1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)

62 424 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC TỪ VIẾT TẮT Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy lợi Chương trình Tài nguyên nước Mekong của Chính phủ Úc Đô la Úc Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc Uỷ ban Nhân dân Xã Cần Thơ Đại học Cần Thơ Dự

Trang 1

Dự án Inclusion/ Chương trình Quản trị Nước Mekong

Việt Nam

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ CHO

DỰ ÁN QUẢN LÝ NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Trang 2

Tài liệu này có thể được trích dẫn theo:

Lê Anh Tuấn, Huỳnh Vương Thu Minh, Đinh Diệp Anh Tuấn và Nguyễn Thị Phương Thảo, 2015 Nghiên cứu cơ sở cho Dự án Quản lý Nước Dựa vào Cộng đồng (CWMPs) OXFAM - DRAGON - WARECOD, Dự án Inclusion/ Chương trình Quản lý Nước Mekong, Việt Nam, Báo cáo kỹ thuật, 60 trang

Ảnh bìa: Một cánh đồng lúa bên trong Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao

(Ảnh: Lê Anh Tuấn, 2015)

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

CẢM TẠ 5

CÁC TỪ VIẾT TẮT 6

DANH SÁCH HÌNH 8

DANH SÁCH BẢNG 9

1 GIỚI THIỆU 10

2 THÔNG TIN TỔNG QUÁT VỀ CÁC NƠI NGHIÊN CỨU 11

2.1 Dự án kiểm soát nước ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) 11

2.2 Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao 12

2.3 Dự án thuỷ lợi Ô Môn – Xà No 13

2.4 So sánh giữa dự án Bắc Vàm Nao và Ô Môn - Xà No 14

3 PHƯƠNG PHÁP 15

3.1 Các tiếp cận nghiên cứu 15

3.2 Lý thuyết PIM 16

3.3 Lý thuyết Thai Baan 16

3.4 Lý thuyết phân tích SWOT 17

4 CÁC PHÁT HIỆN 18

4.1 Thể chế/ chiến lược/ chính sách hiện hành 18

4.1.1 Thể chế hiện tại 18

4.1.2 Thực hiện Quản lý Tưới có sự Tham gia 19

4.2 Bối cảnh và hiện trạng vùng nghiên cứu 22

4.2.1 Bối cảnh và tình hình của các nguồn tài nguyên nước và sông 22

4.2.2 Cơ cấu quản lý cộng đồng về tài nguyên nước 23

4.3 Thực hiện PIM 25

4.3.1 Vận hành quản lý Tiểu vùng Bắc Vàm Nao 25

4.3.2 Phân tích Giới trong Quản lý Tiểu vùng ở Bắc Vàm Nao 29

4.3.3 Bài học rút ra từ Quản lý Tiểu vùng Bắc Vàm Nao 30

4.3.5 Phân tích SWOT cho việc thành lập một SrMB mới ở xã Tân Hoà 31

Trang 4

4.4 Thảo luận về Thaibaan 32

4.4.1 Vận hành theo Thaibaan operation (Vàm Nao và Mỹ Hòa 3) 32

4.4.2 Phân tích Giới trong nghiên cứu Thaibaan 33

4.4.2.1 Sự tham gia về giới ở Mỹ Hòa 3 và Vàm Nao 33

4.4.3 Bài học rút ra từ Thaibaan 36

5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN CÁO 37

5.1 Kết luận 37

5.2 Khuyến cáo 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

PHỤ LỤC 1 41

Câu hỏi phỏng vấn 1.1 41

Câu hỏi phỏng vấn 1.2 44

Câu hỏi phỏng vấn 1.3 47

PHỤ LỤC 2 50

DANH SÁCH CÁC NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN 50

PHỤ LỤC 3 54

Một số hình ảnh chuyến khảo sát 54

Trang 5

CẢM TẠ

Chúng tôi chân thành cảm ơn sự tham gia của Ô Phạm Văn Lê, Ô Vương Hữu Tiến,

Ô Nguyễn Văn Hùng, Ô Trần Quang Viễn, Ô Nguyễn Quốc Luật, các nhân viên phòng ban thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang, Ban Quản lý Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao, các đại diện của Ban Quản lý Tưới có sự Tham gia ở Tiểu vùng (PIM Sub-regions) của dự án, những người đã chia sẻ dữ liệu và thông tin

về Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Thành phố Cần Thơ: Ô Bùi Quang Minh và Ô Đặng Quốc Tân, đã sẵn lòng cung cấp thông tin về Dự án Thủy lợi Ô Môn - Xà No Tổ chức Oxfam

đã tài trợ cho nghiên cứu này Nghiên cứu được hỗ trợ và hợp tác của Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Tài nguyên Nước (WARECOD)

Đồng thời cảm ơn hai nữ sinh viên Đại học Cần Thơ của chúng tôi: Bùi Thảo Linh và

Lê Thị Túy Kiều, đã tham gia cuộc phỏng vấn trong các đợt khảo sát với chúng tôi trong khu vực dự án

Trang 6

CÁC TỪ VIẾT TẮT

(Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy lợi)

(Chương trình Tài nguyên nước Mekong của Chính phủ Úc)

(Đô la Úc)

(Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc)

(Uỷ ban Nhân dân Xã)

(Cần Thơ)

(Đại học Cần Thơ)

(Dự án Quản lý Nước Dựa vào Cộng đồng)

(Mạng lưới Nghiên cứu Đồng bằng và Quan trắc Toàn cầu/

Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ) DFAT Department of Foreign Affairs and Trade

(Bộ Ngoại giao và Thương mại)

(Chính phủ Úc)

(Chính phủ Việt Nam)

(Quản lý Tài nguyên Nước Tổng hợp)

(Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao)

Trang 7

NEDECO Netherlands Engineering Company

(Công ty Tư vấn Kỹ thuật Hà Lan)

(Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên)

(Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)

(Tổ chức Oxfam – Hà Lan)

(Ô Môn – Xà No)

(Dự án Thủy lợi Ô Môn - Xà No)

(Ủy ban Nhân dân)

(Quản lý Tưới có sự Tham gia)

(Ban Quản lý Tiểu vùng)

(Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội – Thách thức)

(Đồng Việt Nam)

(Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Tài nguyên nước)

(Ngân hàng Thế giới)

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1: Một số dự án thuỷ lợi ở Đồng bằng Sông Cửu Long 11

Hình 2: Vị trí của Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao ở An Giang 12

Hình 3: Giới hạn biên của Dự án thuỷ lợi Ô Môn – Xà No 14

Hình 4: Sơ đồ tổ chức của NVNWCP 20

Hình 5: Tổng lượng nước theo tháng ở Tân Châu (S Tiền) và Châu Đốc (S Hậu) 22

Hình 6: Lưu lượng sông Mekong qua sông Vàm Nao (1996 – 2000) 23

Hình 7: Đỉnh lũ ghi nhận ở Trạm thuỷ văn Tân Châu (1926 – 2011) 23

Hình 8: Sắp xếp tổ chức cho quản lý dự án 24

Hình 9: Cấu trúc đặt hàng tưới của cộng đồng và thực hiện 25

Hình 10: Bản đồ vị trí 24 đơn vị tưới theo Tiểu vùng ở Bắc Bàm Nao 27

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1: Khác biệt cơ bản giữa Bắc Vàm Nao và Ô Môn – Xà No 14

