Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHƯƠNG THỊ TỰ
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4
THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS VŨ QUỐC CHUNG
HÀ NỘI, 2015
Trang 22
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
PGS TS Vũ Quốc Chung, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin được trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Phòng đào tạo sau đại học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô, học sinh tham gia dạy và học theo
mô hình trường học mới Trường tiểu học Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát và thực nghiệm luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi học tập làm việc và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 1 năm 2015
Người thực hiện luận văn
Khương Thị Tự
Trang 33 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi và không trùng lặp với các đề tài khác
Hà Nội, ngày 5 tháng 1 năm 2015
Khương Thị Tự
Trang 44 MỤC LỤC
Lời cảm ơn……….…… 2
Lời cam đoan……….…… 3
Mục lục……… 4
Danh mục biểu bảng, Sơ đồ, hình ảnh……… ……8
Danh mục viết tắt……… ……….….….9
Mở đầu……….……… 10
1 Lý do chọn đề tài……….………10
2 Mục đích nghiên cứu……… ………11
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu……….11
4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… …11
5 Giả thuyết khoa học……….12
6 Phương pháp nghiên cứu……… 12
7 Những đóng góp của luận văn……….12
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……….……… 13
1.1 Cơ sở lí luận……… ……… 13
1.1.1 Một số biểu hiện của kỹ năng tự học………13
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất của tự học……… ….13
1.1.1.2 Một số biểu hiện của kĩ năng tự học………16
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa dạy học và tự học………18
1.1.2 Biểu hiện của kỹ năng tự học của học sinh lớp 4……… 19
1.1.2.1 Kỹ năng tự học của học sinh lớp 4……….……… 19
Trang 55
1.1.2.2 Một số biểu hiện của kỹ năng tự học của học sinh lớp 4 trong
môn Toán…… ……….……21
1.1.3 Một số biểu hiện của rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 21
1.1.4 Đặc điểm của VNEN……… ……….…….24
1.1.4.1 Mục tiêu và đặc điểm của VNEN……… ……… 24
1.1.4.2 Cấu trúc các môn học và hoạt động giáo dục trong VNEN……… 25
1.1.4.3 Tổ chức và quản lý lớp học trong VNEN………… ……… 26
1.1.4.4 Cấu trúc bài học của sách Hướng dẫn học Toán 4 theo VNEN……… ………31
1.1.5 Biểu hiện phát triển kỹ năng tự học Toán của học sinh lớp 4 trong VNEN……… 33
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN………34
1.2.1 Một số chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về dạy học môn Toán lớp 4 trong VNEN……… ……… ……… 34
1.2.1.1 Nội dung dạy học môn Toán lớp 4 – VNEN………34
1.2.1.2 Kế hoạch dạy học môn Toán lớp 4 – VNEN……… 35
1.2.1.3 Phương pháp dạy học môn Toán lớp 4 – VNEN………… 35
1.2.2 Thực trạng triển khai tổ chức dạy học môn Toán lớp 4 – VNEN…39 1.2.2.1 Về môi trường lớp học……….39
1.2.2.2 Về hoạt động của mạng lưới cộng đồng………….………….40
1.2.2.3 Về góc Toán và đồ dùng học tập toán……….41
1.2.2.4 Về học sinh……….……….42
Trang 66
1.2.2.5 Về giáo viên……….44
KẾT LUẬN CHƯƠNG I……… ……….46
CHƯƠNG II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA MÔN TOÁN THEO VNEN……… …47
2.1 Vận dụng và phát huy vai trò của hội đồng tự quản để hỗ trợ học sinh tự học cá nhân……… 47
2.1.1 Tác dụng của hội đồng tự quản đối với quá trình tự học………… 47
2.1.2 Hoạt động của hội đồng tự quản trong hỗ trợ học sinh tự học cá nhân……… 48
2.2 Vận dụng và phát huy vai trò của hội đồng tự quản để hỗ trợ học sinh tự học theo nhóm……….54
2.2.1 Tác dụng của tổ chức học tập theo nhóm đối với quá trình tự học của
học sinh………54
2.2.2 Hoạt động của hội đồng tự quản trong hỗ trợ học sinh tự học theo nhóm ……….55
2.3 Vận dụng và phát huy vai trò của hội đồng tự quản để hỗ trợ học sinh tự kiểm tra, đánh giá………60
2.3.1 Các loại hình kiểm tra, đánh giá……… 61
2.3.1.1 Kiểm tra, đánh giá thường xuyên……….61
2.3.1.2 Kiểm tra, đánh giá định kì………62
2.3.2 Hoạt động của hội đồng tự quản trong việc hỗ trợ học sinh tự kiểm tra, đánh giá……….62
KẾT LUẬN CHƯƠNG II……… 71
Trang 77
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM… ……….……… 72
3.1 Mục đích thực nghiệm……… ………72
3.2 Đối tượng thực nghiệm……… ……… 72
3.3 Thời gian thực nghiệm……… ……….72
3.4 Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm……….72
3.5 Kết quả thực nghiệm………73
3.5.1 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm……….………73
3.5.2 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm………73
KẾT LUẬN CHƯƠNG III……… 75
Kết luận chung……….76
Ý kiến đề xuất……… 77
Tài liệu tham khảo……… 79
Phụ lục……….80
Trang 88
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG , SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
1 Bảng 1.1 : Mối quan hệ giữa thầy (dạy) và trò (tự học) 19
3 Hình 1.3: Hội đồng tự quản lớp 4E, Trường Tiểu học Tả
Thanh Oai
28
4 Hình 1.4: Góc Toán lớp 4A, Trường Tiểu học Tả Thanh Oai 29
5 Hình 1.5: Lô gô quy định các hình thức hoạt động của học
sinh
32
8 Hình 2.1: Biểu đồ “Đánh giá hiệu quả của các hình thức học
tập”
55
9 Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra học sinh trước thực nghiệm 73
10 Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra học sinh sau thực nghiệm 74
Trang 10Để chuẩn bị cho đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục sau năm
2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thí điểm nhiều chương trình dạy học mới, trong đó có Mô hình trường học mới gọi tắt là VNEN thí điểm ở cấp Tiểu học Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, VNEN là kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại Mô hình này dựa trên kết quả và thành tựu đổi mới giáo dục của quốc tế; vận dụng cách làm của giáo dục Colombia một cách sáng tạo, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam Mô
Trang 11và học sinh, tạo không khí học tập nhẹ nhàng, thân thiện
Có thể thấy mô hình thực nghiệm Trường mới Việt Nam với định hướng cốt lõi là học sinh Tự học – Tự quản – Tự rèn luyện được coi là một trong những giải pháp có ưu thế cho sự thay đổi giáo dục Việt Nam
Chính vì những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Toán theo mô hình trường học mới (VNEN)”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Toán theo mô hình trường học mới (VNEN)
