các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp các kênh và cồn cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp
Trang 1QUÁCH TRUYỀN CHƯƠNG - DƯƠNG THỤY BA N
Trang 2CÁC KÊNH ĐẦU Tư VÀ CÔNG cụ ĐẦU TƯ
CHỦ YẾU CỦA DOANH NGHIỆP
Trang 3Q 2 5 (5 4 T q )1 1 -2 1 0 + Q 2 9 (5 4 T q )0 -9 3
Dịch từ nguyên bản tiếng Trung của Nhà xuất bản
Trang 4QUÁCH TRUYỀN CHƯƠNG - DƯƠNG THỤY BAN
PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH
CÁC KÊNH ĐẨU Tư VÀ CÔNG cụ ĐẦU TƯ
CHỦ YẾU CỦA DOANH NGHIỆP■
Người dịch :
N G U Y Ễ N ĐỈNH c ử u NGÔ MINH TRIỀU
• : r THRNG TIM
I s V M VỆN
1' :-ỉ Ỵ.'l
!ỉ ‘ '' c HỈNH
Trang 5L ờ i n ó i
Trong lĩnh vực quản lý sản xuất kinh doanh ngày nay, Trung Quốc dùng danh từ “tích hiệu” (theo tiếng Anh là performance) có nghĩa là thành tích và hiệu quả, có thể dùng để nói về thành tích làm việc của cá nhân, hoặc hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Quản lý hiệu quả là phương thức quản lý hoàn toàn mới chú trọng vào công việc đểm xem xét đánh giá mục tiêu của quản lý Lúc ban đầu, việc quản lý hiệu quả chủ yếu được áp dụng trong quản lý nhân lực, doanh nghiệp căn cứ vào các tiêu chuẩn định sẵn để đánh giá các biểu hiện và thành tích của công nhân viên có thành tích tốt, huân luyện lại các công nhân quản lý khoa học đối với nguồn nhân lực
Do việc quản lý theo hiệu quả có nhiều tác dụng tốt, cho nên ngày càng có nhiều mặt khác của sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp và ngày nay đã trở thành phương pháp quản lý có hiệu quả đối với các lĩnh vực khác trong kinh
Trang 6doanh như tài liệu chính tiêu thụ, sản xuất hành chính, kế hoạch v.v
Quản lý hiệu quả đối với tài chính là quản lý những thành quả doanh nghiệp đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh được thể hiện trên phương diện tài chính, các biểu hiện chủ yếu là mức doanh lợi, trình độ phát triển và khả năng thanh toán công nợ v.v của doanh nghiệp Hiệu quả về tài chính có thể được biểu hiện bởi rất nhiều chỉ tiêu tài chính như mức lợi nhuận của tài sản, mức lợi nhuậnkinh doanh, mức bảo toàn và tăng tiền vốn v.v
Người quản lý tài chính là người phụ trách một bộ phận chức năng độc lập của doanh nghiệp, khi áp dụng phương pháp quản lý hiệu quả vào bộ phận tài vụ thường phải làm tốt ba mặt công tác sau đầy:
Một là cùng phối hợp với bộ phận nhân sự quản lý tốt
hiệu quả công tác của các nhân viên trong bộ phận tài vụ
Hai là đưa tư tưởng quản lý hiệu quả vào trong quá trình
quản lý, vừa quản lý quá trình làm việc, đồng thời chú ý đên kết quả công việc và càng phải tích cực nâng cao hiệu quả của công việc
Ba là coi việc nâng cao hiệu quả của công việc tài chính
là mục tiêu cuối cùng của công tác tài chính, quản lý chặt chẽ giá thành và các khoản chi tiêu, sử dụng thật tốt các
Trang 7các thông tin đầy đủ để ra quyết định, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp một cách toàn diện.
Bộ sách này biên soạn với mục đích chính là nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp Vì vậy trong quá trình biên soạn đã đề cập đầy đủ cả ba mặt công việc nói trên Nội dung và những đặc điểm cụ thể của bộ sách được thể hiện trên các mặt sau đây :
Xuất phát từ cơ chế tài chính đi sâu phân tích những vấn
đề cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tài chính như bố trí bộ phận tài vụ trong dọanh nghiệp, bố trí các vị trí công tác trong bộ phận tài vụ
Đưa việc quản lý mục tiêu vào công việc quản lý tài chính một cách toàn diện, phân tích mổ xẻ hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp, quản lý chặt chẽ các nhân tố ảnh hưởng tới mục tiêu tài chính của doanh nghiệp, quy định các phương pháp cụ thể để xác lập các mục tiêu của hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Các phương pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác tài chính đều được nói tỉ mỉ trong các chương mục Từ các chương của tập 2 và tập 3 đến chương 6 sẽ lần lượt giới thiệu các phương pháp quy hoạch công tác tài chính, các phương pháp huy động vốn và hiệu quả đầu tư và các phương pháp quản lý tài chính v.v
Trang 8Riêng việc quản lý các nhân viên tài vụ được dành một chương để mô tả cụ thể, vì quản lý tốt các nhân viên dưới quyền là một chức trách quan trọng của người quản lý tài chính, cho nên bộ sách dành chương I của tập 4 để giới thiệu tỉ mỉ các phương pháp quản lý của người quản lý tài chính đốì với nhân viên, ví dụ như sự giao lưu chan hoà giữa người quản lý với nhân viên, việc đáng giá nhận xét khuyến khích các nhân viên trong bộ phận tài vụ v.v
Việc đánh giá hiệu quả của công tác tài chính là sự thách thức đôi với người quản lý tài chính Chương II của tập 4 giới thiệu chi tiết phương pháp đánh giá hiệu quả công tác tài chính trên ba phương diện : năng lực kinh doanh, năng lực thanh toán và năng lực thu lời
Linh hoạt vận dụng các phương pháp quản lý hiệu quả trong công tác tài chính là một kỹ thuật quản lý hoàn toàn mới, rất cần sự cộng tác chặt chẽ của mọi người trong giới
lý luận và thực tiễn, bộ sách này chỉ là một bước thăm dò
Do trình độ của tác giả còn có hạn cho nên tất nhiên trong cuốn sách còn nhiều thiếu sót rất mong các độc giả gần xa hết lòng chỉ giáo
CÁC SOẠN GIẢ
Trang 9Chương I
CÁC QUYẾT ĐỊNH NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU Tư
Những nội dung chính
^ C ác kênh đầu tư và các công cụ đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp
^ Quyết định đầu tư - công cụ chủ yếu của quản lý
hiệu quả đầu tư
‘ar Cơ sở của quyết định đầu tư - phân tích lưu lượng
tiền mặt
^ Phương pháp đánh giá hiệu quả các phương án đầu
tư của dự án
Phòng ngừa các rủi ro trong đầu tư
Công cụ sắc bén nâng cao hiệu quả đầu tư - tổ hợp tài sản
Trang 101 các KêNH Đầ u tư v à các c ô n g cụ ĐẦ u Tư
CHỦ c h ủ y ế u D O A N H N G H lệ P
Đầu tư là những hành động của doanh nghiệp bở vôn vào các hoạt động sản xuất kinh doanh để thu được lợi ích Hiệu quả đầu tư là những hiệu ích đạt được khi doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động kinh doanh Vì đầu tư là một loại hoạt động kinh doanh thường gặp n h ất của doanh nghiệp, cho nên quản lý hiệu quả đầu tư là việc có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đôi với sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp
Quản lý hiệu quả đầu tư là một chức năng quan trọng của người quản lý tài chính doanh nghiệp Là một người quản lý tài chính của một doanh nghiệp hiện đại, chỉ có không ngừng tăng cường và cải tiến công tác quản lý hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, mới có thể ra những quyết định chính xác trong khi tiến hành các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, làm cho hoạt động đầu tư triển khai thuận lợi và thu được hiệu quả mong muốn
Kênh đầu tư là phương thức tiến hành đầu tư của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần thiết phải thông qua các
Trang 11kênh đầu tư thích hợp thì mối có thể tiến hành các hoạt động bở vôn.
