Bài thuyết trình này có thể tham khảo giúp làm các bạn học tốt hơn. Đây là những câu hỏi được lọc ra, các bạn cần thêm vài cái ví dụ thực tiễn nữa nếu không sẽ không đạt hiệu quả, chúc các bạn học tật tốt.
Trang 1CHÀO MỪNG THẦY VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI BÀI THUYẾT TRÌNH
CỦA NHÓM 7
Trang 2Học phần: Địa Lý Tự Nhiên Việt Nam 2
Đề tài
KHU ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
KHU TÂY NAM BỘ
Trang 3NỘI DUNG TRÌNH BÀY
Trang 4ĐB Bắc Bộ
ĐB Bắc Bộ
đồi có cấu tạo cacxtơ đá
vôi dọc hai cánh Tây Nam
Trang 5ĐB Bắc Bộ
ĐB Bắc Bộ
Trang 6I Khu đồng bằng Bắc Bộ
*Vị trí - Giới hạn:
- Toạ độ địa lí: 220 – 21030'B
và 105030' – 1070 Đ, nằm ở phía Nam của đường chí tuyến Bắc
- Phía Đông Bắc: Giáp khu Đông Bắc
- Phía Tây Bắc: Giáp khu Việt Bắc
- Phía Tây: Giáp khu Hòa Bình – Thanh Hóa
- Phía Đông Nam: Giáp Vịnh Bắc Bộ
- Phía Nam: Giáp Bắc Trung Bộ
Trang 8ồn g
Sôn g T
hái Bìn
h
Trang 9- Ven rìa đồng băng như vùng Hải Phòng – Hà Bắc (Ở phía bắc sông Thái Bình) và xuống vùng Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh (Ở phía nam sông Hồng): + Có các đồi sót: Đồi Kiến An,
Đồ Sơn, đồi Yên Dũng, đồi Quốc Oai, đồi Gia Viễn,
+ Là di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới.
+ Có đá trồi lên ở nhiều nơi
Chứng tỏ tại những nơi đó cường độ sụt võng không đáng
kể
=> Lớp phù sa Đệ tứ có nơi chỉ dày chừng vài mét (dày nhất cũng chỉ vài chục mét).
Trang 10- Có sự tồn tại của một dải đồng bằng thềm phù sa cổ
chạy suốt từ Trung Hà đến
Mỹ Đức: Dài khoảng 60km, rộng 5 – 6km, nằm cao hơn đồng bằng phù sa mới từ 5 -15m
=> Cũng có thể ở đầu kỷ Đệ
tứ, rìa phía tây nam đồng bằng không những không tiếp tục sụt võng mà còn bị lôi cuốn vào vận động nâng lên của rìa núi
Trang 11Hiện nay quá trình sụt võng vẫn tiếp tục nhưng rất yếu.
