1.Tính cấp thiết của đề tàiHiện nay, xu thế toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới đang có sự gia tăng mạnh mẽ, gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ, bên cạnh đó, quan hệ giữa các quốc gia cũng ngày càng sôi động và phát triển hơn trên nhiều lĩnh vực. Hoạt động đầu tư quốc tế đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn thế giới với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, quyết liệt. Tại Việt Nam, sau khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc thu hút vốn đầu tư, tăng sản lượng và giá trị xuất khẩu, phát triển khoa học công nghệ, tạo công ăn việc làm… góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân. Công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa cũng là điều kiện tiên quyết giúp các quốc gia đang phát triển như Việt Nam vươn lên hội nhập quốc tế. Một trong những yếu tố đóng góp vào sự thành công đó là hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam. Hoạt động này ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình, góp phần gia tăng nhanh chóng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp cũng như chất lượng của các nguồn vốn đó. Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến đầu tư hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế như tình trạng trùng lặp, còn diễn ra lẻ tẻ, thiếu sự đồng bộ, mục tiêu dài hạn chưa được đề ra, thông tin thiếu tính cập nhật… Điều này cũng ảnh hưởng phần nào đến sự thu hút các nguồn vốn.Vì vậy, em xin lựa chọn đề tài “Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam” cho chuyên đề thực tập của mình.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
******************
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬPTÊN ĐỀ TÀI
TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Trần Thị Minh Hằng
Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế
Thời gian thực tập : Đợt I năm 2014
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
Hà Nội, tháng 5/2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tên em là Trần Thị Minh Hằng, sinh viên lớp Kinh tế quốc tế D, khóa 52
Em xin cam đoan chuyên đề thực tập cuối khóa “ Tăng cường hoạt động xúc tiếnđầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam ” là công trình nghiêncứu của bản thân, có sự hướng dẫn từ Giảng viên hướng dẫn – PGS.TS Ngô ThịTuyết Mai và sự hỗ trợ của các cán bộ tại Vụ Quản lý Quy hoạch – Bộ Kế hoạch vàĐầu tư Em xin cam đoan các nội dung nghiên cứu và kết quả trong chuyên đề này
là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nàokhác
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệmvới nhà trường và Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Minh Hằng
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 3
1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp Việt Nam 3
1.1.1 Tầm quan trọng của ngành công nghiệp Việt Nam 3
1.1.2 Tình hình sản xuất của ngành công nghiệp Việt Nam 3
1.2 Sự cần thiết phải tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam 3
1.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tích cực vào sự phát triển ngành công nghiệp Việt Nam 3
1.2.2 Hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam chưa thực sự hiệu quả 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 - 2013 3
2.1 Giới thiệu về Chương trình Xúc tiến đầu tư quốc gia 3
2.1.1 Mục tiêu của Chương trình Xúc tiến đầu tư quốc gia 3
2.1.2 Nội dung Chương trình Xúc tiến đầu tư quốc gia 3
2.2 Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam 3
2.2.1 Cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực đầu tư 3
2.2.2 Cơ cấu đầu tư theo đối tác đầu tư 3
2.2.3 Cơ cấu đầu tư theo địa bàn đầu tư 3
Trang 52.3 Cơ cấu tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt
Nam 3
2.4 Thực trạng hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam 3
2.4.1 Thực trạng hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam theo nội dung xúc tiến đầu tư 3
2.4.2 Thực trạng hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam theo biện pháp xúc tiến đầu tư 3
2.5 Đánh giá chung về kết quả của hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam 3
2.5.1 Những thành công đã đạt được 3
2.5.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 3
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 3
3.1 Quan điểm và định hướng của Nhà nước về hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới 3
3.1.1 Quan điểm của Nhà nước về hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam 3
3.1.2 Định hướng của Nhà nước về hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam 3
3.2 Một số giải pháp tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 3
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp và cải cách thủ tục hành chính 3
3.2.2 Cải thiện các công cụ xúc tiến đầu tư 3
3.2.3 Cải thiện chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt động xúc tiến đầu tư 3
Trang 63.2.4 Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu thị trường và đối tác đầu tư 3 3.2.5 Khắc phục các hạn chế về tài chính trong hoạt động xúc tiến đầu tư 3
3.3 Một số kiến nghị với các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp Việt Nam3 KẾT LUẬN 3 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 3
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Tăng trưởng GDP theo ngành giai đoạn 2009-2013……….7 Bảng 1.2: Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp……… 8 Bảng 2.1: Số dự án thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2009-2013……….
Bảng 2.2: Tình hình vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2009-2013……… 28 Bảng 2.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam theo đối tác………30 Bảng 2.4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc vào ngành công nghiệp Việt Nam……… 31 Bảng 2.5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam theo vùng……… 33 Bảng 2.6: Tỷ trọng vốn FDI phân theo ngành nghề tại các KCN Hà Nội…….34
Trang 8DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp giai đoạn 2009 – 2013……… 11 Hình 1.2: Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp phân theo địa phương giai đoạn
2009 – 2013……… 13 Hình 1.3: Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2009 – 2013……….……… 14 Hình 1.4: Tỷ trọng khu vực FDI trong giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn
1996 – 2013……….……… 17 Hình 2.1: Tỷ trọng vốn FDI vào ngành công nghiệp theo hình thức đầu tư giai đoạn 2009-2013……… ……… 36 Hình 2.2: Kết quả thu hút FDI vào ngành công nghiệp của các trung tâm XTĐT 3 miền giai đoạn 2009 – 2013……….……….46 Hình 2.3: Số lượng hội thảo, hội nghị XTĐT vào ngành công nghiệp được tổ chức giai đoạn 2009 – 2013………….……….50
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới đang có sự gia tăngmạnh mẽ, gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ, bên cạnh đó, quan hệgiữa các quốc gia cũng ngày càng sôi động và phát triển hơn trên nhiều lĩnh vực.Hoạt động đầu tư quốc tế đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn thế giới với mức độcạnh tranh ngày càng gay gắt, quyết liệt Tại Việt Nam, sau khi Luật Đầu tư nướcngoài được ban hành, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đạt được nhiều thànhtựu to lớn trong việc thu hút vốn đầu tư, tăng sản lượng và giá trị xuất khẩu, pháttriển khoa học công nghệ, tạo công ăn việc làm… góp phần tích cực vào sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước
Công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng nhất của nền kinh tếquốc dân Công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa cũng là điều kiện tiên quyếtgiúp các quốc gia đang phát triển như Việt Nam vươn lên hội nhập quốc tế Mộttrong những yếu tố đóng góp vào sự thành công đó là hoạt động xúc tiến đầu tư trựctiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam Hoạt động này ngày càng thểhiện vai trò quan trọng của mình, góp phần gia tăng nhanh chóng lượng vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp cũng như chất lượng của các nguồn vốn
đó Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến đầu tư hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chếnhư tình trạng trùng lặp, còn diễn ra lẻ tẻ, thiếu sự đồng bộ, mục tiêu dài hạn chưađược đề ra, thông tin thiếu tính cập nhật… Điều này cũng ảnh hưởng phần nào đến
Trang 10Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu tổng quan về ngành côngnghiệp Việt Nam Đồng thời nghiên cứu, phân tích sự cần thiết của hoạt động xúctiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam.