Công cụ đầu tư là nói về các đối tượng đầu tư trên thị trường vốn như trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu v.v
Doanh nghiệp có thể có nhiều dạng kênh đầu tư và công cụ đầu tư, mà mỗi loại lại có những đặc điểm khác nhau Muôn nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, người quản lý tài chính phải nắm chắc những đặc điểm cùng những ưu, khuyết điểm của các kênh khác nhau, các công cụ khác nhau, như vậy mới giúp cho doanh nghiệp tìm được kênh đầu tư và công cụ đầu tư phù hợp làm cơ sở cho việc triển khai hoạt động đầu tư ở các bước sau
Các kênh đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp
Khi tiến hành các hoạt động đầu tư, vấn đề mà doanh nghiệp phải đối mặt đầu tiên là xác định rõ các kênh đầu
tư phù hợp Các kênh đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp là đầu tư tài sản lưu động, đầu tư tài sản cố định, đầu tư tài sản vô hình, đầu tư chứng khoán và đầu tư sản xuất Đó là
5 loại đầu tư chính của doanh nghiệp Người quản lý tài chính chỉ cần đi sâu tìm hiểu đặc điểm đầu tư của 5 kênh
để có thể có những quyết định, quy hoạch và quản lý các hoạt động đầu tư, nâng cao hiệu quả đầu tư
• Đầu tư tài sản lưu động
Đầu tư tài sản lưu động là đầu tư vốn vào chu kỳ kinh doanh sản xuất, hình thành nên tài sản lưu động của doanh
Trang 12nghiệp bao gồm chuẩn bị nguyên vật liệu, sản phẩm và thành phẩm v.v Trong quá trình sản xuất kinh doanh, giá trị tài sản lưu động được chuyển hết một lần vào trong sản phẩm và được bù lại qua việc tiêu thụ sản phẩm.
Đầu tư vào tài sản lưu động thường có thể chia thành:
* Đầu tư theo định mức tài sản lưu động
Căn cứ vào quy luật quay vòng của đầu tư tài sản lưu động, doanh nghiệp luôn luôn cần đầu tư cho: vốn dự trữ thường xuyên, vốn sản xuất và vốn th àn h phẩm Mức đầu
tư vào tài sản lưu động được xác định trước căn cứ theo loại hình kinh doanh sản xuất, quy mô sản xuất, cung ứng nguyên vật liệu và các chi phí của doanh nghiệp
* Đầu tư vào tài sản lưu động không có định mức
Loại này có tính dao động lớn, hoặc chịu ảnh hưởng theo mùa, rấ t khó xác định trước nhu cầu bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản cần phải thu, các khoản cần chi trả và những khoản dự phòng v.v
Đầu tư vào tài sản lưu động của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
* Đầu tư vào tài sản lưu động chịu sự hạn chế của các tài sản cố định, loại hình sản xuất kinh doanh và quy mô sản xuất kinh doanh, cần phải tiến hành kết hợp với đầu
tư tài sản cố định Trong điều kiện tốc độ chu chuyển không đổi thì sự dao động của đầu tư tài sản lưu động thường không lớn, cho nên dự toán đầu tư tài sản lưu động
Trang 13cần phải và hoàn toàn có thể tiến hành đồng thời với việc
dự toán đầu tư tài sản cố định
* Đầu tư vào tài sản lưu động được chu chuyển nhanh,
lượng đầu tư ít Hình dạng vật thể của tài sản lưu động
không ngừng chu chuyển trong vòng Tiền - Hàng - Tiền và
mức đầu tư không nhất định là phải lớn, nhưng tổng số
vòng quay phải lớn, cho nên hiệu quả của đầu tư tài sản
lưu động được quyết định bởi tốc độ chu chuyển Cho nên
tăng nhanh tốc độ chu chuyển là vấn đề đầu tiên mà người
quản lý tài chính phải chú ý
* Đầu tư vào tài sản lưu động chu chuyển nhanh, rủi
ro ít, có thể lợi dụng khoản vay chu chuyển để giải quyết
nhu cầu tiền vốn Vì tài sản lưu động được sử dụng quay
vòng nhiều lần, cho nên doanh nghiệp có thể dùng vốn vay
chu chuyển ngắn hạn đế trả nợ tiền vay lần trước Nhưng
để bảo đảm chắc chắn cho các hoạt động kinh doanh tiến
hành bình thường, doanh nghiệp cần phải có bảo đảm tiền
vay đáng tin cậy
* Đầu tư tài sản lưu động gắn chặt với quá trình sử
dụng, cho nên yêu cầu năng lực quản lý tương đôi cao,
công việc quản lý cũng vô cùng phức tạp
* Quy luật dao động của đầu tư tài sản lưu động khác
với quy luật của tài sản cố định Tài sản lưu động có một
phận chỉ dao động trong thòi kỳ ngắn, khi quản lý cần chú
ý tới sự khác biệt với tài sản cố định
Trang 14• Đầu tư vào tài sản cố định.
Nhà cửa, công trình kiến trúc, máy móc, công cụ vận tải và các thiết bị có liên quan tới sản xuất kinh doanh, các dụng cụ, khí cụ v.v có thời hạn sử dụng trên một năm
vật phẩm, thiết bị không thuộc về sản xuất kinh doanh nhưng có đơn giá trên 2000 USD và có thòi hạn sử dụng
trên 2 năm cũng được quản lý như tài sản cố định.