Þ Xảy ra 1 hiện tượng mâu thuẫn: Đó là 1 mặt nền đồng bằng vẫn tiếp tục lún xuống, mặt khác đồng bằng vẫn mỗi ngày mỗi phát triển, lấn thêm ra biển (Do khả năng bồi đắp phù
Trang 122 Địa hình
- Thấp dần từ tây bắc xuống đông nam : Từ độ cao
10 – 15m giảm dần đến độ cao mặt biển Nhưng không phải độ dốc nghiêng ấy diễn ra đều đặn
Vd: Ở Phủ Lang Thương cách biển trên 100km mà có nơi chỉ cao 1,7m Trái lại ở ngay bờ biển có những cồn cát cao tới 4 – 5m
• Ngoài ra hai bên bờ sông Hồng và sông nhánh thường có các sống đất do nước lũ bồi đắp chảy dài theo dọc sông, có khi cao tới 15m, rộng tới vài trăm mét, dốc đứng về phía lòng sông và thoai thoải về phía bãi bồi châu thổ
(Độ cao của sống đất tương ứng với mực nước lũ => Cũng giảm dần từ đỉnh châu thổ về phía biển)
• Đến biển sống đất không còn nữa vì mực nước sông hầu như không thay đổi
Trang 13- Địa hình bị ngăn thành ô:
+ Có những ô hoàn toàn đóng kín: Ô Hà Đông (Nằm giữa các sống đất ở hữu ngạn sông Hồng, tả ngạn sông Đáy và sông Phủ Lý) hoặc ô Vĩnh Phú (Nằm giữa sống đất tả ngạn sông Hồng và chân núi Tam Đảo)
+ Có ô thì trống 1 mặt: Ô Kẻ Sặt (trong hệ thống Bắc Hưng Hải),
+ Ô nhân tạo: Ô Vĩnh Bảo, ô Tiên Lãng, ô An Dương (Kiến An) Hình thành do con người quai đê ngăn nước mặn, nước lũ
Þ Châu thổ Bắc Bộ bồi đắp không đều
Nhiều nơi còn rất trũng do không được
bồi đắp (Vd: Phía đông Hải Hưng có
nơi chỉ cao 0,3m) Còn phù sa vận
chuyển ra biển đã phát triển nhanh
vùng cửa sông
Ô H
à Đ ôn
g
Ô
Kẻ Sặt
Kiến An
Trang 14- Dọc theo bờ biển: Từ Hải
được cải tạo thành ruộng lúa).
+ Hướng của các dải cồn hơi
chếch về phía tây => Chứng tỏ,
càng về phía nam châu thổ
càng tiến nhanh ra biển (nhất là
vùng cửa sông Hồng và chi
lưu)
Hải Phòng
Trang 153 Khí hậu
- Vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa
- Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,5 - 23,5 0C
- Lượng mưa trung bình năm: 1400 - 2000mm.
- Mùa đông: Lạnh (3 tháng dưới 180) Thích hợp với 1 số cây ưa lạnh: Khoai tây, bắp cải,
- Mùa hè: Nồng, t0 tb tháng nóng nhất trên 250C.
- Mùa mưa: Mưa vào hạ - thu từ tháng V đến tháng X (tháng mưa cực đai là tháng VIII).
- Mùa khô: Dài 3 tháng, không có tháng hạn.
Có sự phân hóa tùy theo từng địa phương và cũng
có sự biến động thất thường năm này qua năm khác
Trang 16Bắp cải
Khoai tây
Trang 17*Sự phân hóa khí hậu về mặt không gian chủ yếu do ảnh hưởng của biển.
- Các tỉnh ven biển từ Hải Phòng đến Ninh Bình
+ Có mùa đông ngắn đi 1 tháng (có 2 tháng dưới 180)
+ Có mùa xuân dài ra và ẩm (Do mưa phùn tăng lên)
+ Trong mùa khô: Ở các vùng giáp rìa núi phía bắc tính chất khô được tăng thêm (Vì gió mùa đông bắc thổi xuống đồng bằng với có thêm hiệu ứng “phơn”)
Vd: Hà Bắc và Đông Triều mùa khô có thể kéo dài 4 – 5 tháng, trong đó có cả tháng hạn Trái lại, nơi giáp rìa tây nam chắn gió lượng mưa được tăng lên 1 ít như ở Hà Sơn Bình
Trang 18*Mùa đông: Có thể bắt đầu từ hạ tuần tháng XI (22/XI): Thời tiết rét, trong đó có lạnh và ấm xen kẻ, ngoài ra có những nơi rất rét, t0 tb ngày dưới 150C
*Bảng số liệu: Thể hiện tần suất 1 số thời tiết tại Hà Nội trong mùa đông
Điều kiện bất lợi Thời vụ không ổn định Hạn chế sự sinh trưởng của 1 số loài ôn đới, năng suất không ổn định,…
Trang 19- Từ cuối tháng II (20-II) hoặc đầu tháng III (7-III) đã sang xuân, trời ấm áp, thời tiết không còn rét dưới 150C mà đã ấm trên 200C, đã lên đến tần suất 40% trong tháng III và 60% trong tháng IV.