Đánh giá được thực trạng hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vàongành công nghiệp Việt Nam trên các phương diện khác nhau, từ đó rút ra đượcnhững thành công và hạn chế
Trên cơ sở lý luận và thực tế, chuyên đề sẽ đề xuất những giải pháp thích hợpvừa phát huy được những thành tựu vừa hạn chế những mặt khiếm khuyết nhằmtăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệpViệt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp củamột quốc gia
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử, chuyên đề áp dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn giải,quy nạp và thu thập dữ liệu qua những tài liệu của các cơ quan ban ngành, những tàiliệu, bài báo, tạp chí của các tổ chức trong nước và quốc tế Từ những phương phápnghiên cứu trên giúp cho tác giả có thể luận giải được vấn đề nghiên cứu trongchuyên đề một cách khách quan nhất
Trang 115 Kết cấu chuyên đề
Chuyên đề được trình bày với kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về ngành công nghiệp Việt Nam và sự cần thiết phảităng cường hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệpViệt Nam
Chương 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vàongành công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2009 - 2013
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp Việt Nam
1.1.1 Tầm quan trọng của ngành công nghiệp Việt Nam
Công nghiệp đóng vai trò to lớn trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, quốcphòng và đời sống xã hội Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa nền sản xuất làđiều kiện tiên quyết đối với hầu hết các nước trong quá trình phát triển Đặc biệt đốivới những nước đang phát triển thì công nghiệp ngày càng phát huy vai trò là “đầutàu” của nền kinh tế
Đường lối công nghiệp hóa đất nước đã được hình thành từ Đại hội III(Tháng 9-1960) của Đảng Trong giai đoạn 1960 – 1985, công nghiệp hóa chưa đemlại nhiều thành công lớn bởi đất nước còn trong chiến tranh, điều kiện đi lên từ điểmxuất phát rất thấp, chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên thiên nhiên, việntrợ, một số chính sách chưa đúng đắn như mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội,thiên về phát triển công nghiệp nặng… Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI củaĐảng (Tháng 12-1986) với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,nói rõ sự thật” đã chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệphóa thời kỳ này và tiến hành Đổi mới đất nước Những chính sách đã phù hợp hơnnhư cơ chế mở cửa nền kinh tế, lấy nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng vàhàng xuất khẩu làm trọng tâm, phát huy nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế…Trải qua các kì Đại hội tiếp theo, các quan điểm, định hướng về công nghiệp hóa –hiện đại hóa luôn được thay đổi phù hợp với từng thời kì và nhiều kế hoạch đã đượcthực hiện xuất sắc
Sau hơn 25 năm Đổi mới, ngành công nghiệp đã chứng tỏ được vai trò quantrọng của mình trong sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, cụ thể là:
Công nghiệp có nhiều đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước
Kể từ khi thực hiện chính sách Đổi mới năm 1986, Việt Nam đã nỗ lực đẩynhanh quá trình chuyển đổi nền kinh tế một cách toàn diện và sâu sắc GDP thực
Trang 13không ngừng tăng cao đạt mức bình quân 7,1%/năm trong giai đoạn 1990-2010, tỉ lệnghèo giảm mạnh từ 58% năm 1990 xuống chỉ còn 10,6% năm 2010 GDP bìnhquân đầu người tính theo thời giá đã vượt mức 1.000 USD trong năm 2010.
Tỷ trọng của ngành công nghiệp và xây dựng đóng góp vào sự tăng trưởngcủa GDP luôn tăng trong giai đoạn 2000-2013 Năng suất lao động là yếu tố quyếtđịnh nâng cao thu nhập, thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và đóng góp lớn vào thunhập quốc gia Và công nghiệp cũng là ngành có năng suất lao động cao, giá trị giatăng lớn, tốc độ tăng trưởng cao, điều này đã góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng củanền kinh tế
Bảng 1.1 Tăng trưởng GDP theo ngành giai đoạn 2009-2013
2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013 Tốc độ tăng trưởng (%)
Trang 14luôn áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến, hiện đại và phù hợp, bên cạnh đó là sự nângcao chất lượng nguồn nhân lực, kinh nghiệm quản lý…đây là những bài học quý báu
mà Việt Nam nhận được từ nguồn vốn FDI Hiện nay, với chính sách ưu đãi, tậptrung thu hút FDI vào các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, nền côngnghiệp chắc chắn sẽ tạo ra được những bước phát triển đột phá, đưa đất nước tiếnnhanh hơn trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
Công nghiệp không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho các ngành kinh tế mà còn cung cấp hàng tiêu dùng cho dân cư.
Xuất phát từ đặc điểm của các sản phẩm công nghiệp, một bộ phận sản phẩmcông nghiệp sản xuất có chức năng là tư liệu sản xuất, điển hình như than đá, dầu
mỏ, khí đốt, các sản phẩm hóa chất, hóa dược, sắt thép… Bên cạnh đó, công nghiệpcòn xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho các ngành kinh tế với các ngành như côngnghiệp sản xuất thiết bị điện, điện tử, máy móc, phương tiện vận tải… Đây là nhữngyếu tố cơ bản, không thể thiếu và có vai trò to lớn trong đời sống sản xuất
Bảng 1.2 Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp
Sản phẩm Đơn vị tính Năm 2013 Tỷ trọng so với năm 2012 (%)
Thủy hải sản chế biến Nghìn tấn 1.891,55 108,25
( Nguồn: Tổng Cục Thống kê Việt Nam)
Trang 15Ngoài ra, đa số hàng tiêu dùng hiện nay đều được cung cấp từ nền côngnghiệp trong nước Nhờ vào những nỗ lực luôn cải tiến chất lượng, mẫu mã sảnphẩm mà ngành công nghiệp hàng tiêu dùng đã chiếm được hầu hết thị phần đối vớirất nhiều mặt hàng và dành trọn niềm tin của người dân.
Công nghiệp cung cấp nhiều việc làm cho xã hội đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Ngày 4/4/2014, tại Hà Nội, Tổ chức Liên hợp quốc về Phát triển công nghiệp(UNIDO) phối hợp với Bộ Công thương Việt Nam tổ chức công bố Báo cáo Pháttriển Công nghiệp 2013 với chủ đề “Tăng trưởng việc làm bền vững: Vai trò của sảnxuất công nghiệp và thay đổi cơ cấu" Báo cáo đã chỉ ra một trong những thành cônglớn của phát triển công nghiệp là tạo hàng triệu công ăn việc làm mỗi năm, với mứcthu nhập khá, đời sống công nhân được đảm bảo, đặc biệt là tại các khu côngnghiệp Tay nghề của họ cũng được nâng cao đáng kể nhờ vào sự đào tạo của chínhdoanh nghiệp và những yêu cầu ngày càng cao về trình độ học vấn chung Từ đó,trong thời gian tới, chúng ta cần đầu tư tập trung phát triển tạo việc làm bền vững,hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật côngnghệ tiên tiến hiện đại Nếu vấn đề nguồn nhân lực được cải thiện tốt thì chắc chắnđây sẽ là một điểm mạnh trong cạnh tranh thu hút vốn đầu tư của các địa phương vàcủa cả nước
Công nghiệp góp phần thúc đẩy nông nghiệp và dịch vụ phát triển.
Dưới tác động của công nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp được nângcao rõ rệt, tạo điều kiện dịch chuyển lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp nhưngkhông ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp Công nghiệp vừa tạo ra thị trường,vừa tạo ra những điều kiện cần thiết cho nông nghiệp phát triển bằng việc cung ứngmáy móc, thiết bị, phân bón, thuốc trừ sâu… Đặc biệt công nghiệp chế biến làmtăng giá trị và nâng cao sức cạnh tranh của các loại nông sản trên thị trường trong vàngoài nước Nhờ sự thúc đẩy cơ giới hóa, điện khí hóa trong nông nghiệp bằng cácsản phẩm công nghiệp đã làm cho nông nghiệp chuyển mình, năng suất lao độngtrong nông nghiệp được nâng cao, chất lượng nông sản được đảm bảo Đối với dịch
vụ, công nghiệp tác động đến các ngành như giao thông vận tải, thông tin liên lạc,thương mại, du lịch, đầu tư tài chính…Công nghiệp tạo điều kiện, động lực cho các
Trang 16ngành dịch vụ phát triển Khi công nghiệp phát triển, các ngành dịch vụ cũng phảiphát triển theo kịp để đáp ứng nhu cầu phát triển của công nghiệp.
Công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thành quá trình Công nghiệp hóa – hiện đại hóa của những nước có nền kinh tế phát triển.