Bảng 2: Các quyết định chính thức liên quan trong tỉnh và huyện 19

Bảng 3: Vai trò của các bên liên quan trong sơ đồ tổ chức của NVNWCP 21

Bảng 4: Diện tích nông nghiệp của 24 đơn vị tưới theo Tiểu vùng ở Bắc Bàm Nao 28

Bảng 5: Phân tích SWOT cho xã Tân Hoà 32

Bảng 6: Sở hữu / tiếp cận các nguồn ở Mỹ Hoà 34

Bảng 7: Phân bố lao động trong các hộ ở Mỹ Hoà 3 35

Bảng 8: Tiến trình quyết định trong gia đình ở Mỹ Hoà 3 35

Bảng 9: Sở hữu/tiếp cận các nguồn ở Hậu Giang 1 36

Bảng 10: Phân bố lao động trong các hộ ở Hậu Giang 36

Bảng 11: Tiến trình quyết định trong gia đình ở Hậu Giang 1 36

Trang 10

1 GIỚI THIỆU

Tổ chức Oxfam Úc dẫn đầu Chương trình Quản trị Nước Vùng Mekong và đồng thực hiện với Tổ chức Oxfam Hà Lan (ON), Oxfam Mỹ và nhóm các quốc gia Mekong Chương trình góp phần cho Chiến lược và Phân tích Khu vực kết nối Đông Á của Oxfam và Chương trình Tài nguyên Nước Mekong của Chính phủ Úc (AMWRP) giai đoạn 2014 -2018 Dự án Inclusion là một trong số tiểu dự án trong chương trình này Dự án Inclusion/ Chương trình Quản trị nước Mekong ở Việt Nam được tài trợ cho việc định danh, quản lý và phân phối các sự kiện, tập huấn và xây dựng năng lực

về quản trị nước và quản lý tài nguyên thiên nhiên thuộc dự án này

Đối tác của Oxfam tại Việt Nam, Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Tài nguyên nước (WARECOD) đã triển khai Dự án Quản lý Tài nguyên Nước dựa vào Cộng đồng

ở xã Tân Trung và xã Tân Hòa, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ tháng 1 năm 2013 WARECOD áp dụng phương pháp ThaiBaan cho nghiên cứu hoạt động có sự tham gia của cộng đồng ở các ấp chủ đích Các dự án hiện tìm hiểu các vấn đề của quản lý tài nguyên nước tổng hợp (IWRM) và tăng cường năng lực địa phương trong việc bảo vệ môi trường và quản lý nước và nguồn thuỷ sản ở ấp Vàm Nao và Mỹ Hóa 3 Trong năm thứ hai, Oxfam sẽ hỗ trợ WARECOD để thành lập một ban quản lý thủy lợi tiểu vùng (SrMB) mới tại hai ấp, hiện nằm ngoài Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao cũng như nâng cao nhận thức hiểu biết của cộng đồng sự và tham gia đối thoại với ủy ban nhân dân tỉnh và/hoặc địa phương và duy trì hoạt động hiệu quả của các SrMB

Nghiên cứu cơ sở này là một phần quan trọng của tiến trình triển khai dự án và những phát hiện sẽ cung cấp cho sự can dự của WARECOD do Oxfam tài trợ trong khu vực dự án (An Giang); tuy nhiên, như WARECOD đã bắt đầu một dự án nghiên cứu tại Thành phố Cần Thơ (Ô Môn - Xà No) được tài trợ của Dự án Nước, Đất và Hệ sinh thái (WLE), so sánh tài liệu về chính sách và thực tiễn của hai tỉnh thấy được sự cần thiết cho tương lai các cột trụ liên kết và không gian đối thoại chính sách trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long của DFAT

Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ (Viện DRAGON) thể hiện

sự cam kết và quan tâm cao để thực hiện các nghiên cứu cơ sở này tại các tỉnh An Giang và Cần Thơ trong khuôn khổ dự án Inclusion Một nhóm nghiên cứu gồm 4 thành viên, do PGS TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện DRAGON chủ trì, đã làm việc chặt chẽ với nhóm dự án Oxfam và WARECOD ở hai tỉnh để hoàn thành nghiên cứu này trong thời gian từ 15 tháng 5 đến 10 tháng 8 năm 2015

Trang 11

2 THÔNG TIN TỔNG QUÁT VỀ CÁC NƠI NGHIÊN CỨU

2.1 Dự án kiểm soát nước ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Đồng bằng Sông Cửu Long ở Việt Nam là phần cuối hạ lưu thuộc Lưu vực Sông Mê Công trước khi chảy ra Biển Đông và Vịnh Thái Lan Tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng là 3,9 triệu ha, chiếm khoảng 12% của tổng diện tích cả nước, trong

đó 2,4 triệu ha đất hiện đang sử dụng cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản và 0,4 triệu ha cho lâm nghiiệp Năm 2009, vùng Đồng bằng là nơi cư trú của 18,6 triệu người Đồng bằng Sông Cửu Long được xem là vùng sản xuất ền nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản lớn nhất và cũng là một vùng đất ngập nước lớn nhất của đất nước (Tuấn và Guido, 2007)

Nhằm gia tăng sản lượng nông nghiệp như là một trong những mục tiêu quốc gia trong ba thập kỷ qua, nhiều dự án kiểm soát nước ở ĐBSCL đã được phát triển để cải tạo và phát triển tưới tiêu, cấp nước sinh hoạt, công trình hạ tầng ngăn mặn và chống lũ ở Đồng bằng Sông Cửu Long (Hình 1) Hai dự án kiểm soát nước: Bắc Vàm Nao và Ô Môn - Xà No được tập trung vào nghiên cứu này

Hình 1: Một số dự án thuỷ lợi ở Đồng bằng Sông Cửu Long

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Trang 12

2.2 Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao

The North Vam Nao Water Control Project had its origins in concepts developed under the Master Plan for the Mekong Delta completed by the Netherlands Engineering Company (NEDECO, 1993) Following an initial request from the Government of Viet Nam (GoV) to the Government of Australia (GoA) in

1992, the first pre-feasibility and design missions for the North Vam Nao Scheme took place in 1993 and 1994 From 2002 to 2007, the North Vam Nao Water Control Project (NVNWCP) was implemented in Phu Tan and Tan Chau districts, An Giang province North Vam Nao looks like an island bounded by the Tien River and Hau River and connected by canal systems which divide it from adjacent parts of the island (Figure 2)

Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao bắt nguồn từ ý tưởng phát triển trong trong Quy hoạch Tổng thể Đồng bằng Sông Cửu Long do Công ty Tư vấn Kỹ thuật Hà Lan (NEDECO, 1993) hoàn thành Theo đề xuất của Chính phủ Việt Nam (GoV) đến Chính phú Úc (GoA) năm 1992, dự án tiền khả thi đầu tiên và nhiệm vụ thiết kế cho các Đề án Bắc Vàm Nao đã tiến hành vào năm 1993 và 1994 Từ 2002 đến 2007, Dự

án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao (NVNWCP) đã được triển khai ở các huyện Tân Châu và Phú Tân, tỉnh An Giang Bắc Vàm Nao trông giống như một hòn đảo được bao bọc bởi sông Tiền và sông Hậu và nối với nhau bằng hệ thống kênh mương phân chia các phần lân cận của đảo (Hình 2)

Hình 2: Vị trí của Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao ở An Giang

Mục tiêu của Dự án là hỗ trợ tỉnh An Giang thiết lập và vận hành một hệ thống quản lý nước hiệu quả ở Bắc Vàm Nao bền vững về mặt xã hội và môi trường và có lợi cho nền kinh tế địa phương qua hỗ trợ xóa đói giảm nghèo Hơn nữa, dự án nhắm đến thể hiện lợi ích kinh tế và xã hội cho cộng đồng Vàm Nao, nhất là về bảo vệ môi