=> Thời tiết ẩm rất thuận lợi cho cây cỏ, lúa chiêm và lúa xuân phát triển nhưng bất lợi cho người và gia súc.
Lúa chiêm
Trang 20*Mùa hạ: Có thể đến từ tháng IV, sớm nhất vào thượng tuần (6 – IV), muộn nhất vào hạ tuần (21 – IV)
Þ Đây là mùa quan trọng nhất vì mùa này kéo dài và đồng
thời lại là mùa mưa
- Thời tiết đặc trưng: Nóng trên 250C, có mưa rào và mưa dông, đồng thời ngày dài đến 13 – 13g30 => Đây là mùa mà cây cỏ nhiệt đới phát triển nhanh chóng.
Ảnh hưởng của thời tiết:
+ Mưa kéo dài Gây lũ lụt, ngập úng.
+ Bão kèm theo gió to, mưa lớn Khó khăn cho sản xuất và đời sống, thiệt hại về người và của.
+ Thời tiết nóng khô kiểu gió Lào kéo dài Khó khăn cho sản xuất,
Trang 21Mưa lớn, kéo dài
Ngập úng, lũ lụt
Trang 22*Mùa thu:
- Bắt đầu xuất hiện khi thời tiết dưới 200C Đến sớm nhất vào đầu tháng X và chậm nhất vào cuối tháng X (8 -23/X).
- Trời mát (Nhất là về đêm).
- Ngày ngắn dần.
- Trời quang mây, trong sáng, có thể khô hanh kéo dài liên tục nhiều ngày.
Trang 233 Thủy văn
- Mạng lưới sông ngòi: Dày đặc, bao gồm hạ lưu các sông lớn với các chi lưu.
- Dòng sông uốn khúc quanh co và có nhiều chi lưu đã đổ ra biển nhanh chóng qua nhiều cửa.
Trang 24- Mật độ lưới sông tự nhiên: Khoảng 0,5 – 1,0km/𝑘𝑚2 + Vùng tam giác châu mật độ tăng lên tới 1,3km/𝑘𝑚2 + ĐB sông Hồng: Mật độ giảm xuống 0,5 – 0,8km /𝑘𝑚2
+ ĐB sông Thái Bình: 0,6 – 0,9km/𝑘𝑚2.
- Độ dốc chung của sông ngòi: Rất nhỏ, chỉ 2-5cm/km.
Trang 26Cửa Trà Lý
Trang 27Cửa Ba Lạt
Trang 28Cửa Nam Triệu
Trang 29*Mùa lũ của các sông khớp với mùa mưa, từ tháng V đến tháng X
- Tại Hà Nội, lũ có thể lên tới 3m/ngày
- Mùa Lũ sông Hồng chiếm 72,5% tổng lượng nước cả năm.
- Lũ sông Hồng thất thường có năm sớm, năm muộn, có năm to, năm nhỏ Ngoài ra còn có lũ sông Đà (50-55%), lũ sông Lô ( 20- 25%), lũ sông Thao ( 20-25%).
- Lũ sông Hồng được giảm nhẹ phần nào nhờ vai trò phân lũ của các sông Đáy, sông Đuống, sông Luộc, sông Nam Định.
*Mùa cạn từ tháng XI đến tháng IV, cạn nhất là tháng III ( chiếm 26% tổng lượng nước cả năm).
Trang 30Lũ sông Hồng
Trang 31Lũ sông Thao
Trang 32- Hằng năm sông Hồng chuyển sang hệ thống sông Thái Bình tới 32,6% tổng lượng nước ở Sơn Tây và khoảng 17 triệu tấn phù sa vì thế thủy chế sông Thái Bình phụ thuộc vào sông Hồng.
- Những con sông nội địa đều là sông nhỏ, ngắn, nằm trong phạm vi riêng biệt của mỗi ô.
- Vào mùa mưa, nước sông nội địa lên cao nên không tiêu nước được cho mấy đồng bằng đang bị úng, mực nước sông nhiều khi băng mực nước úng trong đồng.