Công nghiệp luôn giữ vai trò trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế-xãhội của các quốc gia Các nước có nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Pháp,Đức… hay ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore…, để có sự phát triểnmạnh như ngày hôm nay với mức thu nhập quốc dân cao, các nước này đã thànhcông rực rỡ trong sự phát triển ngành công nghiệp và đã được công nhận là nướccông nghiệp Mỗi quốc gia dựa vào điều kiện đặc thù của mình để lựa chọn ngànhcông nghiệp nào là mũi nhọn để tập trung đầu tư, ngành này sẽ góp vai trò chủ yếuvào sự phát triển ngành công nghiệp nói chung Ví dụ như Hoa Kỳ với ngành côngnghiệp mũi nhọn là sản xuất ô tô, thiết bị điện tử, các sản phẩm công nghệ cao…Với lợi thế về nguồn vốn dồi dào, nguồn nhân lực có trình độ, tay nghề cao, kinhnghiệm quản lý tốt, nhiều phát minh, sáng chế khoa học hữu ích… Hoa Kỳ đã nhanhchóng trở thành nền kinh tế hàng đầu thế giới với nhiều ngành công nghiệp đứngđầu về cả giá trị và sản lượng sản xuất
Học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, Việt Nam cũng như các quốcgia đang phát triển khác cần tận dụng tốt những lợi thế của mình, đồng thời có biệnpháp sửa đổi những yếu kém như về công nghệ, nhân lực, hệ thống cơ sở vật chất,máy móc… để có hướng phát triển đúng đắn, xây dựng được nền công nghiệp vữngmạnh, tạo nền tảng cho sự phát triển chung của cả nền kinh tế - xã hội đất nước
Tóm lại, công nghiệp luôn giữ vai trò trọng yếu trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội.Với những định hướng, chính sách đúng đắn, phù hợp với từng giaiđoạn, công nghiệp sẽ là nhân tố chính đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh
tế thế giới
1.1.2 Tình hình sản xuất của ngành công nghiệp Việt Nam
Trong quá trình chung, hầu hết các quốc gia lựa chọn phát triển công nghiệplàm bàn đạp và đã đạt được những thành công to lớn, điển hình như các quốc gia
Trang 17trong nhóm các nước công nghiệp mới NICs, Việt Nam cũng không nằm ngoài xuhướng đó Ngày 24/4/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết triển khai thực hiệnchiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 và phương hướng, nhiệm vụ pháttriển đất nước 5 năm 2011- 2015 Trong đó, công nghiệp vẫn được ưu tiên phát triểnvới nhiều chính sách cụ thể, phù hợp với thực tiễn Quá trình đổi mới của nền côngnghiệp có thể tóm tắt qua những nét chính sau:
Trong giai đoạn 2009 – 2013, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo luônchiếm tỷ trọng cao nhất, trung bình khoảng 85% Tỷ trọng của ngành này cũng tăngdần qua các năm, thể hiện tầm quan trọng của nó trong cả sự sản xuất và đời sốngtiêu dùng Tiếp theo là ngành công nghiệp khai khoáng với tỷ trọng trung bìnhkhoảng 8-9% Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước có tỷ trọng thấpnhất với khoảng 4-5% 2 ngành này cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất nêncũng có vai trò rất lớn trong sự phát triển ngành công nghiệp nói riêng và cả nềnkinh tế nói chung Điều này được thể hiện qua Hình 1.1 như sau:
Hình 1.1: Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp
giai đoạn 2009 - 2013
( Đơn vị: % ) ( Nguồn: Tổng Cục Thống kê Việt Nam)
Trang 18Trước hết, về ngành công nghiệp khai khoáng, ngành này phát triển khámạnh, trong đó chủ yếu là khai thác dầu thô và khí tự nhiên, có vai trò quan trọngtrong sự khởi đầu của công cuộc công nghiệp hóa đất nước Đây là ngành chiếm tỷtrọng lớn nhất (hơn 60%) trong ngành công nghiệp khai thác, còn xếp vị trí thứ hai
là ngành khai thác than với khoảng 20% Từ năm 2009 đến nay, sản lượng khai thácdầu thô hàng năm đều tăng, năm 2013 là 16.700 nghìn tấn, tăng gần 10% so với năm
2012, sản lượng khai thác khí đốt cũng tăng 5%, đạt 9.681 triệu mét khối Cùng với
đó, sản lượng khai thác than đá cũng tăng qua các năm, đạt 41.193 nghìn tấn trongnăm 2013 Dựa vào lợi thế về điều kiện tự nhiên mà ngành khai khoáng Việt Namkhá phát triển, tạo nền tảng cho các ngành công nghiệp khác và góp phần thúc đẩyxuất khẩu Điển hình như than đá là nguồn nhiên liệu quan trọng của rất nhiều quá
trình sản xuất trong đó 40% lượng điện sản xuất ra trên thế giới là từ than [6].
Tuy nhiên, ngành công nghiệp khai khoáng cũng có không ít khó khăn khi
mà mặt hàng đặc biệt này còn phụ thuộc nhiều vào cung cầu thế giới, biến động giá
cả hay biến động chính trị, Việt Nam mơi chỉ dừng lại ở việc khai thác thô và vẫnphải nhập khẩu hầu hết thành phẩm như xăng dầu… Vì vậy, Việt Nam cần có nhữngbiện pháp phù hợp trong thời gian tới để sử dụng sao cho tiết kiệm và hiệu quả nhấtnguồn tài nguyên thiên nhiên đáng quý này
Tiếp theo là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo – ngành đứng đầu về cả sảnlượng và giá trị sản xuất trong ngành công nghiệp Trong đó phải kể tới công nghiệpchế biến thực phẩm với giá trị sản xuất lớn nhất, đạt gần 900 nghìn tỷ đồng trongnăm 2013, những vị trí kế tiếp là công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính
và sản phẩm quang học; công nghiệp sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; côngnghiệp sản xuất hóa chất, dệt và sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm cóliên quan; sản xuất thiết bị điện… Các ngành này giữ vai trò to lớn trong việc cungcấp hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất và tiêu dùng cho người dân, đồng thờiđóng góp tích cực vào giá trị xuất khẩu cho đất nước Bên cạnh đó, vấn đề giải quyếtviệc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng là một tác động tốt ví dụ nhưngành dệt may, da giày; hoặc là thúc đẩy công nghệ - kĩ thuật được hiện đại hơn, tạonăng suất cao hơn như ngành điện tử, cơ khí, công nghệ thông tin Trong thời giantới, các ngành công nghiệp chế biến chế tạo cần phát huy hơn nữa những điểm mạnh
Trang 19của mình, tận dụng tốt mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn vốn FDI để có những bướcphát triển vượt bậc.
Các ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước tuy chiếm tỷ trọngkhiêm tốn trong giá trị sản xuất công nghiệp nhưng đây lại là cơ sở hạ tầng quantrọng trong sự phát triển Tốc độ tăng trưởng của ngành này trong thời gian qua đãđạt khoảng 14% Hệ thống điện nước và các dịch vụ khác như xử lí chất thải hiệnnay đã được nâng cấp, đây chính là tín hiệu tốt để môi trường đầu tư của Việt Namđược đánh giá cao hơn, có khả năng cạnh tranh hơn trong quá trình thu hút nguồnvốn FDI
Về cơ cấu công nghiệp theo vùng lãnh thổ, hiện nay vẫn có sự mất cân đốitrong giá trị sản xuất công nghiệp giữa các vùng, miền Điều này được thể hiện quaHình 1.2 như sau:
Hình 1.2: Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp phân theo địa phương
giai đoạn 2009 - 2013
( Đơn vị: % ) ( Nguồn: Tổng Cục Thống kê Việt Nam)
Trang 20Sản xuất công nghiệp tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Hồng và ĐôngNam Bộ - nơi có 2 thành phố lớn nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh – trungtâm kinh tế chính trị xã hội của cả nước Đây cũng là hai vùng tập trung nhiều khukinh tế, khu công nghiệp nhất với những địa phương nổi bật như Bình Dương, ĐồngNai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ninh, Hải Phòng… Những vùng, địa phương này
có giá trị sản xuất công nghiệp cũng như thu hút vốn FDI cao hơn hẳn các nơi khác,không chỉ bởi vì điều kiện tự nhiên ưu đãi, cơ sở hạ tầng kĩ thuật và cơ sở hạ tầng xãhội phát triển nhanh chóng, mà còn nhờ vào những chính sách đặc biệt ưu đãi, trọngtâm đều hướng vào đây Vì vậy, bên cạnh việc phát triển vào vùng kinh tế trọngđiểm, để giảm sự mất cân đối giữa các vùng, bốn vùng còn lại cần được tạo nhữngđiều kiện thuận lợi hơn để phát huy tiềm năng của riêng vùng, góp phần giúp cả nềnkinh tế đất nước phát triển toàn diện, đồng đều
Về cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế, ngày càng có sự thay đổi rõnét trong giá trị sản xuất công nghiệp giữa các thành phần kinh tế Điều này đượcthể hiện qua Hình 1.3 như sau:
Hình 1.3: Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế
giai đoạn 2009 - 2013
( Đơn vị: % )
Trang 21Chính sách mở cửa và tự do kinh tế đã góp phần to lớn vào sự thay đổi rõ nétcủa cơ cấu các thành phần kinh tế Khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốnđầu tư nước ngoài được tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ Tỷtrọng giá trị sản xuất công nghiệp cũng không nằm ngoài xu hướng này khi hiệnnay, tỷ trọng của khu vực Nhà nước giảm dần, chỉ còn dưới 10%, còn hai khu vựccòn lại tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là khu vực có vốn FDI với tỷ trọng chiếm tới65% Đây cũng là một trong những lý do khiến nền công nghiệp tăng trưởng nhanhchóng Nhờ vào dây chuyền, máy móc thiết bị sản xuất có công nghệ cao, cùng vớikinh nghiệm quản lý, nguồn nhân lực chất lượng cao… của các doanh nghiệp FDI
