NỘI DUNGI.QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ CON NGƯỜI 1.Quan điểm về con người trong triết học trước Mác 1.1 Quan điểm vể con người trong triết học phương Đông Từ thời cổ đại, các trường p
Trang 1A MỞ ĐẦU
Vấn đề con người là chủ đề trọng tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiện đại Từ xa xưa từ khi triết học chưa được hình thành thì vấn đề con người đã được nhiều nhà tư tưởng bàn đến Tuy nhiên chỉ đến khi triết học Mác-Lê Nin xuất hiện< vào những năm 40 của thế kỉ XIX > thì vấn
đề này mới được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, triệt để khoa học nhất
Trong hệ tư tưởng Đức, Các Mác và Angghen đã khẳng định:” tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống” Chính vì vậy mà mục tiêu cao cả nhất
mà triết học Mác- Lênin hướng tới đó chính là giải phóng con người, hướng tới mục đích vì con người - chủ thể của lịch sử xã hội
Hiện nay nước ta đang trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Con người là một trong những động lực quan trọng nhất trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải có con người của Chủ nghĩa xã hội Bởi vậy chúng ta phải có định hướng nghiên cứu đúng đắn về con người
Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước ta đang được tiến hành trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức Cơ hội phát triển thực sự lớn lao nhưng thử thách cũng không kém phần khắc nghiệt Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng nâng cao chất lượng nhân lực, phát triển nguồn lực con người
là con đường ngắn nhất để tạo ra sức mạnh cạnh tranh trong môi trường kinh doanh quốc tế đặc biệt là kinh tế tri thức Do đó nếu không nghiên
Trang 2cứu một cách có hệ thống và đúng đắn về vấn đề con người thì chúng ta
sẽ không thể có được những chính sách đúng đắn để phát triển con người
Để hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh cần xây dựng được con người mới “ Phát triển cao về
trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo
đức.”
Vì tất cả những lí do nêu trên nên em mới chọn đề tài này làm đề
tài nghiên cứu khoa học của mình
Trang 3
B NỘI DUNG
I.QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ CON NGƯỜI
1.Quan điểm về con người trong triết học trước Mác
1.1 Quan điểm vể con người trong triết học phương Đông
Từ thời cổ đại, các trường phái triết học đều tìm cách lí giải vấn đề bản chất của con người, quan hệ giữa con người đối với thế giới xung quanh Các trường phái triết học tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hội giáo nhận thức bản chất của con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận Theo triết học Phất giáo con người là
sự kết hợp giữa danh và sắc< vật chất và tinh thần> Đời sống con người trên trần thế chỉ là ảo giác hư vô Khổng Tử cho bản chất của con người do” thiên mệnh” chi phối quyết định, đức nhân chính là giá trị cao nhất của con người Mạnh Tử lại quy tính thiện của caon người vào năng lực bẩn sinh do phong tục tập quán xấu mà con người bị nhiễm cái xấu xa rời cái tốt Ngựoc lại với Mạnh Tử, Tuân Tử cho rằng bản chất của con người khi sinh ra là cái ác nhưng có thể cải biến được Lại có quan điểm cho rằng trời và con người có thể hòa hơp được với nhau, quy cuộc đời của con người vào vai trò quyết định của” thiên mệnh” Lão Tử cho rằng con người sinh ra từ “Đạo” Do vậy, con người phải sống vô ơn theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không hành động một cách giả tạo trái với tự nhiên Triết học phương Đông biểu hiện tính đa dạng và phong phú thiên về vấn
đề con người trong mối quan hệ với đạo đức Con người trong triết học Phương Đông biểu hiện yếu tố duy tâm, pha trộn tính chất duy vật chất phác ngây thơ trong mối qua hệ với Tự nhiên xă hội
Trang 41.2 Quan điểm về con người trong triết học phương Tây trước Mác
Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây đặc biệt là Kitôg các nhận thức con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí: con người được quan niệm là kẻ có thể xác Linh hồn là giá trị cao nhất trong con người
Trong triết học Hy Lạp cổ đại con người được xem là điểm khởi đầu của
tư duy triết học Theo Arixtôt con người là “một động vật chính trị”, chỉ
có linh hồn tư duy trí nhớ, ý chí năng khiếu nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên Triết học Hy Lạp cổ đại bướoc đầu đã có sự phân biệt con người với tự nhiên nhưng chỉ là biểu hiện bên ngoài về tồn tại con người
Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của thượng
đế sang tạo ra Triết học thời kì phục hưng cận đại đặc biệt đề cao vai trò của trí tuệ, lí tính của con người xem con người là một thực thể có trí tuệ Tuy nhiên con người chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể mà xem nhẹ về mặt xã hội
