luận cótính suy diễn và còn là phương tiện tạo nên những tình huống Yấn đề vàgiải quyết vấn đề

- Vì vậy, phương pháp dạy học trực quan góp phần phát huy tính tích cựcnhận thức của học sinh

- Với phương pháp dạy học trực quan sẽ giúp học sinh huy động sự thamgia của nhiều giác quan kết hợp YỚi lời nói sẽ tạo điều kiện dễ hiểu, dễnhớ và nhớ lâu, làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát, óc tò

mò khoa học của học sinh

Trang 23

Nếu không ý thức rõ phương tiện trực quan chỉ là một phương tiện nhậnthức mà lạm dụng chúng thì dễ làm cho học sinh phân tán chú ý, thiếu tậptrung vào những dấu hiệu bản chất, thậm chí còn làm hạn chế sự phát triểnnăng lực tư duy trừu tượng của trẻ.

1.3 Hình vẽ, sơ đồ trong dạy học môn Toán (quan niệm, ỷ nghĩa) 1.3.1 Quan niệm về hình vẽ và sơ đồ

Ngôn ngữ toán học ( hình vẽ, sơ đồ) chủ yếu là ngôn ngữ viết.Trong việcdạy học ở tiểu học , hình vẽ, sơ đồ được sử dụng như công cụ để giao tiếp YỚimôn học Ngôn ngữ đó là những kí hiệu, những dạng tượng trưng, sơ đồ vàhình vẽ, biểu đồ, đồ thị Theo quan điểm của LS Levenbeg ngôn ngữ toánhọc được hiểu theo nghĩa rộng và chính hình vẽ và sơ đồ đã thể hiện quanniệm đó

Một vài định nghĩa trong từ điển [14] đã nêu rõ:

Hình: toàn thể nói chung những đường nét giới hạn của một vật trong

không gian, giúp phân việt vật đó với xung quanh

Hình ảnh: hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học

hoặc để lại ấn tượng và tái hiện được trong trí

Hình vẽ: tập hợp các đường nét, mảng mầu theo những nguyên tắc hội họa

nhất định trên mặt phẳng , phản ánh hình dạng một vật nào đó trong tự nhiên

Sơ đồ: Hình vẽ quy ước, có tính chất sơ lược, nhằm mô tả một đặc trưng

nào đó của sự vật hay một quá trình nào đó

Sơ đồ là trường hợp riêng của hình vẽ Nhưng là hình vẽ quy ước, có tính

sơ lược, nhằm mô tả một đặc trưng nào đó

Trang 24

Sơ đồ là hình vẽ có tính sơ lược nên quá trình nhận thức toán học của trẻ

em nếu dẫn dắt theo thứ tự hình vẽ (hình ảnh thật hay gần thật) rồi đến sơ đồ(hình vẽ quy ước, sơ lược) sẽ có tác dụng:

(i) Trẻ em học toán từ thực tế và nếu có hình vẽ tốt sẽ gây hứng thú, chú ý

ở học sinh(ii)Chuyển từ hình vẽ gần thật sang hình vẽ sơ lược (sơ đồ) sẽ giúp học

trình trừu tượng hóa toán học

(iii) Đen lúc nào đó, học sinh làm quen với từ ngữ “số ba”, kí hiệu “3” sẽbiết, hiểu và dùng toán học )

Sơ đồ theo định nghĩa ở Từ điển có nói đến 2 loại: Sự vật hay quá trình Cóthể hiểu sơ đồ trên là sự vật nào và có thể hiểu sơ đồ đó phản ánh quá trình nàonên việc phân biệt hình vẽ và sơ đồ là rất quan trọng ở luận văn này

Hình vẽ trong toán học được sử dụng rất nhiều từ lớp 1 đến lớp 5 Hình vẽgiúp học sinh tiếp nhận nội dung học một cách trực quan Ví dụ để giới thiệuhọc sinh các hình như hình vuông, hình tam giác, hình tròn hay hình chữ nhật

Với tư duy của các em tiếp nhận bằng ngôn ngữ tự nhiên rất khó hình dungnhưng nếu chỉ vào hình vẽ đề hình thành biểu tượng ban đầu lại rất dễ dàng