mà nền công nghiệp Việt Nam có thể tiếp thu những công nghệ - kĩ thuật thích hợp,học hỏi được nhiều bài học quý giá giúp ngành phát triển với tốc độ nhanh và vữngchắc hơn
Trong thời gian tới, ngành công nghiệp nói chung vẫn tiếp tục được chú trọngphát triển để tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóađất nước Trong đó, một số chuyên ngành sẽ được lựa chọn làm ngành công nghiệp
ưu tiên như ngành dệt may, da giầy, hóa chất, chế biến nông-lâm-thủy hải sản… vàmột số ngành được lựa chọn làm ngành công nghiệp mũi nhọn như ngành cơ khí chếtạo, thiết bị điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin… Các ngành này sẽ được đặcbiệt quan tâm trong hoạt động xúc tiến đầu tư để có thể thu hút được các dự án FDIchất lượng cao, đem lại những công nghệ - kĩ thuật tiên tiến, hiện đại, kinh nghiệmquản lý tối ưu, góp phần nâng cao năng lực sản xuất của Việt Nam
Tóm lại, nền công nghiệp nước ta trong những năm qua đã đạt được nhiềuthành tựu to lớn, đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung,với một số nét nổi bật như về tốc độ tăng trưởng hay FDI đầu tư vào khu côngnghiệp, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những yếu kém như giá trị gia tăngchưa cao, sức cạnh tranh yếu… cần tiếp tục cải thiện những vấn đề này trong thờigian tới để đất nước nói chung và ngành công nghiệp nói riêng có thể hội nhập sâurộng vào nền kinh tế khu vực và toàn thế giới
1.2 Sự cần thiết phải tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam
Trang 221.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tích cực vào sự phát triển ngành công nghiệp Việt Nam
Sau gần 25 năm mở cửa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã và đang giànhđược nhiều thành tựu to lớn và toàn diện trong phát triển kinh tế xã hội Đầu tư tưnhân trong nước và nước ngoài đã đóng góp quan trọng cho tăng trưởng của nềnkinh tế Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp nói riêng, đồng thời từng bướctrở thành nguồn đầu tư quan trọng của quốc gia, góp phần phát triển các ngành côngnghiệp, nâng cao năng lực sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm cũng như thúc đẩy nềnkinh tế Việt Nam ngày càng năng động hơn trên thị trường toàn cầu Trong nhữngnăm gần đây, công nghiệp Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao,giá trị sản xuất công nghiệp chiếm một phần đáng kể trong cơ cấu kinh tế của ViệtNam trong đó có đóng góp không nhỏ của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài Vì vậy việc vai trò thúc đẩy của FDI trong việc đa dạng hóa và gia tăng hiệuquả sản xuất công nghiệp cũng như khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệpViệt Nam trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Như trên đã đề cập, FDI vào Việt Nam chủ yếu tập trung trong lĩnh vực côngnghiệp Nhờ đó, trong hơn một thập kỷ qua Việt Nam đã cải thiện được nhiều ngànhkinh tế quan trọng như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, điện tử,xây dựng hạ tầng Năm 2004, khu vực có vốn FDI đóng góp tới 35,68% (giá sosánh năm 1994) tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, trong khi tỷ lệ này chỉ là25,1% vào năm 1995 Đến nay, khu vực có vốn FDI đóng góp đến 90% sản lượngcủa một số sản phẩm công nghiệp như dầu khí, ô tô, máy giặt, điều hoà, tủ lạnh,thiết bị máy tính; 60% cán thép; 28% xi măng; 33% máy móc thiết bị điện, điện tử;76% dụng cụ y tế chính xác; 55% sản lượng sợi; 49% sản lượng da giày; 25% thựcphẩm đồ uống Nhìn chung, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực
có vốn FDI luôn duy trì ở mức cao, cao hơn tốc độ tăng trưởng công nghiệp chung
của cả nước trong suốt giai đoạn 1995-2010 ( khoảng 16,1%) [3].
Trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo, tỷ trọng của khu vực FDI chiếmkhoảng 60% Tại một số địa phương tập trung nhiều dự án FDI trong khu vực chếtạo như Đồng Nai, Bình Dương, Vĩnh Phúc, tỷ trọng này còn lên đến 75-80% giá trịsản xuất công nghiệp Trong đó đặc biệt là những ngành như điện tử, ô tô, xe máy,
Trang 23hóa chất, dệt may, chế biến thực phẩm, đồ uống… đã có những bước phát triển vượtbậc nhờ vào nguồn vốn FDI.
Hình 1.4: Tỷ trọng khu vực FDI trong giá trị sản xuất công nghiệp
giai đoạn 1996 – 2013
( Đơn vị: % ) (Nguồn: Báo cáo Đầu tư công nghiệp Việt Nam (2013)_Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Với nền tảng vững chắc là nền công nghiệp đang ngày càng được hiện đạihóa, trên 280 khu công nghiệp và hàng chục khu kinh tế phân bố khắp cả nước, nhờ
có nguồn vốn FDI mà cơ cấu kinh tế vùng chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng côngnghiệp hóa – hiện đại hóa, từ đó góp phần thay đổi diện mạo đất nước vốn trước đâychủ yếu là nông nghiệp
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự có vai trò quan trọng đối vớiViệt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội bởi nó sẽ bù đắp sự thiếu hụt vềvốn mà hiện nay chúng ta đang gặp phải Đặc biệt trong mục tiêu phát triển nềncông nghiệp tiên tiến, hiện đại, nguồn vốn FDI là một thành phần không thể thiếu
Nó mang theo những công nghệ - kĩ thuật cao, kinh nghiệm quản lý hiệu quả, nguồnnhân lực chất lượng cao… Từ đó Việt Nam sẽ có được nhiều yếu tố tích cực, gópphần xây dựng nền kinh tế nói chung và nền công nghiệp nói riêng tốt đẹp hơn
Trang 241.2.2 Hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam chưa thực sự hiệu quả
Trong thời gian qua, công tác vận động XTĐT nói chung và XTĐT vàongành công nghiệp nói riêng đã có nhiều cải tiến, được tiến hành ở nhiều ngành,nhiều cấp, ở trong nước và nước ngoài bằng nhiều hình thức đa dạng Tuy nhiên,hiệu quả của công tác này chưa cao, hoạt động XTĐT còn giàn trải, phân tán nguồnlực, chưa tập trung vào các đối tác và lĩnh vực trọng điểm Bên cạnh đó còn chưa có
sự thống nhất điều phối để đảm bảo sự tập trung thực hiện đúng mục tiêu thu hútđầu tư nước ngoài trong từng thời kì, từng đối tác, từng địa phương
Hiện nay đối với Việt Nam, việc xây dựng chính sách XTĐT với trọng tâmchuyển từ khối lượng sang chú trọng chất lượng đầu tư được nhìn nhận là cần thiết,
ở đây chất lượng được đo lường bằng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài trongnền kinh tế Việt Nam cũng như tác động đến quy mô phát triển năng lực sản xuấtcủa khu vực kinh tế trong nước nói chung và ngành công nghiệp nói riêng Tuynhiên, trong quá trình xây dựng chính sách nói trên, thách thức đặt ra là hầu hếtthông tin sẵn có rộng rãi về hoạt động kinh doanh ở cấp độ doanh nghiệp lại chưađầy đủ Dữ liệu, thông tin về môi trường đầu tư và cơ hội kinh doanh thường manhmún và chưa đủ làm cơ sở chắc chắn để phục vụ việc ra quyết định của nhà đầu tư.Mặc dù vấn đề thiếu hụt thông tin trong lĩnh vực này đã được nhận ra nhưng thôngtin đã được tập hợp vẫn chưa đạt đến quy mô tổng hợp cũng như chưa có công cụnào giúp cho việc tiếp cận tìm kiếm các thông tin loại này trở nên dễ dàng Vì vậycần trang bị những công cụ mới hơn cũng như nâng cao hơn nữa năng lực để có thểđánh giá thay đổi và bắt kịp những xu hướng mới phát triển trên bản đồ đầu tư củaViệt Nam cùng với đó là các dữ liệu thực chứng cần thiết có cơ sở chắn chắn đểgiúp đỡ và hỗ trợ trong vai trò tư vấn và hỗ trợ chính sách
Vấn đề kém hiệu quả của hoạt động XTĐT còn thể hiện ở chỗ không tậptrung thu hút đầu tư vào những ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn mà vẫn còn hiệntượng đầu tư giàn trải Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kì 2011 – 2020 đãkhẳng định việc thu hút FDI cần tập trung chọn lọc các dự án có công nghệ cao, kĩthuật hiện đại, tăng cường sự liên kết giữa các ngành, lĩnh vực và các địa phươngvới nhau, bên cạnh đó cũng cần thân thiện với môi trường, kết quả sản xuất ra phải
Trang 25là những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, tiến tới có thể tham gia vào mạnglưới sản xuất và giá trị toàn cầu Những lĩnh vực đó cụ thể là công nghiệp cơ khí,công nghệ thông tin, công nghiệp sinh học, thiết bị điện tử, công nghệ mới ( nănglượng sạch, năng lượng tái tạo, vật liệu mới…), công nghiệp chế biến và bảo quảnnông - lâm - thủy hải sản… Hoạt động XTĐT cần theo sát định hướng này để đưa ranhững kế hoạch thực hiện chi tiết cho từng giai đoạn, từng ngành, từng vùng, địaphương hay từng khu vực như khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế.