Trang 33Đồng bằng bị ngập úng
Trang 34- Các sông nội địa không có khả năng bồi đắp, hàm lượng không đáng kể như: Sông Nhuệ ( Hà Đông), sông ngũ huyện Khê ( Bắc Ninh), sông Côn ( Sơn Tây), Sông Tứ
Ký, Sông Sặc, sông Lực Điền ( Bắc Hưng Hải).
- Trong lòng đồng bằng có rất nhiều hồ, ao mà nguồn gốc chính là các dòng chết, các hồ nhân tạo do nhân dân đào khi vượt đất xây dựng nhà cửa, vườn tược.
Trang 35Sông Côn ( Sơn Tây)
Trang 36Sông Ngũ Huyện Khuê ( Bắc Ninh)
Trang 38- Lớp phủ thổ nhưỡng đồng bằng đều là đất bồi
tụ phù sa đệ tứ
( Trừ các đồi sót đá gốc)
- Đất phù sa: Chiếm diện tích lớn toàn vùng, khoảng 130.000 ha (Trong đó đất phù sa sông Hồng chiếm 75%) Thích hợp với cây công nghiệp ngắn ngày ( mía, đay…) và cây lương thực - thực phẩm
( đổ, lạc, vừng…)
Trang 40- Vùng ven biển có đất mặn chua,
tập trung nhiều nhất ở trên sông Thái Bình
thuộc Hải Phòng, diện tích tổng cộng
khoảng 30.000 ha Đất bị glay mạnh,
trên mặt đất có váng màu sắc dỉ, phản ứng rất chua, nhiều muối sunfat
- Ngoài đê biển là một dải đất mặn sú vẹt, diện tích khoảng 16.000 ha, tập trung tại Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nam
- Nồng độ muối cao, lượng muối tan có thể đến 1,0 - 4.0%
Trang 41Đất mặn chua
Trang 42- Dải đất bạc màu (Ở Hà Tây): Tuổi già hơn phù sa mới còn được gọi là phù sa cũ, diện tích khoảng 100.000 ha.
=> Đất bạc màu là do quá trình rửa trôi diễn ra từ lâu, được
sử dụng đất canh tác bất hợp lí từ lâu đời Nếu được cải tạo ( bón phân xanh, phân chuồng, sét và bùn ao) thì đất bạc màu vẫn cho năng suất cao.
Trang 44- Thực vật tự nhiên trong đồng bằng bị tàn phá gần hết Chủ yếu là cây trồng từ cây nông nghiệp đến cây phòng hộ, cây lấy bóng mát, cây ăn quả.
- Cây lương thực chiếm 95% diện tích gieo trồng, còn lại là cây công nghiệp ngắn ngày.
- Một số cây công nghiệp trồng tập trung, quy mô lớn: Đay (90% trên miền Bắc), dâu tằm (70 – 75%), cói (70%).
- Đồng bằng Bắc bộ cũng là nơi trồng nhiều rau nhất, diện tích trồng rau đến 50.000 ha tập trung ven các thành phố lớn.
Trang 45Cây lúa
Trang 46Dâu tằm
Trang 47Cây cói
Trang 48- Động vật hoang dại không còn là mấy; phổ biến: Chim ăn ngũ cốc, các loài ngậm nhấm mà nhiều nhất là chuột.
- Hàng năm chim, chuột, sâu bọ gây tổn thất đến 20% tổng sản lượng nông nghiệp
- Động vật dưới nước tương đối phong phú: Cá, tôm, cua, ốc (Cả trong đồng lẫn ngoài biển) Riêng sông Hồng hàng năm khai thác tới 1270 tấn cá
Trang 49Chuột
Trang 50Khai thác cá.