Trang 25

Quan niệm về cụ thể và trựu tượng chỉ tính chất tương đối Khi học sinh

6 tuổi học về các số tự nhiên thì khái niệm số trừu tượng, phải sử dụng cácphương tiện trực quan là những vật cụ thể (quả cam, con mèo, cái cây, bônghoa ) Nhưng khi đã nhận thức được khái niệm số rồi thì có t h ể coi đó là cái

cụ thể, là phương tiện trực quan để học các kiến thức trừu tượng hơn, chẳnghạn, sử dụng các ví dụ bằng số để học sinh nhận biêt một số tính chất của phéptính [7]

Hình vẽ, sơ đồ chính là bước chuyển giao từ cụ thể sang trừu tượng Do

đó theo quan niệm trên càn lưu ý khi sử dụng hình vẽ, sơ đồ như sau:

- Cần sử dụng đúng lúc, đứng mức Như khi học sinh lớp 1 và lớp 2 hìnhthành bảng cộng có sử dụng hình vẽ, sơ đồ về que tính ở phần bài họcnhưng khi học sinh học có thể dùng thêm que tính vật thật để củng cốkiến thức không nhất thiết chỉ dùng mỗi hình vẽ, sơ đồ để tạo tính linhhoạt cho bài dạy

Trang 26

quetính để được 3 que tính, tiếp đến lấy 2 chấm tròn rồi lấy 1 chấm trònđược 3 chấm tròn Từ 3 bông hoa đến 3 que tính rồi 3chấm tròn đã có

sự chuyển dần từ cụ thể sang trừu tượng hơn và HS nhận biết được cáichung của các nhóm đồ vật đó là “ba”

- Không lạm dụng quá nhiều hình vẽ, sơ đồ Ví dụ khi dạy giải toán có lờivăn , dạng bài mới học sinh thường được hướng dẫn dùng sơ đồ minhhoạ để làm rõ các yếu tố trong bài Nhưng khi học sinh đã nắm đượcdạng bài mà khi làm bài giáo viên vẫn yêu cầu học sinh dùng hình vẽ,

sơ đồ để giải toán thì việc này không giúp cho sự phát triển tư duy củatrẻ mà lại trở thành áp đặt, máy móc Chính điều này làm học sinh ngạisuy nghĩ, ngại dùng trí tưởng tượng [7]

Khi quan sát một đồ vật, hiện tượng bên ngoài, tri giác cung cấp cho ta một “hình ảnh ” về hiện tượng, đồ vật đó,như vậy ở đây có sự thay thế bằng hình ảnh [9]

BiểutượngTri giác

Trang 27

Để hình thành các bước thực hiện phép cộng dạng 49 + 25 (cộng có nhớdưới dạng tính viết) nếu chỉ đưa luôn phép tính 49 + 25 = 74 học sinh sẽ khóhình dung Nhưng YỚi hệ thống bài trong lớp 2 những dạng toán này được xâydựng một cách hệ thống từ những bài trước đó như 26 + 4; 36 + 24 hay 29 + 5;học sinh sẽ hình dung ra con đường để giải quyết bài toán theo các bước cơ bảnsau dựa vào hình vẽ, sơ đồ trong sách mà không cần dựa vào ngôn ngữ tựnhiên:

- Đưa ra bài toán: Có 49 que tính, thêm 25 que tính nữa Hỏi có tất cả bao nhiêu que tính?

- Học sinh tự thao tác với các que tính để tìm ra kết quả

Chú ý: trong quá trình thao tác tìm kết quả của phép tính 49 + 25 học sinh

có thể nêu đã sử dụng những thao tác nào như thao tác dùng que tính vớithao tác của 9+ 5 hay thao tác “phân tích” , “tổng hợp” số (theo số chục và

số đơn vị)

- Đặt tính rồi tính: Giáo viên hướng dẫn học sinh tự đặt tính rồi tính như SGK

Ví dụ Bài Luyện tập chung ( S G K T o á n 1 - t r a n g 63)

Đối với những bài này giáo viên cho học sinh quan sát hình vẽ, nhận xétđặc điểm hình vẽ Nêu miệng bài toán Viết phép tính thích hợp với hình vẽ.