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Các hình thức phương pháp tổ chức dạy học môn Toán lớp 4 nói chung và phương pháp, quá trình tổ chức dạy học môn Toán lớp 4 trong VNEN nói riêng
– Khách thể nghiên cứu: Sách Hướng dẫn học Toán 4, học sinh, giáo viên một số trường đang thí điểm VNEN
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu tài liệu về năng lực tự học của học sinh tiểu học và tài liệu về VNEN
– Tìm hiểu đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học khi học toán nói chung và học toán theo VNEN nói riêng
Trang 125 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng và phát huy được vai trò của Hội đồng tự quản để hỗ trợ học sinh tự học và kết hợp với tự kiểm tra đánh giá thì đề tài sẽ góp phần hình thành và phát triển được kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Toán theo VNEN
6 Phương pháp nghiên cứu
– Nghiên cứu tài liệu, tổng hợp và phát triển lý luận
– Khảo sát thực tế
– Phương pháp thực nghiệm
– Phương pháp thống kê và xử lí số liệu
7 Những đóng góp của luận văn
Đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua môn Toán theo VNEN để đảm bảo mục tiêu Tự học – Tự quản –
Tự rèn luyện của mô hình, góp phần nhỏ bé trong việc xây dựng hệ thống căn
cứ khoa học và thực tế để xây dựng VNEN từ mô hình thực nghiệm đi lên mô hình chính thức
Trang 1313 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Một số biểu hiện của kỹ năng tự học
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất của tự học
Có nhiều khái niệm khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu:
Nhà tâm lý học N.ARubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự học Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng , kỹ xảo của chủ thể
– Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy” – Theo tác giả Lê Khánh Bằng thì tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định
– Theo GS Đặng Vũ Hoạt và PGS Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã
được quy định Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có
tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân
Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội”
Trang 1414
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và
có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi
cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi v.v ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình” (Nguyễn Cảnh Toàn, Quá trình dạy – tự học, NXB Giáo dục, 1997)
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về
tự học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
Về các cấp độ của tự học, xin được nhắc lại các cấp độ đã được thống nhất trong nhiều tài liệu nghiên cứu đi trước:
Cấp độ 1: Tự học hoàn toàn (học với sách, không có thầy bên cạnh)
Học với sách, không có thầy bên cạnh thường được hiểu là tự học Nhưng hiểu như vậy thì hơi hẹp Bởi hoạt động dạy của người thầy thực chất chỉ là ngoại lực tác động đến người học Sự tác động này phải kết hợp được với nội lực của người học thì mới đạt được hiệu quả
Thật vậy, qua theo dõi, quan sát, có thể thấy ngay trong cùng một lớp học, với các học sinh cùng độ tuổi, tất cả đều không có những bất thường về tâm sinh lí cùng hoạt động theo một tài liệu hướng dẫn học tập như nhau nhưng kết quả đạt được của mỗi em là khác nhau Sự khác nhau này phần nhiều là do nội lực của từng em Cụ thể, những em chịu khó đọc, tìm hiểu, thực hiện các bước học tập đầy đủ như hướng dẫn sẽ có kết quả tốt hơn những
em không tuân thủ nghiêm túc quá trình hoạt động
Trang 1515
Sách cũng chính là sản phẩm của các tác giả viết ra, cùng một quyển sách nhưng sự tiếp thu và kiến thức mỗi người thu nhận được sau khi đọc xong là không giống nhau Học với sách thì khó khăn hơn khi học với thầy và nếu có thắc mắc thì không có người để hỏi Nhưng có như vậy, thì người học mới cố gắng động não để tìm hiểu, giải đáp những thắc mắc của mình, thậm chí tra cứu thêm những tài liệu có liên quan khác Cách làm việc này có thể mất thời gian hơn, song phải động não nhiều và người học quen dần với tác phong “làm việc độc lập với sách” Có như vậy thì người học mới rèn luyện cho mình được năng lực tự học, tự học suốt đời vì không phải lúc nào cũng có thầy bên cạnh
Vậy nên tự học có thể diễn ra khi có thầy, có sách, cả khi không có thầy, không có sách Trong trường hợp này, khả năng đạt hiệu quả cao là khó khăn,
vì người học chỉ có thể học tập nhờ cọ xát và trải nghiệm trong thực tiễn Đặc biệt, đối với học sinh tiểu học, mức độ tự học hoàn toàn không thầy không sách càng khó khăn hơn Do đó, trước hết phải học một cách có hệ thống với thầy, sau đó với sách, nắm chắc kiến thức cơ bản một cách có hệ thống, từ đó
tự mình sưu tầm tài liệu và mở rộng kiến thức bản thân một cách có chiều sâu hơn
“Tự học hoàn toàn” là mức độ mỗi người học cần đạt đến để có thể “Tự học suốt đời” nhưng trước hết phải biết “Tự học có hướng dẫn”
Cấp độ 2: Tự học có hướng dẫn
Tự học có hướng dẫn là hình thức hoạt động tự lực của người học để chiếm lĩnh tri thức và hình ảnh kỹ năng tương ứng dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của giáo viên thông qua tài liệu hướng dẫn tự học
Có hai mức độ tự học có hướng dẫn:
Mức độ 1: Người học có sự hỗ trợ trực tiếp của thầy và sách giáo khoa, có thể thông qua các phương tiện, công cụ hỗ trợ việc dạy học như máy tính, máy chiếu…
Trang 1616
Mức độ 2: Người học có sách giáo khoa và có giáo viên ở xa hướng dẫn
tự học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin viễn thông khác Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
1.1.1.2 Một số biểu hiện của kỹ năng tự học
Biểu hiện của kỹ năng tự học là:
* Người học biết xác định mục đích học tập Trước tiên, để quá trình tự học diễn ra thành công người học cần thiết lập cơ sở định hướng của hành động Đó là hệ thống định hướng và chỉ dẫn mà chủ thể có thể sử dụng nó để thực hiện một hành động xác định nào đó Nó có chức năng nhận thức đối tượng, vạch kế hoạch, kiểm tra và điều chỉnh hành động theo kế hoạch Để có được cơ sở định hướng, người học phải trả lời được các câu hỏi:
- Học nhằm mục đích gì? Học vì yêu thích môn học, vì trách nhiệm với gia đình và xã hội, hay vì để được khen, được đánh giá cao…