Việc yếu kém trong hoạt động cung cấp dịch vụ và hỗ trợ sau khi cấp phépcho các nhà đầu tư nước ngoài cũng là lý do dẫn đến sự kém hiệu quả của công tácXTĐT vào ngành công nghiệp Công tác giám sát, hỗ trợ doanh nghiệp FDI đóngvai trò rất quan trọng và có quan hệ chặt chẽ trong việc thúc đẩy, mở rộng đầu tưcủa các dự án đầu tư đã triển khai cũng như thu hút vốn đầu tư FDI vào các dự ánmới Công tác quản lý, giám sát được thực hiện có kế hoạch, thường xuyên, chặt chẽ
và đồng bộ sẽ đảm bảo dự án đầu tư được thực hiện đúng theo các quy định củapháp luật, đúng tiến độ, hạn chế được các tác hại về môi trường, chống các hoạtđộng chuyển giá, trốn thuế… Ngoài ra, việc hỗ trợ tháo gỡ khó khăn và tạo điềukiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện dự án sẽ góp phầnđảm bảo dự án có hiệu quả, khai thác tốt các nguồn lực, đặc biệt là đối với những dự
án có sử dụng đất, đem lại lợi ích cho địa phương cũng như lợi nhuận cho chính nhàđầu tư, từ đó sẽ tạo động lực cho chủ đầu tư mở rộng dự án đầu tư hoặc đầu tư vàocác dự án mới khác Mặt khác, những gương điển hình, những bài học thành cônglớn về đầu tư nước ngoài sẽ tự động đem lại hiệu ứng thu hút và hấp dẫn đối với cácnhà đầu tư nước ngoài tiềm năng, đây cũng là một phương pháp trong hoạt động xúctiến đầu tư ngày càng hiệu quả
Tóm lại, hoạt động XTĐT vào ngành công nghiệp Việt Nam, bên cạnh nhữngthành công đã đạt được, trong thời gian tới, hoạt động này cần nâng cao chất lượnghơn nữa để là phương tiện hữu ích góp phần đưa nền công nghiệp Việt Nam pháttriển và tiến sâu hội nhập quốc tế
Trang 26CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 - 2013
2.1 Giới thiệu về Chương trình Xúc tiến đầu tư quốc gia
Hiện nay xu thế toàn cầu hóa đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, những mốiliên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khuvực, các quốc gia trên thế giới tăng lên nhanh chóng, vậy nên dòng vốn đầu tưkhông thể tự nhiên chảy vào một quốc gia nào đó, biểu hiện qua như: sự phát triểnnhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, sự phát triển và tácđộng to lớn của các công ty xuyên quốc gia… Các tập đoàn lớn, các công ty đa quốcgia, xuyên quốc gia vẫn đang được thu hút về những nơi có môi trường tốt vớinhững điều kiện thuận lợi Hơn nữa, trong xu thế cạnh tranh, để thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài, các quốc gia phải cạnh tranh ngày một khốc liệt hơn Như vậy, sựcạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia đã làm cho công tác XTĐT trở thành một hoạtđộng tất yếu và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công tác thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài Trước tình hình này, các cơ quan, lãnh đạo cấp cao của Việt Nam
đã đưa ra Quyết định số 26/2012/QĐ-TTg về “Quy chế xây dựng và thực hiệnChương trình XTĐT quốc gia” Theo đó, Chương trình XTĐT quốc gia bao gồmnhững hoạt động XTĐT hằng năm được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phêduyệt theo quy định của pháp luật, trong đó xác định rõ nội dung, địa điểm, thờigian, tiến độ, kinh phí và đầu mối thực hiện Đây là một văn bản pháp quy được banhành đi kèm với quy chế thực hiện rõ ràng sẽ giúp Chương trình XTĐT quốc giahoạt động hiệu quả hơn
2.1.1 Mục tiêu của Chương trình Xúc tiến đầu tư quốc gia
Mục tiêu của Chương trình XTĐT quốc gia được Chính phủ xác định chotừng thời kì, giai đoạn phát triển của đất nước Mục tiêu trong giai đoạn hiện nay2012-2015 được đưa ra cụ thể trong Điều 2 – Chương I thuộc Quy chế “ Xây dựng
và thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia” ban hành kèm theo Quyết định
số 26/2012/QĐ-TTg ngày 8 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ Quy chếđược xây dựng dựa trên việc tiếp thu những nội dung phù hợp đã được thực thi tốttrong giai đoạn vừa qua đồng thời sửa đổi những nội dung không còn phù hợp với
Trang 27thực tiễn; nghiên cứu, tham khảo quy định và nội dung XTĐT của các nước, đề ranội dung, giải pháp phù hợp với thông lệ quốc tế, áp dụng phương thức hỗ trợ mớiphù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Một là, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động XTĐT.
Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia được ban hành theo Quyết định củaChính phủ, đi kèm Quy chế xây dựng và thực hiện cụ thể Hoạt động XTĐT ngàycàng đóng góp vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước nênChương trình được xây dựng và thực hiện thường là 5 năm chỉnh sửa, bổ sung, thayđổi một lần để phù hợp với từng thời kì Nhìn chung, Chương trình được xây dựngdựa trên cơ sở định hướng thu hút và khuyến khích đầu tư thống nhất cả nước, bámsát kế hoạch phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước và quy hoạch phát triển cácngành kinh tế kĩ thuật Vì vậy, công tác quản lý cần được nêu rõ, từ các Bộ, ngànhTrung ương đến Ủy ban nhân dân các cấp để tránh sự trùng lặp và đạt được sự thốngnhất toàn diện Hiện nay, Cục Đầu tư nước ngoài, trực thuộc Bộ Kế hoạch và đầu tư
là cơ quan chuyên trách của Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện XTĐT ở cấp quốcgia Tiếp theo là đến ba Trung tâm xúc tiến ở ba miền Bắc, Trung, Nam và các trungtâm xúc tiến cấp tỉnh Không chỉ có vậy, hoạt động quản lý XTĐT còn cần thực hiệntốt ở mọi công đoạn, từ xây dựng đề án, thẩm tra và phê duyệt, triển khai thực hiệncho đến điều chỉnh đề án, chấm dứt đề án và báo cáo kết quả thực hiện
Tính hiệu quả của hoạt động XTĐT được nâng cao cũng là một mục tiêuquan trọng của Chương trình Sự hiệu quả này cần đến từ từng nội dung của Chươngtrình, từng kĩ thuật xúc tiến, từng cán bộ làm việc trong công tác này… Với sự nỗlực không ngừng của các lãnh đạo cấp cao, các trung tâm xúc tiến đến các doanhnghiệp, Chương trình XTĐT quốc gia sẽ ngày càng thể hiện vai trò to lớn của mìnhtrong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Hai là, tạo sự gắn kết hợp lý các hoạt động XTĐT trong nước, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài ở mọi lĩnh vực, thành phần kinh tế.
Các hoạt động đầu tư dù là đầu tư ra nước ngoài hay thu hút đầu tư nướcngoài, là thuộc lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp hay dịch vụ, là thuộc thành phần
Trang 28kinh tế Nhà nước, ngoài Nhà nước hay khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì chúngđều có quan hệ với nhau Hoạt động này làm nền tảng hay hỗ trợ cho hoạt động kia,tất cả vì mục tiêu chung: phát triển kinh tế xã hội đất nước một cách toàn diện Vìvậy, hoạt động XTĐT cần gắn kết, thống nhất với nhau để tạo thành một lợi ích,hiệu quả tổng thể.
Ba là, kết nối hoạt động XTĐT với xúc tiến thương mại, du lịch và các lĩnh vực liên quan khác.