5

Viết phép tính thích họp:

Trang 28

2 + 3 5

Câu b cách làm tương tự như câu a

Như vậy từ cách chuyển ta có thể thấy hình vẽ và sơ đồ trong dạy họcđược chuyển dần từ hình vẽ đồ thật vật thật đến hình vẽ tượng trưng Càng lêncao học sinh càng được làm quen với biểu diễn đồ thị tượng trưng dưới dạnghình vẽ hoặc sơ đồ

Các hình vẽ và sơ đồ được sử dụng nhiều nhất và hiệu quả nhất khiminh hoạ các bài toán đơn giản đến phức tạp dựa vào các đại lượng và mốiquan hệ tương quan trong bài toán đó Chẳng hạn, lớp 4 và 5 việc sử dụng cácbiểu diễn sơ đồ bằng đoạn thẳng để minh hoạ cho các bài toán chuyển động phùhợp với tình huống thực tiễn đạt hiệu quả rất cao Học sinh tự tìm được mốiquan hệ thông qua sơ đồ khi ta biểu diễn quãng đường đi được của vật thể bằngđoạn thẳng, còn vị trí xuât phát, nơi gặp gỡ, nơi đến bằng điểm, chữ cái, dấugạch ngang Hướng chuyển động thường biểu diễn bằng mũi tên Các mốiquan hệ của các đại lượng như quãng đường, vận tốc, thời gian .cũng đượcminh hoạ một cách tường minh và điều đó giúp học sinh chuyển ngôn ngữ tựnhiên của bài toán về ngôn ngữ toán học và tự tìm được cách giải toán một cáchlogic và thuận tiện nhất

1.4 Hình vẽ, sơ đồ trong sách giáo khoa Toán lớp 1 và lớp 2

Sách giáo khoa Toán 1 hình thành cho học sinh các khái niệm ban đầu của

Toán học chủ yếu qua hình ảnh trực quan S G K T o á n 1 cung cấp cho học

sinh khoảng 46 thuật ngữ và 31 kí hiệu toán học qua các mạch nội dung toánhọc như số học , đại lượng và đo đại lượng, yếu tố hình học và giải toán có lờivăn

Để hình thành các phép tính cộng và trừ ở lớp 1 S G K T o á n 1 cung cấp

Trang 29

Hình vẽ trong môn Toán là hình ảnh đồ vật, hiện tượng từ thực tế, thường làgần gũi với trẻ em, hàm chứa nội dung toán học cần dạy cho trẻ em Hình vẽdưới thể hiện 4 con chim có 1 đường kẻ ở hình vẽ để tách 4 con chim đó thành

2 phần: phần có 3 con và phần có 1 con Hình vẽ này hàm chứa nội dung liênquan đến các số 4, 3 và 1 và có thể khai thác để dạy về phép cộng 3+1 = 4 hayphép trừ 4 -1 = 3

Sơ đồ trong môn Toán: hình ảnh thể hiện nội dung Toán học đã được trừutượng hóa bằng thay thế hình ảnh đồ vật hiện tượng như các con chim bằnghình các ở dạng các đốm xanh Hình đốm xanh trừu tượng hơn hình con chim,nhưng bước chuyển từ hình con chim sang hình đốm xanh giúp hình dung nộidung toán học rõ hơn Nội dung toán học ở đây là số lượng đồ vật, số lượng convật

Sơ đồ là hình vẽ có tính sơ lược nên đơn giản Với môn Toán, nó giúp quátrình trừu tượng hóa toán học Các đốm xanh, tuy vui mắt nhưng sơ lược hơn/ \

Trang 30

Đối với mạch kiến thức yếu tố hình học trong lớp 1, họcsinh được làm quen với các thuật ngữ như hình tròn, hình tamgiác, điểm, đoạn thẳng, dài hơn, ngắn hơn nhưng nếu dùngngôn ngữ tự nhiên giải thích với tư duy của học sinh lớp 1 các

em hoàn toàn không thể nắm bắt và khiến kiến thức trở nên mơ

hồ xa lạ với các em Nhưng với cách trình bày trong S G K T o á n 1 kiến thức

được truyền tải bằng hình vẽ, sơ đồ lại trở nên rất hữu ích và gần gũi

Mạch nội dung giải toán có lời văn liên quan đến những tình huống gầngũi với nhận thức của học sinh lớp 1 nhưng được truyền tải bằng hình vẽ, sơ đồ