Trong triết học cổ điển Đức, Cantơ và Heghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm Heghen với chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng con người là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối” Heghen là người đặt vấn đề xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần Heghen phát hiện ra quy luật về sự phát triển của đời sống tinh thần cá nhân Quy luật đó là: trong sự phát triển của đời sống tinh thần cá nhân cần thiết và tất yếu phải lặp lại trong hình thái rút ngắn và cô đọng những trình độ cơ bản mà đời sống tinh thần xã hôị phải trải qua Heghen là người khẳng định vai trò chủ thể của con người đối với lịch sử, đồng thời là kết quả của sự phát triển lịch sử
Trang 5Phoiơbắc- nhà triết học duy vật phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản chất con người trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định con người do sự vận động của thế giới vật chất tạo nên Con người là kết quả sự phát triển của thế giới tự nhiên Con người
và tự nhiên là thống nhất không tách rời Con người theo quan niệm của Phoiơbắc là phi lịch sử, phi giai cấp và trừu tượng
Tóm lại các quan niệm về con người trong triết học trước Mác, dù đứn trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình đều không phản ánh đúng bản chất con người Các quan niệm đều xem xét con người một cách trừu tượng tuyệt đối hóa mặt tinh thần hoặc thể xác con người Tuy nhiên bên cạnh sai lầm đó thì một số trường phái triết học vẫn đạt được những thành tựu trong việc phân tích quan sát con người, xác lập các giá trị về nhân bản học để hướng tới con người tự do
2 Quan điểm của triết học Mác Lênin về bản chất con người
2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
Triết học Mác khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất các yếu tố sinh học và yếu tố xă hội Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài Yếu tố sinh học là yếu tố đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Con người là một bộ phận của giới tự nhiên
Con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những
cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ phát triển của nó đối với tự nhiên Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm sinh lí, các giai đoạn khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người Tuy nhên mặt tự nhiên không phải là
Trang 6yếu tố duy vật quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loại vật là mặt xã hội Như chúng ta đã biết, tự nhiên là cái có trước con người, sinh ra con người Con người muốn tồn tại và phát triển thì phải biết sống vào tự nhiên, phải biết tác động cải tạo tự nhiên đem lại sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình Còn
xã hội xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người Nhưng nó lại đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành con người Xã hội chính là đặc trưng biểu hiện con người là con người Công cụ lao động, ngôn ngữ, ý thức… đều là sản phẩm xã hội mang lại Tóm lại trong con người có hai mặt không thể tách rời: mặt tự nhiên và mặt xã hội
Triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện cụ thể trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất Chính hoạt động sản xuất< lao động>
đã tạo nên sự khác biệt giữa người và động vật, là cơ sở để hình thành nên mặt xã hội trong con người Chính trong qúa trình lao động mà con người đã sản xuất ra đời sống vật chất của chính mình Thông qua hoạt động sản xuất vật chất con người đã làm thay đổi cải biến toàn bộ thế giới tự nhiên” con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái xản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” Cũng chính trong quá trình lao động mà con người mới được hoạt động có ý thức, có mục đích, mới hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội
Quá trình hình thành và phát triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống qui luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau< Hệ thống các qui luật tự nhiên quy định phương diện sinh học của con người, hệ thống các quy luật tâm lí, ý thức hình thành và vận động
Trang 7trên nền tảng sinh học của con người, hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa ngưòi với người> Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên một thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và xã hội Mặt sinh học là cơ sở tất yếu
tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loại vật Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau để tạo nên con người
2.2 Con ngưòi là tổng hòa những mối quan hệ xã hội
Nếu các nhà triết học trước Mác khi nghiên cứu bản chất con người chỉ nghiên cứu một mặt, một mối quan hệ cụ thể nào đó của con người mà không đặt chúng trong một chỉnh thể, một hệ thống Còn các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác lại không xem xét con người một cách phiến diện cô lập như vậy mà đặt chúng trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội Con người vượt lên thế giới loại vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó suy cho cùng đều mang tính xã hội
Các Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng Luận cương về Phoiơbắc “ Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”
2.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử.