Đem vốn bở vào tài sản cố định để th u lợi trong thòi
kỳ dài trong tương lai được gọi là đầu tư vào tài sản cố định Các việc như xây dựng mối và mở rộng nhà xưởng, thiết bị, đổi mới và cải tạo kỹ th u ậ t th iết bị v.v cùng các kinh phí áp dụng kỹ th u ậ t mới cũng thuộc vào đầu tư tài sản cố định Đầu tư tài sản cố định mới cũng thuộc vào
đầu tư tài sản cố định Đầu tư tài sản cố định có giá trị
tương đối lớn, kỳ hạn tương đối dài, trên một mức độ nào
đó quyết định năng lực sản xuất và trình độ kỹ th u ậ t của doanh nghiệp
So với đầu tư vào tài sản lưu động, đầu tư tài sản cố
định có những đặc điểm như sau:
* Thời kỳ thu hồi vốn đầu tư tương đối dài
Nói chung, đầu tư vào tài sản cố định thì sau mấy năm thậm chí phải sau mười mấy năm mới có thể thu hồi về đủ Cho nên việc đầu tư vào tài sản cố định có ảnh hưởng tới lợi ích kinh tê của doanh nghiệp thậm chí có ảnh hưởng
Trang 15quyết định đến vận mệnh của doanh nghiệp Vì vậy trong khi tiến hành đầu tư tài sản cố định đòi hởi phải hết sức thận trọng, tuyệt đốì không được qua lao vội vàng.
* Tính chuyên dùng của đầu tư là rấ t mạnh, khả năng biến đổi rấ t ít
Hình thái vật thể của đầu tư tài sản cố định là các tài sản cố định như: nhà xưởng, máy móc, thiết bị v.v Các tài sản này không thay đổi công dụng cho nên năng lực biến đổi rất kém
* Mức đầu tư lớn, chiếm tỉ lệ khá cao trong toàn bộ tài sản của doanh nghiệp Rủi ro trong đầu tư tài sản cố định tuy nhiều, nhưng tài sản cố định là cơ sở vật chất của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cho nên doanh nghiệp không thể vì trán h rủi ro mà không đầu tư vào tài sản cố định
Để tránh sai lầm trong các quyết định đầu tư tài sản
cố định, nâng cao khả nàng thu lợi của đầu tư tài sản cố
định, khi Quyết định đầu tư tài sản cố định cần phải tiến hành nghiên cứu tính khả thi một cách thận trọng, phải so sánh nhiều lần các phương án đầu tư khác nhau để lựa chọn được phương án tôt nhất
* Đầu tư tài sản vô hình
Tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, không
có hình thể vật chất (phi vật thể) lại có thể dùng để thu được lợi nhuận tiêu ngạch trong thòi kỳ dài được gọi là tài
Trang 16sản vô hình Tài sản vô hình được coi là một loại tài sản đặc thù, có những đặc điểm sau:
* Tài sản vô hình không có thực thể vật chất, thường được biểu hiện thành những quyền lợi
Khác với tài sản hữu hình, tài sản vô hình không có một thực thể độc lập, thường được biểu hiện thành những đặc quyền đặc lợi của doanh nghiệp như quyền chuyên doanh, quyền thương hiệu v.v
* Tài sản vô hình có thể đem lại lợi nhuận siêu ngạch trong thời kỳ dài
Dù là tài sản vô hình tự sáng tạo hay tài sản mua về đều có thể đem lại lợi ích cho doanh nghiệp trong thời kỳ dài, mà lai có thể đem lai nhiều lơi nhuận hơn tài sản hữuhình Doanh nghiệp càng có nhiều tài sản vô hình thì năng
Trang 17* Kỹ th u ật riêng có hay bí quyết công nghệ
Là các loại bí mật và bí quyết được nghiên cứu và phát minh trong quá trình sản xuất, chế tạo công nghệ Kỹ thuật riêng có không công khai xin phép được riêng có, mà
do người phát minh tự giữ bí mật
* Quyền chuyên doanh
Là quyền được Nhà nước hoặc doanh nghiệp khác cho phép kinh doanh có đặc quyển độc chiếm một loại nghiệp vụ nào đó Quyền này có hai loại: một loại do cơ quan nhà nước cho phép được quyền chuyên doanh như chuyên doanh giao thông công cộng, điện lực, điện thoại, nước máy, khí ga v.v Một loại nữa là một doanh nghiệp căn cứ vào hợp đồng cho phép doanh nghiệp khác được quyền sử dụng thương hiệu, mẫu mã, quyền tác giả, kỹ thuật riêng v.v
* Quyền sử dụng địa điểm
Quyền sử dụng đất đai nhà cửa của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và hợp đồng, ở Trung Quốc, đất đai là sở hữu nhà nước, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng đất đai mà không có quyền sở hữu đất đai, vì th ế doanh nghiệp muốn sử dụng thì phải xin phép được quyền
sử dụng
* Quyền thương hiệu
Là quyền được dùng tên gọi hoặc hình vẽ đặc biệt của doanh nghiệp trên loại hàng hoặc sản phẩm được chỉ định
Trang 18Thương hiệu có nghĩa rấ t quan trọng về một loại hàng hoá đốì với người tiêu dùng.