So với chương trình Toán 1 (CCGD) S G K T o á n 1 đã giảm tải về

thuật ngữ toán học cho học sinh Với chương trình CCGD dạng toán có lời vănđược giới thiệu ngay từ đầu học kì 1, điều này gặp nhiều trở ngại do các em họcsinh lúc này mới ghép vần đọc chưa thạo nên việc phải hiểu nội dung để ghi

phép tính có nhiều bất cập Nên S G K T o á n 1 đã khắc phục được nhược

điểm trên khi đưa giải toán có lời văn vào đầu học kì 2 Và nội dung giải toán có

lời văn đã được học sinh làm quen qua các bài “ V i ế t p h é p t ỉ n h t h í c h

h ợ p ” qua các bước nhìn hình vẽ, tranh ảnh để viết phép tính thích hợp vào ô

trống

Nhìn vào hình vẽ này ta có thể thấy rõ tác dụng sư phạm của hình ảnh và

sơ đồ đối với học sinh lớp 1 và lớp 2 khi nói và viết bằng tiếng Việt còn hạn

Viết phép tinh thích hạp :

Trang 31

Hỏi có tất cả mấy con chim? Đối với học sinh lớp 1 lúc này các em đã đọcnhưng để hiểu nội dung văn bản lại rất khó khăn Nhưng nếu ta đưa hình vẽminh hoạ học sinh có thể dùng phép đếm để làm bài và từ đó đưa ra phép tínhcộng: 4 + 2 = 6 hay 2+4 = 6.

Dạng toán này được nâng cao dần mức độ trừu tượng hoá khi thông quabài tóm tắt bằng hình vẽ, bằng lời giúp học sinh nắm được hình vẽ, sơ đồ một

cách tự nhiên theo từng mức độ Trong S G K T o á n 1 bắt đầu từ bài Bảng

cộng và bảng trừ trong phạm vi 10 học sinh bắt đầu làm quen mức độ này:

Và cuối cùng học sinh được làm quen với dạng giải toán có lời văn mộtcách hoàn thiện các bước đày đủ ( có bài toán, có tóm tắt, có bài giải gồm 3bước như lời giải, phép tính, đáp số cùng cách ghi đơn vị) như các bài sau:

vtil phap tinh Ihich Họp :

b.Ị Go 1 o quá bâng

ChK? 3 bong

Còn ; &OT14J ~

Trang 32

Hay giải toán có lời văn bằng sơ đồ:

đoạn thẳng BC dài 6cm Hỏiđoạn thẳng AC ^ dài mấy xăng - ti - mét ?

Sang S G K T o á n 2 , các hình vẽ, sơ đồ được trực quan hoá và nâng dần

mức độ trừu tượng qua 4 mạch nội dung: số học , đại lượng và đo đại lượng,yếu tố hình học và giải toán có lời văn

Những hình vẽ trong S G K T o á n 2 được sử dụng trong mạch nội dung số

học nhằm góp phàn trực quan hoá Chẳng hạn để học sinh hình thành bảng 8

cộng với một số: 8 + 5 S G K T o á n 2 sử dụng đến hình vẽ chứa đựng nội

dung toán học Thông qua hình vẽ trực quan về que tính học sinh tự tìm kết quảcủa các phép tính trong bảng cộng 8 dựa trên kinh nghiệm và vốn kiến thức đã

Trang 33

Mạch nội dung Đại lượng và đo đại lượng bằng hình vẽ, sơ đồ: học sinhđựoc thực hành để hình thành biểu tượng: thực hành chuyển đổi đơn vị đo, thựchành tính toán trên các số đo; thực hành đo và tập ước lượng.

Ví dụ khi học đơn vị đo độ dài xăng - ti- mét ở lớp 1, học sinh dễ dàng nhận

biết nó Ở lớp 2, có 2 đơn vị đo độ dài học sinh cũng dễ nhận biết như đề-xi-mét

và mét, chỉ có ki- lô- mét là học sinh gặp khó khăn vì đơn vị quá lớn Và chínhhình vẽ, sơ đồ đã giúp học sinh nắm bắt được kiến thức thuận tiện nhất, có cáinhìn bao quát và tổng hợp như:

Đối với giải toán có lời văn đã quen thuộc với lớp 1 nhưng ở lớp 2 còn tăngcường thêm về giải toán có lời văn tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng

Trang 34

(CCGD), S G K T o á n 2 không còn các bài toán nâng cao “bài toán *” để

phù hợp với thực tế hơn

Bên cạnh đó S G K T o á n 2 tiếp tục sử dụng những câu lệnh đã có ở

lớp 1 và mở rộng thêm các câu lệnh khác như giải bài toán theo tóm tắt, giải bài

toán theo hình vẽ ( bài 3 t r a n g 36), khoanh vào trước câu trả lời đúng (bài 3

t r a n g ỉ 5 4 )

Tóm lại, S G K T o á n 1 và 2 đã sử dụng hình vẽ, sơ đồ ở mức độ đơn

giản giúp học sinh lĩnh hội kiến thức dễ dàng và linh hoạt Các bài tập trongsách đã quan tâm bước đầu đến việc hình thành và phát triển hình vẽ, sơ đồ chohọc sinh đầu cấp tiểu học, tạo nền tảng để tiếp thu kiến thức các lớp cao hơn

1.5 NỘỈ dung dạy học phép tính cộng trừ ở lớp 1 và lớp 2

1.5.1 Nội dung dạy học phép tính cộng trừ ở lớp 1

- Các số đến 10 Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 10.

- Bước đầu giới thiệu khái niệm về phép cộng

- Bước đầu giới thiệu khái niệm về phép trừ

- Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10

- Số 0 trong phép cộng, phép trừ

- Mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ

- Tính giá trị biểu thức số có đến dấu hai phép tính cộng, trừ

- Các số đến 100 Phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vỉ

100.

- Phép cộng và phép trừ không nhớ trong ph ạm vi 100 Tính nhẩm và tính viết trong trong phạm vi 100

- Tính giá trị biểu thức số có đến hai phép tính cộng, trừ (các trường hợp đơn giản)

Trang 35

Nội dung chủ yếu của chương trình môn Toán ở lớp 2 mới bao gồm 4 mạch kiến thức :

+ Số học

+ Đại lượng và đo đại lượng

+ Yếu tố hình học

+ Giải toán

Dạy học phần số học (phép cộng và phép trừ trong tập hợp số tự nhiên) ở lớp

2 nhằm giúp cho học sinh:

- Hiểu được khái niệm ban đầu về phép tính, ý nghĩa của phép tính, hiểuđược một số tính chất của phép tính, từ đó hiểu các quy tắc tính

- Vận dụng được chúng một cách thành thạo, có được các kỹ xảo tính toánvững chắc để giải các bài toán trong phạm vi chương trình

- ứng dụng tốt trong đời sống

* Tìm hiếu nôi dung dạy phép công, trừ trong chương trình Toán 2 :

a - S o s á n h n ộ i d u n g d ạ y h ọ c ở h a i c h ư ơ n g t r ì n h

( C C G D v à C T T H - 2 0 0 0 ) : Nếu ở lớp 2 chương trình CCGD, việc

dạy cộng, trừ có nhớ bị tách ra làm hai giai đoạn:

* Giai đoạn 1 : Hình thành các bảng cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 20, gồm có các bảng:

a) 9 (8 , 7 , 6) cộng với một số và bảng cộng (tổng hợp) có nhớ trong phạm

vi 20 Trong bài bảng cộng (tổng họp) ta dùng tính chất giao hoán củaphép cộng để xây dựng nốt các công thức cộng có nhớ dạng “5 (4, 3, 2)cộng với một số”

b) 11 (12, 13, 14, 15) trừ đi một số và bảng trừ (tổng hợp ) có nhớ trongphạm vi 20 Trong bảng trừ tổng hợp này có cả các công thức trừ có nhớ

Trang 36

с) Cuối cùng là bảng cộng, trừ (tổng hợp) trong phạm vi 20 gồm cả có nhớ vàkhông nhớ với 2 lối vào (bảng pythagore)

* Giai đoạn 2 : Hình thành các biện pháp cộng, trừ có nhớ trong phạm vi100; bao gồm các dạng :

Đây là điểm khác nhau căn bản trong cách dạy phép cộng, phép trừ có nhớ

Trang 37

b- Những mẫu Phép cộng, trừ (có nhớ) trong chương trình Toán 2:

1) Sô tròn chụctrừ đi một số :40-8

2) Các phép trừ

có liên quan đếnbảng “11 trừ đimột số”

a) 11 -5b) 31 -5

c) 51 - 153) Các phép cộng có liên

quan YỚi bảng “8 cộng

với một số”

a) 8 + 5b) 28 + 5c) 38 + 25

3) Các phép trừ

có liên quan đếnbảng “12 trừ đimột số”

a) 12 - 8b) 32 - 8c) 52 - 28

4) Các phép cộng có liên

quan YỚi bảng “7 cộng

với một số”

a) 7 + 5b) 27 + 5c) 47 + 25

4) Các phép trừ

có liên quan đếnbảng “13 trừ đimột số”

a) 13 - 5b) 33 - 5c) 53 - 15

5) Các phép cộng có liên

quan YỚi bảng “6 cộng

với một số”

a) 6 + 5b) 26 + 5c) 36+ 15

4) Các phép trừ

có liên quan đếnbảng “14 trừ đimột số”

a) 14 - 8b) 34 - 8c) 54-18

a) 15-7; 16-9b) 55 - 8 ; 37 - 8; 68-9

Trang 38

mục (lb)phần trên Tuy nhiên ở

lớp 2 (cũ) có dạy riêng một bài về

Nhìn vào bảng trên, ta thây việc dạy cộng, trừ có nhớ trongphạm vi 10C lớp 2 (CTTH - 2000) kỹ lưỡng hơn ở lớp 2 (cũ) khá nhiều, cụ thể:

+ Ở lớp 2 (cũ) phép cộng số

có hai chữ số với số có một chữ số có nhớ chỉ được dạy qua một bài YỚi một mẫu “45 + 8” còn ở lớp 2 (mới) phép cộng ấy

Trang 39

phạm vi 20.

+ Ở lớp 2 (cũ) phép trừ hai số có hai

chữ số có nhớ chỉ được dạy qua một bài

với một mẫu “45 + 28” còn ở lớp 2 (mới)

thì phép trừ ấy được tách thành 6 bài với

lờivăn-Giải các bài toán bằng mộtphép cộng hoặc một phép trừ,chủ yếu là các bài

toán thêm, bớt một số đơn vịDạy học toán ở lớp 1 nhằmgiúp học sinh:

+ Nhận biết thế nào là một bàitoán có lời văn

+ Biết giải và trình bày các bàitoán bằng một phép tính cộng

Trang 40

giải quyết Yấn đề, trình bày Yấn đề bằng

ngôn ngữ nói và viết

-Trong chương trình toán lớp 1, phần

giải bài toán có lời văn chia làm hai giai

đoạn

+ Giai đoạn 1 từ tiết 1 đến tiết 74:

Trong mỗi bài toán hướng dẫn học

sinh hiểu và nắm vững phần đã cho và

phần phải đi tìm Hiểu được cách tóm tắt

bài toán dưới dạng các câu văn, chỉ yêu

cầu học sinh điền số và kết quả phép tính

vào ô trống ở bên phải (bên dưới) bài

toán

V ỉ d ụ : Bài 4 t r a n g 47, Toán 1.

Gắn hình minh họa trên bảng lớp cho

học sinh quan sát rồi hỏi:

- Trên cành cây có mấy con chim đang

đậu? (Có 3 con chim)

- Có mấy 1 con chim đang bay đến đậu

cùng hay bay đi? (Có 1 con chim đang

bay đến đậu cùng)

- Vậ y bài toán này đã được thêm vào 1

con chim hay đã được bớt đi 1 con chim?

(Bài toán này đã được thêm vào 1 con

chim)

đậu, sau đó có 1 con bay đếnđậu cùng Hỏi trên cành cây cótất cả bao nhiêu con chim đangđậu?)

Bài toán cho biết gì? (Có: 3con chim đang đậu, Thêm: 1con chim bay đến đậu cùng).Bài toán hỏi gì? (Trên cành cây

có tất cả bao nhiêu con chimđang đậu?)