- Thái độ học tập ra sao? Học với tinh thần, thái độ nghiêm túc hay hời hợt qua loa
- Học như thế nào? Người học nên chọn phương pháp nào là phù hợp với bản thân
* Người học biết lập kế hoạch Mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu người học xác định được mục tiêu, nội dung và phương pháp học Muốn vậy, người học phải xây dựng được kế hoạch học tập Trên cơ sở bộ khung đã được thiết lập
đó, người học có thể tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách dễ dàng Trong quá trình lập kế hoạch người học phải chú ý một số điểm sau:
- Thứ nhất, người học phải xác định tính hướng đích của kế hoạch Đó
có thể là kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, thậm chí kế hoạch cho từng môn, từng phần Kế hoạch phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình
Trang 1717
- Thứ hai, khi lập kế hoạch, người học phải chọn đúng trọng tâm, cần
xác định được cái gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó
* Người học biết xác định nội dung học tập Trong vô số những kiến
thức cần chiếm lĩnh, người học cần xác định được nội dung nào là cần thiết cho việc tự học
* Người học biết lựa chọn tài liệu, đồ dùng, phương tiện học tập Ngày
nay rất nhiều tài liệu có thể giúp học sinh tự học, tuy nhiên để tự học hiệu quả người học cần biết lựa chọn tài liệu, đồ dùng cũng như phương tiện phù hợp với khả năng tiếp nhận, phù hợp với trình độ, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh gia đình
* Người học biết thu thập thông tin từ các tài liệu đã lựa chọn Trong việc tiếp cận các thông tin, người học cần biết lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, làm thí nghiệm… Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt
* Người học biết xử lý thông tin từ các tài liệu đã lựa chọn: việc xử lý thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lý mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua các kỹ năng ghi chép, phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…
* Người học biết vận dụng tri thức, thông tin: thể hiện qua việc vận
dụng thông tin tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch…
* Người học biết trao đổi, phổ biến thông tin: việc trao đổi kinh
nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức thông qua các hình thức: thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức
Trang 1818
* Người học biết tự kiểm tra, đánh giá , rút kinh nghiệm Khi người học
tự đánh giá được kết quả học tập của mình, người học sẽ tự đánh giá được năng lực học tập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm được, cái gì mình chưa làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục Để có kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, học sinh cần:
- Tự trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa bằng cách xác định yêu cầu của câu hỏi, dự kiến câu trả lời, tái hiện các kiến thức liên quan, tập trình bày câu trả lời trước nhóm hoặc trước lớp để tìm ra chỗ sai từ đó khắc phục
- Tự đặt câu hỏi để tự mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè
- Làm các bài tập của thầy cô giao cho, hoặc các bài tập bản thân tự tìm kiếm sau đó tự mình kiểm tra đáp án để rút kinh nghiệm…
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa dạy học và tự học
Mỗi mô hình dạy học thường có 3 thành tố trọng tâm, quan trọng đó là THẦY – TRI THỨC – TRÒ (ngoài ba thành tố này còn các thành tố khác như
cơ sở vật chất, cộng đồng,… nhưng ở đây chúng tôi tập trung tìm hiểu, nhấn mạnh mối quan hệ giữa ba thành tố kể trên) Trong mối quan hệ này, thầy thực hiện việc dạy, trò thực hiện việc học để chiếm lĩnh tri thức Ba thành tố này có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau Ở mỗi thời kì, mỗi quan điểm giáo dục khác nhau thì vai trò của chúng cũng khác nhau Theo quan điểm dạy học truyền thống, thầy đóng vai trò trung tâm, truyền thụ tri thức cho trò Theo quan điểm dạy học hiện đại, đặc biệt coi trọng và phát triển
tự học thì trò trở thành trung tâm Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu mối quan hệ thầy – tri thức – trò theo quan điểm lấy trò (việc học của trò) là trung tâm
Như trên đã nói, tự học thực chất là một quá trình mà ở đó trò tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình Như vậy, tự học nhấn mạnh đến vai trò nội lực của trò Thầy với việc dạy là ngoại lực tác động vào quá
Trang 1919
trình tự học của trò Nội lực bao giờ cũng là yếu tố giữ vai trò quyết định đối với
sự phát triển của trò Sự tác động của thầy dù quan trọng đến mấy vẫn là ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện cho trò tự học, tự phát triển và trưởng thành (Xem bảng 1.1)
Thầy hướng dẫn Trò tự đọc, tìm hiểu tài liệu, sách vở, đồ
dùng dạy học Thầy tổ chức hoạt động học Trò tự thể hiện hoạt động học, tự trao
đổi, hợp tác đối thoại với bạn, với thầy Thầy hỗ trợ trò cách tự học, cách
giải quyết vấn đề, cách xử lí tình
huống
Trò tự giải quyết vấn đề, tự xử lí tình huống
Thầy là chuyên gia về việc học Trò là người tự học
Thầy đánh giá trò trong suốt quá
trình và cuối quá trình học theo
quan điểm động viên, khuyến
khích Kết quả đánh giá là một
trong những căn cứ để điều chỉnh
quá trình dạy sao cho phù hợp nhất
với trò
Trò tự đánh giá mình, tham gia đánh giá bạn cùng với thầy
Bảng 1.1 : Mối quan hệ giữa thầy (dạy) và trò (tự học)
1.1.2 Biểu hiện của kỹ năng tự học của học sinh lớp 4
1.1.2.1 Kỹ năng tự học của học sinh lớp 4
Trước kia, khi nói đến kỹ năng tự học, kỹ năng điều chỉnh hoạt động học của lứa tuổi tiểu học, nhiều nhà khoa học và nhà sư phạm tỏ ra nghi vấn Tuy nhiên, đến nay nhiều nhà khoa học đã chỉ ra rằng học sinh tiểu học đã có kỹ
Trang 2020
năng thực hiện và điều chỉnh hoạt động học của mình Chính điều này đã tạo
ra kỹ năng tự học ngày càng rõ ràng ở các em, nhất là khi quá trình dạy học được tổ chức theo quan điểm lấy người học làm trung tâm, tập trung rèn luyện
cách học cho học sinh
Thứ nhất, học sinh tiểu học có tính tò mò, có lòng ham hiểu biết, việc
kích thích sự tò mò ham hiểu biết này góp phần tạo động cơ tự tìm hiểu, tự học cho các em
Thứ hai, trí tưởng tượng của học sinh tiểu học phát triển rất mạnh và có