CÔNG TRÌNH KIỂM SOÁT LŨ Ở BẮC VÀM NAO TỈNH AN GIANG

Trang 13

trường và thông qua tiếp cận có điều phối quản lý nước và đất Tăng cường năng lực của các cơ quan cấp tỉnh ở tỉnh An Giang để lập kế hoạch, vận hành và duy trì hệ thống kiểm soát nước tổng hợp ở Bắc Vàm Nao hiệu quả và hiệu ích, đáp ứng các yêu cầu của nhiều người dùng (Cơ quan Phát triển Quốc tế của Úc - AusAID, 2007)

Mục tiêu mong đợi để nâng cao điều kiện sống và sinh kế cho người dân địa phương với sự phát triển của một hệ thống quản lý nước có sự tham gia theo định hướng dịch vụ Các NVNWCP liên quan đến việc xây dựng các kết cấu kiểm soát nước kết hợp hệ thống thủy lợi và phòng chống lũ lụt, bao gồm cả công trình đê bao,

16 cống chính và 39 cống nhỏ dọc theo đê bao và mạng lưới kênh và đê nội đồng, bao gồm khoảng 30,836 ha diện tích tự nhiên, trong đó 24,039 ha đất nông nghiệp (tính 78%) sử dụng cho cây lúa và cây màu Khu vực dự án bao gồm 22 đơn vị hành chính các xã nông thôn, phường, thị trấn, thuộc huyện Tân Châu ở phía bắc (12% tổng diện tích) và huyện Phú Tân ở phía nam (88%) Dự án được tài trợ và trực tiếp giám sát thông qua AusAID và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MONRE) Tổng chi phí của dự án là khoảng 35,5 triệu đô la Úc (Chính phủ Việt Nam góp 19.5 triệu đô la Úc và Chính phủ Úc đóng góp 16 triệu Đô la Úc, bao gồm 8,4 triệu đô la Úc trực tiếp cho dự án và 7,6 triệu đô la Úc cho đê bao bên ngoài phạm vi dự án) Hệ thống thủy lợi đã bắt đầu hoạt động từ năm 2008

2.3 Dự án thuỷ lợi Ô Môn – Xà No

Mục tiêu của dự án này: (i) chủ động ngăn chặn sự xâm nhập mặn từ biển Tây trong mùa khô; thoát nước, xả phèn và trữ nước ngọt tại chỗ để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ổn định trong vùng dự án; (ii) chủ động kiểm soát lũ cho toàn bộ khu vực tiểu dự án để tăng 2-3 vụ lúa mỗi năm, (iii) tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy, và (iv) góp phần tái phân bố lao động một cách khoa học và hợp lý Dự án dự định mang lại lợi thế trong việc lập kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp Ước tính số lượng người hưởng lợi từ dự án này là 250.465 người Khu vực này có 41.123 ha đất nông nghiệp sẽ được ngăn chặn xâm nhập mặn và bảo

vệ cây lúa Dự án hỗ trợ xây dựng 41 cống chính và 125 cống thứ cấp, khoảng 234

km đê và các phần khác của đê hiện có được nâng cấp để bảo vệ đất nông nghiệp với tần suất lũ là 1 lần trong 20 năm (Ngân hàng Thế giới, 2011)

Dự án OMXN đã được khởi công xây dựng từ tháng 4/2005 tại xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền qua tuyến đường thuỷ Ô Môn và Xà No, sông Cái Tư, kênh Tắc Ông Thục và dự kiến hoàn thành vào tháng 6/2007 Tuy nhiên, cho đến nay hệ thống chưa chưa được khép kín do chưa thoả đáng ở khâu bồi thường giải phóng mặt bằng cho người dân địa phương làm tiến độ chậm Bên cạnh đó, một số công trình đã xuống cấp hoặc cửa cống không đủ rộng để tiêu thoát nước (cống Cầu Nhiếm thuộc huyện Phong Điền, cũng như một số hệ thống cống ở Quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ)

Trang 14

Hình 3: Giới hạn biên của Dự án thuỷ lợi Ô Môn – Xà No

2.4 So sánh giữa dự án Bắc Vàm Nao và Ô Môn - Xà No

Hai dự án kiểm soát nước: Bắc Vàm Nao (NVNWCP) và Ô Môn - Xà No (OMXNIP) đều là cơ sở hạ tầng nông thôn lớn cho khu vực địa phương Các dự án này có những mục tiêu chung về kiểm soát lũ, tưới - tiêu cho gia tăng trồng lúa và cây màu Tuy nhiên, hai dự án kiểm soát nước này có một số khác biệt cơ bản, như chỉ ra ở Bảng 1

Bảng 1: Khác biệt cơ bản giữa Bắc Vàm Nao và Ô Môn – Xà No

(*) OMXNIP hiện đang xây dựng các hạng mục công trình của dự án

Through discussions with the authorities of the Departments of Water Management of Can Tho City, the OMXNIP is not yet completed all its construction items as planned, so the project did not work effectively OMXNIP expand through three provinces as Can Tho, Hau Giang and Kien Giang, led by the MARD Each province has managed only its local construction items of projects and, up to now, there is no concrete plans to coordinate in project’s multi-provincial irrigation

Trang 15

operation So, it is a big challenge if a PIM plan at the community level is expected to set up

Qua thảo luận với Chi cục Thuỷ lợi Thành phố Cần Thơ, dự án OMXNIP chưa hoàn thành tất cả các hạng mục công trình theo kế hoạch, nên dự án đã không vận hành hiệu quả OMXNIP mở rộng qua ba tỉnh như Cần Thơ, Hậu Giang và Kiên Giang, vẫn do Bộ NN & PTNT quản lý Mỗi tỉnh chỉ quản lý hạng mục xây dựng trên địa phương của dự án, và cho đến nay, không có kế hoạch cụ thể để phối hợp trong hoạt động dự án thủy lợi liên tỉnh Vì vậy, dự án là một thách thức lớn nếu một kế hoạch PIM ở cấp độ cộng đồng được dự kiến thiết lập

3 PHƯƠNG PHÁP

3.1 Các tiếp cận nghiên cứu

Có nhiều tài liệu và báo cáo về hoạt động và quản lý thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long, ở cấp quốc gia, khu vực và cấp tỉnh Một nghiên cứu bàn giấy được thực hiện để xem xét các chính sách chính phủ Việt Nam, bao gồm cả luật pháp của Chính phủ, đã cải cách dự án kiểm soát lũ và thủy lợi liên quan đến nông dân địa phương như thế nào Phương pháp tiếp cận theo hướng nghiên cứu trường hợp là cần thiết, nghiên cứu cũng kết hợp với các cuộc phỏng vấn với các quan chức chính phủ / các nhà ra quyết định / nông dân để hiểu rõ hơn những vấn đề bên trong của giải pháp Quản lý Tưới có sự Tham gia (PIM), với trọng tâm là Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao, tỉnh An Giang Song song với rà soát chính sách, nghiên cứu cũng xét đến các thể chế, cơ cấu, hoạt động và chức năng của một một số tiểu vùng đại diện của 24 Ban quản lý tiểu vùng tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang Do giới hạn

về thời gian và các nguồn tài chính, các cuộc điều tra phỏng vấn được thực hiện tại các tiểu khu vực số 10, 11, 18, 20, 22 và 23 Theo các tư vấn của các cán bộ của Sở