Muốn biết trên cành cây có tất

cả bao nhiêu con chim đangđậu, ta làm như thế nào? (Thựchiện phép tính 3 + 1)

Chỉ yêu cầu học sinh điềnvào ô trống bên dưới bài toánnhư sau:

3 +- 1 = 4

Như vậy giai đoạn nàyhọc trong học kì 1, học sinhđược làm quen với các tìnhhuống của bài toán dượcdiễn tả qua tranh vẽ Yêucầu chỉ ở mức độ quan sát

Ngày đăng: 14/09/2015, 10:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Hoàng Phê (chủ biên) (2008). T ừ đ i ể n t i ế n g Fz'ệf-NXB Đà Nằng 15. Thái Duy Tuyên (2006). Khái niệm trực quan trong khoa học giáo dục hiệnđại, Tạp chỉ Thiết bị Giáo dục, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T ừ đ i ể n t i ế n g " Fz'ệf-NXB Đà Nằng15."Thái Duy Tuyên (2006). Khái niệm trực quan trong khoa học giáo dục hiện
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên) (2008). T ừ đ i ể n t i ế n g Fz'ệf-NXB Đà Nằng 15. Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Đà Nằng15."Thái Duy Tuyên (2006). Khái niệm trực quan trong khoa học giáo dục hiện "đại
Năm: 2006
17. Ferdinand De Sausure. G i á o t r ì n h N g ô n n g ữ h ọ c đ ạ i c ư ơ n g , NXB KHXH. 2005, Cao Xuân Hạo dịch, t r a n g S ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ferdinand De Sausure. "G i á o t r ì n h N g ô n n g ữ h ọ c đ ạ i c ư ơ n g , " NXB KHXH. 2005, Cao Xuân Hạo dịch, "t r a n g S
Nhà XB: NXB KHXH. 2005
18.M.N.Sacđacôp (1970). T ư d u y c ủ a h ọ c s i n h . N X B Giáo dục Hà Nội 19. L. SH. Levanbeg (1982). Dùng hình vẽ, sơ đồ, bản vẽ để dạy Toán ởcấp I (các lớp đầu của trường phổ thông cơ sở). NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: M.N.Sacđacôp (1970). "T ư d u y c ủ a h ọ c s i n h . N X B " Giáo dục Hà Nội"19.L. SH. Levanbeg (1982). Dùng hình vẽ, sơ đồ, bản vẽ để dạy Toán ở
Tác giả: M.N.Sacđacôp (1970). T ư d u y c ủ a h ọ c s i n h . N X B Giáo dục Hà Nội 19. L. SH. Levanbeg
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
20. T r a n g w é b hỗ trợ giáo viên dạy học môn Toán ở tiểu học http :// www.teach-kids-math-by-model-method. com/T r a n g w é b từ điển toán học bằng hình ảnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: hỗ trợ giáo viên dạy học môn Toán ở tiểu họchttp :// www.teach-kids-math-by-model-method . com/"T r a n g w é b
13. Trần Ngọc Lan. Thực hành phương pháp day học toán ở tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT - Sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phép tính cộng, trừ và giải bài toán đơn (có lời văn) ở môn toán lớp 1 và lớp 2
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT (Trang 4)
Hình vẽ trong môn Toán là hình ảnh đồ vật, hiện tượng từ thực tế, thường là gần gũi với trẻ em, hàm chứa nội dung toán học cần dạy cho trẻ em - Sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phép tính cộng, trừ và giải bài toán đơn (có lời văn) ở môn toán lớp 1 và lớp 2
Hình v ẽ trong môn Toán là hình ảnh đồ vật, hiện tượng từ thực tế, thường là gần gũi với trẻ em, hàm chứa nội dung toán học cần dạy cho trẻ em (Trang 29)
Sơ đồ đoạn thẳng, như: - Sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phép tính cộng, trừ và giải bài toán đơn (có lời văn) ở môn toán lớp 1 và lớp 2
o ạn thẳng, như: (Trang 76)
Ngay ở phần 1 của sách Toán 1: Các số đến 10. Hình vuông, hình tròn, hình tam giác. Bài đầu tiên trong sách chỉ đưa các hình ảnh để học sinh làm quen với môn Toán như giới thiệu sách toán 1, giới thiệu học nhóm, giới thiệu đồ dùng học Toán - Sử dụng hình vẽ, sơ đồ trong dạy học phép tính cộng, trừ và giải bài toán đơn (có lời văn) ở môn toán lớp 1 và lớp 2
gay ở phần 1 của sách Toán 1: Các số đến 10. Hình vuông, hình tròn, hình tam giác. Bài đầu tiên trong sách chỉ đưa các hình ảnh để học sinh làm quen với môn Toán như giới thiệu sách toán 1, giới thiệu học nhóm, giới thiệu đồ dùng học Toán (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w