Hoạt động XTĐT hiện nay thường đi kèm với xúc tiến thương mại, xúc tiến
du lịch.Đây là một xu hướng tốt bởi nguồn lực về nhân lực, thời gian hay tài chính
sẽ được sử dụng hợp lý Điển hình như một đoàn công tác dẫn đầu bởi một lãnh đạocấp cao của Chính phủ sang thăm và làm việc với nước bạn, đi cùng đoàn không chỉ
có các doanh nghiệp đầu tư mà còn có các doanh nghiệp về thương mại, về du lịch,văn hóa, về giáo dục đào tạo… Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư nước bạn có một nơitập trung để tìm hiểu thông tin, tìm kiếm cơ hội phù hợp cho mình
Tóm lại, với những mục tiêu cụ thể đã đặt ra, Chương trình XTĐT quốc giacần có những hoạt động thực hiện nhắm đúng mục tiêu để đạt được những thànhcông như mong đợi
2.1.2 Nội dung Chương trình Xúc tiến đầu tư quốc gia
Nội dung Chương trình XTĐT quốc gia cũng được nêu rõ ràng và đầy đủtrong Điều 3 – Chương I thuộc Quy chế ban hành kèm Quyết định số 26/2012/QĐ-TTg Nội dung này có thể khái quát lại như sau:
Tuyên truyền, quảng bá môi trường đầu tư Việt Nam
Tuyên truyền, quảng bá môi trường đầu tư Việt Nam là nội dung đầu tiên củaChương trình XTĐT quốc gia và cũng là nội dung có vai trò rất quan trọng Thứnhất, Chương trình cung cấp những thông tin về môi trường đầu tư và các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đầu tư Các thông tin này được đưatrên các phương tiện thong tin đại chúng như ti vi, báo đài, tạp chí, Internet… ở cảtrong và ngoài nước Đồng thời, những tài liệu hướng dẫn đầu tư, kinh doanh và các
Trang 29ấn phẩm có liên quan cũng được in ấn và xuất bản định kì để các nhà đầu tư nắm bắtkịp thời, đầy đủ và rõ ràng các thông tin đầu tư
Ngày nay những hiệu quả mà truyền thông đem lại là rất to lớn, tận dụngkênh thông tin này, Chương trình XTĐT quốc gia cũng đặt hàng các cơ quan truyềnthông cả trong nước và nước ngoài viết bài, làm phóng sự, làm phim quảng bá môitrường đầu tư Việt Nam Đây quả thật là một phương pháp có nhiều tiện ích, điểnhình như nó có thể thu hút một lượng khổng lồ những người theo dõi, những videoclip với âm thanh, hình ảnh trực quan sinh động sẽ giúp các nhà đầu tư được “mắtthấy, tai nghe” và tin tưởng vào những thông tin đã được tiếp cận Đặc biệt, Internet
là một phương tiện không thể thiếu và luôn đem lại hiệu quả cao nhất đối với cácnhà đầu tư nước ngoài có cách biệt về vị trí địa lý Vì vậy, Chương trình XTĐTquốc gia luôn quan tâm và thúc đẩy việc duy trì và nâng cấp các trang thông tin điện
tử, kết nối các trang này với nhau từ Trung ương đến địa phương và các trang thôngtin điện tử có uy tín trên thế giới Ngoài ra, Chương trình còn tích cực tổ chức vàtham các triển lãm ở trong và ngoài nước nhằm đưa Việt Nam đến gần hơn với bạn
bè quốc tế Tại đây, qua những bài giới thiệu, những dự án mới được quảng bá,những chính sách ưu đãi, điều kiện thuận lợi được đưa ra, những thắc mắc được giảiđáp…điều này sẽ giúp các nhà đầu tư có đầy đủ thông tin và ra quyết định đúng đắn
Xây dựng định hướng, chính sách và chiến lược XTĐT
Xây dựng định hướng, chính sách và chiến lược XTĐT là một nội dung đặcbiệt quan trọng tiếp theo trong Chương trình XTĐT quốc gia Đầu tiên là những đề
án đánh giá thực trạng các lĩnh vực, vùng và ngành kinh tế được xây dựng để làm cơ
sở cho việc đề ra và thực hiện các đề án XTĐT Những đánh giá này được thực hiệnvới quy mô lớn cùng các chuyên gia phân tích hàng đầu, có thể còn có sự tham giacủa các tổ chức đánh giá nước ngoài, để kết quả đem lại được chính xác, hữu ích.Tiếp theo là việc xây dựng danh mục dự án trọng điểm quốc gia kêu gọi đầu tư trongnước và đầu tư trực tiếp nước ngoài Danh mục này được yêu cầu phải phù hợp vớichiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng thời kì và quy hoạch phát triểnngành kinh tế - kĩ thuật.Cụ thể trong ngành công nghiệp, danh mục các ngành mũinhọn được ưu tiên đầu tư phát triển có thể kể đến như công nghiệp cơ khí chế tạo (ô
tô, đóng tầu, thiết bị toàn bộ, máy nông nghiệp, cơ điện tử), công nghiệp điện tử,
Trang 30viễn thông, công nghệ thông tin, công nghiệp sản xuất các sản phẩm từ công nghệmới (năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghiệp phần mềm, nội dung số)…
Ngoài ra, đề án XTĐT theo đối tác chiến lược cũng được nghiên cứu và xâydựng để đáp ứng đúng mục tiêu XTĐT có trọng tâm, trọng điểm hiện nay Tronghoạt động XTĐT vào ngành công nghiệp, các đối tác hiện nay được chú trọng, quantâm nhiều nhất đó là Nhật Bản, Singapore, Hong Kong, Trung Quốc và các nền kinh
tế hùng mạnh ở phương Tây như Hoa Kỳ, Đức, Pháp… Đây là những đối tác cónguồn vốn đầu tư khá lớn, đi kèm với chất lượng nguồn vốn là các công nghệ - kĩthuật tiên tiến, hiện đại, nguồn nhân lực có tay nghề tốt cũng như kinh nghiệm quản
lý hiệu quả Việc xây dựng định hướng, chính sách và chiến lược XTĐT đúng đắnchắc chắn sẽ góp phần to lớn vào hiệu quả của hoạt động trong thực tế
Tổ chức chương trình vận động XTĐT
Các chương trình vận động XTĐT được tổ chức tại các địa bàn trọng điểm ởtrong và ngoài nước Những chương trình này có từng chủ đề, lĩnh vực trọng tâm đểthu hút FDI vào Việt Nam Bên cạnh đó, các hội nghị, hội thảo XTĐT ở trong nướccũng được thực hiện theo từng vùng, địa phương, theo ngành để tìm kiếm những đốitác đầu tư mới, đặc biệt hướng tới những đối tác đã đầu tư tại Việt Nam bởi họ chính
là một kênh giới thiệu thông tin hữu ích đến các nhà đầu tư khác
Trong hoạt động XTĐT vào ngành công nghiệp, chương trình vận độngXTĐT thường được tổ chức cho từng ngành công nghiệp mũi nhọn cụ thể.Mỗingành sẽ có những đối tác tiềm năng khác nhau nên sự tổ chức có trọng tâm như vậy
sẽ đem lại hiệu quả cao hơn Các địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp, khuchế xuất như TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh… cũng
có tần suất tổ chức nhiều hơn các nơi khác bởi đây là những vùng kinh tế trọngđiểm
Tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực và kĩ năng XTĐT
Nội dung tập huấn và đào tạo này được Chương trình XTĐT quốc gia tổ chứccho các cán bộ thuộc cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức hoạt động trong lĩnhvực thu hút đầu tư Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng là đối tượng được tham gia
Trang 31chương trình này để họ có thể nâng cao năng lực bản thân trong công tác thu hút vốnđầu tư Để hoạt động này đem lại hiệu quả cao, đặc biệt trong lĩnh vực thu hút FDI,những chuyên gia, giảng viên nước ngoài có nhiều kinh nghiệm luôn được mớigiảng dạy Ngoài ra, các đoàn khảo sát, học tập, trao đổi thông tin, kinh nghiệmcũng được tổ chức để các cán bộ XTĐT học hỏi được những bài học quý báu từ các
tổ chức XTĐT đã có nhiều thành công trên thế giới
Ngoài những nội dung trên, đối với những dự án có quy mô lớn, nằm tronglĩnh vực kinh tế trọng điểm hay có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xãhội sẽ được Chương trình chú trọng, quan tâm sâu sắc hơn Đối với những nhà đầu