* Danh dự thương mại
Là trường hợp mà một doanh nghiệp có tình hình kinh doanh đặc biệt tốt, mức thu lợi trên tài sản vượt trội hơn hẳn các doanh nghiệp khác cùng ngành, vì th ế đem lại cho doanh nghiệp uy tín và danh dự Danh dự thương mại có thể đem lại cho doanh nghiệp một lớp bạn hàng trung thực có ý nghĩa rấ t quan trọng đối với sự ph át triển của doanh nghiệp
• Đầu tư chứng khoán
Đầu tư chứng khoán là hành động của doanh nghiệp,
tổ chức, cá nhân dùng tiền tích luỹ được để mua cổ phiêu, trái phiếu công ty, trái phiếu tiền tệ v.v Những người đầu tư qua việc mua những loại chứng khoán có giá để thu được lợi nhuận tương ứng với những rủi ro có thể phải chịu trong một thời kỳ n h ấ t định Đây là hành động đầu tư gián tiếp không liên quan đến việc làm tăng vốn tồn đọng
Đầu tư chứng khoán được chia thành hai loại chính: đầu tư cổ phiêu và đầu tư trái phiếu Đầu tư cổ phiếu thì lợi tức không xác định, có nhiều rủi ro Đầu tư trái phiếu thì thu nhập về lợi tức là cô định, đến kỳ đáo hạn được thanh toán cả tiền gốc, rủi ro đầu tư ít, nhưng lợi tức thu nhập ít hờn cổ tức của cổ phiếu
Trang 19Đầu tư chứng khoán có ba đặc điểm:
* Thu lợi tương đối cao
Đây là đặc điểm quan trọng nh ất của đầu tư chứng khoán Người đầu tư sở dĩ dám mạo hiểm trong nghề chứng khoán chính là những chứng khoán có giá có thể đem đến cho họ lòi lãi cao
* Tính lưu động cao
Trên những thị trường chứng khoán phát đạt, tính lưu động của chứng khoán chỉ chịu kém tiền mặt Việc buôn bán chứng khoán lại là một việc vô cùng dễ dàng, chỉ cần thời gian mấy phút là có thể hoàn thành công việc Ngoài
ra tính thay thế của chứng khoán tương đôi mạnh Trên thị trường có hàng trăm thậm chí hàng nghìn loại chứng khoán lưu thông Nếu tương lai của một loại nào đó không sáng sủa thì người đầu tư có thể đem loại chứng khoán đó bán và đầu tư vào loại chứng khoán khác
* Tính an toàn tốt
Tính an toàn của đầu tư chứng khoán không chỉ thể hiện trên tính lưu thông của chứng khoán, mà còn thể hiện nhiều hơn trên sự tổ hợp đầu tư chứng khoán Vì tình hình kinh doanh và tương lai của các doanh nghiệp
và các ngành nghề khác nhau, đều không như nhau Vì thê người đầu tư có thể chọn một số loại chứng khoán để đầu tư như vậy sẽ phân tán rủi ro Nói chung, trong tổ hợp đầu tư có bao gồm càng nhiều chủng loại thì rủi ro
Trang 20của nhà đầu tư càng ít Một tổ hợp đầu tư chứng khoán
có hiệu quả trong cùng một điều kiện rủi ro có thể thu được lợi cao nhất, hoặc trong cùng điều kiện lợi nhuận, nhưng rủi ro í t n h ấ t Việc thực hiện tôi ưu hoá đầu tư như vậy có thể nâng cao được tính an toàn trong đầu tư chứng khoán
• Đầu tư vào quyền sản xuất
Đầu tư vào quyền sản xuất là những hoạt động đầu tư vào các đối tượng là các yếu tố sản xuất như sức lao động,
tư liệu sản xuất, kỹ th u ậ t và thông tin v.v Đầu tư vào quyền sản xuất là coi một phần hoặc toàn bộ các yếu tố sản xuất là yếu tố đầu tư Hình thức đầu tư quyền sản xuất chủ yếu là:
* Sáp nhập
Sáp nhập là một loại hình thức đầu tư quyền sản xuất Sáp nhập bao gồm cả việc mua lại, tức là thông qua đàm phán giao dịch về quyền sản xuất để có được quyền khống chế quản lý n h ất định đối với doanh nghiệp khác
để thực hiện những hoạt động kinh tế theo mục tiêu
Trang 21gọi là sáp nhập theo hướng ngang Sáp nhập hướng ngang có thể mở rộng quy mô sản x u ất cùng một loại sản phẩm đê thu được lợi ích trên quy mô lớn, loại trừ được cạnh tran h , tàng cường thực lực lũng đoạn của doanh nghiệp.
(2) Sáp nhập hướng dọc
Các doanh nghiệp có quá trình sản x u ất hoặc các khâu kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với nhau, khi sáp nhập được gọi là sáp nhập hướng dọc Sáp nhập hướng dọc có thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tiết kiệm được các thiết bị máy móc thông dụng, tiết kiệm được kinh phí v.v có thể tàng cường sự phốì hợp các khâu trong quá trình sản xuất có lợi cho việc hợp tác sản xuất, tăng nhanh dây chuyền sản xuất, rú t ngắn chu
kỳ sản xuất v.v
(3) Sáp nhập hỗn hợp
Các doanh nghiệp không có liên quan gì về sản phẩm hoặc dịch vụ, khi sáp nhập lại được gọi là sáp nhập hỗn hợp Sáp nhập hỗn hợp có tác dụng phân tán các rủi ro ngành nghề, nâng cao năng lực thích ứng với hoàn cảnh của doanh nghiệp
* Tham dự cổ phần
Tham dự cổ phần là một loại hành động kinh tế dùng một phần doanh nghiệp để làm vốn góp cổ phần với doanh nghiệp khác, tham dự cổ phần có các đặc điểm sau:
Trang 22(1) Người tham dự cổ phần khi đầu tư cổ phần vào doanh nghiệp khác có thể có được quyền lợi n h ất định tức
là quyền sở hữu một phần tài sản, thu được cổ tức và tiền hoa hồng
(2) Tham gia cổ phần không thay đổi địa vị pháp nhân của doanh nghiệp mình Khi cổ phần tham dự không đạt được tỉ lệ n h ất định thì cũng không làm thay đổi địa vị pháp nhân của doanh nghiệp tiếp nhận cổ phần
(3) Tham gia cổ phần có lợi cho việc tích tụ vốn, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh
(4) Tham gia cổ phần có lợi cho việc lưu động lượng vốn nhàn rỗi hiệu suất thấp
* Thuê doanh nghiệp
Doanh nghiệp thông qua việc bở vốn để thuê lại quyền kinh doanh của bên cho thuê trong một thòi hạn n h ấ t định, nộp tiền thuê theo hợp đồng vào kỳ hạn n h ất định Đây cũng là một hình thức đầu tư quyền sản xuất Trong thời gian thuê, bên cho thuê không nhượng quyền sở hữu chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng
Thuê doanh nghiệp khác với th u ê th iết bị máy móc cũng khác với việc thuê tiền vốn, th u ê th iế t bị chỉ thu được quyền sử dụng th iế t bị Còn th u ê doanh nghiệp thì được quyền sử dụng kinh doanh toàn bộ doanh nghiệp bao gồm cả tài sản cố định, tài sản lưu động và tà i sản
vô hình
Trang 23Thuê doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
(1) Doanh nghiệp đi thuê có thể có quyền kinh doanh,
mở rộng quy mô thực hiện chiến lược phát triển của doanh nghiệp Hơn nữa phương pháp mở rộng quy mô này tiết kiệm được tiền đầu tư hơn và nâng cao được hiệu suất hơn
là xây dựng cơ bản mở rộng quy mô.