tính rõ ràng Chính vì thế các em hoàn toàn có thể tưởng tượng ra một kết quả mong muốn nào đó khi phải giải quyết vấn đề hay xử lí tình huống trong học tập, tạo tiền đề cho quá trình tự tìm hiểu, tự học, tự hành động tìm ra tri thức
Thứ ba, học sinh tiểu học có khả năng rút kinh nghiệm Khi gặp một vấn
đề hay một tình huống phải giải quyết có tính tương tự với những vấn đề, tình huống mà các em đã gặp trong quá khứ, các em có khả năng nhớ lại và giải quyết nhanh hơn
Thứ tư, ngôn ngữ của học sinh tiểu học ngày càng phát triển Càng về
cuối cấp Tiểu học các em càng có kỹ năng biểu đạt rõ ràng về mặt ngữ pháp,
có kỹ năng diễn đạt ý nghĩ của mình một cách mạch lạc Đây là một trong những yếu tố để các em có thể đọc sách, trao đổi tương tác với bạn, với thầy
cô trong quá trình tự học
Thứ năm, học sinh tiểu học có kỹ năng thực hiện các thao tác trí tuệ cơ
bản (so sánh, khái quát hoá, rút ra kết luận) để tự học
Thứ sáu, học sinh tiểu học ở giai đoạn lớp 1, 2, 3 đã được làm quen và
chuẩn bị cho việc tự học cho nên lên lớp 4 kỹ năng tự học có thể được hình thành và phát triển
Với tất cả những điều kiện nêu trên cho phép học sinh tiểu học nói chung
và học sinh lớp 4 nói riêng thực hiện được các hoạt động tự học môn Toán
Trang 21Biểu hiện của kỹ năng tự học của học sinh lớp 4 trong môn Toán là:
- Biết xác định mục tiêu cho việc học Toán lớp 4
- Tự đọc sách để nắm bắt kiến thức trong sách giáo khoa
- Tự làm bài tập trong sách giáo khoa
- Biết tự đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức của mình qua việc đối chiếu với bạn hoặc trao đổi với bạn bè hoặc nhờ thầy cô đánh giá
- Biết tìm tòi kiến thức ngoài sách giáo khoa để củng cố và nâng cao kiến thức đã chiếm lĩnh được từ sách
1.1.3 Một số biểu hiện của rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4
Cái khó của việc tự học là bản thân học sinh phải có nội lực thích học, yêu thích môn học, xuất phát từ mục đích bản thân, học cho ai, học vì cái gì
Vì vậy Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 là giúp cho học sinh lớp
4 có kỹ năng tự tạo động lực cho bản thân, biết xác định rõ mục đích học tập, lên kế hoạch học tập và thực hiện nó một cách hiệu quả Cụ thể như sau:
Thứ nhất, muốn học sinh có ý thức tự học thì trước hết học sinh phải yêu thích môn học đó Vì vậy GV cần tạo cho HS niềm say mê môn học GV
có thể dùng tiết dạy để giới thiệu về môn học, về những giá trị của môn học trong thực tiễn bằng những ví dụ minh họa cụ thể nhằm kích thích động cơ học tập ở các em Kể chuyện về cuộc đời nhà toán học như giáo sư Ngô Bảo Châu hoặc nêu những tấm gương tự học mà học giỏi
Thứ hai, GV cần hướng dẫn cho HS cách xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu Ngay từ tiết học đầu tiên của môn học, GV không cần phải dạy ngay
mà cần giới thiệu sơ lược về chương trình, nội dung và phương pháp học một
Trang 2222
cách khái quát nhất để HS hiểu và từ đó, tự xây dựng cho mình kế hoạch học tập phù hợp GV phải làm cho HS hiểu rõ: mọi kế hoạch phải được xây dựng dựa trên mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể và HS hoàn toàn có thể phấn đấu thực hiện được từng mục tiêu nếu có kế hoạch thời gian được xây dựng chi tiết Chẳng hạn, trong quá trình giảng dạy mỗi chương, GV sẽ cung cấp nội dung và thời gian học và kiểm tra để HS nắm rõ Đồng thời, GV có thể cho
HS đánh dấu vào trong sách bài nào học ngày nào, đến tiết nào sẽ kiểm tra Muốn HS tự xây dựng kế hoạch học tập thì GV phải là người cung cấp đầy đủ
kế hoạch dạy và học của bộ môn (Bảng 1.2)
Nội dung Mục tiêu Nhiệm vụ/ Bài tập Hoạt động cụ thể Thời gian
không chỉ gói gọn trong nội dung SGK, trong bài giảng của GV mà đến từ nhiều nguồn khác nhau Do đó, GV cần giới thiệu cho HS những cuốn sách hay, những tài liệu bổ ích liên quan đến môn học và khuyến khích các em tự tìm kiếm, tự phân tích và tổng hợp kiến thức
Thứ tư, GV nên dạy cho HS cách ghi chép và nghe giảng vì đây là
những kỹ năng học tập vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
Trang 2323
học tập của HS Trình độ nghe và ghi chép của người học ở mỗi môn học khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào đặc thù của từng môn học và phương pháp giảng dạy của từng giáo viên HS thường mang lối học thụ động, quen tách việc nghe và ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí nhiều HS chỉ chờ GV đọc mới có thể ghi chép được nội dung bài học, nếu ngược lại thì bỏ trống vở Điều này khiến HS có tâm lí ức chế, ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận kiến thức Để khắc phục vấn đề này này, GV nên xây dựng bộ giáo trình mẫu, bên cạnh nội dung của bài học có chừa khoảng trắng cho HS ghi chép những vấn
đề mà GV mở rộng Đối với các vấn đề mà HS còn chưa rõ, có thể đánh dấu
để hỏi lại GV hoặc tìm hiểu thêm GV phải rèn luyện cho HS cách ghi chép nhanh bằng các hình thức gạch chân, tóm lược bằng sơ đồ hình vẽ những ý chính Đối với các vấn đề quan trọng, GV cần nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần để
HS tiếp thu dễ dàng hơn
Thứ năm, GV hướng dẫn cách học bài GV nên giới thiệu và hướng dẫn
cho HS tự học theo mô hình các nấc thang nhận thức của Benjamin S.Bloom Theo cách phân chia trong thang nhận thức của Bloom, HS có thể học cách phân tích, tổng hợp, vận dụng tri thức vào từng tình huống thực tiễn, học cách nhận xét, đánh giá, so sánh đối chiếu các kiến thức khác… Cách tự học theo
mô hình các nấc thang nhận thức của Bloom sẽ giúp cho HS có thể học được cách rèn luyện được năng lực tư duy logic, tư duy trừu tượng và phát triển tư duy sáng tạo trong việc tìm ra những hướng tiếp cận mới đối với các vấn đề khoa học
Thứ sáu, GV yêu cầu học sinh tự kiểm tra và đánh giá kết quả học tập
của mình thông qua việc đối chiếu kết quả học tập với bạn hay trao đổi thảo luận trong nhóm bạn, hoặc có thể nhờ thầy cô kiểm tra đánh giá
Thứ bảy, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS ở tiết học tiếp theo Để
phát huy tối đa năng lực tự học và thúc đẩy HS tận dụng hết thời gian tự học,
Trang 2424
GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS Có như thế, các em mới định hướng được cụ thể các nhiệm vụ mình cần làm tiếp theo Sau khi đã tiếp nhận được kiến thức cũ, các em có thể tìm hiểu kiến thức mới Khi có sự chuẩn bị trước
ở nhà, việc học trên lớp sẽ trở nên có hiệu quả hơn rất nhiều