tư đến từ những quốc gia có công nghệ nguồn, kĩ thuật tiên tiến hiện đại, có tiềm lựclớn về vốn cũng sẽ được Chương trình tổ chức các trung tâm hỗ trợ riêng để đưa ra
cơ chế đặc thù, ưu đãi hấp dẫn hơn để chất lượng nguồn vốn thu hút được cao hơn.Tóm lại, với những nội dung chính của Chương trình XTĐT quốc gia, các dự án đầu
tư sẽ có cơ hội đến gần nhất với các nhà đầu tư đem theo những thông tin cần thiết
và chính xác, từ đó Việt Nam nhận được vốn đầu tư và các nhà đầu tư cũng tìmkiếm được cơ hội làm ăn cho mình
2.2 Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam
Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới cùng với quan hệ giữa cácquốc gia cũng ngày càng sôi động và phát triển hơn trên nhiều lĩnh vực Trong đó,hoạt động đầu tư quốc tế đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn thế giới với mức độcạnh tranh ngày càng gay gắt, quyết liệt Tại Việt Nam, sau khi Luật đầu tư nướcngoài được ban hành, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đạt được nhiều thànhtựu lớn, quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư, tăng sản lượng và giá trị xuấtkhẩu, phát triển khoa học công nghệ, tạo công ăn việc làm…góp phần tích cực vào
sự phát triển của đất nước Đặc biệt, ngành công nghiệp luôn là sự quan tâm hàngđầu của các nhà đầu tư nước ngoài và cũng là lĩnh vực kinh tế thu hút được nhiềuvốn FDI nhất cả về số lượng và chất lượng
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài công bố vào tháng 12/2013, trongtổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như tổng vốn đầu tư đăng kí, ngànhcông nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo so với hai ngành còn lại là nông nghiệp và dịch
Trang 32vụ Cụ thể: Nếu tính lũy kế các dự án còn hiệu lực đến hết ngày 15/12/2013, ngànhcông nghiệp chiếm tới 81% số dự án, còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp và dịch vụlần lượt là 7% và 12% Về tổng số vốn đầu tư đăng kí, tỷ trọng của ngành côngnghiệp cũng chiếm hơn 85%, ngành dịch vụ chiếm 11% và ngành nông nghiệpchiếm 4% Những con số khá chênh lệch này đã cho thấy sự lựa chọn chủ yếu củacác nhà đầu tư nước ngoài là vào ngành công nghiệp Đây cũng là một điều tất yếukhi ngành công nghiệp có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự phát triển đất nước
và đều đem lại lợi ích cho cả hai bên
Cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút vào ngành công nghiệp ViệtNam sẽ được trình bày cụ thể sau đây theo từng lĩnh vực đầu tư, đối tác đầu tư, địabàn đầu tư và hình thức đầu tư
2.2.1 Cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực đầu tư
Ngành công nghiệp nói chung được chia ra làm 3 chuyên ngành chính, đó là:công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất và phân phốiđiện, nước
Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoàivào ngành công nghiệp Việt Nam phân theo chuyên ngành như sau: Ngành côngnghiệp chế biến, chế tạo đứng đầu cả về số dự án và tổng vốn đầu tư Đứng ở vị tríthứ hai là ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước Và đứng vị trí thứ ba
là ngành công nghiệp khai khoáng [3]
Tổng số dự án thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệpViệt Nam có xu hướng tăng dần qua các năm, từ hơn 400 dự án vào năm 2009 tănghơn 2 lần lên 951 dự án vào năm 2013 Đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến, chếtạo có tốc độ tăng số dự án FDI rất mạnh mẽ, tăng gấp 3 lần trong giai đoạn 2009-
2013 Còn các ngành còn lại không có nhiều sự thay đổi đột biến về số dự án đầu tưtrong giai đoạn này Điều này được thể hiện qua Bảng 2.1 sau đây:
Trang 33Bảng 2.1: Số dự án thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp
Việt Nam giai đoạn 2009 -2013
(Đơn vị: Số dự án)
Ngành công nghiệp Năm
2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài)
Bên cạnh đó, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệpcũng có rất nhiều thành tựu đáng kể Tổng vốn đăng kí đầu tư trực tiếp nước ngoàivào ngành công ngiệp Việt Nam tăng một cách nhanh chóng trong giai đoạn 2009 –
2013, từ hơn 3,5 tỷ USD tăng lên gấp 5,3 lần, đạt trên 18,7 tỷ USD vào năm 2013.Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo luôn luôn chiếm ưu thế với tỷ trọngvốn đầu tư chiếm khoảng 72% Dự kiến trong những năm tới, xu hướng tăng cả về
số lượng dự án và tổng vốn đầu tư của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn sẽđược duy trì Bảng 2.1 sau đây sẽ thể hiện điều trên:
Trang 34Bảng 2.2: Tình hình vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp
Việt Nam giai đoạn 2009-2013
(Đơn vị: Triệu USD)
Đăngkí
Thựchiện
Đăngkí
Thựchiện
Đăngkí
Thựchiện
Đăng kí Thực
hiệnCN
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài)
Bên cạnh đó, tình hình vốn đầu tư thực hiện cũng ngày càng tốt hơn Tỷ lệvốn thực hiện so với vốn đăng kí năm 2013 đã tăng lên 47%, điều này cho thấy các
dự án ngày càng có tính khả thi cao hơn Tỷ lệ tăng vốn cả trong vốn đăng kí và vốnthực hiện đều có những chuyển biến khả quan qua các năm Đặc biệt trong năm
2013 đã có sự thay đổi vượt bậc trong tổng vốn đăng kí đầu tư vào ngành côngnghiệp chế biến chế tạo, tăng gần gấp 2 lần so với năm 2012, đồng thời tổng vốnthực hiện cũng có bước phát triển tương tự
Trang 35Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút được nhiều FDI nhất trong cảmột thời gian dài Đây là điều tất yếu bởi nó liên quan đến những nhu cầu cơ bản,thiết yếu và phổ biến nhất trong cả sản xuất và đời sống hàng ngày của người dân.Không chỉ có vậy, các ngành sản xuất này còn rất phù hợp với điều kiện nhân lực,vật lực của Việt Nam Ví dụ như: công nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm, đồuống, công nghiệp dệt, công nghiệp sản xuất thiết bị điện, điện tử, hóa chất, thuốc vàdược liệu, giường tủ bàn ghế… Các ngành sản xuất này sử dụng tốt những nguồnnguyên liệu trong nước, tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn công nhân,không đòi hỏi trình độ tay nghề quá cao… Đây là những ưu điểm của ngành côngnghiệp chế biến, chế tạo nên được Nhà nước rất khuyến khích đầu tư phát triển.Những nhà đầu tư nước ngoài cũng luôn hướng sự quan tâm đến các ngành nàykhông chỉ bởi ngành có năng lực sản xuất cao, sản phẩm có sức tiêu thụ mạnh nhất
mà còn bởi đây cũng là ngành mà Chính phủ Việt Nam lựa chọn là ngành kinh tếmũi nhọn với nhiều chính sách ưu đãi và điều kiện thuận lợi mọi mặt
Xét cả về số dự án đầu tư và tổng vốn đầu tư, sự tập trung đầu tư vào ngànhcông nghiệp chế biến, chế tạo chính là xu hướng chung Xu hướng này vẫn tiếp tụcđược đến hết quý I năm 2014 Trong 3 tháng đầu năm 2014, công nghiệp chế biếnchế tạo vẫn giữ vị trí đầu bảng với 202 dự án tính cả dự án cấp mới và dự án tăngvốn ( chiếm 60,5%) , tổng vốn đăng kí là hơn 2,33 tỷ USD ( chiếm 70.1%) Những
con số đã thể hiện rõ sức hút FDI rất lớn của ngành này [3].