(2) Doanh nghiệp có thể thuê những doanh nghiệp nguyên vật liệu phía trước và doanh nghiệp tiêu th ụ sản phẩm phía sau để đạt được mục đích khống chế nguồn nguyên vật liệu và chiếm lĩnh thị trường
(3) Doanh nghiệp đi thuê doanh nghiệp khác không cùng ngành nghề để thực hiện chiến lược đa dạng hoá kinh doanh, san sẻ phân tán bớt rủi ro
(4) Khi doanh nghiệp không đủ thực lực để mua lại thì
có thể đi thuê để có được tài sản trong một thời gian nhất định để hoạt động kinh doanh
Các công cụ đầu tư chủ yếu của doanh n ghiệp
Cùng với sự phát triển của thị trường vốn, công cụ đầu
tư của doanh nghiệp càng ngày càng đa dạng Sự đa dạng của công cụ rấ t có lợi cho doanh nghiệp mở rộng các hoạt động đầu tư và có lợi cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả đầu tư Đôi với người quản lý tài chính của doanh nghiệp, việc nắm vững thành thạo các công cụ đầu tư này chính là mấu chốt để nâng cao hiệu quả đầu tư Hiện nay, các công
cụ đầu tư trên thị trường vốn được chia thành 5 loại:
Trang 24• Những công cụ thuộc loại lãi suất
Những công cụ thuộc loại lãi suất là những công cụ có liên quan chặt chẽ tới việc thu lợi tức Bao gồm tấ t cả các đối tượng đầu tư trên thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán, bao gồm một số loại chủ yếu là: trái phiêu kho bạc nhà nước, công trái, trái phiếu doanh nghiệp, phiếu gửi tiền định kỳ hạn ngạch lớn, hôi phiêu chịu thuê của ngân hàng, hối phiếu chịu th u ế thương mại Đặc điểm của loại công cụ này là người đầu tư căn cứ vào số tiền định trước để thu được lợi tức khi đến hạn và đến kỳ hạn
có thể thu h ồ i về tiền vốn Công cụ thuộc loại lãi suất là công cụ đầu tư ít rủi ro
Chủ thể của công cụ thuộc loại lãi suất là trái phiêu Đầu tư trái phiếu doanh nghiệp bở tiền mua trái phiếu và trở thành người cho vay và thu được lợi tức trái phiếu Hành động đầu tư này có thể tiến hành ở thị trường cấp I (thị trường sơ cấp, thị trường phát hành) cũng có thể tiến hành ở thị trường cấp II (thị trường thứ cấp, thị trường giao dịch) tức là vừa có thể tiến hành đầu tư dài hạn vừa
có thế tiến hành đầu tư ngắn hạn
Đầu tư trái phiếu có các đặc điểm sau:
* An toàn tiền vốn, thu nhập ổn định
Khi phát hành trái phiêu đã phải qua một chế độ thẩm tra về tư cách, tín nhiệm rấ t chặt chẽ và tổng mức trái phiếu phát hành không được vượt quá mức tài sản thực của doanh nghiệp Người mua trái phiếu không chịu trách
Trang 25nhiệm và rủi ro về huy động vốn của bên phát hành Thông thường có thể nhận tiền lãi và thu hồi tiền vốn vào
kỳ hạn nhất định
* Có kỳ hạn rõ ràng
Khi trái phiếu đến hạn thanh toán, người mua trái phiếu được thanh toán lại tiền vốn, trừ khi đơn vị phát hành trái phiếu bị phá sản
* Rủi ro về sức mua tương đối lớn
Nếu trong kỳ đầu tư, mức lạm phát cao hơn lãi suất ghi trong trái phiếu thì sức mua của vốn và lãi trái phiếu
sẽ bị ảnh hưởng trên các mức độ khác nhau; làm cho lợi ích thực tế của doanh nghiệp đầu tư bị giảm xuống
* Không có quyền quản lý kinh doanh
Đầu tư vào trái phiếu thì có quyền hưởng lãi nhưng không có quyền ảnh hưởng và khống chế đổi với doanh nghiệp nhận vốn, không có quyền quản lý kinh doanh đốỉ với doanh nghiệp nhận vốn
* Công cụ thuộc loại cổ phiếu
Công cụ thuộc loại cổ phiếu là công cụ đầu tư có liên quan tối quyền sở hữu doanh nghiệp; bao gồm cổ phiếu phổ thông, bở vốn gôc v.v Trên lý luận còn có nhiều công
cụ khác có liên quan đên việc huy động vốn tự có của doanh nghiệp như phiêu chứng nhận cổ phần hoặc phiếu chứng nhận quyền lợi cổ phần v.v Công cụ thuộc loại cổ phiếu là công cụ đầu tư rủi ro cao
Trang 26* c ổ phiếu
Mua cổ phiếu là một phương thức có các đặc trưng sau:(1) Rủi ro lớn
Nguồn lợi của đầu tư cổ phiếu là số tiền cổ tức do công
ty phát hành phân phối và mức chênh lệch giá cả trên thị trường Cổ tức phải tuỳ thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp phát hành Mức chênh giá tuỳ thuộc vào giá cả và sự biến động giá cả cổ phiếu trên thị trường Đầu
tư cổ phiếu dễ gặp rủi ro lớn nhưng chỉ cần đầu tư thích đáng thì thu lợi cũng cao
(2) Tính lưu động mạnh
Cổ phiếu lưu thông trên thị trường có hàng trăm hàng nghìn loại, người đầu tư được tự do mua bán, th ủ tục giao dịch rấ t giản tiện cho nên tính lưu động của cổ phiếu là
rấ t mạnh
(3) Trách nhiệm hữu hạn
Khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu bị th u a lỗ, người đầu tư cổ phiếu chỉ chịu trách nhiệm trong phần giá trị cổ phiếu, tức là chỉ chịu trách nhiệm có hạn định theo mức đầu tư
(4) Được hưởng quyền biểu quyết
Cổ phiêu là một loại giấy chứng minh quyền sở hữu công ty đại biểu cho quyền được thu lợi và biểu quyết các Quyết định theo hạn ngạch ở công ty Người đầu tư cổ
Trang 27phiếu có thể sử dụng quyền biểu quyết của mình để gây ảnh hưởng đến các quyết định của công ty phát hành và có thể tham gia quyết định hoặc khống chế công ty cổ phần trên mức độ nhất định.
* Quỹ tiền tệ
Là một phương thức đầu tư chứng khoán có lợi cùng hưởng, rủi ro cùng chịu Qua đơn vị phát hành tập trung tiền vốn của các nhà đầu tư, do người quản lý vốn quản lý
và sử dụng tiền để đầu tư vào các công cụ tiền tệ như cổ phiếu, trái phiếu v.v Đặc điểm đầu tư loại này là tập hợp đầu tư, phân tán rủi ro, có chuyên gia quản lý Quỹ có thể chia thành hai loại tuỳ theo hình thức tổ chức
(1) Quỹ tiền tệ kiểu khế ước
Dựa trên nguyên lý của khế ước uỷ thác để tổ chức một đại lý thực hiện đầu tư Cách này không thiết lập tổ chức công ty mà căn cứ vào pháp luật thành lập quỹ đầu tư gồm
có ba thành phần là người uỷ thác, người nhận uỷ thác và người hưởng lợi và căn cứ vào chế độ luật pháp quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự, lập thành khế ước
uỷ thác đầu tư Quỹ đầu tư kiểu này tương đối điển hình
và hoàn thiện ở Nhật Bản.