Vấn đề tự học ở HS là một vấn đề không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập đạt kết quả cao, đòi hỏi HS phải tự giác, không ngừng tìm tòi học hỏi Ngoài ra, sự định hướng của người thầy đóng vai trò quyết định thúc đẩy sự thành công trong việc chiếm lĩnh tri thức của người học
1.1.4 Đặc điểm của mô hình VNEN
1.1.4.1 Mục tiêu và đặc điểm của mô hình VNEN
Dự án Mô hình Trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE–VNEN,
Global Partnership for Education–Vietnam Escuela Nueva) là một dự án về
sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của Giáo dục Việt Nam
a) Mục tiêu tổng thể của Dự án
– Tạo điều kiện cho trẻ em thuộc các nhóm trẻ khó khăn hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học có chất lượng, thông qua việc đổi mới cách tổ chức các hoạt động giáo dục và hoạt động dạy học (chuyển việc dạy học từ lối truyền thụ kiến thức của giáo viên sang hướng dẫn hoạt động học cho học sinh mà không làm thay đổi chuẩn kiến thức, kỹ năng và kế hoạch dạy học của chương trình hiện hành) ở trường tiểu học
– Rút ra những bài học thực tiễn có giá trị về đổi mới việc tổ chức các hoạt động dạy và học trên toàn quốc (ở cấp Trung Ương và địa phương) nhằm chuẩn bị cho đổi mới căn bản, toàn diện cả về chương trình, nội dung, phương pháp và đánh giá cho chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015, đồng thời để đạt được giáo dục có chất lượng và bền vững
Trang 2525
b) Quy mô của Dự án (Tính đến năm học 2012 - 2013)
Năm học 2011–2012, tổ chức dạy–học thử nghiệm tại 12 trường của 6 tỉnh khó khăn ở phía Bắc, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ
Năm học 2012–2013, tổ chức dạy–học thử nghiệm mở rộng tại 1.447 trường của 63 Tỉnh (TP) trên toàn quốc Cụ thể :
– Các tỉnh khó khăn, gồm 20 tỉnh, với 1.143 trường;
– Các tỉnh trung bình, gồm 21 tỉnh, với 282 trường;
– Các tỉnh (TP) thuận lợi, gồm 22 tỉnh (TP), với 22 trường
1.1.4.2 Cấu trúc các môn học và hoạt động giáo dục trong VNEN
Như chúng ta đã biết, học sinh tiểu học hiện nay đang có 9 môn học bắt buộc là Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Tự nhiên và Xã hội (1, 2, 3) hoặc Khoa học lớp 4, 5; Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, Lịch sử và Địa lý lớp 4, 5; Thủ công lớp 1, 2, 3 hoặc Kỹ thuật lớp 4, 5 Ngoài ra, còn phải học các môn Tự chọn (Ngoại ngữ, Tin học) và tham gia các hoạt động tập thể (02 tiết/tuần) và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (4 tiết/tháng)
Khi học theo các lớp trong mô hình trường học mới, học sinh chỉ còn phải học 4 môn bắt buộc là Tiếng Việt; Toán; Ngoại ngữ (bắt đầu học từ lớp 3); Tự nhiên và Xã hội 1, 2, 3 hoặc Lịch sử và Địa lý, Khoa học lớp 4, 5 Nội dung các môn học khác được chuyển sang Hoạt động giáo dục Với sự thay đổi
cơ cấu các môn học, hoạt động giáo dục theo hướng dự án, học sinh không mất
cơ hội phát triển toàn diện; mặt khác việc tham gia các hoạt động học tập, giáo dục tại trường trở nên nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn; Như vậy, mô hình góp phần “giảm tải” cho học sinh từ sự thay đổi về cơ cấu các môn học Với tư cách
là một hoạt động giáo dục, giáo viên có quyền hoặc sử dụng tài liệu hiện hành hoặc không sử dụng (ví dụ: có thể cho tập hát một bài dân ca địa phương, có thể cho xem các ca sỹ biểu diễn qua video, clip); có thể tổ chức dạy học trong lớp, nhà đa năng, phòng chuyên dụng (phòng Giáo dục Âm nhạc, Phòng giáo
Trang 2626
dục Mỹ thuật – nếu có, hoặc ngoài sân trường ) Tuy nhiên, các hoạt động giáo dục của giáo viên không được tùy tiện mà phải có kế hoạch (đăng ký tổ chức qua Lịch báo giảng)
1.1.4.3 Tổ chức và quản lí lớp học trong VNEN
a) Sắp xếp bàn ghế học tập
Thay vì bàn ghế được sắp theo hàng ngang như trước đây, các lớp học VNEN yêu cầu sắp xếp lại bàn ghế theo nhóm học sinh: nhóm 4 hoặc nhóm 6
Sự thay đổi trong cách sắp xếp bàn ghế tạo ra sự thay đổi về vị trí chỗ ngồi từ
đó, tạo ra sự thay đổi về tâm thế học tập và quan hệ tương tác của học sinh Với cách ngồi theo hàng ngang, học sinh không cần tương tác với nhau, các em chỉ có một quan hệ tương tác: cô và trò Từ đó, nảy sinh tâm lí lấy cô giáo làm trung tâm của quá trình học tập; hoạt động học tập chủ yếu từ nghe giảng- ghi nhớ
- vận dụng và tái hiện Cách học này chỉ tạo nên những bộ óc biết ghi nhớ và tái hiện mà không tạo nên được con người có các năng lực mà xã hội đang cần - năng lực tự chủ, năng lực phối hợp nhóm, năng lực tư duy, năng lực sáng tạo
Với vị trí ngồi học theo nhóm học sinh cùng với cách tổ chức dạy học mới của giáo viên, học sinh bên cạnh được học kiến thức các môn học, các
em có cơ hội hình thành các năng lực cần thiết ở con người xã hội trong tương lai Nhờ quan hệ tương tác được mở rộng, đa chiều: tương tác giữa học sinh (với tư cách là chủ thể của quá trình học tập) với tài liệu (với tư cách là đối tượng của quá trình học tập, được viết lại chủ yếu dành cho người học với các hướng dẫn sư phạm) dưới sự điều hành của nhóm trưởng và vai trò cố vấn của giáo viên; Tương tác giữa học sinh với các dụng cụ học tập (tranh ảnh, đồ dùng, vật thật ); Tương tác giữa học sinh với học sinh (hai chủ thể với nhau) thông qua vai trò điều khiển của nhóm trưởng, của giáo viên; Tương tác giữa học sinh và giáo viên và ngược lại Điều cần chú ý là trong các mối quan hệ tương tác trên, học sinh với tư cách là chủ thể của quá trình học tập, của hoạt động tương tác
Trang 27do không quán xuyến được các hoạt động của mỗi học sinh trong giờ học Muốn vậy, giáo viên phải có khả năng quan sát, khả năng điều chỉnh hành vi tốt hơn là khả năng thuyết trình tốt như các giờ dạy trước đây
b) Xây dựng hội đồng tự quản học sinh
Hội đồng tự quản học sinh là một biện pháp giáo dục nhằm thúc đẩy sự phát triển về đạo đức, tình cảm xã hội của học sinh thông qua những kinh nghiệm hoạt động thực tế của các em trong nhà trường và mối quan hệ với những người xung quanh Hội đồng tự quản của học sinh được thành lập vì học sinh và bởi học sinh để đảm bảo cho các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động của nhà trường và phát triển lòng khoan dung, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần hợp tác đoàn kết cho học sinh Hội đồng tự quản giúp học sinh phát triển kĩ năng ra quyết định, kĩ năng hợp tác và kĩ năng lãnh đạo Đồng thời cũng chuẩn bị cho các em ý thức trách nhiệm khi thực hiện những quyền và bổn phận của mình Với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ tổ chức Hội đồng tự quản và thành lập các ban để lập kế hoạch và thực thi các hoạt động, các dự án Nhà trường nên khuyến khích sự tham gia của phụ huynh học sinh và các hoạt động và dự án của học sinh