NN & PTNT An Giang, các Tiểu vùng đã được chọn là ba đại diện của ba nghiên cứu trường hợp khác nhau: các hoạt động hiệu quả nhất (Tiểu vùng 18), các hoạt động vừa phải (Tiểu vùng 10, 11, 20, và 22), và các hoạt động không thành công (Tiểu vùng 23) Trong mỗi tiểu vùng phỏng vấn từ 3-5 thành viên đại diện của khu vực và thảo luận thông qua các câu hỏi và câu trả lời ở dạng mở

Việc thu thập dữ liệu thứ cấp được thực hiện tại thành phố Cần Thơ về thể chế hiện hành của chính phủ Việt Nam về việc thành lập, vận hành và chức năng, phân bổ nguồn lực cho PIM ở cấp quốc gia và khu vực trong dự án Ô Môn - Xà No

Nghiên cứu Thái Baan là một phần trong cuộc khảo sát này Dựa trên phương pháp kinh nghiệm - thu thập số liệu, tài liệu, phân tích và phản biện của các chuyên gia - và căn cứ vào các giá trị truyền thống của địa phương hợp tác, nghiên cứu thực địa được thực hiện như một hoạt động chung Thu thập số liệu, thảo luận và học hỏi

là những hoạt động xã hội đã giúp xây dựng ý thức cộng đồng

Liên quan đến dự án là thành lập một Tiểu vùng mới lân cận dự án NVNWCP, phân tích SWOT (viết tắt của Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Thách thức) được sử

Trang 16

dụng trong nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng có thể và yếu tố ảnh hưởng khác cho một kế hoạch, địa điểm, sản xuất, người dân địa phương

3.2 Lý thuyết PIM

Quản lý Tưới có sự Tham gia (PIM) đã được giới thiệu từ cuối thập niên 1980 (Basavaraj, 2012) PIM là một hướng phát triển có sự tham gia nhằm tăng cường sự liên hệ của nông dân địa phương như là những người sử dụng nước trong hoạt động tưới và quản lý tưới PIM được xem là một tổ chức xã hội đại diện cho nông dân vì lợi ích tập thể của người sử dụng nước tưới đến Chi cục Thủy lợi của Nhà nước (thường đại diện là Ban Quản lý Dự án Thủy lợi) để hỗ trợ quá trình ra quyết định của địa phương các cấp trong hệ thống kiểm soát nước và trong tất cả các khía cạnh của quản lý thủy lợi, đáp ứng yêu cầu của nhiều người dùng Điều này ngụ ý một sự thay đổi trong cách mà bản thân người nông dân nhìn thấy và gia tăng trách nhiệm của họ (Vella, 2004) Hơn nữa, PIM cũng là một cách tiếp cận để phát triển nông thôn, tập trung vào con người: phát triển nông thôn có sự tham gia (David, 2003) Trong suốt ba thập kỷ qua, khoảng 60 quốc gia có diện tích tưới tiêu quan trọng đã

áp dụng PIM ở các mức độ và cách thức khác nhau (Kulkarni và Tyagi, 2013)

Ở Việt Nam, theo chính sách "Nhà nước và nhân dân cùng làm", nông dân ở các vùng khác nhau đã góp phần đáng kể vào việc đầu tư vào các hệ thống thủy lợi với 3 mức khác nhau từ 12% tổng đầu tư ở Đồng bằng Sông Hồng, đến 30- 50% ở các vùng khác và đến 80-100% đối với công trình thủy lợi quy mô nhỏ bằng cách riêng quản lý của họ (MARD, 2004) Trung tâm Quản lý Thủy lợi có sự Tham gia (gọi tắt là CPIM) trực thuộc Viện Nghiên cứu Tài nguyên nước, đã được thành lập, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thông qua Quyết định ngày 22 tháng 12 năm

2004 (Trung và Tuyên, 2009)

Theo MARD (2004, trang 3): "Từ năm 1995, dưới sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như ADB, WB, DANIDA, các tổ chức phi chính phủ như Oxfam Anh, Oxfam Hồng Kông, một số mô hình PIM như Hợp tác xã Người dùng Nước, Hiệp hội Người dùng Nước ở các tỉnh Lào Cai Thanh Hóa, Nghệ An, v.v… đã được thành lập, hoạt động và đạt được những thành công nhất định Đặc biệt, một số Hợp tác xã Người dùng Nước (WUCs) đã tiến hành quản lý cơ cấu tổ chức, được chính quyền địa phương chuyển giao trong phạm vi quy mô liên xã Những WUCs này đã hoạt động có hiệu quả

và được nông dân hỗ trợ tích cực Hiệu quả của các mô hình này đã được tổng kết và trình bày trong nhiều hội nghị và hội thảo Đây là một tiền đề và cơ hội tốt để phát triển PIM ở Việt Nam trong cả ngắn hạn và dài hạn"

3.3 Lý thuyết Thai Baan

Nghiên cứu Thái Baan - người dân tại chỗ chính là những người thực hiện - là phương pháp tiếp cận tri thức nhằm chỉ ra những hiểu biết địa phương về môi trường và cách thức người dân tương tác với nó Nghiên cứu phản ánh sự hiểu biết thực tế của người dân về sự phức tạp và năng động của tài nguyên thiên nhiên, các cách sử dụng tài nguyên, và kinh doanh mang tính đạo đức của những người phụ

Trang 17

thuộc tài nguyên vào sinh kế của họ Nghiên cứu Thái Baan là đi sâu hơn nghiên cứu

sự tham gia thông thường Dân làng chọn những gì họ muốn nghiên cứu và cộng đồng của họ quyết định những thành viên của nhóm nghiên cứu và cung cấp các thông tin chủ chốt Người dân thu thập dữ liệu trong cuộc sống hàng ngày của họ về

vụ mùa trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp

và sản vật nông thôn của họ đến các thị trường (Chayan, 2005; IUCN, 2005)

Phương pháp nghiên cứu truyền thống giải quyết các nguồn lực tự nhiên và vấn đề đời sống đôi khi bị hạn chế Điều này đúng cả cho các hệ sinh thái ven sông phức tạp và các nền kinh tế địa phương, chúng không phù hợp với tư duy người dân Các hệ sinh thái hỗ trợ sự trù phú của các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học và tự nhiên, phụ thuộc vào những sự thay đổi bất thường theo mùa, đặc tính của lũ lên và

lũ rút Sự phức tạp của sinh kế địa phương không được đánh giá đầy đủ và thường tập trung vào một tính năng đặc biệt của các chiến lược sinh kế địa phương Nghiên cứu ThaiBaan minh họa sinh kế nông thôn dựa trên việc sử dụng kết hợp một loạt các nguồn thích nghi với những thay đổi theo mùa Khi tập trung xem xét việc canh tác lúa, ThaiBaan cho thấy trồng lúa quan trọng như là một phần của chiến lược sinh

kế đa dạng, tích hợp

Nghiên cứu ThaiBaan cung cấp một tầm nhìn phía trước cho sự khôn ngoan

và kinh nghiệm của người dân thành nền tảng cho việc giám sát và đánh giá tài nguyên thiên nhiên, và cho người dân địa phương có một vai trò hàng đầu trong phát triển bền vững của địa phương