(2) Quỹ tiền tệ kiểu công ty
Là một hình thức quỹ tiền tệ có thành lập công ty cổ phần chuyên môn phát hành cổ phiếu và trái phiếu, thu hút tiên vốn của các nhà đầu tư để theo đuổi các sự nghiệp
Trang 28đầu tư chứng khoán Những người đầu tư trở thành các cổ đông của công ty được chia lãi định kỳ được thu lãi từ việc mua chứng khoán của công ty Việc huy động vốn của quỹ tiền tệ kiểu công ty tương tự như việc huy động vốn của công ty cổ phần công nghiệp Việc huy động vốn như th ế nào là tuỳ theo tính chất của công ty và tuỳ theo sách lược quản lý của công ty Nhưng quỹ tiền tệ kiểu công ty thường huy động vốn bằng cách bán các chứng khoán có lợi và các chứng khoán có giá để tập trung vốn từ những người mua Quỹ tiền tệ kiểu công ty thường do công ty đầu
tư, công ty quản lý, công ty bảo hiểm, công ty bán buôn, công ty bán lẻ và những người được hưởng lợi hợp thành Loại quỹ tiền tệ này tương đối hoàn thiện ở Mỹ
• Cồng cụ thuộc loại hiện vật
Công cụ đầu tư thuộc hiện vật là những hàng hoá đặc biệt Trên thị trường tiền tệ, những hàng hoá này đã m ất
đi giá trị sử dụng theo nghĩa thực của nó Mọi người mua bán loại hàng này cốt để thu lợi qua sự biến động giá cả của nó, cũng giống như người ta mua cổ phiếu vậy Công
cụ đầu tư thuộc loại này chủ yếu gồm có kim loại quí, mỹ nghệ phẩm, nhà, đất, dầu mộ, tem thư, ngoại hối v.v Những rủi ro trong việc buôn bán, đầu tư loại này lớn hay nhở có quan hệ trực tiếp với hình thái vật thể
Trong rấ t nhiều chủng loại công cụ thuộc loại hiện vật, thì đầu tư vào nhà đất là phương thức đầu tư thường gặp nhất Vì rằng đầu tư vào nhà đất có những đặc trưng sau:
Trang 29* Lượng giá trị lớn
Giá trị nhà đất thường là hàng tră m nghìn, hàng triệu thậm chí hàng tỉ USD, giá trị vô cùng to lớn có thể đầu tư theo hạng ngạch lớn Đây là nguyên n h â n chủ yếu để nhà đ ất được coi là một loại công cụ đầu tư hiện vật
* Đầu tư theo tuyến dài, rủi ro ít
Mọi loại đầu tư đều có rủi ro, đầu tư nhà đất củng không ngoại lệ, nhưng rủi ro ít hơn rủi ro cổ phiếu và rủi
ro kỳ hoá
Nói chung, nhu cầu về nhà đất không ngừng tàng lên
mà đất đai cung cấp có hạn, do đó giá nhà đất tăng lên không ngừng
* Mức đòn bẩy tài chính rấ t cao
Những người đầu tư thường cõng trên lưng một món
nợ, vì thế đầu tư nhà đất dễ dàng làm tài sản thế chấp để vay nợ ngân hàng, có thể dùng một lượng tiền nhở để mua nhà đất có giá trị siêu cao
* Tính lưu động kém, giá thành giao dịch cao, thời gian dàiNhà đất là bất động sản không thể che dấu, không thể
di chuyển cũng không thể đem chi tiêu hết trong thòi gian ngắn Nêu Quyết định đầu tư sai lầm thì khó trán h khởi
tổ n th ất, có khi muôn rút lui khởi giao dịch thì cũng phải tốn lượng kinh phí rấ t lớn
Trang 30• Công cụ đầu tư thuộc loại diễn sinh
Công cụ đầu tư coi tấ t cả các công cụ đầu tư khác làm đối tượng mua bán được gọi là công cụ đầu tư thuộc loại diễn sinh
Thuộc loại công cụ này có hai loại cụ thể là bảo hiểm hàng hoá và bảo hiểm quyền lợi
* Bảo hiểm hàng hoá
Là một bản giao ước tổng hợp mà sở giao dịch bảo hiểm mua và bán giao ước một loại hàng được tiêu chuẩn hoá nào đó hoặc m ột sản phẩm kim loại quý hiêm Trong khi giao dịch phải thống n h ất với nhau về số lượng hàng hoá hoặc kim loại quí, thống nhất về đẳng cấp của m ặt hàng, thời gian giao hàng và địa điểm giao hàng Giá cả trong bản giao ước là do hai bên mua bán hoặc đại diện của hai bên mua bán định theo cách rao giá công khai
Việc giao dịch giữa hai bên mua và bán chỉ là một bản hợp đồng tiêu chuẩn thông nh ất gọi là bản “giao ước bảo hiểm” Giao ước bảo hiểm là văn bản được quy phạm hoá, chịu sự khống chế của pháp luật và được pháp luật bảo hộ,
là bản hợp đồng tiêu chuẩn quy định rõ các bằng chứng tại một thời gian và địa điểm đã định Mua giao ước bảo hiểm
có nghĩa là vào một thời gian đã chỉ định nào đó, tại địa điểm đã chỉ định, theo giá cả đã ước định trước được tiếp nhận sự bảo hiểm về số lượng hàng hoá đã chỉ định hoặc
sô lượng chứng khoán, cũng như vậy việc bán giao ước bảo hiểm cũng có nghĩa là bán sự qui định đối với một loại
Trang 31hàng nào đó hoặc một loại chứng khoán nào đó, bảo hiểm phải chuyển giao theo giá cả đã ước định tại địa điểm và thời gian nhất định Trong giao ước bảo hiểm có ghi rõ các điều khoản như: đơn vị giao dịch, giá cả đã giao ước, mức giá biến động hạn chế nhở nhất, mức giá biến động hạn chế lớn nhất trong ngày, tháng giao ước, thòi gian giao dịch, ngày giao dịch cuối cùng, phương thức giao, ngày đến
kỳ đáo hạn của giao ước, địa điểm giao hàng v.v
Mục đích của đầu tư vào bảo hiểm là giảm bớt khả nàng xuất hiện giá cả bất lợi trên thị trường hàng hoá hiện có để loại bở các rủi ro về sự biến động giá cả không chịu đựng được hoặc không dự kiến được, bảo hộ cho cơ hội thu lợi biên t ế trong kinh doanh
Đặc điểm của đầu tư kỳ hoá là:
* Đối tượng đầu tư phức tạp
Căn cứ theo đối tượng giao dịch, kỳ hoá được chia thành bảo hiểm hàng hoá và bảo hiểm kim loại quí Trong
đó bảo hiểm hàng hoá bao gồm cả bảo hiểm kim loại quí, bảo hiểm công nghệ phẩm và bảo hiểm động thực vật Bảo hiểm kim loại quí bao gồm bảo hiểm tiền tệ, bảo hiểm lợi tức bảo hiểm chỉ số cổ phiếu và bảo hiểm quyền lợi
* Có sự quy định hạn chế nghiêm khắc về địa điểm đầu
tư phương thức đầu tư
Việc đầu tư bảo hiểm được thực hiện trong sở giao dịch gồm r ất đông người bán và người mua cùng theo một quy
Trang 32tắc nhất định và qua những lần rao giá, mặc cả rấ t kịch liệt mới định giá được Để bảo đảm sự công bằng và ngay thẳng trong giao dịch thì phải có sự quy định rấ t nghiêm khắc chặt chẽ về địa điểm đầu tư và phương thức đầu tư.