Trang 2828
Hình 1.3: Hội đồng tự quản lớp 4E, Trường Tiểu học Tả Thanh Oai
Xây dựng mô hình tự quản có ý nghĩa rất lớn trong việc bồi dưỡng, phát triển khả năng tự ý thức, lòng tự trọng, tính tự tin, cách hành xử bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa các học sinh Hội đồng tự quản học sinh có nhiều công cụ hữu ích để tổ chức hoạt động của mình như: Hộp thư điều em muốn nói, hộp thư vui, câu lạc bộ nhóm bạn, mong muốn lớp học tương lai,
sổ ghi chép nhật kí cá nhân, thừa nhận những đức tính tốt, xây dựng nội quy lớp học, theo dõi chuyên cần, hộp thư cam kết, sổ tay học tập,… Tuy nhiên, ở đây chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến ý nghĩa của Hội đồng tự quản với việc thúc đẩy quá trình tự học trong mô hình Thực tế cho thấy, trong lớp học VNEN, Hội đồng tự quản đã hỗ trợ giáo viên rất nhiều trong quá trình tổ chức các hoạt động học Hội đồng Tự quản có Ban học tập, là người thường xuyên giúp giáo viên tổ chức các hoạt động kiểm tra, khởi động đầu giờ học; Hội đồng tự quản điều khiển các nhóm trong lớp thực hiện các hoạt động cơ bản của tiết học; ghi tiến độ, nhắc thời gian; điều khiển các trao đổi giữa trò với
Trang 29Hình 1.4: Góc Toán lớp 4A, Trường Tiểu học Tả Thanh Oai
Các góc học tập thường được xây dựng thành các chủ đề phù hợp với nội dung của môn học Ví dụ, Góc Toán ở lớp 4An Trường Tiểu học Hồng
Gấm (Quảng Nam) được xây dựng thành các chủ đề Khối lượng, Số và phép tính, Chữ số La Mã, Thời gian và dụng cụ đo thời gian,…
Góc học tập có ý nghĩa rất lớn và không thể thiếu trong quá trình học tập của học sinh, nhất là quá trình tự học
Trang 3030
Việc quan sát và sử dụng các đồ vật ở góc học tập giúp học sinh tăng cường khả năng thực hành thao tác và phát triển kiến thức của chính bản thân mình
Học sinh có thể tự nghiên cứu và sử dụng thời gian nhàn rỗi của mình vào những chủ đề mà các em yêu thích ở góc học tập Chính điều này tạo nên khả năng tự tìm tòi, khám phá và nghiên cứu cho các em ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường
Thông qua quan sát cách học sinh làm việc, quá trình học sinh làm việc
ở góc học tập giáo viên có thể phát hiện tính cách, thiên hướng nghề nghiệp cho mỗi em giúp các em phát triển tốt hơn
Góc học tập với nhiều đồ dùng học tập, tài liệu học tập giúp các em có
đủ phương tiện thực hiện học và hứng thú với việc học hơn
d) Xây dựng góc thư viện
Thư viện là một công cụ quan trọng tạo cơ hội cho học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, đồng thời cung cấp các nguồn tài liệu khác nhau
để học sinh học tập và nghiên cứu
Thư viện đóng vai trò là nguồn tài liệu phong phú cho một môn học, một chủ đề mà sách hướng dẫn không thể đáp ứng đủ Chính vì vậy, sách thư viện là công cụ hữu ích giúp học sinh tự học Không những vậy, thư viện còn
là nhân tố đóng góp vào việc khơi dậy sự tò mò muốn tìm hiểu về thế giới xung quanh, về các chủ đề học tập ở học sinh
Ngoài việc cung cấp thông tin cho học sinh, thư viện còn góp phần hình thành thói quen đọc sách và tìm hiểu cho các em từ những năm học đầu tiên bước chân tới trường
Trong VNEN, các em cùng cô giáo, bạn bè xây dựng thư viện lớp mình, cùng nhau xây dựng nội quy thư viện và cùng nhau quản lí thư viện
Trang 3131 1.1.4.4 Cấu trúc bài học của sách Hướng dẫn học môn Toán lớp 4 theo VNEN
* Sách Hướng dẫn học nói chung và sách Hướng dẫn học Toán 4 nói
riêng là một yếu tố cơ bản của mô hình trường học mới Sách Hướng dẫn học khác biệt nhiều với các sách, tài liệu trước đó trong nhà trường Sách Hướng dẫn học tạo điều kiện đổi mới phong cách học tập của học sinh học theo thầy sang tự học, phát huy cao hơn tính chủ động, sáng tạo của các em trong học tập Sách Hướng dẫn học cũng góp phần thay đổi phương pháp dạy của giáo viên Sau đây là một số khác biệt cơ bản của sách Hướng dẫn học Toán 4 –VNEN so với sách hiện hành Sự khác biệt này nhằm giúp học sinh tự học tốt hơn
Sách Hướng dẫn học trong mô hình trường học mới được biên soạn theo quan điểm tích hợp: Tích hợp kiến thức với quy trình học và quy luật tư duy; Tích hợp nội dung học với hình thức hoạt động học, hướng dẫn học; Tích hợp phương pháp dạy với phương pháp học; Tích hợp nội dung toán học với nội dung các môn học khác và các tình huống thực tiễn Sách được biên soạn cho cả ba đối tượng tham gia trong quá trình dạy học đó là: học sinh, giáo viên và cộng đồng
* Bài học môn Toán gồm ba nhóm hoạt động
– Các Hoạt động cơ bản giúp HS học qua trải nghiệm, học qua việc làm
thực tế, học qua tìm tòi, khám phá, phát hiện với sự giúp đỡ thích hợp của GV
Như chúng ta đã biết, tạo hứng thú học tập cho học sinh là một yếu tố quan trọng góp phần làm nên thành công của mỗi giờ học nói riêng và cả quá trình dạy học nói chung Để tạo hứng thứ cho học sinh, mỗi bài học của Toán 4 – VNEN thường bắt đầu bằng một trò chơi Thông qua các trò chơi có nội dung lí thú, phù hợp với việc nhận thức của học sinh, các em sẽ lĩnh hội tri thức một cách tự nhiên, dễ dàng hơn, nuôi dưỡng được niềm say mê, hứng thú trong học tập Trên thực tế thì giờ học toán hiện hành, giáo viên cũng tổ chức trò chơi cho học sinh Nhưng trò chơi đó có hay không có trong giờ học là do kinh nghiệm và mục đích dạy học của mỗi cá nhân giáo viên Trò chơi trong dạy học Toán 4
Trang 3232
hiện hành không được coi là một hoạt động mang tính “nhất thiết cần có” như trong mô hình mới
– Các Hoạt động thực hành thể hiện các hoạt động thực hành của HS
nhằm củng cố, rèn luyện, phát triển các kiến thức, kĩ năng vừa học Phần này thường có từ 2 đến 4 bài tập, có thể kết hợp cả yêu cầu lí thuyết và thực hành
– Các Hoạt động ứng dụng khuyến khích HS bước đầu biết vận dụng
kiến thức trong thực tế cuộc sống Nhấn mạnh sự quan tâm hỗ trợ HS học tập từ gia đình và cộng đồng Khuyến khích HS mở rộng vốn kiến thức qua các nguồn thông tin khác nhau (từ gia đình, cộng đồng, làng bản, thôn xóm)