Trang 515 Phương hướng sử dụng tự nhiên về mặt kinh tế
- Tại các đô thi: Phát triển nhiều ngành công nghiệp: Cơ khí, chế biến nông sản, sản xuất hàng tiêu dùng,…
- Có triển vọng về dầu mỏ và khí đốt Gía trị kinh tế nâng cao hơn
*Khó khăn: Trong việc chế ngự lũ sông Hồng, chế ngự sóng biển và thời tiết khô hạn
*Biện pháp: Làm công tác thủy lợi, cải tạo các loại đất xấu
Trang 52II Khu Tây Nam Bộ (Đồng bằng Sông Cửu Long)
- Tây nam bộ với gần
hơn 20 triệu dân
1 Đặc điểm chung
Lược đồ tự nhiên vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trang 531 Đặc điểm chung
- Khu Tây Nam Bộ có lịch sử rất trẻ Trẻ cả tuổi địa chất lẫn tuổi khai thác kinh tế so với các khu tự nhiên khác của Việt Nam
- Toàn bộ nằm trong miền đất thấp, sụt lún mạnh và rất điều hòa
- Cách đây khoảng 4500 năm biển vẫn vào tận Đồng Tháp Mười,
và châu thổ sông Cửu Long vẫn bị ngập tới 4m nước Khoảng
2000 năm sau, mực nước biển chỉ cao hơn hiện nay 2m, mực nước biển rút và sự bồi lắng phù sa của Mê Công rất nhanh và đồng bằng đã có độ cao trung bình khoảng 2m
- Hiện nay châu thổ vẫn tiếp tục mở rộng về phía Tây Nam (Mũi
Cà Mau) khoảng 60 - 80m/năm, tương đương với 200ha/năm
- Hàng năm nước lũ vẫn tràn bờ làm ngập khoảng trên 1 triệu ha
và khi nước rút để lại 1 lượng phù sa lớn bồi lấp tiếp các vùng trũng trong lòng đồng bằng
Trang 54*Vị trí địa lý:
- Tây Nam Bộ (ĐBSCL)
có vị trí như một bán đảo
với 3 mặt Đông, Nam và
Tây Nam giáp biển (có
đường bờ biển dài
700km)
- Phía Đông Bắc: Giáp
với Đông Nam Bộ
- Phía Bắc: Giáp với
Vịnh Thái Lan
Trang 5512 Bạc Liêu
13 Cà Mau
Trang 572 Địa chất- Địa hình
- Khu Tây Nam Bộ có nền địa chất là các lớp trầm tích Tân sinh chồng gối lên vùng trũng cổ sinh.
- Địa hình thấp và bằng phẳng ( Nó là đồng bằng thấp nhất trong số các đồng bằng châu thổ ở nước ta)
- Gần đây phần Bắc đồng bằng sông Cửu Long (Tức vùng Đồng Tháp Mười và dọc sông Tiền) đang có
xu hướng nâng lên trong khi đó vùng Tứ Giác Long Xuyên đang có xu hướng lún xuống.
Hệ quả của việc này là vùng Đồng Tháp Mười
có xu hướng cạn khô và nước sông Tiền dồn nhiều hơn sang sông Hậu qua sông Vàm Nao.
Trang 583 Khí hậu
- Khu vực ĐB sông Cửu Long có khí hậu gió mùa xích đạo.
- Tổng lượng bức xạ hằng năm cao đạt khoảng 150 đến 160kcal//năm phân bố gần như đồng đều quanh năm
độ ngày - đêm khá lớn và có sự khác biệt rõ rệt giữa hai mùa khô và mùa mưa
5nơi nhỏ nhất chỉ 2( Trà Vinh)
- Biên độ nhiệt ngày lên tới 12 ( tháng XII),
có khi tới 14( tháng IV-V)
Thời tiết tương đối mát về đêm và
sáng sớm => Phát triển cây lương thực, hoa quả,…
•
Trang 59- Từ tháng XII – VI: Là mùa gió tín phong Dưới chế độ cao áp chí tuyến bền vững với luồng gió đông nhiệt đới Thời tiết ổn định, ít mưa, quang mây và có độ ẩm tương đối thấp.