* Tuyệt đại đa số các lần giao dịch đầu tư bảo hiểm chỉ
là mua không và bán không, không có giao hàng hoặc giao sản phẩm kim loại quí Trong giao dịch bảo hiểm, cái cần thiết thực sự trong giao dịch ký hoà chỉ là thực hiện giao ước; hợp đồng giao hiện vật chỉ chiếm một phần rấ t n h ở,
thường chỉ 1% ~ 2% tổng số trong hợp đồng đã ký, số còn
lại chỉ là giao dịch mua không và bán không
* Đầu tư bảo hiểm chỉ cần rấ t ít tiền vốn, rấ t linh hoạt
và tiện lợi
* Bảo hiểm quyền lợi
Bảo hiểm quyền lợi còn được gọi là quyền lựa chọn, là một loại khế ước mua hoặc bán quyền lợi về một vật đã định nào đó Trong khế ước sau khi bên mua trao tiền mua quyền cho bên bán, thì bên mua được quyền mua bán vật
đã định với số lượng đã định theo phương thức đã định Trong thời gian bên mua được thực hiện quyền lực thì bên bán phải thực hiện các nghĩa vụ ghi trong khế ước Trong thòi gian bảo hiểm quyền lợi có hiệu lực, bên mua được quyền mua hoặc bán theo giá cả có lợi cho mình, nếu không
có lợi cho mình thì có quyền từ bở quyền lợi đó Khi bênmua thực hiện quyền lợi đã mua được thì bên bán phải thực
Trang 33vụ m
hiếm quy đậnh quy «‘Il IỈU<K mun chung kltoấn till
pliHi ban rhúng khoán lh«> K>ề quy đính innig
Ngược iệi, nểtí tnmg khế ưòr quy định VÀ quyến
chưng khtúin, thì l»fl Uốn b ù hiểm phà» lh*m «JUJ
hèt « hưng khiMin tu lay mua báu hiểm lỉền
kiểm con gọi là n gư ờ i viết k h ế ư ớ c, m ục đích giao dịch của
bên hán chỉ là thu được từ phí bảo hiểm, Bên mua
mu.» liưụr quyển lự« » htm J*h»i rhi một khoán kmh
lá J>bi I*;»».» hiểm rùng lừr lồ g»tt CH rù» hầo hi^m
mua ré nử dụng hay khống «từ liụng I|uyến mun
vằn khônt; hom» trà quyến |»h) l»Ẳo hiểm
Dậr è ể m đâu tư folio hiểm quyến iựi tn
* ỈK m ttiựng đầu tư hão hiểm quyến lợi rhÂng hẹn như
Trang 34• Công cụ đầu tư thuộc loại hỗn hợp
Đây là công cụ đầu tư hỗn hợp của hai loại công cụ trở lên hợp th à n h và trong hỗn hợp này vẫn thể hiện các thuộc tính của công cụ hợp thành Công cụ hỗn hợp thường gặp n h ấ t là cổ phiếu ưu tiên và trá i phiếu có thể chuyển đổi Hỗn hợp này vừa có thuộc tính của trá i phiêu như thu nhập lợi tức theo định kỳ, trá i phiếu đáo hạn được hoàn trả tiền vốn, lại vừa có thuộc tính của cổ.phiếu như có lãi khi giá cổ phiếu tăng lên Các rủi ro của đầu tư hỗn hợp tuỳ thuộc vào các rủi ro của các công
cụ th àn h phần
Trang 352 Q UYẾT ĐỊNH ĐẦU Tư - CÔNG cụ CHỦ YẾU
củA QUẢN LÝ Hiệu QUẢ ĐẦU Tư
Đối với người quản lý tài chính thì việc nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp là một nội dung quan trọng nhất của chức nàng quản lý tài chính, mà điểm mấu chốt trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp lại là
những quyết định đầu tư là một hoạt động tài chính quan
trọng nhất của doanh nghiệp, quyết định đầu tư có chính xác hay không, không những chỉ quan hệ đến việc hạng mục đầu tư có đem lại lợi ích hay không mà còn quan hệ tới
sự thành bại của sự nghiệp kinh doanh của doanh nghiệp
C á c q uyết định đầu tư
Quyết định đầu tư là việc lựa chọn hạng mục đầu tư tôt nhất sau khi đã phân tích, so sánh quan hệ giá thành với lợi nhuận của các phương án đầu tư khác nhau
Quyết định đầu tư thường còn được gọi là dự toán tiền vốn, đặc biệt là khi tiên hành đầu tư tài sản cố định Dự toán vốn là một bản kế hoạch tổng thể liệt kê số tiền mặt thu vào và chi ra cho một hạng mục nào đó trong một thời
Trang 36ỳ nhất định trong tương lai, là một bản kế hoạch dự thảo các khoản chi đầu tư trong một thời kỳ n h ất định trong tương lai
Quyết định đầu tư có 3 đặc điểm:
* Đi trước một bước
Quyết định đầu tư là những phán đoán và Quyết định đ
ốỉ với các hoạt động đầu tư trong tương lai v ì thế kêt luận của quyết định có ảnh hưởng sâu xa tới kế hoạch đầu tư của tương lai, việc thực hiện đầu tư trong tương lai cùng các giá trị gia tăng và sự hoàn vốn đầu tư trong tương lai
* Tính hệ thống
Đầu tư là một hệ thống mạng lưới động thái cực kỳ phức tạp Một mặt, quyết định đầu tư có liên quan tối các hành đ
ộng đầu tư khá, cùng hạn chế lẫn nhau, lại độc lập với
au Mặt khác, mục đích trực tiếp của đầu tư là hình thành n
ăng lực sản xuất của doanh nghiệp, về mặt khách quan đòi hởi doanh nghiệp khi ra quyết định phải phân tích toàn diện
là hệ thống việc đầu tư của doanh nghiệp, xử lý chính xác
các mốỉ quan hệ của các yếu tố đầu tư của doanh nghiệp.
inh tế dưới một tiêu chuẩn giá trị, tính tương đối về thời
an của quyết định đầu tư, tính hữu hạn của các công cụ
Trang 37toán học v.v Tóm lại, xét về tính tương đổi thì mọi quyết định chỉ là những phương án hành động mang tính chiết trung, nó chỉ là những biện pháp tốt nh ất có thể sử dụng trong điều kiện của một thời gian nào đó.