Con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh nhưng quan trọng hơn cả con người là chủ thể của lịch sử và xã hội Với tư cách là thực thể của xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn con người
Trang 8làm phong phú thêm thế giới tự nhiên tái tạo lại một thiên nhiên thứ hai theo mục đích của mình Trong quá trình cải biến tự nhiên con người cũng làm ra lịch sử của mình Con người là sản phẩm của lịch sử đồng thời là chủ thể sang tạo ra lịch sử của chính bản thân con người
Khi đề cập đến vấn đề con người Mác không chỉ xem xét nó trong hoạt động thực tiễn mà còn xem xét nó trong thời đại lịch sử, trong môi trường xã hội nhất định Ở mỗi thời đại khác nhau bản chất con người là khác nhau Vì xã hội loại người luôn vận động từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái kinh tế xã hội cao nên con người cũng phải biến đổi cho phù hợp Như vậy bản chất của con người không phải hệ thống đóng kín mà là hệ thống mở tương ứng với điều kiện của con người Con người không phải là cái gì chung chung trừu tượng mà mang tính lịch sử
cụ thể, mang dấu ấn của hoàn cảnh, của văn hóa, của tư tưởng của một thời đại nhất định Mặc dù là”tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sang tạo Thông qua đó bản chất của con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp Tóm lại bản chất của con người không phải nhất thành bất biến không phải trừu tượng mà có sự vận động, biến đổi phát triển phù hợp với sự biến đổi của hoàn cảnh thời đại Do vậy muốn xem xét vấn đề con người một cách khoa học và đúng đắn thì phải nghiên cứu con người trong tính thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội Mỗi mặt đó có một chức năng khác nhau không thể thay thế cho nhau, trong đó mặt xã hội chi phối sự hình thành bản chất con người
3 Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
3.1 Khái niệm cá nhân
Cá nhân vừa là một chỉnh thể đơn nhất vừa mang tính cá biệt vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động của mọi quan hệ xã hội và
Trang 9của nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và chức năng xã hội Mỗi cá nhân là thành viên của xã hội và mang bản chất xã hội
Trong quan hệ với xã hội, cá nhân được phân biệt với các đặc trưng: cá nhân là phương thức tồn tại cụ thể của loại người một cách trực tiếp cảm tính Không có con người nói chung mà chỉ có con người cụ thể-cá nhân- của giống loài Cá nhân là phần tử đơn nhất riêng lẻ tạo thành cộng đồng xã hội, là cơ sở hình thành lịch sử xã hội loài người đồng thời là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách, biểu hiện trong phẩm chất sinh lí và tâm lí riêng biệt của mỗi người
Cá nhân trong mối quan hệ với xã hội là một hiện tượng lịch sử vận động phát triển phù hợp với mỗi thời đại nhất định
3.2 Khái niệm nhân cách
Nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất xã hội –sinh tâm lí của cá nhân tạo thành chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình
Nhân cách là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa các cá nhân Nhân cách không phải là phẩm sinh, sẵn có mà đựoc hình thành và phát triển phụ thuộc vào ba yếu tố Cụ thể là: nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền, một cá thể sống phát triển cao nhất của giới hữu sinh Môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của nhân cách thông qua sự tác động biện chứng của gia đình, nhà trường
và xã hội với mỗi cá nhân Hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân bao gồm quan điểm, lý luận, niềm tin…Yếu tố quyết định để hình thành thế giới quan cá nhân là tính chất của thời đại, lợi ích, vai trò địa vị
cá nhân trong xã hội, khả năng thẩm định giá trị đạo đức, nhân văn và kinh nghiệm của mỗi cá nhân
Trang 10Nhân cách là thế giới quan bên trong của mỗi cá nhân Sự hình thành và phát triển của nhân cách là sự thống nhất của các yếu tố sinh học, tâm lí và xã hội để xác lập “cái tôi” cá nhân
3.3 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể
Tập thể là phần tử tạo thành xã hội Nó là hình thức liên kết các cá nhân thành từng nhóm xã hội xuất phát từ lợi ích nhu cầu về kinh tế, chính trị, đạo đức thẩm mĩ, khoa học, tư tưởng, nghề nghiệp…
Cá nhân tồn tại trong tập thể với tư cách là đơn vị cấu thành của cái toàn thể, biểu hiện bản sắc của mình thông qua hoạt động tập thể nhưng không hòa tan vào tập thể
Thực chất mối quan hệ cá nhân và tập thể là quan hệ lợi ích Sự thống nhất biện chứng giữa cá nhân và tập thể là điều kiện cơ bản đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân cũng như tập thể Thông qua lợi ích hình thành nên sự liên kết giữa cá nhân và tập thể, quy định phương hướng hoạt động của tập thể nhằm làm cho tập thể vừa đảm bảo lợi ích cá nhân Từ đó mỗi cá nhân lại thúc đẩy tập thể phát triển
Sự liên kết giữa cá nhân và tập thể được qui định bởi các mối quan
hệ khách quan và chủ quan.Tính khách quan bắt nguồn từ bản chất xã hội của mọi thành viên.Tính chủ quan là năng lực tự tiếp nhận điều chỉnh mọi suy nghĩ và hành vi của cá nhân Sự thống nhất giữa tính khách quan
và chủ quan trong quan hệ cá nhân tập thể là điều kiện cần thiết để tập thể phát triển lành mạnh.tuy nhiên trong điều kiện hiện thực của tập thể,không thể đáp ứng mọi yêu cầu của cá nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa
cá nhân với tập thể Đây là mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình vận động và phát triển của cá nhân và tập thể