* Lô gô hướng dẫn học của sách Hướng dẫn học
Trong sách Hướng dẫn học Toán 4 (Năm 2013), mỗi hoạt động đều bắt đầu bằng một lô gô quy định hình thức hoạt động
Có tất cả 5 lô gô quy định về hình thức học tập của học sinh:
Hình 1.5: Lô gô quy định các hình thức hoạt động của học sinh
Trang 3333
Nhìn lô gô học sinh xác định được hình thức học tập tương ứng với lô
gô đó là cá nhân, hay cặp đôi, hay nhóm, hay cả lớp, hay với cộng đồng Sau khi xác định được hình thức học tập tương ứng, có hành động chuyển hình thức học tập Chẳng hạn, đang thực hiện hình thức học cá nhân, chuyển sang hình thức học theo cặp đôi, học sinh cần quay sang có trao đổi với bạn cùng cặp với mình, đồng thời có các hành động cùng bạn chuẩn bị đồ dùng, sách bút để thực hiện hoạt động học tập mới
1.1.5 Biểu hiện phát triển kỹ năng tự học Toán của học sinh lớp 4 trong VNEN
Biểu hiện của phát triển kỹ năng tự học của học sinh lớp 4 trong môn Toán theo VNEN được thể hiện trong từng tiết học như sau:
- HS tự đọc mục tiêu
- HS tự đọc thầm yêu cầu bài học
- Cá nhân HS tự suy nghĩ tìm cách học
- Dựa theo logo để hoạt động theo yêu cầu của từng nội dung học cụ thể
- Trao đổi kết quả với bạn để thống nhất kết quả
- Nếu sai thì tự sửa hoặc tự nhờ bạn giảng, hoặc nhờ một nhóm giúp đỡ, hoặc nhờ cô giáo và cuối cùng thống nhất kết quả trong cả nhóm
Các biểu hiện trên được thể hiện qua 3 mức độ:
Mức độ 1: Tự học có sự hỗ trợ
Ví dụ: Để làm được dạng bài Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó, với những HS đại trà lúc đầu cần sự giảng giải của cô giáo hoặc chủ tịch hội đồng tự quản thì HS đó mới hiểu cách giải bài toán dạng mới này
Mức độ 2: Tự làm được
Ví dụ: Khi hiểu cách giải bài toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số
đó, HS áp dụng kiến thức đó để tự làm đúng các bài tập thực hành
Mức độ 3: Tự làm tốt
Trang 3434
Ví dụ: Sau khi tự làm đúng các bài thực hành ở mức độ yêu cầu của Sách Hướng dẫn học Toán 4 – VNEN, HS có thể tự làm thêm các bài nâng cao của dạng bài Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
1.2.1.1 Nội dung dạy học môn Toán lớp 4 -VNEN
Dạy học môn Toán lớp 4 – VNEN quán triệt mục tiêu giáo dục được ghi rõ trong Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành Bảo đảm Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn Toán lớp 4 tiểu học hiện hành
Môn Toán lớp 4 – VNEN không thay đổi về cấu trúc nội dung của môn học, chỉ có những điều chỉnh nhỏ theo hướng cơ bản, tinh giản, thiết thực Về
cơ bản, nội dung vẫn gồm 5 mạch kiến thức chính sau đây: số và phép tính; đại lượng và đo đại lượng; yếu tố hình học; vận dụng kiến thức và kĩ năng cơ bản của môn Toán để giải quyết các vấn đề đơn giản, thường gặp; phát triển
tư duy, ngôn ngữ và các năng lực khác
Thông qua các hoạt động học tập, HS biết cách tự học tích cực, chủ động, sáng tạo và :
– Phát triển các năng lực tư duy (so sánh, lựa chọn, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá ); phát triển trí tưởng tượng không gian; tập nhận xét các số liệu thu thập được
Trang 351.2.1.2 Kế hoạch dạy học môn Toán lớp 4 -VNEN
– Môn học được thực hiện với những trường/lớp dạy học 2 buổi/ngày – Nội dung chương trình Toán 4 - VNEN được kết cấu phân chia thành các bài học, tổng cộng cả năm học lớp 4 có 112 bài học (SGK Toán 4 hiện hành có 175 tiết) Mỗi bài học có thể gồm 1 hoặc 2 tiết học thông thường (mỗi tiết học thông thường có từ 35 – 40 phút) Kết cấu như vậy sẽ tạo điều kiện để HS được dãn thời gian phải tập trung chú ý giải quyết các vấn đề lí thuyết, góp phần giảm nhẹ
sự "căng thẳng trí tuệ" trong học toán của trẻ, đồng thời giúp tăng cường hoạt động thực hành và các hoạt động thư giãn và tạo đủ thời gian cần thiết để HS hoàn thiện một đơn vị kiến thức, kĩ năng cụ thể
1.2.1.3 Phương pháp dạy học môn Toán lớp 4 -VNEN
a) Năm bước giảng dạy theo VNEN
Kiểu cấu trúc bài học được khuyến khích sử dụng trong VNEN, cũng như ở nhiều nơi trên thế giới và ở Việt Nam, đó là tổ chức dạy học thông qua trải nghiệm Chu trình này bao gồm 5 bước chủ yếu:
Trang 3636
+ Kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của HS về chủ đề sẽ học; HS cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với họ
+ Không khí lớp học vui, tò mò, chờ đợi, thích thú
– Cách làm: Đặt câu hỏi; Câu đố vui; Kể chuyện; Đặt một tình huống;
– Cách làm: Tổ chức các hình thức trải nghiệm thú vị, gần gũi với HS
Nếu là tình huống diễn tả bằng bài toán có lời văn, thì các giả thiết phải đơn giản, câu văn phải hóm hỉnh và gần gũi với HS
▪ Bước 3 Phân tích – Khám phá – Rút ra kiến thức mới
– Kết quả cần đạt:
+ HS rút ra được kiến thức, khái niệm hay qui tắc lí thuyết, thực hành mới
+ HS nhận biết dấu hiệu/đặc điểm dạng toán mới; nêu được các bước
giải dạng toán này
– Cách làm: Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để
giúp HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học
Có thể sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện của HS GV nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp
HS đi vào tiến trình phân tích thuận lợi và hiệu quả Các hoạt động trên có thể
thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng HS
▪ Bước 4 Thực hành – Củng cố bài học
Trang 37+ Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù hợp với khả năng của HS GV tiếp tục quan sát và phát hiện những khó khăn của HS, giúp các
em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với các quy tắc, công thức, cách làm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên
+ Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân, hoặc theo nhóm, theo cặp đôi, theo bàn, theo tổ HS
▪ Bước 5 Ứng dụng
– Kết quả cần đạt:
+ HS củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học
+ HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hằng ngày
+ Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới
– Cách làm:
+ HS thực hành, vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức cơ bản của nội dung bài đã học
Trang 3838
+ GV giúp HS thấy được ý nghĩa thực tế của các tri thức toán học, từ
đó khắc sâu kiến thức đã học
+ Khuyến khích HS diễn đạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các
em Khuyến khích HS tập phát biểu, tập diễn đạt bước đầu có lí lẽ, có lập luận.”