Trình tự ra q u yết định đầu tư
Quyết định đầu tư là một việc có quan hệ tới toàn cục công việc đầu tư Để giảm bớt sai lầm trong quyết định đầu tư, người ra quyết định cần tuân thủ quy phạm về trình tự ra quyết định đầu tư Có như vậy mới giảm bớt tính tuỳ tiện, nâng cao tính khoa học trong việc Quyết định, qua đó nâng cao được hiệu quả đầu tư Nói chung, khi ra quyết định đầu tư của doanh nghiệp cần tuân thủ tình tự sau đây:
Bước thứ nhất, tìm cơ hội đầu tư:
Tìm cơ hội đầu tư, xác định phương hướng đầu tư là bước đầu tiên của quyết định đầu tư Giai đoạn này dựa trên cơ sở chủ yếu là tài nguyên thiên nhiên và tình hình thị trường, lấy chính sách nhà nước làm chỉ dẫn, lấy các chính sách tài chính, tiền tệ, thuế khoá làm căn cứ để tìm
cơ hội đầu tư có lợi nhất
Đôi với người quản lý tài chính, khi tìm kiếm cơ hội đầu tư, cần chú ý tới quan hệ giữa mục tiêu chiến lược lâu
dài của doanh nghiệp với lợi ích ngắn hạn Khi giữa lợi ích
ngắn ngày có phát sinh mâu thuẫn với chiến lược lâu dài của doanh nghiệp thì phải lấy chiến lược lâu dài của doanh nghiệp làm chính
Trang 38Bước thứ hai, thu nhập chỉnh lý tư liệu:
Nói chung, các tư liệu để đánh giá dự án đầu tư gồm có:
* Tư liệu trong nội bộ doanh nghiệp
Như tình hình các nguồn tài nguyên, sự sắp đặt thiết
bị máy móc, tố chất công nhân viên v.v
* Tư liệu về bên ngoài của doanh nghiệp
Như tình hình thị trường sản phẩm, chế độ pháp quy của Nhà nước, tình hình cung ứng sức lao động, những tiến bộ kỹ th u ật v.v
* Tư liệu tài chính
Như giá cả thị trường vật liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra
và xu thế biến động giá cả các loại đó, nguồn gốc tiền vốn và
sử dụng tiền vốn của dự án Tư liệu về tài chính là loại tư liệu quan trọng nhất trong các tư liệu đánh giá dự án
* Các tư liệu phi tài chính
Như chất lượng và số lượng sức lao động, các hoạt động của Nhà nước, các nhân t ố cạnh tranh v.v
* Các tài liệu có liên quan của các dự án cùng loại
Sau khi thu nhập các tài liệu nói trên được đầy đủ, cần chỉnh lý thật kỹ lưỡng để cho người ra quyết định tham khảo
Bước thứ ba, tiến hành đánh giá dự án:
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là phân tích giá thành và hiệu quả của dự án, cân bằng giữa lợi ích và rủi
ro của dự án, khảo sát những ảnh hưởng tiềm tàng của dự
Trang 39án đối với giá trị của doanh nghiệp Đánh giá dự án là khâu mấu chốt trong quyết định dự án đầu tư.
Bước thứ tư, lập dự toán giá thành:
Sau khi xác định được dự án đầu tư, bộ phận tài vụ lập
dự toán giá thành Dự toán tiền vốn là kế hoạch chi tiền vốn trong thời gian dài của doanh nghiệp, có nội dung liệt
kê các hạn ngạch của những khoản tiền dùng cho từng năm của dự án và tổng lượng tiền vốn cần bở ra trong các năm để có căn cứ chuẩn bị huy động tiền vốn tương ứng.Bước thứ n ă m, tổ chức thực thi dự án:
Một khi đã phê chuẩn xong việc thành lập dự án đầu
tư thì phải bắt tay ngay vào giai đoạn tổ chức thực thi Trong giai đoạn này doanh nghiệp cần thiết lập ngay một
hệ thống theo dõi việc chấp hành dự toán, kịp thời phản ánh các loại thông tin trong việc chấp hành dự toán một cách chuẩn xác, tiến hành so sánh các chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu dự toán, tìm ra sự chênh lệch và phản ánh kịp thòi kết quả phân tích cho các bộ phận hữu quan để dễ điều chỉnh tiến trình thực thi dự án, hoàn thành mục tiêuđầu tư theo đúng dự định
Phương pháp q u yết định hai loại phương án đầu tư
Khi tiên hành dự án đầu tư, các phương án đầu tư đệ trình lên những người quyết định có th ể chia thành hai loại, đó là loại phương án độc lập không có mâu thuẫn với các dự án khác và một loại phương án có mâu thuẫn với
Trang 40các dự án khác Với hai loại phương án đầu tư khác nhau này cần có các phương pháp khác nhau để ra Quyết định mới có thể nâng cao hiệu suất quyết định đầu tư, nâng cao hiệu quả của dự án đầu tư.
• Phương pháp quyết định phương án độc lập
Một nhóm các phương án không có gì mâu thuẫn nhau
và độc lập với nhau được gọi là phương án độc lập Trong
số các phương án độc lập, việc lựa chọn phương án nào đó
sẽ không làm cản trở hoặc từ bở lựa chọn phương án khác Việc quyết định phương án độc lập này có thể không cần phải suy nghĩ gì đến việc phương án có được thực thi hay không, tức là việc chọn hay không chọn phương án chỉ quyết định bởi giá trị k in h tế của bản
th ân phương án từ góc độ tà i chính thì việc đầu tư theo hai phương án độc lập thì lưu lượng tiền vốn của hai phương án là không có quan hệ gì với nhau Khi quyết định phương án độc lập chỉ cần phân tích phán đoán theo các chỉ tiêu như giá trị tiền mặt sử dụng, chỉ số thu lợi, mức lãi nội bộ và thời kỳ thu hồi vốn, mức thu lợi kế toán căn cứ theo các chỉ tiêu nêu trên để quyết định việc lựa chọn phương án hay không, chỉ cần vận dụng được thoả đáng là nói chung có thể quyết định được chính xác
• Phương pháp quyết định phương án có mâu th u ẫn
với phương án khác
‘ Một nhóm phương án trong đó các phương án có liên quan với nhau, có mâu th u ẫn với nhau thì được gọi là