3.4 Lý thuyết phân tích SWOT

Phân tích SWOT (hay ma trận SWOT lựa chọn), do Albert S Humphrey khởi xướng trong thập niên 1960, là một kỹ thuật hữu ích để hiểu Điểm mạnh và Điểm yếu của bạn, và xác định cả Cơ hội và Thách thức mà bạn phải đối mặt (Nguồn:

http://www.mindtools.com/pages/article/newTMC_05.htm) SWOT liên quan đến việc xác định các mục tiêu của công việc - tổ chức dự án và xác định các yếu tố bên trong và bên ngoài thuận lợi và không thuận lợi để đạt được những mục tiêu đó SWOT phân tích phần quan trọng của thông tin thành hai phạm trù chính:

• các yếu tố bên trong - những điểm mạnh và điểm yếu nội tại của tổ chức;

• các yếu tố bên ngoài – những cơ hội và thách thức do môi trường bên ngoài tác động đến tổ chức

Trong nghiên cứu này, SWOT có thể được sử dụng để "khởi động" xây dựng chiến lược của một PIM mới được đề xuất cho tiểu vùng thứ 25 Phân tích sẽ giúp một điều hiểu biết, cái nhìn tổng quát của dự án cần cho sự gắn kết và vị trí “cạnh tranh” thành công

Trang 18

• Pháp lệnh số 32/2001/PL-UBTVQH10 ngày 04/04/2001 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội về "Khai thác và Bảo vệ Công trình Thủy lợi";

• Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ

về "Quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ Công trình Thủy lợi";

• Thông tư 75/2004/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ngày 20/12/2004 về "Hướng dẫn việc thành lập Tổ chức Hợp tác Sử dụng Nước";

• Công văn số 3213/BNN-TL của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngày 30/12/2004 về "Khung Chiến lược phát triển PIM ở Việt Nam";

• Thông tư 65/2009/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ban hành 12/10/2009, về "Hướng dẫn về tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi phân cấp công trình thuỷ lợi"

Tổng quát, sự liên quan hoặc tham gia của cộng đồng thể hiện như các hình thức cơ bản là:

(1) Đóng góp lao động để xây dựng các công trình thủy lợi;

(2) Đóng góp tài chính thông qua thủy lợi phí hàng năm để chi cho quản lý và vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa các công trình thủy lợi Từ năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã áp dụng chính sách mới cho nông dân về quy định nâng phí tưới hàng năm; người dân địa phương chỉ phải trả về thủy lợi phí nông nghiệp tính theo lượng nước tưới sử dụng

Quản lý có sự tham gia và khai thác công trình thủy lợi của nhân dân được nâng cấp thông qua việc thực hiện các chính sách của Nhà nước về phân cấp quản lý, lập và chuyển giao các công trình thủy lợi quản lý và khai thác các nhóm sử dụng nước tại địa phương (WUG) WUG được hiểu rằng là một đơn vị nước dùng cho địa phương quản lý thủy lợi tạo thành một nhóm người sử dụng nước – qui mô nhỏ,

Trang 19

chẳng hạn như tưới tiêu Ban đầu, thành lập WUGs đã được tiến hành bởi chính quyền địa phương và Ban quản lý các dự án thủy lợi

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thủy lợi, người dân địa phương đã độc lập quản lý các công trình thủy lợi cho 2,4 triệu ha diện tích lúa, tương đương với 50% của hệ thống thủy lợi lớn được xây dựng và quản lý bởi các doanh nghiệp nhà nước kiểm soát

4.1.2 Thực hiện Quản lý Tưới có sự Tham gia

Tại An Giang, liên quan đến các chính sách địa phương trong thực hiện Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao, Bảng 2 liệt kê các quyết định của tỉnh và huyện trong tại tỉnh An Giang, Phú Tân, huyện Tân Châu Nhìn chung, quản lý dự án, phối hợp và các cơ quan giám sát và cơ chế đã được cấu trúc một cách hợp lý và thực hiện có hiệu quả Phương pháp tiếp cận có sự tham gia này đã giúp tăng cường quyền sở hữu của địa phương cũng như tạo ra lợi thế giao thương giữa các đối tác và cộng đồng địa phương Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao có sự tham gia các bên liên quan, các cơ quan chính quyền từ cấp tỉnh đến cấp xã; ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và nhân viên kỹ thuật thủy lợi; cộng đồng địa phương, các nhóm nông dân hợp tác xã và khác nhau; và khu vực tư nhân như các công ty xây dựng nước và đơn vị dịch vụ thủy lợi Hiện nay, các đề án cơ cấu tổ chức có thể thể hiện như trong hình 4

Bảng 2:Các quyết định chính thức liên quan trong tỉnh và huyện

12/9/2006, của Ủy ban Nhân

dân Tỉnh An Giang

Quyết định về việc Thành lập Ban Quản

lý Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao

17/05/2010, của Ủy ban Nhân

dân huyện Phú Tân

Ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của quản lý thủy lợi tiểu vùng Bắc Vàm Nao hệ thống ở huyện Phú Tân

Trang 20

Hình 4: Sơ đồ tổ chức của NVNWCP

Dựa vào sơ đồ cơ cấu tổ chức của NVNWCP như trong hình 4, có thể thấy rằng tỉnh và huyện, thông qua Ban Quản lý của NVNWCP, vẫn giữ một vai trò quan trọng trong việc quản lý công trình thủy lợi theo hướng ra quyết định từ “trên - xuống” Họ chủ động sắp xếp quy trình lịch vận hành mở/đóng cống (các cống chính trên các đê bao) Nông dân địa phương được phép tham gia vào việc quản lý nước một phần chỉ trong khu vực tiểu vùng của họ, như yêu cầu cấp và thoát nước theo tiếp cận từ dưới - lên Nông dân ký hợp đồng với Hợp tác xã Nông nghiệp phụ trách

về Thủy lợi để cung cấp nước tưới lấy từ các các kênh rạch thứ cấp và cống tiểu vùng Các chức năng và vai trò của từng bên liên quan trong được thể hiện trong Bảng 3

UBND

tỉnh An Giang

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Các Sở khác có liên quan

Đặt hàng

Đấu thầu hoặc tư vấn

nghiệp dịch vụ Tưới tiêu

- Tổ Hợp tác Dịch vụ Tưới tiêu

Trang 21

Bảng 3: Vai trò của các bên liên quan trong sơ đồ tổ chức của NVNWCP

chính sách quản lý nước công cộng

• Báo cáo với UBNN tỉnh AG

NVNWCP • Thực hiện quyết định của UBNN tỉnh AG về kiểm soát nước trong khu vực dự án

• Quản lý dự án và hoạt động thủy lợi theo lịch trình

và duy trì các công trình kiểm soát nước chính (cống chính và kênh rạch)

• Ký kết với Công ty Khai thác và Quản lý Công trình Thủy lợi cho xây dựng và hoạt động

• Kết hợp với BQL Tiểu vùng

• Vận hành và báo cáo tài chính đến Sở NN & PTNT

AG, các UBNN huyện và Phòng Ban khác

Quản lý Công trình

Thủy lợi của Tỉnh

• Là Doanh nghiệp Công Ích (thuộc quản lý của nhà nước) chuyên về xây dựng và vận hành các công trình thủy lợi để kiểm soát nước