Với mức tăng trưởng cao, giá trị sản xuất lớn, khả năng tiêu thụ đều đặn vàmạnh mẽ, công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ luôn là điểm đến hấp dẫn cho những nhàđầu tư trực tiếp nước ngoài
2.2.2 Cơ cấu đầu tư theo đối tác đầu tư
Sau hơn 25 năm thực hiện hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã
có trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư vào Việt Nam Trong đó dẫnđầu về số dự án (tính lũy kế các dự án còn hiệu lực đến hết năm 2013) là Hàn Quốc,với hơn 3.540 dự án, tổng vốn đăng ký đạt 29,31 tỷ USD, chiếm khoảng 22 % tổng
số dự án và 12,6% về số vốn đăng ký Còn Nhật Bản đứng đầu về số vốn đầu tư, với34,58 tỷ USD, chiếm khoảng 15,62% tổng vốn đăng ký và số dự án là 2.127, chiếm13,55% Ngoài ra, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc, Hong Kong, Hoa Kỳ,
Trang 36Malaysia, Pháp, Thái Lan…lần lượt là những đối tác lớn tiếp theo của Việt Nam
Bảng 2.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam
theo đối tác ( Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 15/12/2013)
(Đơn vị: Triệu USD)
STT Đối tác đầu tư Số dự án Tổng vốn đầu tư đăng kí
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài)
Đối tác đầu tư vào ngành công nghiệp Việt Nam trước tiên cần nhắc tới đóchính là Hàn Quốc Bảng 2.3 sau đây sẽ cho thấy quy mô đầu tư của Hàn Quốc vàongành công nghiệp của Việt Nam:
Trang 37Bảng 2.4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc vào ngành công nghiệp
Việt Nam ( chỉ tính các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2013)
(Đơn vị: Triệu USD)
STT Chuyên ngành Số dự án Tổng vốn đầu tư
3 Sản xuất, phân phối điện nước 15 47,26
( Nguồn: Tổng Cục Thống kê Việt Nam)
Hàn Quốc là một trong những đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam vàViệt Nam cũng đã trở thành đối tác chiến lược hàng đầu của Hàn Quốc ở Đông Nam
Á Lý do mà Việt Nam là điểm đến ưa thích của các nhà đầu tư Hàn Quốc là bởi đây
là điểm đến bổ sung cho thị trường Trung Quốc đã bị bão hòa (Trung Quốc +1), có
sự ổn định về chính trị - xã hội, chi phí sản xuất tương đối thấp, lực lượng lao động
và tài nguyên thiên nhiên dồi dào, đã thiết lập được mạng lưới cung ứng ổn định chohoạt động của các doanh nghiệp, tận dụng được thị trường tự do ASEAN (AFTA) và
cơ chế Hiệp định FTA Hàn Quốc -ASEAN… Quy mô các dự án FDI của Hàn Quốcgần đây tăng lên nhanh chóng và hầu hết là hướng vào các ngành công nghiệp trọngđiểm, điển hình như các dự án của tập đoàn lớn: Samsung, LG ( điện tử), Posco(thép), Doosan (công nghiệp nặng), Kumho (lốp xe), Lotte ( bán lẻ), dự án xây dựng
tổ hợp văn phòng và khách sạn Landmark Tower của Tập đoàn Keangnam… Những
dự án này mang đến công nghệ kĩ thuật ngày càng hiện đại, góp phần đào tạo nguồnnhân lực và đóng góp một phần lớn cho Ngân sách Nhà nước
Bên cạnh đó, Nhật Bản là một đối tác không thể không nhắc đến với các têntuổi lớn như Honda, Panasonic, Toyota… Tính lũy kế tính đến hết năm 2013, đã có34,58 tỷ USD vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam, trong đó riêng năm 2013 đạt5,747 tỷ USD Ngày 24/2/2014, Tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO) đãcông bố kết quả khảo sát tình hình hoạt động của doanh nghiệp Nhật Bản tại châu Á
Trang 38và châu Đại Dương trong năm 2013, Việt Nam được các doanh nghiệp Nhật Bản tintưởng tiếp tục mở rộng đầu tư, kinh doanh và coi là cứ điểm quan trọng Các doanhnghiệp Nhật Bản vẫn hoạt động khá hiệu quả tại Việt Nam, có đến 60% doanhnghiệp được khảo sát cho biết họ có lãi trong năm 2013 và 70% doanh nghiệp đã có
kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh Công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệcao hiện nay đang là mối quan tâm hàng đầu của Nhật Bản khi đầu tư vào Việt Nam
Vì vậy, Việt Nam cần thực hiện tốt hoạt động XTĐT hơn nữa để thu hút đượcnhững nguồn vốn FDI chất lượng cao như vậy
Ngoài hai đối tác trên, các đối tác lớn khác có vốn FDI đầu tư vào ngànhcông nghiệp Việt Nam đến từ Singapore, Hong Kong, Trung Quốc, Malaysia… Cácquốc gia Đông Á và Đông Nam Á này tuy đầu tư với những dự án có quy mô vừa vànhỏ, trình độ công nghệ khoa học hầu hết ở mức trung bình, nhưng cũng đã gópphần lớn trong sự phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam, đồng thời tạo công ănviệc làm cho hàng ngàn lao động Ngoài ra, Hoa Kỳ và các quốc gia trong khu vực
EU – nơi có những công nghệ nguồn, tiên tiến hiện đại bậc nhất thế giới, lại lànhững nước có sự đầu tư còn chưa nhiều vào ngành công nghiệp Việt Nam Trongthời gian qua, số vốn đầu tư của Hoa Kỳ đều đặn tăng lên qua các năm và đã có sựxuất hiện của những tập đoàn lớn như Intel, Pepsico, Coca-Cola, Cargil, 3M,P&G,Chevron, Caterpillar, General Electric (GE)…Hoa Kỳ là nơi tập trung nhiềutập đoàn xuyên quốc gia (TNCs), có thế mạnh về tài chính và công nghệ hiện đại,mạng lưới thị trường quốc tế và kỹ năng quản trị kinh doanh tốt.Vậy nên đây là mộtvấn đề đáng được quan tâm trong quá trình xúc tiến đầu tư nước ngoài để chúng ta
có được sự phát triển nhanh chóng hơn nữa
Tóm lại, nền công nghiệp Việt Nam đã thu hút được nguồn vốn FDI khá tốt
từ những nước công nghiệp phát triển Trong thòi gian tới cần tiếp tục phát huy lợithế của mình để mở rộng về đối tác đầu tư và chất lượng nguồn vốn
2.2.3 Cơ cấu đầu tư theo địa bàn đầu tư
Hiện nay, cơ cấu FDI thu hút vào ngành công nghiệp theo địa bàn đầu tưcũng không nằm ngoài xu hướng chung cơ cấu FDI đầu tư vào Việt Nam Vùngđồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng thu hút được nhiều vốn FDInhất cả về số dự án và tổng vốn đầu tư
Trang 39Bảng 2.5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam
theo vùng( Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 15/12/2013)
(Đơn vị: Triệu USD)
án
Tổng vốn đầu tư đăng kí
3 Bắc Trung Bộ & duyên hải miền Trung 978 21.417,55
( Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài)
Đứng vị trí thứ nhất về vốn FDI đầu tư vào ngành công nghiệp là khu vựcĐông Nam Bộ với các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố
Hồ Chí Minh – đây là những địa phương có số khu công nghiệp, khu chế xuất nhiềunhất cả nước Cụ thể như tỉnh Đồng Nai hiện nay có 1.084 dự án còn hiệu lực vớitổng vốn đăng ký là 20 tỷ 339 triệu USD, hơn 1.000 đơn vị là doanh nghiệp FDItrong đó Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 167 dự án vào tỉnh và tổng vốn đăng
ký là 3,1 tỷ USD chỉ trong 2 tháng đầu năm 2014 Tỉnh Bình Dương cũng thànhcông trong thu hút FDI vào công nghiệp với nhiều dự án lớn như dự án Khu đô thịTokyu Bình Dương của Tập đoàn Tokyu - Nhật Bản (1,2 tỷ USD), dự án của Tậpđoàn Dai Nippon Printing 35 triệu USD; dự án của Công ty TNHH Biomin ViệtNam 8 triệu USD, dự án của Công ty TNHH Tomoku Việt Nam đầu tư vào Khucông nghiệp Mỹ Phước 3 ( sản xuất bao bì giấy) với vốn hơn 47,6 triệu USD… Làtrung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Thành phố Hồ Chí Minh luôn
Trang 40vượt chỉ tiêu kế hoạch trong thu hút FDI.Theo Ban quản lý các khu chế xuất và côngnghiệp TP HCM (HEPZA), trong quý I năm 2014, tổng vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài cả cấp mới và tăng thêm là 243,54 triệu USD, tăng 97,26% so với cùng kỳnăm 2013, chủ yếu thuộc lĩnh vực dệt may, nhựa-cao su, thuốc lá, cơ khí và điệntử… Các dự án lớn điển hình như Công ty sản xuất may mặc cao cấp Worldon củaTrung Quốc (140 triệu USD), Công ty sản xuất dệt vải cao cấp Sheico Nhật Bản (50triệu USD), dự án sản xuất găng tay cao su của Công ty Cleanwrap Latex Hàn Quốc(10 triệu USD)… Đây là những tín hiệu tích cực cho thấy nền công nghiệp tại đây
rất phát triển, trong đó vai trò của vốn FDI là rất quan trọng [4].
Khu vực thứ hai tiếp nhận nhiều vốn FDI vào ngành công nghiệp đó là đồngbằng sông Hồng với thủ đô Hà Nội – trung tâm kinh tế xã hội của cả nước với nhiềuthành công đáng kể trong thu hút FDI nói chung và vào ngành công nghiệp nóiriêng Cơ khí và điện tử chính là những ngành nghề thu hút được nhiều vốn FDInhất tại các KCN Hà Nội
Bảng 2.5: Tỷ trọng vốn FDI phân theo ngành nghề tại các KCN Hà Nội