b) Mười bước học tập của học sinh theo VNEN
Mỗi học sinh trong Trường tiểu học kiểu VNEN khi đến trường luôn ý thức được mình phải bắt đầu và kết thúc hoạt động học tập như thế nào, không cần chờ đến sự nhắc nhở của giáo viên
Trong mỗi phòng học của nhà trường VNEN đều treo một tấm giấy khổ lớn, kích thước 2m x 1m, HS ngồi trong lớp đều có thể nhìn thấy rõ, trên đó nêu lên 10 bước học tập (cùng với những lưu ý)
Bước 3 Em đọc Mục tiêu của bài học
Bước 4 Em bắt đầu Hoạt động cơ bản (nhớ xem phải làm việc cá nhân hay theo nhóm)
Bước 5 Kết thúc Hoạt động cơ bản em gọi thầy, cô giáo để báo cáo những gì em đã làm được để thầy, cô ghi vào Bảng đo tiến độ
Bước 6 Em thực hiện Hoạt động thực hành:
+ Đầu tiên em làm việc cá nhân;
+ Em chia sẻ với bạn ngồi cùng bàn (giúp nhau sửa chữa những bài làm còn sai sót);
Trang 39Bước 10 Em đã học xong bài mới hoặc em phải học lại phần nào.” [2]
1.2.2 Thực trạng triển khai tổ chức dạy học môn Toán lớp 4 – VNEN
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không rà soát để đưa ra những tồn tại hay các mặt đã làm được của mô hình về vấn đề tài chính, chỉ đạo triển khai,… mà tập trung vào tổ chức lớp học, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học trên lớp của giáo viên và học sinh trong mô hình nói chung Các nội dung trình bày sau đây về thực trạng triển khai mô hình là kết quả nghiên cứu, tổng hợp thông tin từ các nguồn sau:
– Hệ thống báo cáo thực hiện nhiệm vụ năm học 2013 – 2014 của các
Sở Giáo dục và Đào tạo trong cả nước đang triển khai thực hiện mô hình
– Kết quả khảo sát thực hiện mô hình vào tháng 10 năm 2014 tại : + Trường Tiểu học Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội;
+ Trường Tiểu học Tô Hoàng, Hai Bà Trưng, Hà Nội;
+ Trường Tiểu học Trưng Trắc, Hai Bà Trưng, Hà Nội;
– Ý kiến của một số chuyên gia trực tiếp tham gia xây dựng, tổ chức VNEN
1.2.2.1 Về môi trường lớp học
Trong VNEN bên cạnh việc kế thừa cách dạy truyền thống, sự tác động của môi trường lớp học, trường học, của mối quan hệ giữa các học sinh, giữa các giáo viên và giữa giáo viên, nhà trường với phụ huynh, cộng đồng luôn được quan tâm một cách sát sao Mô hình đã góp phần tạo ra hàng ngàn lớp học được trang bị hiện đại, trang trí đẹp mắt, thân thiện tạo ra môi trường học
Trang 4040
tập lành mạnh, tươi vui tràn đầy hứng thú cho học sinh và giáo viên Các lớp học theo VNEN được trang trí đẹp, sinh động, thân thiện, tạo hứng thú cho học sinh trong học tập và hoạt động giáo dục Trong lớp có sơ đồ hội đồng tự quản, góc cộng đồng, sơ đồ cộng đồng (đường em đến lớp), thư viện, hộp thư vui, góc Toán, góc Tiếng Việt, góc Khoa học, góc Lịch sử, góc Địa lý, điều
em muốn nói, bảng theo dõi thi đua, chuyên cần, … Đặc biệt, tất cả các trang trí trên do giáo viên, phụ huynh và học sinh trong lớp tự làm nên đặc trưng riêng của mỗi tập thể, mỗi cá nhân được thể hiện rõ
Tuy nhiên, ở hầu hết các trường, không gian lớp học còn chật hẹp, khó
bố trí, khó trang trí Thậm chí, sau khi trình bày hết các sản phẩm theo hướng dẫn trang trí của ban chỉ đạo mô hình thì chẳng còn khoảng trắng nào trong lớp học để dành cho việc trình bày các sản phẩm học tập ở từng bài, từng tiết khi cần thiết Ở tất cả các lớp học trong phạm vi điều tra, khảo sát, bàn ghế học sinh đều là bàn dài, ghế dài dành cho 2 học sinh ngồi một bàn, bàn đã cũ, hỏng nhiều, không gian lớp học chật hẹp Sự chật chội của không gian lớp học, bàn ghế nặng, cũ, vướng víu đã hạn chế tạo nhóm hoạt động cho học sinh, khi tạo nhóm xong rồi cũng khó thay đổi Hầu hết các lớp học chúng tôi
đã tham quan và trao đổi đều giữ nguyên một cách kê bàn ghế cho nhóm từ đầu năm học Việc bố trí này cũng do các cô giáo, thầy giáo thực hiện vì bàn ghế nặng, cũ, hỏng, nếu để cho các em tự bố trí sẽ có thể không an toàn
1.2.2.2 Về hoạt động của mạng lưới cộng đồng
Nhìn chung, các trường triển khai VNEN đã có sự thay đổi theo hướng đổi mới, không khí học tập, quan hệ các đối tác trong và ngoài trường bước đầu được cải thiện, hướng về người học, hướng về phát triển năng lực của học sinh
Phụ huynh học sinh và cộng đồng đồng thuận, ủng hộ và tích cực tham gia hỗ trợ cho nhà trường, giáo viên và học sinh triển khai VNEN thông qua