+ Lượng mưa: Nhỏ hơn lượng bốc hơi
+ Lượng mây: Trên dưới 5,0
+ Độ ẩm: Khoảng 74 – 77%
+ Số ngày mưa trong tháng: 1 – 5 ngày
- Từ tháng I – III: Thời kì khô hạn (nhất là tháng II)
+ Cuối mùa khô đầu mùa mưa: Trời ít mây, ít mưa, mặt trời lên thiên đỉnh ở Nam Bộ Nhiệt cao nhất trong năm
- Tháng V: Thời tiết thay đổi đột ngột:
+ Lượng mây: tăng lên 7,0 – 8,0
+ Độ ẩm: Khoảng 84 – 87%
+ Lương mưa: Tăng vọt, nhiều nơi trên 200mm
+ Số ngày mưa: 17 – 23 ngày
Trang 60- Tháng V – XI: Mùa mưa (Cực đại tháng VII – IX).
+ Mây, mưa: Nhiều, thường là những cơn mưa rào Xích Đạo
Trời mau tạnh ráo, ẩm ướt không kéo dài):
• Mưa lớn nhất thường trên 2000 mm nằm phía tây nam châu thổ
• Nơi ít nhất: Dưới 1500mm, đồng thời khô cũng dài nhất ( Tới 5 tháng) nằm ở phía Bắc Hậu Giang
+ Nhiệt độ: Giảm xuống
+ Cuối mùa mưa, bão có thể đổ bộ nhưng ít tác hại vì bão cuối mùa
có sức tương đối yếu
Chế độ mưa thất thường, mưa nhiều Gây lũ và tăng diện tích ngập úng
Lược đồ phân bố khí hậu vùng ĐBSCL
Trang 61Tóm lại, đồng bằng sông Cửu Long có
điều kiện tự nhiên, đất đai và khí hậu rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt cho sản xuất lúa gạo
Trang 62- Sông ngòi dày đặc, kênh rach chằng chịt.
4 Thủy văn
Hệ thống kênh rạch
Sông Ngòi
Trang 63- Gần đây phần Bắc đồng bằng sông Cửu Long (Tức vùng Đồng Tháp Mười và dọc sông Tiền) đang có
xu hướng nâng lên trong khi đó vùng Tứ Giác Long Xuyên đang có xu hướng lún xuống
- Hệ quả của việc này
là vùng Đồng Tháp Mười có xu hướng cạn khô và nước sông Tiền dồn nhiều hơn sang sông Hậu qua sông Vàm Nao
Trang 64- Thủy chế sông Mê Công quyết định nhịp điệu canh tác và sinh hoạt của nhân dân vùng đông bằng châu thổ này.
- Lũ sông Mê Công khá điều hòa, nước lên từ từ và đạt cực đại vào tháng 9,10 và sau đó rút và cạn nhất vào tháng 4.
Trang 65- Lũ lớn, nước ngập trên diện rộng (Sâu nhất trên 3m), lượng nước dư thừa trên 30 - 40 tỉ
m3 Ngược lại vào mùa khô lại thiếu nước tưới tiêu
Việc sống chung với lũ và khai thác có hiệu quả đồng bằng sông Cửu Long đang đặt ra một cách cấp bách
Trang 66*Đất đai : Do là đồng bằng phù sa mới, chịu ảnh hưởng mạnh của nước và chế độ lũ lụt thường xuyên nên đất đai ở đồng bằng sông Cửu Long rất phức tạp.
- Diện tích đất trong vùng bao gồm các nhóm đất sau:
+ Nhóm đất phèn:
- Phân bố: Vùng Đồng Tháp Mười và Hà Tiên, vùng trũng trung tâm bản đảo Cà Mau.
- Diện tích: 1,2 triệu ha chiếm 40% diện tích toàn vùng
- Đặc điển: Hàm lượng độc tố cao, tính chất cơ lý yếu, nứt nẻ nhanh.
5 Thổ nhưỡng và sinh vật