• Vận hành lịch tưới theo chỉ đạo của Ban Quản lý NVNWCP

• Liên hệ với HTX cho nhu cầu tưới nội đồng

• Thanh toán tiền bơm nước với HTX

nghiệp về Dịch vụ

Tưới tiêu

• Là Doanh nghiệp Tư về dịch vụ thủy lợi

• Tiếp xúc với nông dân về tưới nội đồng

• Thu phí bơm nước từ nông dân

Trang 22

4.2 Bối cảnh và hiện trạng vùng nghiên cứu

4.2.1 Bối cảnh và tình hình của các nguồn tài nguyên nước và sông

Ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, cũng như tỉnh An Giang nói riêng, mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa trong năm Trong thời gian tháng 7 đến tháng 12, nước lũ từ sông Mekong kết hợp với lượng mưa lớn làm vùng trũng khó tiêu nước như Vàm Nao bị ngập úng suốt 4 tháng, ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất và đời sống Dòng chảy lũ lớn hơn dòng chảy mùa khô khoảng 25-30 lần (Hình 5) Trong thế kỷ 20, đồng bằng đã có 11 trận lũ rất lớn được ghi nhận là bằng hoặc cao hơn 4,50 m so với mực nước biển trung bình (MSL) tại mốc Hà Tiên (mức cao độ tham chiếu 0,00 m), trong năm 1904, 1923, 1937, 1961, 1966, 1978 , 1984, 1991, 1994, 1996, 2000 (Le Anh Tuan và cộng sự, 2008) Năm 2000, Đồng bằng Sông Cửu Long đã đối mặt với một trận lụt lịch sử cao, nặng nề như năm 1961 và mức lũ tàn phá lớn nhất trong 70 năm qua Trận lũ năm 2000 là cực lớn, không chỉ về mực nước và lưu lượng cao mà đỉnh lũ còn xuất hiện sớm hơn bình thường, khoảng 4-6 tuần (MRC, 2005) Đỉnh lũ năm 2000 cao hơn 19 cm và đến sớm hơn 12 ngày so với trận lũ năm 1996 (Hình 6) Sau cơn lũ lịch sử năm 2000, ĐBSCL có 3 trận lũ lớn, lũ năm 2001, 2002 và 2011 (Hình 7)

Hình 5: Tổng lượng nước theo tháng ở Tân Châu (S Tiền) và Châu Đốc (S Hậu)

Trang 23

Hình 6: Lưu lượng sông Mekong qua sông Vàm Nao (1996 – 2000)

Hình 7: Đỉnh lũ ghi nhận ở Trạm thuỷ văn Tân Châu (1926 – 2011)

(Các thanh màu đỏ chỉ những năm lũ lớn)

4.2.2 Cơ cấu quản lý cộng đồng về tài nguyên nước

Từ năm 2007, cơ cấu tổ chức của NVNWCP được sắp xếp như hình 8 Dưới sự lãnh đạo của Ban Quản lý Dự án, 24 Tiểu vùng được phân định dựa trên các kênh thủy lợi Mỗi đại diện vùng có trách nhiệm vận hành và bảo trì cơ sở hạ tầng thủy lợi

ở bên trong vùng của mình Văn phòng thường trực Ban quản lý dự án có trách nhiệm hợp đồng với các nhà thầu để xây dựng, vận hành và duy trì cơ sở hạ tầng của

dự án

Trang 24

Hình 8: Sắp xếp tổ chức cho quản lý dự án Khi nông dân có nhu cầu tưới tiêu, họ sẽ đề xuất với các khu vực BQL tiểu vùng (SrMB) Các SrMB sẽ chuyển yêu cầu này đến Ủy ban Nhân dân xã và Ban Quản

lý Dự án kiểm soát lũ Bắc Vàm Nao Dựa trên tất cả các yêu cầu, Ban Quản lý NVNWCP sẽ lập một lịch điều tiết nước và thông báo cho tất cả mọi người Sau đó, các SrMB sẽ đặt hàng và hợp đồng với các Hợp tác xã Nông nghiệp về Dịch vụ Thủy lợi (ACI) để thực hiện tưới tiêu cho nông dân Hợp tác xã Thủy lợi sẽ thu phí bơm nước trực tiếp từ nông dân Quá trình này được trình bày trong Hình 9 Chính quyền tỉnh và huyện và các thành viên SrMBs đã chấp nhận cấu trúc này mà không có bất

cứ đề nghị thay đổi Thông qua phỏng vấn nông dân (10 người), khoảng 90% người được phỏng vấn (5/6), như người sử dụng nước, nghĩ rằng cấu trúc này là hữu dụng

và thoả yêu cầu để duy trì chúng Những người khác, khoảng 10% người được phỏng vấn (1/10) cho rằng SrMBs không quá cần thiết

Ban Quản lý Dự án Bắc Vàm Nao (NVNWCP) (Ô Đỗ Vũ Hùng, trưởng ban) (Mr Do Vu Hung, Head)

VP Thường trực (Ô Viễn)

Nhà thầu (Cty Xây dựng

và Khai thác Thuỷ lợi)

Trang 25

Hình 9: Cấu trúc đặt hàng tưới của cộng đồng và thực hiện

4.3 Thực hiện PIM

4.3.1 Vận hành quản lý Tiểu vùng Bắc Vàm Nao

Trong giai đoạn thực hiện, dự án NVNWCP đã phát triển chiến lược quản lý nước có sự tham gia bằng cách thành lập 24 đơn vị Ban Quản lý Tiểu vùng (SrMB) dựa trên vùng thủy lợi thay vì địa giới hành chính (Hình 10) Diện tích của mỗi vùng SrMB trung bình khoảng 1.000 ha, tiểu vùng số 9 lớn nhất với diện tích nông nghiệp

là 2.528 ha và nhỏ nhất là tiểu vùng số 15 chỉ có 300 ha (Bảng 2) Các tiểu vùng thủy lợi được Ban Quản lý NVNWCP phân chia, không phải từ sự lựa chọn của nông dân Các cộng đồng tham gia vào dự án theo suốt quá trình khảo sát thiết kế, ý kiến của người dân về nhu cầu và mong đợi để giải quyết quản lý nước và các vấn đề ô nhiễm môi trường ở địa phương Thành viên trong SrMB được người dân địa phương bầu chọn cho mỗi nhiệm kỳ ba năm Người dân địa phương được khuyến khích để xem xét và bỏ phiếu cho ứng cử viên trên các tiêu chí:

NVNWCP

Kế hoạch Tưới

Đường đặt hàng Đường thông tin Đường thực hiện

Trang 26

Ban quản lý phải có trách nhiệm xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất của tiểu vùng, quản lý và bảo vệ đê bao, kênh và cống bao ngạn, giúp giải quyết các bất đồng có thể có giữa các hộ, và duy trì kết nối với các Ban quản lý NVNWCP Đầu năm

2007, một phần các thành viên của SrMB được chọn và một phần được bầu chọn Đến cuối năm 2008, tất cả các thành viên SrMB được bầu hoàn toàn bởi người dân địa phương trong các tiểu vùng Mỗi SrMB có 5 thành viên đại diện, phân công như sau: một trưởng ban, một phó ban, một là thư ký/ghi chép, một là kế toán và một là thủ quỹ Tuy nhiên trong thực tế, họ có thể chủ động uyển chuyển trong các vai trò của nhau trong quản lý các công trình của tiểu vùng Vấn đề thách thức lớn nhất đối với SrMB là diện tích khu vực tiểu vùng không bằng nhau nhưng BQL SrMB đều là 5 thành viên Họ không có đủ nguồn nhân lực, thời gian và năng lực để quản lý tốt đặc biệt các vùng có diện tích rất lớn

Trong thời gian hoạt động, một số tiểu vùng như TV 20 và TV 22, gặp khó khăn khi các công tác nạo vét kênh mương không tốt dẫn đến hiệu quả tưới tiêu kém

và vận chuyển trên sông bị hạn chế Khi phỏng vấn các thành viên SrMB của TV 20

và 22, họ cho biết một số ít nông dân trong tiểu vùng đã không đồng ý cho phép sử dụng đất của họ để xây dựng đường cộ chung Khi hỏi về chức năng của SrMB, nông dân ở TV 20, TV 22 và TV 23 nói rằng họ vẫn còn lẫn lộn về tổ chức và thậm chí họ không biết ai đang ở trong SrMB Họ không thấy mối quan hệ cụ thể giữa nhu cầu nước của họ và vai trò của SrMB Đây có thể là trong quá trình hình thành và hoạt động SrMB; họ không tích cực tham gia vào các cuộc họp, thảo luận và đề cử

Đối với hoạt động hành chính, SrMB được hỗ trợ tài chính qua các nguồn kinh phí từ Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Tân và phí thu được từ Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi và Hợp tác xã Nông nghiệp về tưới tiêu Trong các cuộc thảo luận của

Sở NN & PTNT tỉnh An Giang, họ nói rằng chi phí hỗ trợ là mức lương tượng trưng, như là chỉ có 2.500.000 đồng mỗi tháng cho cả 5 người Về nguyên tắc và quy định tài chính, lệ phí này là không chính thức Việc chi trả này đã trở thành một trong những vấn đề của dự án Trong tương lai, nông dân địa phương trong mỗi tiểu vùng phải tự chi trả phí này cho các thành viên trong SrMB Hầu hết người dân địa phương không muốn đóng góp lệ phí hỗ trợ này bởi vì họ phải trả nhiều loại phí hàng năm cho các hoạt động công cộng

Trang 27

Hình 10: Bản đồ vị trí 24 đơn vị tưới theo Tiểu vùng ở Bắc Bàm Nao

Trang 28

Bảng 4: Diện tích nông nghiệp của 24 đơn vị tưới theo Tiểu vùng ở Bắc Bàm Nao

Trang 29

4.3.2 Phân tích Giới trong Quản lý Tiểu vùng ở Bắc Vàm Nao

Trong Báo cáo Kết thúc Độc lập về Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao II (Edwin et al, 2007), phát biểu rằng "Suốt các tham vấn ban đầu ở Dự án Quản lý Nước Tưới IWMP (giai đoạn I - 2002-2004) đã có một nỗ lực để bảo đảm vấn đề bình đẳng giới trong các cuộc họp tham vấn cộng đồng; tuy nhiên, dữ liệu về phân tích- về giới cho các sử dụng tham vấn về sau không được biên tập trong các báo cáo dự án"

và "Khi dự án bắt đầu với một tập trung mạnh về giới, điều tìm thấy là, theo dòng thời gian, sự quan tâm đến bình đẳng giới trong tất cả các khía cạnh của dự án đã bị giảm sút" (tr 6 và tr 33)

Qua câu hỏi khảo sát, thực tế thấy rằng sự tham gia của phụ nữ trong quá trình ra quyết định về SrMB và NVNWCP từ cấp cộng đồng là rất thấp Trong hầu hết các tiểu vùng, người nam giữ vai trò quan trọng trong 23 tiều vùng SrMBs Phụ nữ chỉ tham gia vào các cuộc họp cộng đồng nhưng số lượng hạn chế (khoảng 5-10%)

Nói chung, vai trò của nam và nữ trong khu vực dự án không đồng đẳng trong các chiến lược và hành động của SrMB Rất khó cho phụ nữ để cạnh tranh với nam giới bởi vì có rất nhiều trở ngại trong định kiến nông thôn Hầu hết mọi người, thông qua phỏng vấn, cho rằng:

những người nam thực hiện chủ yếu Một số (22/27) 81% người được hỏi nghĩ rằng phụ nữ không có đủ hiểu biết, mạnh mẽ và kỹ năng để thực hiện các công việc này Chỉ có khoảng 19% (trong đó có 50% phụ nữ) cho rằng phụ nữ

có thể tham gia trong trường hợp có sự giúp đỡ và khuyến khích của chồng và/hoặc được tham gia các khóa học ngắn hạn mà họ sẽ sẵn sàng Một nửa số phụ nữ được phỏng vấn, họ không hiểu được vai trò của SrMB là do hạn chế

về trình độ văn hóa và khả năng tiếp cận Ngay cả khi phỏng vấn các phụ nữ trong Hội Phụ nữ huyện Tân Phú, 50% trong số họ đã không biết và không hiểu rõ về các hoạt động của SrMB bởi vì họ nghĩ rằng họ không quan tâm và một trong số họ là nhân viên mới tuyển

phòng Đặc biệt là ở các khu vực nông thôn, một số người chồng không cho phép vợ của họ làm việc bên ngoài; họ có định kiến là người phụ nữ đi ra đồng nhiều, đặc biệt nơi vắng vẻ, đôi khi được coi là không đứng đắn; tất cả (100%) cả nam giới và phụ nữ nói rằng phụ nữ gặp khó khăn trong di chuyển bằng xe gắn máy trong những con đường mòn nhỏ

• Phụ nữ ít chịu tham gia vào công việc liên quan đến công trình thủy lợi do đường đê trơn trợt và khó khăn đi lại trên các kênh rạch

Để khuyến khích phụ nữ tham gia vào công việc như thế, theo ý kiến của các SrMB, cần thiết có: (i) hỗ trợ kinh phí cho di chuyển vì đường đê rất khó đi; (ii) bố trí văn phòng làm việc cho phụ nữ; (iii) xác định một tỷ lệ phần trăm nhất định cho phụ

nữ tham gia quản lý thủy lợi

Trang 30

Đối với các nhà quản lý ở cấp tỉnh và huyện, những người được phỏng vấn cho nghiên cứu cơ bản này nhận rằng họ đánh giá cao sự tham gia của phụ nữ trong quản lý thủy lợi Điều này là tốt hơn nếu phụ nữ có tham gia đến quản lý tài nguyên nước, vì phụ nữ làm việc cẩn thận và chu đáo Phụ nữ giải quyết các vấn đề xung đột nước tốt hơn so với nam giới Họ nói rằng "Chúng tôi ủng hộ gia tăng số lượng phụ

nữ trong việc tham gia quản lý thủy lợi Mặt khác, phụ nữ nên thay đổi một phần trong cách suy nghĩ, thái độ và niềm tin của họ vào hoạt động cộng đồng" (Phỏng vấn tại các Tiểu vùng Số 20, 22 và 23 vào ngày 30 tháng năm 2015)

4.3.3 Bài học rút ra từ Quản lý Tiểu vùng Bắc Vàm Nao

lý dự án

• Nói chung, việc xây dựng và duy trì các NVNWCP và 24-SrMBs đã thu được nhiều kinh nghiệm đáng kể về khái niệm PIM Các bài học từ dự án có thể được áp dụng cho các hệ thống thủy lợi khác ở Đồng bằng Sông Cửu Long Về

lý thuyết, PIM đóng một vai trò quan trọng trong cách tiếp cận quản lý nước tổng hợp bằng cách thiết lập một cơ cấu quản trị có phân cấp, có sự tham gia

đa lĩnh vực và đa ngành

• Trước đây, sự quan tâm SrMB là không đủ trong cộng đồng Tuy nhiên, kể từ

8 năm qua, việc thực hiện PIM đã đáp ứng được các mục tiêu hoạt động và thành phần cần thiết cơ bản ở cấp độ tiểu vùng Hoạt động của PIM đã góp phần phục vụ sản xuất nông nghiệp của địa phương cũng như gắn liền với giảm nghèo trong vùng dự án thông qua việc tăng lượng sản xuất nông nghiệp Dự án đã giới thiệu việc nâng cao nhận thức về phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường và quản lý hệ thống thủy lợi

• Thoạt đầu, các thành viên trong SrMB tham gia với tinh thần tự nguyện và phi lợi nhuận Hầu hết trong số họ có trình độ học vấn tiểu học và trung học Một

số trong họ đã có tuổi cao Họ thiếu kiến thức và kỹ năng quản lý nước, do vậy

họ đã bối rối trong công việc (ví dụ, họ không biết xác định nhu cầu nước, làm thế nào để có nước tưới thường xuyên từ hệ thống tưới tiêu cho toàn bộ các cánh đồng lúa khác nhau, v.v ) Nhờ có một số các khóa học đào tạo ngắn hạn do NVNWCP tổ chức, kỹ năng của họ đã được cải thiện và họ có thể quản

lý công việc tốt hơn trước

• Trong một số trường hợp, thông tin về lịch tưới tiêu đã không được chia sẻ tốt đến tất cả nông dân địa phương Một số nông dân đã tự bơm nước vào ruộng của họ mà không có bất kỳ thỏa thuận với các hợp tác xã nông nghiệp

• Trong tiểu vùng 23, các thành viên SrMB đã không làm việc tốt: một số công trình thủy lợi (kênh mương, cống) đã không được sửa chữa và nạo vét trong thời gian như mong muốn của nông dân Một số thành viên SrBM trong TV

Trang 31

11 không tạo được sự tín nhiệm của người nông dân và chưa đại diện cho lợi ích chung của nhân dân; TV số 20, số 22, số 10 thiếu hệ thống hạ tầng để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân; ở TV số 20, 22, một số kênh rạch không được nạo vét do đó tưới và tiêu không ổn định và thiếu hiệu quả Trong thực

tế, một số thành viên trong SrMB đã có bất đồng trong quản lý Chẳng hạn như, họ không thoả thuận nhau được về nhu cầu nước tưới cho mỗi vùng cũng như thời gian cần nước và lượng nước tưới cho các ruộng lúa khác nhau, v.v…

• Một bài học quan trọng từ quan ngại của SrMB là việc hỗ trợ tài chính cho các thành viên SrMB Hiện nay, chính quyền tỉnh An Giang trả có thể khoảng 2,5 triệu đồng mỗi tháng cho các thành viên (5 người) cho mỗi SrMB Một khó khăn của SrMB là chế độ thanh toán không chính thức cho các thành viên Trong tương lai, phụ cấp này dự kiến sẽ có từ đóng góp bởi các hộ địa phương trong tiểu vùng

• Cơ cấu về giới vẫn còn bất bình đẳng, hầu hết các thành viên SrMB là nam giới, tiếng nói của phụ nữ trong quản lý nước là yếu ớt và hiếm hoi

• Không phải tất cả nông dân hiểu được chức năng và vai trò của SrBM, vì vậy trong một số trường hợp sự hợp tác giữa các thành viên SrMB và người sử dụng nước không được tốt như mong đợi

• Cần thiết phải nâng cao nhận thức và cải thiện năng lực cho nông dân nghèo

và rất nghèo vào các chính sách và thực tiễn PIM

4.3.5 Phân tích SWOT cho việc thành lập một SrMB mới ở xã Tân Hoà

SWOT analysis is applied for a general quick look to a proposed new 25th

SrMB for Tan Hoa Commune and Hau Giang 1 Commune – located outside and nearby of NVNWCP (Bảng 3) This SWOT gathered from field work, secondary data and discussion with An Giang provincial DARD authorities and the research team

Áp dụng phân tích SWOT để có một cái nhìn nhanh tổng quát cho việc dự kiến thành lập một ban Quản lý Tiểu vùng mới thứ 25 ở xã Tân Hòa, xã Hậu Giang 1 (Bảng 3) SWOT này được thu thập từ công việc thực địa, dữ liệu thứ cấp và thảo luận với chính quyền Sở NN & PTNT tỉnh An Giang và nhóm nghiên cứu

Ngày đăng: 13/09/2015, 17:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Một số dự án thuỷ lợi ở Đồng bằng Sông Cửu Long - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Hình 1 Một số dự án thuỷ lợi ở Đồng bằng Sông Cửu Long (Trang 11)
Hình 2: Vị trí của Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao ở An Giang - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Hình 2 Vị trí của Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao ở An Giang (Trang 12)
Hình 3: Giới hạn biên của Dự án thuỷ lợi Ô Môn – Xà No - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Hình 3 Giới hạn biên của Dự án thuỷ lợi Ô Môn – Xà No (Trang 14)
Bảng 1: Khác biệt cơ bản giữa Bắc Vàm Nao và Ô Môn – Xà No - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Bảng 1 Khác biệt cơ bản giữa Bắc Vàm Nao và Ô Môn – Xà No (Trang 14)
Hình 4: Sơ đồ tổ chức của NVNWCP - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Hình 4 Sơ đồ tổ chức của NVNWCP (Trang 20)
Bảng 3: Vai trò của các bên liên quan trong sơ đồ tổ chức của NVNWCP - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Bảng 3 Vai trò của các bên liên quan trong sơ đồ tổ chức của NVNWCP (Trang 21)
Hình 5: Tổng lượng nước theo tháng ở Tân Châu (S. Tiền) và Châu Đốc (S. Hậu) - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Hình 5 Tổng lượng nước theo tháng ở Tân Châu (S. Tiền) và Châu Đốc (S. Hậu) (Trang 22)
Hình 8: Sắp xếp tổ chức cho quản lý dự án - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Hình 8 Sắp xếp tổ chức cho quản lý dự án (Trang 24)
Hình 9: Cấu trúc đặt hàng tưới của cộng đồng và thực hiện - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Hình 9 Cấu trúc đặt hàng tưới của cộng đồng và thực hiện (Trang 25)
Hình 10: Bản đồ vị trí 24 đơn vị tưới theo Tiểu vùng ở Bắc Bàm Nao - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Hình 10 Bản đồ vị trí 24 đơn vị tưới theo Tiểu vùng ở Bắc Bàm Nao (Trang 27)
Bảng 4: Diện tích nông nghiệp của 24 đơn vị tưới theo Tiểu vùng ở Bắc Bàm Nao - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Bảng 4 Diện tích nông nghiệp của 24 đơn vị tưới theo Tiểu vùng ở Bắc Bàm Nao (Trang 28)
Bảng 6: Sở hữu / tiếp cận các nguồn ở Mỹ Hoà - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Bảng 6 Sở hữu / tiếp cận các nguồn ở Mỹ Hoà (Trang 34)
Bảng 10: Phân bố lao động trong các hộ ở Hậu Giang - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Bảng 10 Phân bố lao động trong các hộ ở Hậu Giang (Trang 36)
Bảng 9: Sở hữu/tiếp cận các nguồn ở Hậu Giang 1 - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Bảng 9 Sở hữu/tiếp cận các nguồn ở Hậu Giang 1 (Trang 36)
Bảng 11: Tiến trình quyết định trong gia đình ở Hậu Giang 1 - Nghiên cứu cơ sở cho dự án quản lý nước dựa vào cộng đồng (CWMPs)
Bảng 11 Tiến trình quyết định trong gia đình ở Hậu Giang 1 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm