1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng

104 3,8K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 524 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ TÂM

ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ TÌNH YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI,

SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA VÀ VẬN DỤNG VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN

TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT

VĨNH PHÚC HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội-2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ TÂM

ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ TÌNH YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI,

SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA VÀ VẬN DỤNG VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT

Trang 3

Hà Nội-2014

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố qua bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào.

Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2014

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Tâm

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ về nhiều mặt của các thầy cô giáo, bạn bè và người thân.

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo – PGS.TS Phạm Ngọc Anh - người hướng dẫn khoa học - đã tận tình hướng dẫn tôi phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Các lãnh đạo, quản lý cùng các thầy, cô giáo trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, cũng như trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và là nguồn động viên tinh thần cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn.

Xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Tâm

Trang 6

M C L CỤC LỤC ỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tổng quan nghiên cứu 4

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp mới của luận văn 8

7 Kết cấu luận văn 8

CHƯƠNG 1: ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ TÌNH YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI, SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA 9

1.1 Các khái niệm 9

1.1.1 Khái niệm đạo đức 9

1.1.2 Đạo đức cách mạng 13

1.1.3 Đạo đức Hồ Chí Minh 16

1.2 Cơ sở hình thành đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa 18

1.2.1 Các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam 19

1.2.2 Các giá trị văn hóa của nhân loại 33

1.2.3 Chủ nghĩa nhân văn Mác – Lênin 39

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa 42 1.3.1 Yêu thương tất cả mọi người 42

1.3.2 Tin tưởng vào phẩm chất tốt đẹp của con người 44

1.3.3 Đấu tranh để giải phóng con người, thoát khỏi áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu 47

1.3.4 Tình yêu thương trong Hồ Chí Minh còn là lòng nhân ái, vị tha, khoan dung nhân hậu, hết mực vì con người 49

1.4 Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa 51

Trang 7

1.4.1 Hồ Chí Minh – tấm gương về yêu thương, quý trọng con người 52

1.4.2 Hồ Chí Minh – tấm gương đạo đức sống có tình nghĩa 54

CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI, SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT VĨNH PHÚC HIỆN NAY 58

2.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa cho sinh viên hiện nay 58

2.1.1 Những đặc điểm của thời đại hiện nay đối với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên 58

2.1.2 Những yêu cầu đặt ra 64

2.2 Thực trạng giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa cho sinh viên trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc từ 2007 đến nay 67

2.2.1 Đặc điểm chung của sinh viên trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc 67

2.2.2 Thực trạng tình hình giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa 70

2.3 Phương hướng và giải pháp giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa cho sinh viên trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc hiện nay dưới ánh sáng đạo đức Hồ Chí Minh 82

2.3.1 Phương hướng 82

2.3.2 Những giải pháp chủ yếu 85

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống quan điểm về đạo đức cáchmạng và tấm gương đạo đức của Người, chứa đựng nhiều giá trị bền vững, ổnđịnh Trong đó, tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa ở Hồ Chí Minh

là một nét sáng về đạo đức, hàm chứa giá trị nhân văn cao đẹp, có ảnh hưởngđến sự hình thành nhân cách con người Việt Nam Những giá trị đó rất cầnđược nghiên cứu kỹ, theo chiều sâu để giáo dục cho thế hệ trẻ, nhất là thanhniên – sinh viên

Trong “Thư gửi thanh niên và nhi đồng Toàn quốc nhân dịp Tết

Nguyên Đán năm 1946”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Một năm khởi đầu

từ mùa Xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa Xuân của xã hội”.Tuổi trẻ là sức mạnh, là công cụ tạo động lực cho sự phát triển của đất nước

Và trong đó, sinh viên là một lực lượng hùng hậu có vai trò quan trọng Sinhviên là lực lượng xã hội đặc thù - họ là những trí thức tương lai của đất nước,đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đặcbiệt, sinh viên hiện nay sinh ra và lớn lên trong môi trường công nghệ thôngtin phát triển mạnh mẽ và xu thế hội nhập quốc tế Trong đó, sinh viên ViệtNam hiện nay là lớp người chịu nhiều ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực

từ những biến đổi của đất nước và thế giới Sinh viên Việt Nam mang nhữngđặc điểm riêng ngoài các đặc điểm chung của người Việt Nam Đó là: trẻ,năng động sáng tạo, có tri thức, dễ tiếp thu cái mới, nhạy cảm với các vấn đềchính trị xã hội, dễ thích nghi, luôn muốn được tự khẳng định mình trước mọingười Nhưng nói chung đại bộ phận sinh viên Việt Nam phát huy đượcnhững ưu điểm và truyền thống tốt đẹp của các thế hệ sinh viên đi trước, thiđua học tập, rèn luyện, tiếp thu tiến bộ khoa học, công nghệ, chủ động tiếpthu những nét đẹp của sinh viên thế giới, tạo nên đặc trưng lớp sinh viênnhững năm đầu thế kỉ XXI

Trang 10

Song, bên cạnh những mặt tích cực, sinh viên cũng đang chịu sự tácđộng tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường và xu hướng khu vực hóa,quốc tế hóa Một bộ phận sinh viên chạy theo lối sống thực dụng, có biểu hiện

xa rời các giá trị đạo đức truyền thống, dễ bị dao động về mặt định hướng đạođức và lối sống Như Đảng ta khẳng định: “tình trạng suy thoái, xuống cấp vềđạo đức, lối sống, sự gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm, đáng lo ngại nhất

2 Tổng quan nghiên cứu

Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng và là một tấm gương tiêu biểu, mẫumực về đạo đức cách mạng nói chung Những tư tưởng về đạo đức của HồChí Minh luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là kim chỉ nam cho cán bộ Đảng, Nhànước và các thế hệ người dân Việt Nam noi theo Vì vậy, tư tưởng đạo đứccủa Hồ Chí Minh luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu.Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau đượccông bố trên các sách, báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học trong và ngoài

Trang 11

nước Ở đây tác giả xin được đưa ra một vài công trình nghiên cứu tiêu biểuliên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau:

Các công trình nghiên cứu về đạo đức Hồ Chí Minh nói chung trong đó

có tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa Đó là: “Hồ Chí Minh về

đạo đức cách mạng”(Nxb Sự thật, năm 1976); “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng”(Nxb Chính trị Quốc gia, năm 1993); “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”của Lê Hữu Nghĩa (Nxb Lao động năm 2000); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, của Lê Trọng Ân in trong tạp chí Triết học

số 1 năm 2005; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức , của tác giả Thành Duy,

(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1996) … Các công trình này đã kháiquái một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, trong đó có trìnhbày những quan điểm đạo đức của Hồ Chí Minh về tình yêu thương conngười, sống có tình nghĩa khá đầy đủ

- Về Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong giáo dục đạo đức cho sinhviên hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên ở đây, tác giả chỉ

xin được đưa ra một số công trình cơ bản, tiêu biểu: Văn Tùng, Tìm hiểu tư

tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1999;

Đoàn Nam Đàn, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Thanh niên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Hà Huy Thông (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về

đạo đức của người cán bộ quân sự, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh…

- Về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và việc giáo dục sinh viên hiện

nay có một số công trình nghiên cứu như sau: Dương Tự Nam, Thanh niên

học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, 2003; Nguyễn Hữu Đức ( chủ

biên), Giáo dục, rèn luyện thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000; Đặng Quốc Bảo, Tư tưởng Hồ Chí

Minh về giáo dục, 2008, NXB Thanh niên; Trần Minh Đoàn (2002), Giáo dục

đạo đức cho thanh niên học sinh theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh…

Trang 12

Đặc biệt, qua việc thực hiện Chỉ thị 06 – CT/TW năm 2006 của Bộ chínhtrị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh”; Chỉ thị 03 – CT/TW năm 2011 về việc “tiếp tục đẩy mạnh việc học tập

và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, hằng năm các tổ chức, đoànthể, các cấp chính quyền đều có chuyên đề hướng dẫn thực hiện học tập và làmtheo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho tất cả các đối tượng Tầng lớp họcsinh, sinh viên trong cả nước nói chung là một trong những đối tượng được chútrọng Tuy nhiên, để nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương conngười, sống có tình nghĩa như một đối tượng cụ thể thì chưa có công trình nào.Đồng thời ở trường Cao đẳng Kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc, việc nghiên cứunâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương conngười, sống có tình nghĩa cho sinh viên hiện nay vẫn chưa có tác giả nào đềcập một cách cơ bản và có hệ thống Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn

đề này với lòng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải cũng như đưa

ra phương hướng giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đã và đang đặtra

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích:

Nghiên cứu những giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về tìnhyêu thương con người, sống có tình nghĩa, đánh giá thực trạng việc giáo dụctình yêu thương con người, sống có tình nghĩa cho sinh viên trường Cao đẳngKinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc, từ đó, đề xuất một số phương hướng, nội dung,giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinhviên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc trong điều kiện kinh tế thịtrường hiện nay

Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Khái quát cơ sở hình thành của đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêuthương con người, sống có tình nghĩa

Trang 13

- Phân tích, làm rõ những giá trị của đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêuthương con người, sống có tình nghĩa.

- Đánh giá thực trạng giáo dục tình yêu thương con người theo đạo đức

Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúctrong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu, nâng cao chất lượnggiáo dục đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người và sống có tìnhnghĩa cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: tư tưởng đạo đức, tấm gương đạo đức Hồ Chí

Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa; Thực trạng giáo dụctình yêu thương con người, sống có tình nghĩa cho sinh viên trường Cao đẳngKinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc theo di sản Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống

có tình nghĩa

- Đề tài còn nghiên cứu việc giáo dục tình yêu thương con người, sống

có tình nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh

tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc từ năm 2007 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận văn được triển khai trên nền tảng các quan điểm của chủ nghĩaMác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về đạo đức

Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài này, tác giả vận dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp phương pháp phântích, tổng hợp, điều tra xã hội học…

Trang 14

6 Đóng góp mới của luận văn

- Trong luận văn này, tác giả muốn góp phần vào việc nghiên cứu tưtưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống

có tình nghĩa và vận dụng giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay, đặc biệtcho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc

- Cũng từ đây cho chúng ta cách nhìn nhận đúng đắn, khách quan về đạođức, lối sống của sinh viên và việc giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viêntrường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc theo tấm gương đạo đức HồChí Minh

- Tác giả có đề xuất những phương hướng, giải pháp có tính khả thi caotrong giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên của trường

- Luận văn cung cấp thêm những luận cứ khoa học giúp nhà trường cũngnhư Phòng Công tác chính trị, các giáo viên thuộc trường Cao đẳng Kinh tế -

kỹ thuật Vĩnh Phúc trong việc giáo dục học sinh, sinh viên theo tấm gươngđạo đức Hồ Chí Minh Ngoài ra, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu thamkhảo để nghiên cứu và giảng dạy ở các lớp tập huấn nghiệp vụ công tác Đoàn,công tác sinh viên

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 02 chương, 07 tiết

Trang 15

CHƯƠNG 1: ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ TÌNH YÊU THƯƠNG

CON NGƯỜI, SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA 1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm đạo đức

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện từ rất sớm và có vaitrò quan trọng trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Với tư cách là bộphận của triết học, những tư tưởng đạo đức đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trướcđây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại

Ở phương Tây, đạo đức có gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos, cũng cónghĩa là thói quen, tập quán Theo phần gốc của khái niệm, khi nói đến đạođức là nói đến các thói quen, tập quán sinh hoạt và ứng xử của con ngườitrong cộng đồng, trong xã hội Còn theo tiếng Latinh “đạo đức”bắt nguồn làmos (moris)- có nghĩa là lề thói Chúng ta có thể thấy, cả hai danh từ này vềbản chất đều nói đến những lề thói, tập tục thể hiện mối quan hệ giữa conngười với con người trong cuộc sống hằng ngày Tuy nhiên, sau này, với sựphát triển chuyên sâu trong nghiên cứu, người ta phân biệt hai khái niệm:ethicos là đạo đức học và moral là đạo đức

Theo quan niệm ở phương Đông, khái niệm đạo đức lần đầu tiên xuấthiện trong kinh văn của nhà Chu Đạo có nghĩa là con đường, là đường sốngcủa con người trong xã hội Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìnchung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Quanniệm này chủ yếu là của người Trung Quốc cổ đại mà theo đó, đạo đức chính

là những yêu cầu, những nguyên tắc do chính con người đặt ra trong cuộcsống mà từ đó con người phải tuân theo

Theo “Từ điển Bách Khoa Việt Nam”: “Đạo đức là một trong những

hình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm những chuẩn mực điều chỉnhhành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (giađình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội) Căn cứ vào những chuẩnmực ấy, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện

Trang 16

và ác, về cái không được làm (vô đạo đức) và về nghĩa vụ phải làm”[65, 739]

738-Trong “Từ điển Triết học”: “Đạo đức là một trong những hình thái ý

thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi củacon người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội không trừ lĩnh vựcnào.”“Trong đạo đức, sự cần thiết xã hội, những nhu cầu, lợi ích của xã hộihoặc của giai cấp viểu hiện dưới hình thức những quy định và những sự đánhgiá đã được mọi người thừa nhận và đã thành hình một cách tự phát, đượccủng cố bằng sức mạnh của tấm gương quần chúng, của thói quen, phong tục,

dư luận xã hội Cho nên, những yêu cầu của đạo đức mang hình thức bổnphận phải làm không riêng một ai, như nhau đối với tất cả, nhưng không chịu

sự ra lệnh của ai cả…Chúng khác phong tục đơn giản hoặc truyền thống đãđược duy trì bởi sức mạnh của một trật tự đã ổn định.”[60, tr 156-157]

Cùng với sự phát triển của xã hội, những ý thức và tư tưởng đạo đứchình thành và phát triển Tuy nhiên, trước khi quan niệm của Mác ra đời, kháiniệm “đạo đức”mới chỉ dừng lại ở những tư tưởng và chưa được giải quyếtmột cách khoa học về nguồn gốc, bản chất của nó Nguồn gốc của đạo đứcvẫn được coi là xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “từ ý niệm tuyệtđối”hay là bản tính bất biến của con người mà sinh ra đã có… Những quanniệm trước Mác không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội đểsuy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo đức Chỉ đến Mác,Ănghen, Lênin, đạo đức mới được nghiên cứu hệ thống

Theo Triết học Mác – Lênin, đạo đức là một hình thái ý thức xã hộiphản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người Giá trịđạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã hội vì hạnh phúc củacon người Ở đây, đạo đức là sự phản ánh của các quan hệ xã hội được Mác

và Ănghen lập luận: trước khi sáng lập lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triếthọc và luận lý học, con người đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết chođời sống Do đó, khi nói đạo đức là một hình thái ý thức xã hội của con người

Trang 17

là nói tới sự phản ánh tồn tại xã hội của con người Đây là một quan niệmmang tính cách mạng và khoa học về đạo đức mà quan niệm của các tôn giáo

và các nền đạo đức khác không thể đạt tới

Như vậy, có thể định nghĩa đạo đức như sau: đạo đức là một hình thái ýthức xã hội thể hiện những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh sựđánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội.Điều này được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, sức mạnh truyền thống và sứcmạnh của dư luận xã hội

Ở đây, đạo đức trước hết là một hình thái ý thức xã hội Tức là, nó phảnánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực cuộc sống của con người bao gồmnhững hoạt động sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống củacon người Đạo đức cũng giống như các quan điểm triết học, chính trị, nghệthuật, tôn giáo… đều thuộc về kiến trúc thượng tầng Và ở mỗi chế độ kinh tế

xã hội khác nhau thì quan điểm về nguồn gốc đạo đức có nhiều thay đổi theo

cơ sở đã sinh ra nó Chúng ta sẽ thấy đạo đức của xã hội nguyên thủy khácđạo đức của chế độ chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến hay đạo đức chế độ

tư bản chủ nghĩa Trong xã hội có giai cấp, đạo đức thường mang tính giaicấp Giai cấp thống trị luôn tìm cách duy trì và củng cố các mối quan hệ xãhội đang có Còn giai cấp bị bóc lột, tùy theo nhận thức về sự bất công từnhững quan hệ xã hội đó mà họ đứng lên đấu tranh chống lại, đồng thời đề raquan niệm đạo đức riêng của mình Đạo đức không chỉ có tính giai cấp màcòn có tính kế thừa Mặc dù các chế độ xã hội thay thế nhau nhưng nhữngđiều kiện sinh hoạt của xã hội không mất đi hoàn toàn Tất nhiên sự kế thừanày mang tính chọn lọc để phù hợp với xu hướng và điều kiện thực tại Điềunày lý giải tại sao có những phẩm chất, nguyên tắc đạo đức được sinh ra từthời phong kiến nhưng vẫn tồn tại cho đến ngày nay… Từ đây, chúng ta cũng

có thể thấy sự phát sinh và phát triển của đạo đức còn là một quá trình do sựphát triển của phương thức sản xuất quyết định

Trang 18

Một trong những nội dung để thấy được bản chất của đạo đức là: đạođức là một hiện tượng xã hội mang tính chuẩn mực bao gồm hệ thống nhữnggiá trị Và các hiện tượng đạo đức này thường được biểu hiện dưới nhữnghình thức khẳng định hoặc phủ định Tức là, nó có thể tán thành hay phản đốithái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân với nhau và với cộng đồng trong

xã hội ấy Sự ra đời, phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức khôngtách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạođức Thông thường, nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển của

xã hội thì hệ thống giá trị ấy cũng mang tính tích cực, nhân đạo Và ngược lại,nếu nó không phù hợp thì hệ thống ấy sẽ mang tính tiêu cực, phi nhân đạo.Những chuẩn mực đạo đức này thường có nội dung phù hợp với hệ thống ýthức xã hội Chính vì vậy mà trong cuộc sống nói chung, đạo đức có vai tròkhá quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người

Trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất, xuất hiện nhữnghành vi không phù hợp với lối sống, suy nghĩ, thậm chí ảnh hưởng đến kếtquả của công việc Điều này dẫn đến việc con người đã tạo ra nhiều cách thức

để điều chỉnh hành vi đó Đó có thể là pháp luật, là tôn giáo hay đạo đức…Đối với đạo đức, việc điều chỉnh hành vi của con người được thông qua cáckhái niệm: thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa… Những kháiniệm này ở thời đại lịch sử nào cũng được đưa ra làm chuẩn mực đánh giá.Tuy nhiên, nó có sự thay đổi theo từng hoàn cảnh cụ thể Ví dụ: Trong xã hội

có giai cấp thì những chuẩn mực đạo đức thường là của một giai cấp nhấtđịnh đề ra cho hành vi của mỗi cá nhân Trong khi đó, ở xã hội không giai cấpthì những chuẩn mực ấy lại thường do yêu cầu của xã hội Có một điều chung

là khi nó đã trở thành chuẩn mực thì xã hội hay các giai cấp trong xã hội đóđều phải thừa nhận Như vậy, mọi hành vi của cá nhân đều chịu sự giáo dụccũng như sự đánh giá dựa trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức của xã hộithời kỳ đó Điều này lý giải tại sao khi chúng ta hành động trái với nhữngchuẩn mực đạo đức xã hội sẽ cảm thấy lương tâm không thoải mái Và ngược

Trang 19

lại, lương tâm chúng ta sẽ cảm thấy phấn khích nếu hành động phù hợp vớiđòi hỏi của xã hội Rõ ràng, ở đây đạo đức điều chỉnh hành vi của mỗi conngười Điều cần lưu ý là các chuẩn mực đạo đức được phổ biến trong quan hệgiữa người với người và không chịu sự điều chỉnh của các bộ máy nhà nước

và đó là các quan hệ tình cảm như: tình bạn, tình đồng chí, tình yêu… Trongđạo đức bao giờ cũng chứa đựng cái phổ biến, cái văn minh làm thành hạtnhân quan trọng với những đặc tính lý tưởng, đạo lý cao và những nguyên lýđạo đức tốt đẹp được trao truyền từ đời này qua thời đại khác

Khi bàn về khái niệm đạo đức, Hồ Chí Minh không đưa ra định nghĩađạo đức là gì Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, thuật ngữ đạo đức đượcNgười dùng với ba nghĩa: Nghĩa rộng, hẹp và rất hẹp

Theo nghĩa rộng: Đạo đức là hình thái ý thức xã hội mà nhờ đó conngười tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làmgiàu tính người trong các quan hệ xã hội kể cả trong các quan hệ chính trị, tưtưởng Theo nghĩa hẹp: Đạo đức là các quy tắc, chuẩn mực dùng điểu chỉnhhành vi con người trong quan hệ giữa người với người trong hoạt động sống.Còn theo nghĩa rất hẹp: Đó là hành vi đạo đức Hành vi đạo đức là hành động

cá nhân thể hiện quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ đối với xã hội và đối vớingười khác, thể hiện lương tâm hoặc bổn phậ cá nhân trong những hoàn cảnhđặc thù không lặp lại

Có thể nói, vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đặt ra và xem xét mộtcách toàn diện trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tưđến việc công, từ lao động sản xuất ở địa phương đến chiến đấu ngoài mặttrận, từ học tập, công tác đến sinh hoạt hàng ngày Hồ Chí Minh cũng bàn đếnđạo đức ở mọi phạm vi từ gia đình tới xã hội, từ giai cấp đến dân tộc Việc HồChí Minh nghiên cứu đạo đức một cách toàn diện là một cách nhìn nhậnmang tính khách quan, phù hợp với hoạt động phong phú đa dạng của đờisống xã hội và của mỗi con người

Trang 20

1.1.2 Đạo đức cách mạng

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, không có một nền đạo đức nào chung chotất cả mọi người, mọi nơi, mọi quốc gia dân tộc Và đạo đức cũng không phátsinh từ ý muốn của Thượng đế hay ý niệm tuyệt đối theo Hêghen Nó cũngchẳng phải xuất phát từ ý chí hay bản tính của con người Như phần trên tácgiả trình bày, đạo đức xuất phát từ đời sống thực tế và tình trạng kinh tế của

xã hội Do đó, nó luôn thay đổi và mang tính giai cấp Trong xã hội có giaicấp, giai cấp thống trị có đạo đức của họ và giai cấp bị trị cũng có đạo đứcriêng của mình Đạo đức cách mạng chính là đạo đức của giai cấp công nhânhay còn gọi là đạo đức cộng sản

Hiểu theo nghĩa hẹp thì đạo đức cách mạng không dạy con người phảibiết cư xử làm sao cho phải đạo làm người, nhưng nó lại chỉ ra cụ thể phảilàm gì để trở thành người cách mạng – một con người đấu tranh cho sựnghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp khỏi áp bức bóc lột…Ở ViệtNam, đạo đức cách mạng có xu hướng gắn liền với đạo đức truyền thống dântộc Phải chăng đó là cách hiểu rộng rãi, cởi mở mà Hồ Chí Minh đã đưa ranhằm đem lại sự gần gũi, dễ hiểu với người nông dân Việt Nam khi làm cáchmạng? Bởi chỉ khi Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh quyết tâm ra đi tìmđường cứu nước và quyết định chọn con đường cách mạng vô sản làm đường

đi của cách mạng dân tộc, thì khi đó mới hình thành khái niệm đạo đức cáchmạng ở Việt Nam

Trên thực tế, đạo đức mà Hồ Chí Minh đề cập tới là đạo đức mới – đạođức cách mạng Đây là một khái niệm mà có lẽ Hồ Chí Minh là người đưa rađầu tiên Hồ Chí Minh chỉ rõ, người làm cách mạng phải có đạo đức cáchmạng Dù vậy, nhưng đạo đức cách mạng không hề phủ nhận đạo đức truyềnthống Đạo đức cách mạng được hình thành và phát triển trong những điềukiện chính như: sự kế thừa đạo đức truyền thống được xem là tiền đề, là cơ sởtrực tiếp; những thắng lợi to lớn của phong trào cách mạng và kháng chiếntrong đó toàn dân tích cực tham gia; sự ảnh hưởng sâu rộng của chủ nghĩa

Trang 21

Mác – Lênin; và cuối cùng là bản thân Hồ Chí Minh – một con người tiêubiểu cho sự biện chứng giữa truyền thống và cách mạng, giữa dân tộc và thếgiới Tuy nhiên, xét đến cùng đạo đức cách mạng xuất hiện trong quá trìnhđấu tranh giải phóng dân tộc và đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu

hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũnghoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; là cần,kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn yêu thương quý trọng con người; cótinh thần quốc tế trong sáng Đạo đức cách mạng ở đây được coi là gốc củanhân cách, là gốc của cách mạng Muốn cách mạng thành công thì người làmcách mạng phải có đạo đức cách mạng Người viết: “Cũng như sông thì cónguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không cógốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dùtài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[46, tr 292] Có đạo đứccách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại cũng không lùi bước, chánnản…khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần khiêm tốn,không kèn cựa, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo…Đạođức là gốc của cách mạng nhưng phải thấy rõ được người làm cách mạng phải

có cả đức và tài Nếu không có cả đức và tài thì sẽ làm hại cho dân Trong đức

có tài, tài càng lớn thì đức càng cao Như vậy, đức và tài phải gắn kết trongmối quan hệ biện chứng với nhau

Hồ Chí Minh đã xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận vàthực tiễn Về mặt lý luận: Người đã để lại cho chúng ta một hệ thống quanđiểm sâu sắc và toàn diện về đạo đức Đó là những quan điểm thực sự khoahọc, biện chứng phù hợp với tiến bộ của xã hội loài người Đó là sự kết hợpnhuần nhuyễn những quy tắc đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Về mặtthực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu củacán bộ, đảng viên Nói đến đây, chúng ta có thể thấy, bản thân Hồ Chí Minh

là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng Người là đại diện mẫu mực

Trang 22

kết tinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam với đạo đứcngười cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lênin Những quy tắc đạo đức củaNgười nêu ra đã trở thành vũ khí mạnh mẽ của cả dân tộc ta trong cuộc đấutranh vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình, hợp tác và hữu nghịvới các quốc gia dân tộc trên thế giới.

Tóm lại, trong quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng lànhằm giải phóng và đem lại hạnh phúc, tự do cho con người Vì vậy, tu dưỡngđạo đức phải gắn liền với hoạt động thực tiễn, trên tinh thần tự giác, tựnguyện dựa vào lương tâm và trách nhiệm của mỗi con người

Vậy đạo đức cách mạng là cái đức, cái tài hình thành trong nhữngngười làm cách mạng, mà đối tượng cụ thể ở đây là lực lượng tham gia vàoquá trình đấu tranh cho sự nghiệp của đất nước Đó là sự nghiệp giải phóngdân tộc, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đưa dân tộc Việt Nam sánh vai cùng cácdân tộc khác trên thế giới

1.1.3 Đạo đức Hồ Chí Minh

Đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh Hai phương diện này của đạo đức Hồ Chí Minhthống nhất biện chứng, khi bóc tách từng mặt chỉ có ý nghĩa tương đối, tiệncho việc nghiên cứu theo chiều sâu

Trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, mỗi một dân tộc khácnhau có hệ tư tưởng và quan niệm đạo đức khác nhau Đối với dân tộc ViệtNam cũng vậy, những tư tưởng đạo đức được kế thừa từ đời này qua đờikhác Trong đó, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một sự kết tinh sâu sắc giữatruyền thống và hiện đại Một điều nổi bật trong tư tưởng đạo đức Hồ ChíMinh là tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa tập thể, vì tập thể và do tập thể Đây

là đặc điểm lớn nhất và quan trọng nhất

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện,sâu sắc về vị trí, vai trò của đạo đức, những chuẩn mực của đạo đức cáchmạng cơ bản và các nguyên tắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Trong đó quan

Trang 23

điểm của Hồ Chí Minh về các chuẩn mực đạo đức, yêu thương con người,sống có tình nghĩa là một nội dung quan trọng.

Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đặt ra và xem xét một cách toàndiện trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tư đến việccông, từ lao động sản xuất ở hậu phương đến chiến đấu ngoài mặt trận, từ họctập công tác đến sinh hoạt hàng ngày Hồ Chí Minh cũng bàn đến đạo đức ởmọi phạm vi từ gia đình tới xã hội, từ giai cấp đến dân tộc, từ quốc gia đếnquốc tế Việc Hồ Chí Minh xem xét vấn đề đạo đức một cách toàn diện là mộtcách nhìn nhận mang tính khách quan, phù hợp với hoạt động phong phú đadạng của đời sống xã hội và của mỗi con người Tư tưởng đạo đức Hồ ChíMinh vừa là đạo đức Việt Nam, vừa là đạo đức cộng sản, vừa mang cốt cáchcủa văn hóa đạo đức phương Đông vừa mang dáng dấp của đạo đức phươngTây

Đạo đức Hồ Chí Minh không phải là đạo đức chỉ để tu luyện, đó là đạođức của hành động Chỉ có hành động cách mạng thì tư tưởng đạo đức Hồ ChíMinh mới thể hiện được giá trị của mình Theo đó, người có đạo đức là người

ý thức được rõ ràng mình cần phải làm gì và mình sẽ đi đến đâu để làm điều

đó Trong sự nghiệp to lớn của cả tập thể, cả dân tộc thì mỗi người phải thấycho hết vị trí của mình Trên cơ sở đó, hành động hết mình cho sự nghiệpchung của dân tộc và nhân loại Những tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh rấtnhân bản và cũng rất thực tế Trong đó, người lao động sáng tạo ra của cải vậtchất và tinh thần của xã hội chiếm điạ vị quan trọng Chính tư tưởng coi trọnglao động ấy đã khiến cho đạo đức Hồ Chí Minh có một khả năng động viênrộng lớn toàn xã hội vào sự nghiệp chung của dân tộc Nói như vậy không cónghĩa là tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh phát triển tự thân vào các tầng lớp xãhội để đơm hoa kết trái Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ ChíMinh, Người luôn nêu cao tấm gương học tập, tu dưỡng và rèn luyện đạo đức.Cùng với đó, Người cũng đòi hỏi như vậy với các thế hệ con người Việt Nam.Những lời dạy của Người được cả dân tộc và thế giới coi trọng, học tập Và

Trang 24

khi tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng đạo đức xã hộiViệt Nam thì một lớp người mới hình thành trên cơ sở tư tưởng đạo đức mới

ấy Đó là cả một thế hệ con người mới đã, đang và sẽ tiếp tục học tập, làmviệc theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một thời kỳ chuyển tiếp từ mộtthời kỳ cũ sang một thời kỳ mới, khác hẳn các hình thái đạo đức trong xã hội

cũ Trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh không đơn thuần là ý chí chủ quan củacon người mà là kết quả của sự phát triển xã hội Đây là một xã hội đangvươn lên tới cái chân, thiện, mỹ mà con người luôn luôn muốn vươn tớinhưng chưa đủ điều kiện để thực hiện nó Trong xã hội mới, hình thànhnhững con người mới hoạt động trên nền tảng đạo đức mới Ở nước ta, nềntảng đạo đức mới ấy chính là tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Và bản thân HồChí Minh chính là mẫu người lý tưởng nhất về một tấm gương rèn luyện đạođức

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho chúng ta thấy được rằng: sống làhành động và mỗi hành động là một sự cam kết có trách nhiệm và có tác độngđến số phận của tập thể, của xã hội

1.2 Cơ sở hình thành đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa

Một trong những giá trị quan trọng trong truyền thống tinh thần của dântộc ta là giá trị đạo đức và nhân văn Khi nói đến chủ nghĩa nhân văn, chúng

ta hiểu một cách chung nhất là những nguyên lý triết học và đạo đức xã hội vềquan hệ giữa những con người với nhau Với tư cách là một hiện tượng vănhóa tinh thần, chủ nghĩa nhân văn bao hàm nội dung căn bản của quá trìnhvăn minh mà ở đó các chuẩn mực đạo đức, lý tưởng xã hội, tự do ý chí, sựtương trợ và hợp tác, tôn trọng quyền và phẩm giá con người, công bằng, bìnhđẳng, chính nghĩa… được biểu hiện ra với những hình thức đa dạng, phongphú của nó Các giá trị đạo đức truyền thống và nhân văn là phương thức tồntại của xã hội, chúng được chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ khác để hình

Trang 25

thành nên những giá trị mới của xã hội Trong việc xem xét cơ sở hình thành

tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người và sống có tình nghĩa,tác giả xin được đưa ra ba nội dung chính mà trước tiên xin đề cập đến các giátrị truyền thống Việt Nam

1.2.1 Các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam

Có thể nói rằng: các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam khá đadạng, phong phú Trong đó, tinh thần yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộngđồng dân tộc của dân tộc Việt Nam, đại đoàn kết dân tộc đã hình thành vàcủng cố trong lịch sử dựng nước và giữ nước Điều này tạo thành truyềnthống bền vững thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi con người ViệtNam Trong các giá trị truyền thống ấy, giá trị đầu tiên mà chúng ta cần phảinói đến là: chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam

Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, chủ yếu

là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc Điều này cho chúng tathấy tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam là tinh thần yêu nước

Sự hình thành và phát triển của tư tưởng yêu nước đi đôi với sự hìnhthành và phát triển của quốc gia dân tộc Chính vì vậy, lịch sử Việt Nam trảiqua bao nhiêu thời kỳ thịnh suy thì tư tưởng yêu nước có bấy nhiêu tiến lênhay suy thoái Một trong những sự kiện lịch sử khởi đầu cho tư tưởng yêunước là một nghìn năm dân tộc ta chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắcnhưng dân tộc Văn Lang ấy không những không mất đi mà quốc gia VănLang lại được khôi phục thậm chí phát triển cao hơn – đất nước Đại Việt

Chúng ta không thể kể hết những cảnh nhân dân bị xiềng xích và chémgiết Bao nhà cửa bị phá hủy tan hoang Bao của cải mà dân ta phải bỏ mồhôi, nước mắt để làm ra đã bị kẻ thù tước đoạt Quân xâm lược còn tìm mọicách để thủ tiêu giá trị tinh thần của nhân dân ta, muốn đồng hóa nhân dân tatheo lối sống của chúng, từ phong tục, tập quán đến cách ăn, ở, suy nghĩ vàhành động Suốt hàng ngàn năm chiến đấu,với bao đời từ Bà Trưng, Bà Triệu,

Lý Bôn, Mai Hắc Đế rồi đến Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, nhân dân

Trang 26

ta đã liên tục chống lại sự nô dịch và đồng hóa ấy Và cuối cùng đã quét sạchquân xâm lược ra khỏi đất nước.

Phải chăng điều này có được là từ một hệ thống tư tưởng yêu nước hìnhthành trên đất tổ Hùng Vương Người Việt ta đã chủ động phát huy các giá trịtinh thần của tổ tiên để lại Chính vì vậy, chúng ta không bao giờ quên hìnhảnh Thánh Gióng quật tan lũ giặc xâm lăng bằng lũy tre làng hay hình ảnh hai

Bà Trưng cưỡi voi đè nát quân xâm lược Rồi chiến thắng năm 938 dưới sựlãnh đạo của Ngô Quyền đã khẳng định chủ quyền của dân tộc Việt Qua baođời Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, tất cả bọn họ đều đem quân sang đánhchiếm nước ta Nhưng tất cả chúng đều thất bại bởi các phong trào giải phóngdân tộc Như vậy tư tưởng yêu nước cứ tiếp tục được bồi đắp và phát triểnngày một mạnh mẽ hơn Và đến khi có điều kiện, tinh thần ấy, tư tưởng ấyđược khẳng định thông qua căn bản cụ thể hơn là những áng văn thơ, đồngthời phát triển thành chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam

“Nam quốc sơn hà, nam đế cưTuyệt nhiên định phận tại thiên thu”

(Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)Lời nói ấy như một sự khẳng định, lời tuyên bố trước kẻ thù Nó cũnggiống như một lời thể hiện tinh thần yêu nước hùng hồn của dân tộc Tưtưởng yêu nước của dân tộc tiếp tục phát triển và được biểu hiện rõ hơn cảtrong “Hịch Tướng Sĩ”– Trần Quốc Tuấn, đồng thời trở thành chủ nghĩa yêunước truyền thống Việt Nam trong “Bình Ngô Đại Cáo”– Nguyễn Trãi

Nền độc lập của dân tộc tuy đã dành được, nhưng vẫn luôn bị đe dọa từđời này qua đời khác Điều cay đắng không bao giờ quên được của nhân dân

ta là cảnh nhà tan, nước mất, dân lầm than Đây cũng chính là động lực thôithúc nhân dân ta kiên cường giữ nước Với khí thế quật cường của mình, nhândân ta qua các thời đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần đã không ngừng đổ máu đểđánh đuổi ngoại xâm và bảo vệ tổ quốc Nhưng thành quả của độc lập cuốicùng lại rơi vào giai cấp phong kiến trong nước, còn tự do thì chưa bao giờ có

Trang 27

được Đó là khi đất nước không còn bóng ngoại xâm, khi địa vị thống trị củagiai cấp địa chủ phong kiến ngày càng được củng cố thì cũng là lúc họ ngàycàng thoái hóa biến chất Vua chúa sống trong xa hoa, nhung lụa bắt nhân dânphục vụ, lao động vất vả Và cảnh nhân dân đói rét đầy đường, lầm than cơcực, sống trong cảnh “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” Những áp bức,bóc lột của triều đình phong kiến đã làm nhân dân không thể chịu được, nhândân khắp mọi nơi đã liên tục nổi dậy Những cuộc khởi nghĩa của nông dân ta

cứ bùng lên, bị dập tắt rồi lại bùng lên Đã bao triều đại bị lật đổ, bao ông vuatàn bạo bị trừng phạt Tuy vậy, nhưng xã hội Việt Nam chưa có điều kiện đểđổi mới, nhân dân chưa có con đường nào để giải phóng cho bản thân mình.Lòng căm giận của nhân dân chỉ biết bộc lộ qua các câu ca dao, tục ngữ, rồinhững câu chuyện tiếu lâm đả kích vào tầng lớp vua chúa, thầy đồ, thầycúng…

Rồi đến một ngày, sự bạc nhược và phản bội của vua quan nhà Nguyễn

đã đẩy nước ta vào sự thống trị của thực dân Pháp Từ đây, nhân dân lại chịucảnh chồng chất hai tầng áp bức: thực dân và phong kiến Trong những ngàytối tăm, khổ nhục, nhân dân ta lại tiếp tục đấu tranh bất khuất và anh dũng.Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta

đã đi vào lịch sử oai hùng như: khởi nghĩa của Trương Định, phong trào CầnVương, cuộc kháng chiến của Phan Đình Phùng…Song, tất cả bị thực dân đàn

áp, chìm trong biển máu Trong hoàn cảnh tối tăm của đất nước, Nguyễn ÁiQuốc đã tạo ra bước ngoặt lịch sử lớn nhất cho đất nước Việt Nam Đó là tìmđược con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giành độc lập cho nhân dân

Có lẽ chính truyền thống yêu nước, thương dân đã ăn sâu vào dòng máu mỗicon người Việt nên nó đã một phần thúc đẩy Hồ Chí Minh vượt qua bao giannan vất vả nơi xứ người để đến với chân lý cách mạng, với chủ nghĩa Mác –Lênin và quyết tâm lựa chọn con đường cách mạng vô sản để cứu nước Vớicon đường này, qua bao cuộc đấu tranh gian khổ, dân tộc ta đã giành đượcđộc lập, nhân dân đã có tự do Thực tế đã chứng minh bằng những mốc lịch

Trang 28

sử quan trọng như: thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khai sinh ranước Việt Nam dân chủ Cộng hòa; Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đãlập lại hòa bình ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng;thắng lợi mùa xuân năm 1975 đã thống nhất đất nước, cả nước đi vào côngcuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa; và công cuộc đổi mới đất nước năm 1986 đãđưa Việt Nam dần thoát khỏi các quốc gia nghèo nàn lạc hậu trên thế giới, hộinhập kinh tế thế giới.

Không thể phủ nhận được tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộcđược hình thành, phát triển trong lịch sử và trải qua bao biến động, thăngtrầm Mặc dù vậy nhưng nó đã gắn bó chặt chẽ mọi người trong cùng mộtnước vào một tình yêu thương vô hạn, đồng thời nó gắn chặt vận mệnh của cảdân tộc Nó đã làm nên truyền thống dân tộc ta và được biểu hiện cụ thể bằnglòng thương người, căm thù giặc, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóngdân tộc Truyền thống ấy đã làm ảnh hưởng mạnh mẽ đế Nguyễn Ái Quốc –

Hồ Chí Minh Người đã nhận thức sâu sắc và luôn có ý thức nuôi dưỡng, pháthuy truyền thống đó Bên cạnh đó, Người còn động viên nhân dân ta phát huy

nó để đánh giặc, giải phóng dân tộc Điều này chứng tỏ truyền thống yêunước nồng nàn của dân tộc là một trong những cơ sở hình thành và phát triển

tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người

Có lẽ, Độc lập – Tự do là cái quý nhất trên đời nên ngàn vạn Thanhniên Việt Nam đời này qua đời khác đã đặt nó lên trên cả hạnh phúc, tuổi trẻ

và sinh mệnh Đối với con người, có gì quý hơn chính cuộc sống của bảnthân, nhưng cuộc sống độc lập và tự do là niềm vui, là ước muốn mà thanhniên Việt Nam kiên quyết từ chối cuộc sống làm nô lệ đê hèn để sẵn sàngchiến đấu cho sự nghiệp của dân tộc Không thấy được sự lựa chọn giá trị ấythì không thể thấy được hình ảnh của nhân dân ta trong những năm chiến đấuvừa qua Hàng triệu tấn bom đã giội trên đất nước ta nhằm hủy diệt mọi sinhmệnh, mùa màng, nhà cửa Bao thủ đoạn, âm mưu thâm độc của kẻ thù đượcthi hành nhằm cám dỗ vật chất và lừa đảo về tinh thần Nhưng không gì có thể

Trang 29

lay chuyển được lòng yêu nước, ý chí của cả dân tộc ta Có thể nói, truyềnthống ấy là một sự cảnh cáo đanh thép cho thế lực thù địch và bọn bànhtrướng hiện nay.

Giá trị truyền thống thứ hai ở đây cần kể đến là truyền thống cố kếtcộng đồng đoàn kết:

Đối với mỗi người Việt Nam, yêu nước, nhân nghĩa và đoàn kết trởthành một tình cảm tự nhiên, một triết lý sống Tất cả đã trở thành dấu ấntrong cấu trúc xã hội truyền thống Việt Nam, tạo thành quan hệ ba tầng: giađình, làng xã, quốc gia

Thực tế đã chứng minh, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng HồChí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa nói riêng cónguồn gốc và được xây dựng từ nhiều yếu tố Một trong những yếu tố đó là sựkết hợp biện chứng giữa chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dântộc Giống như các nội dung khác đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thươngcon người sống có tình nghĩa đã kế thừa và phát triển truyền thống đoàn kếtcủa dân tộc Việt Nam, cụ thể là sự đoàn kết trong gia đình, trong cộng đồng –dòng họ, trong làng xã, trong quốc gia dân tộc

Về gia đình Việt Nam truyền thống: Đây là sự kết tinh những tinh hoavăn hóa tinh thần cao quý của dân tộc Gia đình vừa là tấm gương phản chiếutrung thực những giá trị to lớn của văn hóa truyền thống Việt Nam, vừa là nơisáng tạo, lưu giữ và trao quyền những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp củadân tộc, trong đó có truyền thống đoàn kết Gia đình Việt Nam chủ yếu là giađình nông thôn với đặc trưng chủ yếu là gia đình có từ hai đến ba thế hệ vàđông con, sinh sống gắn liền với gia đình cha mẹ, anh em, họ hàng tạo thànhmột cộng đồng than tộc làng xã chung Một trong những đặc trưng nổi bậtquy định sự đoàn kết trong gia đình Việt Nam là một đơn vị sản xuất và tiêudùng tự cung tự cấp khép kín Do vậy, tài sản của gia đình là của chung Mọithành viên đều tham gia lao động, sản xuất Điều này thể hiện rất rõ sự gắnkết trong gia đình mà ca dao Việt chúng ta có câu:

Trang 30

Trên đồng cạn, dưới đồng sâuChồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.

Chúng ta thấy tất cả các thành viên đều chung tay xây dựng nền tảnggia đình Gia đình truyền thống Việt Nam là một xã hội thu nhỏ, nhiều khépkín Các thành viên gắn bó với nhau bởi tình yêu và huyết thống trong cộngđồng gia đình

Nhiều gia đình sống chung trên cùng một khu vực địa lý nhỏ tạo thànhmột cộng đồng gọi là làng xã Cộng đồng làng xã là đơn vị hành chính cơ sở,

là một hình ảnh thủ nhỏ của dân tộc Chúng ta đều biết làng xã là tế bào sốngcủa xã hội, nó là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư củangười Việt Với tinh thần: “Một cây làm chẳng nên non – Ba cây chụm lạinên hòn núi cao”đã làm nên sự đoàn kết trong cộng đồng làng xã Đây là mộttruyền thống quý báu được bắt đầu từ trong sản xuất, từ trong đấu tranh dựngnước và giữ nước của người Việt nói chung

Trong lao động sản xuất, từ xưa, người Việt đã có sự cố kết chặt chẽ

Họ thường làm chung thành các phường, hội Ví dụ như phường làm rẫy.Phường làm rẫy hay còn gọi là phường trại chè là một cộng đồng lao động,sản xuất, làm rẫy cá thể, song lại có yêu cầu về lao động khá lớn, để kịp thời

vụ, một gia đình không thể làm xuể Đến ngày làm rẫy cho nhà nào, ngườitrong phường thường mang cuốc thuổng đến bãi rẫy cùng làm Thông thường

có đến ba, bốn chục người cùng làm để gây khí thế Trong những ngày ấy, họchỉ cần ăn cơm no bụng và bát nước chè xanh giải khát chứ không lấy công

xá gì Từ cộng đồng sản xuất rồi đến cộng đồng chống thiên tai, cộng đồnglàm thủy lợi Không chỉ vậy, họ thành lập cả cộng đồng giữ gìn an ninh trật

tự, chống trộm cắp, bảo vệ cuộc sống yên lành của làng xã Mỗi làng xã cónhững cộng đồng riêng, đoàn kết các thành viên các gia đình trong làng xã đócùng làm, cùng ăn, cùng hưởng Sự đoàn kết ấy đã gắn bó sâu sắc người dân

Từ đây, họ còn đặt ra “công lý”– tức là những thể chế, pháp lý của làng hay

cụ thể là điều ước do dân làng đặt ra làm mọi người trong làng đó phải tuân

Trang 31

thủ Đó chính là cái mà họ gọi với nhau là hương ước, luật tục Bản chất của

nó là những điều ước bảo đảm các mối quan hệ tốt trong các gia đình, dòng

họ, trong cả dân làng Thế vẫn chưa đủ, con người sống trong cộng đồng làngcần phải có thêm niềm tin, niềm tin dựa vào nhau, niềm tin trao đổi, niềm tin

vô thức, niềm tin lý tưởng Bên cạnh đó còn cả niềm tin vào những cái cảmthấy được nhưng chưa nhận ra được, rồi niềm tin vào những điều chưa biết…

Đó là niềm tin vào thần thánh hay gọi là Thành Hoàng làng Hoàng làng lànơi hội tụ tâm linh của cả làng Với một cộng đồng làng, Thành Hoàng là biểuhiện của lịch sử, phong tục cùng đạo đức, pháp luật, hy vọng của cả làng Cóthể nói, đây là một mối liên hệ vô hình, làm sao cho cả làng bản thành mộtcộng đồng có tổ chức và hệ thống chặt chẽ Đây cũng có thể coi là cái nềnvững chắc nhất của quan hệ cộng đồng làng xã Những người trong cùng mộtlàng xã tạo thành một cộng đồng với cố kết chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực

Từ cộng cư trên một mảnh đất rồi cộng cảm, cộng đồng sản xuất, cộng đồngchống thiên tai, cộng đồng làm thủy lợi, cộng đồng chiến đấu… Đó là sắc tháivăn hóa của những người nông dân định cư trong làng xã khép kín

Đoàn kết làng xã đã tạo nên sức mạnh khổng lồ Và khi những sứcmạnh ấy liên kết với nhau để tạo nên một dân tộc, một quốc gia vững mạnh

Ý thức cố kết dân tộc trải qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựngnước và giữ nước Nó trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào tưtưởng, tình cảm, tâm hồn người Việt Nam Hàng ngàn đời nay đối với dân tộcViệt Nam tinh thần đoàn kết trở thành đức tính, lẽ sống, triết lý nhân sinh Cadao có câu:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gươngNgười trong một nước phải thương nhau cùng”

Cái truyền thống đoàn kết ấy được thể hiện ngày càng sinh động quacác thời kỳ lịch sử

Từ huyền thoại Âu Cơ sinh trăm trứng, rồi đến tình làng, nghĩa xóm vuibuồn cùng hưởng, đói no cùng chịu, cùng chia ngọt sẻ bùi, tối lửa tắt đèn có

Trang 32

nhau Rồi Hội nghị Diên Hồng quân dân cùng bàn bạc việc quân, dưới mộtlòng, tướng sỹ uống chung chén rượu hòa nước sông Dù lúc thăng, lúc trầmkhác nhau nhưng truyền thống đoàn kết dân tộc ta bao giờ cũng là tinh hoađược hun đúc và thử nghiệm.

Nhìn lại trong suốt tiến trình lịch sử, truyền thống đoàn kết của dân tộcViệt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình dựng nước và giữnước của dân tộc Hay nói cách khác, truyền thống của dân tộc Việt Namchính là một sản phẩm được sinh ra trong một tiến trình lịch sử vĩ đại

Truyền thống đoàn kết lúc khởi thủy ban đầu là do lao động sản xuấtcủa con người mà hình thành nên Buổi ban đầu khi loài người xuất hiện sựnhận thức về thế giới chưa cao, chính trong lao động sản xuất đã biến đổinhận thức của họ Điều kiện tự nhiên, thiên nhiên lúc đó còn nhiều hiểm nguy

mà con người chưa hiểu tại sao lại có những hiện tượng: giông tố, sấm sét, lũlụt, hạn hán… Chính thiên nhiên khắc nghiệt cộng thêm trình độ nhận thứcchưa cao và thêm vào là lao động sản xuất đã dần hình thành nên tinh thầngắn kết tự nhiên trong mỗi con người

Ngay từ thời nguyên thủy, người vượn phải tập hợp với nhau thànhtừng bầy Họ cùng nhau chống thú dữ để tự vệ Đây chính là cơ sở, là nềnmóng quan trọng cho việc hình thành truyền thống đoàn kết dân tộc ViệtNam Tuy nhiên, điều quan trọng hơn phải kể đến điều kiện tự nhiên với địahình, khí hậu vừa thuận lợi, vừa khắc nghiệt cho việc sản xuất lúa nước củanhân dân ta Với ba phần tư là đồi núi, xen vào các đồng bằng là lưu vực cáccon sông lớn và một bờ biển kéo dài trên 3000km, thêm vào đó là nền khí hậunhiệt đới gió mùa…đã tạo điều kiện thuận lợi cho một nền nông nghiệp pháttriển Song, bên cạnh đó chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn như: mưa nguồn,nước lũ, bão tố, hạn hán, dịch bệnh…Điều này đã khiến từng cá nhân, giađình hoàn toàn bất lực trước thiên tai Họ chỉ biết tập trung lại thành một cộngđồng lớn cùng đắp đê, làm thủy lợi, từng bước chế ngự thiên tai để phát triểnnông nghiệp Như vậy, hạn thì phải đào mương dẫn nước vào ruộng để cày

Trang 33

cấy, úng lụt thì phải đắp bờ ngăn thửa, đắp đê ngăn lũ…Việc tập hợp lựclượng, huy động mọi nguồn lực trong xã hội lúc này trở nên khá quan trọng.Chính sự liên kết chặt chẽ này đã giúp con người vượt qua khó khăn để tồn tại

và phát triển được Có thể nói, đây là một cơ sở khách quan cho truyền thốngđoàn kết của dân tộc Việt Nam

Ngoài cơ sở điều kiện tự nhiên thì cơ sở về điều kiện xã hội cũng làmột trong những nhân tố tạo nên truyền thống đoàn kết của tất cả các quốc giatrên thế giới Tuy nhiên, lịch sử xã hội mỗi quốc gia dân tộc không giốngnhau cho nên tinh thần ấy cũng sẽ mang những nét của điều kiện lịch sử cụthể của mỗi dân tộc trên thế giới Khác với các quốc gia khác, lịch sử dân tộcViệt Nam có dòng chảy chủ đạo là lịch sử dựng nước và giữ nước gần nhưxuyên suốt quá trình hình thành và phát triển Nước ta trong quá trình pháttriển lịch sử của mình luôn bị đè nặng bởi sự đe dọa xâm lược từ bên ngoài.Điều này tác giả đã đưa ra ở phần trên mà từ đây chúng ta có thể thấy mảnhđất dân tộc ta luôn là miếng mồi ngon để kẻ thù thèm khát Kẻ thù trở thànhmối nguy cơ to lớn Trước những thế lực ấy, người Việt phải đoàn kết lại vớinhau, tạo nên một sức mạnh tập hợp, cùng nhau vùng lên đấu tranh, giữ vữngđộc lập chủ quyền dân tộc Đây là nhiệm vụ mang tính sống còn của tất cảngười con đất Việt Chính yêu cầu này tạo động lực góp phần vào cố kếtngười Việt lại với nhau, tạo truyền thống đoàn kết lâu đời của dân tộc ViệtNam Cuộc chiến đấu chống quân xâm lược là một thử thách ghê gớm nhất,toàn diện nhất sức sống của một dân tộc Để chiến đấu và chiến thắng một kẻthù mạnh hơn, dân tộc ta phải phát huy tất cả sức mạnh của đất nước, củanhân dân Đó là sức mạnh tổng hợp được tạo nên từ nhiều yếu tố, trong đó đạiđoàn kết dân tộc là nhân tố cơ bản nhất Lịch sử hàng ngàn năm giữ nước đãcho thấy, những lúc giữ vững và phát huy được sức mạnh đoàn kết của toàn dânthì cuộc chiến tranh yêu nước sớm muộn gì cũng sẽ giành được chiến thắng

Như vậy, cùng với cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên, cuộc đấutranh chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc là cơ sở khách quan thứ hai quy định

Trang 34

truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam Bên cạnh những yếu tố đó,chúng ta còn có thể thấy rằng truyền thống đoàn kết còn có cơ sở hình thànhngay trong bản thân mỗi con người Việt Nam Đó là sự yêu thương conngười, cùng giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn khó khăn Có thể nói đây là mộtcách của người Việt cùng với những yếu tố trên và được nâng cao thànhtruyền thống đoàn kết dân tộc.

Một trong những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trở thành cơ sởcho việc hình thành đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người làtinh thần tương thân, tương ái trong con người Việt Nam Đó cũng chính làlòng nhân ái trong truyền thống văn hóa Việt Nam

Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống tương thân, tương ái Bao đờinay, cái tình, cái nghĩa đậm đà nơi làng quê mà ông cha ta dày công xây đắpvẫn được các thế hệ người Việt giữ gìn, phát huy Dân ta vẫn bảo nhau: “xómgiềng tối lửa, tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”,

“thương người như thể thương thân”… đã trở thành nét văn hóa riêng của dântộc Việt Nam

Với lịch sử phong phú và quật cường của mình, dân tộc Việt Nam đãxây dựng nên một truyền thống giàu lòng tương thân, tương ái, gắn bó cộngđồng gia tộc, xóm làng và đất nước Nhân dân ta sống hòa thuận, yêu thươngđồng bào, đồng loại, nhất là với những người hoạn nạn khốn khó Lý giải điềunày, nhân dân ta đã cắt nghĩa nguồn gốc của mình bằng câu chuyện truyềnthuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng nở ra mộttrăm người con là tổ tiên của người Bách Việt Năm mươi con trai lên núi,năm mươi xuống biển Và Lạc Long Quân phong cho người con trai trưởnglàm Hùng Vương nối ngôi Các đời vua sau đều gọi là Hùng Vương Từ đây

mà chúng ta thường nói với nhau người Việt Nam là dòng giống Tiên Rồng,con Lạc cháu Hồng, sinh ra từ một mẹ Hồ Chí Minh thường gọi nhân dân ta

là đồng bào Trải qua lịch sử lâu dài nhân dân ta đã hình thành các tục lệ, xâydựng các thiết chế làng xã như: tục kết chạ, kết chiềng, kết nghĩa anh em giữa

Trang 35

các làng… Chính tình yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ nhau của nhân dân ta thểhiện rất rõ trong quy chế của phe, giáp, họ, làng như: xây dựng quỹ nghĩathương, lập Hội tương tế…nhằm giúp đỡ nhau khi hoạn nạn khó khăn Có thểnói, nhân dân ta từ tình yêu thương máu thịt trong gia đình đã mở rộng rathành tình yêu thương xóm làng rồi cả nước Bởi vậy, nhân dân ta từ lâu đãnhắc nhở nhau:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gươngNgười trong một nước phải thương nhau cùng”

Hai từ tương thân, tương ái ấy như luôn chảy trong dòng máu mỗi conngười Việt Nam Từ cuộc sống hàng ngày với lao động sản xuất, khi thiên tai,

lũ lụt, hạn hán, khi mất mùa, đói rét tràn lan… mỗi chúng ta lại cùng nhauchia ngọt, sẻ bùi Từng miếng cơm, manh áo được trao nhau, từng mái tranh,vách nứa cùng nhau che nắng, che mưa Cuộc sống khó khăn lại càng thấy rõhơn những tấm lòng vàng thể hiện tình yêu thương con người sâu sắc Rồi khiđất nước có giặc ngoại xâm, dân tộc ta lại sẵn sàng hi sinh tính mạng và tàisản vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do của Tổ quốc Lịch sử đãchứng minh và cho thấy sự gắn bó chặt chẽ với nhau trong cả nước vào mộttình yêu thương vô hạn, tạo nên ý chí kiên cường, vững chắc trước kẻ thù.Vào lúc này, hơn ai hết, vấn đề con người được đề cao, chú trọng Vấn đềtương thân, tương ái hòa vào trong vấn đề dân tộc Bởi lẽ, lúc đó nỗi đau lớnnhất của con người Việt Nam là mất độc lập tự do, là giải phóng dân tộc vàbảo vệ tổ quốc Điều này thể hiện rõ trong suốt mấy ngàn năm nhân dân tachiến đấu giữ gìn non sông gấm vóc, giữ gìn tổ tiên mình Có thể nói, tình yêuthương đã trở thành cơ sở để phong kiến Việt Nam xây dựng được đội quân

“phụ tử chi binh” Lịch sử thấy rõ, Phạm Ngũ Lão xây dựng đạo quân đềumột lòng thương yêu như cha với con Đây chính là yếu tố quan trọng của sựnghiệp giữ nước Bởi vậy, Lê Lợi, Nguyễn Trãi cũng đã chủ trương: “lấy đạinghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” Và dưới sự lãnh đạo củacác ông “khắp bốn phương dân chúng hội tụ, thiết quân rượu hòa nước, dưới

Trang 36

trên đều một bụng cha con” Thực tế lịch sử tác giả đã trình bày ở phần trên,trong phần này xin không nhắc lại Tuy nhiên, ở đây tác giả cũng xin được nóirằng, từ thực tế ấy đã khẳng định lý tưởng vì đại nghĩa của dân tộc Vì độclập, tự do đã sẵn sàng xả thân của người Việt Nó tiêu biểu cho sự quyết địnhtập thể cho một xã hội xả thân vì mục đích bảo vệ dân tộc mình, một tinh thầntương thân tương ái cao cả.

Tinh thần này còn được thể hiện với kẻ thù của dân tộc: kẻ thù xâmlược khi đã bại trận hay đầu hàng quy thuận cũng được nhân dân Việt Namkhoan dung, bảo toàn mạng sống, tạo điều kiện cho họ về sum họp với giađình Chúng ta có thể nhớ lại sự kiện năm 1077, nhà Lý đã chủ động giảnghòa, mở đường hiếu sinh cho ba vạn giặc Tống ở Bắc Sông Cầu Rồi sau này,các đời nhà Trần, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung đều có chủ trương thừalúc kẻ thù lâm vào thế cùng, thế thất bại mà chủ động cùng họ hòa hiếu để tạophúc cho kẻ xâm lược bại trận Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã từng tha chết cho hơnmột vạn lính, hơn hai trăm viên tướng và hơn một trăm quan nhà Minh bị tabắt trong chiến tranh Các ông không những cho lương ăn mà còn cấp cho

500 chiếc thuyền để cho chúng về nước Vậy nên, Nguyễn Trãi có viết trong

“Bình Ngô Đại Cáo”như sau:

“Tướng giặc bắt tù, xin thương hại vẫy đuôi cầu sống

Uy thần chẳng giết, lấy khoan hồng thể bụng hiếu sinh”

Như vậy, dù trong kháng chiến hay ở thời bình, nhân dân ta luôn pháthuy những truyền thống, những đạo lý tốt đẹp của cha ông Dù ở đâu, ta cũngbắt gặp những tấm gương tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, 54 dân tộc

là anh em một nhà Trong chiến tranh là quyên góp, ủng hộ lương thực, tiềncủa cho kháng chiến và cả hy sinh người thân hay chính bản thân mình bảo vệmạng sống cho những chiến sỹ kháng chiến Trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

và phát triển kinh tế không ít người dân Việt Nam ở khắp mọi miền tổ quốc

đã tình nguyện hiến đất mở đường, xây dựng các công trình phúc lợi phục vụđời sống dân sinh và còn rất nhiều những người có tấm lòng nhân ái, bao la đã

Trang 37

tham gia ủng hộ và vận động người thân, bạn bè tham gia hưởng ứng tạothành một phong trào sâu rộng “người người làm việc thiện, nhà nhà làm việcthiện, ngành ngành làm việc thiện” Tất cả đều vì sự ổn định và phát triển củanước Việt Nam và hơn hết là vì chúng ta có cùng một dòng máu con Lạc cháuHồng, là đồng chí, đồng bào.

Cùng với các giá trị truyền thống trên trong nền văn hóa Việt Nam, tinhthần ham học hỏi là một trong những giá trị có ảnh hưởng sâu sắc đến đờisống con người Việt Trước khi đi tìm hiểu về truyền thống này, chúng ta nóiqua một chút về từ ham học hỏi của dân tộc ta nói chung Ham học xuất phát

từ thái độ ham học hỏi của một người, mở rộng ra thì là của dân tộc Nó trởthành tính hiếu học chỉ khi mà thái độ ham học hỏi, ham hiểu biết đó đượcduy trì và thể hiện ra trong thời gian tồn tại của người đó Nói cách khác thìcái ham học đó khi được thấm sâu, biến thành một thứ bản năng, một thứ nhucầu tự nhiên không thể thiếu được của người đó và được thể hiện ra trong suốtcuộc đời Song càng trưởng thành thái độ ham học càng không còn tự nhiênnhư ban đầu nữa mà nó sẽ là sự ham học có ý thức Hai nhu cầu học tự nhiên

và nhu cầu học do xã hội này có thể trùng hợp, hoà vào nhau làm một màcũng có thể tách riêng, cùng tồn tại và có khi còn trở nên đối ngược nhau Khichúng ta hoà hợp với nhau thì, như ngôn ngữ vật lý, sẽ có sự cộng hưởng Sựcộng hưởng đó tạo ra cái mới thúc đẩy sự ham học lên một chất mới, thấmsâu vào con người như một thứ bản tính hiếu học của một người Kết quả củatính hiếu học sẽ là những cái mới về tri thức góp cho xã hội tiến lên Khikhông có sự hoà hợp, cộng hưởng giữa hai nhu cầu học hỏi này thì có thể cónhiều loại thái độ ham học khác nhau mà ở đây tác giả xin không bàn đến.Như vậy, có thể nói, sự ham học hỏi của người Việt Nam cũng được thể hiệnkhá sâu sắc trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc thông minh và có truyền thống hiếuhọc, ham học, người Việt Nam lấy sự học làm điều căn bản để thực hiện đạo

lý làm người Trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, qua mọi giai

Trang 38

đoạn thăng trầm của lịch sử, hiếu học là một truyền thống, là nguồn sức mạnhtinh thần luôn được đề cao và coi trọng Đó chính là tinh thần quả quyết, tínhkiên trì, nhẫn nại và ham học hỏi Điều này đã tạo điều kiện sản sinh nhiềubậc lương đống, các trung thần, những anh hùng dân tộc…Dù xuất thân mỗingười tuy khác nhau nhưng họ đều có điểm chung là tinh thần hiếu học Mộtthực tế trong lịch sử nước ta, như 82 tấm bia đá trong Văn Miếu Hà Nội chobiết thì nước ta đã có 1306 vị tiến sĩ, trong đó có 47 trạng nguyên (là thủ khoatrong các kỳ thi tiến sĩ) Ngoài ra còn có những người không là trạng nguyên

mà vẫn được lịch sử ghi nhận là những đại trí thức, bác học của dân tộc nhưLương Thế Vinh, Hưng Đạo Vương, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê QuýĐôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Hồ Chí Minh bởi những gì mà

họ để lại cho dân tộc, cho các đời sau là những di sản trí tuệ vô giá, niềm tựhào của văn hoá Việt Nam Rồi có những câu chuyện nói về tính ham học củadân Việt Nam trải qua bao lớp bụi thời gian vẫn trường tồn cùng lịch sử Dângian ta thường truyền tụng nhau rất nhiều câu truyện về những ông TrạngNồi, Trạng Diều xuất thân nghèo khổ, nhờ ham học hỏi mà trở thành TrạngNguyên Điều này thể hiện tinh thần vượt khó, vượt khổ của con người Việt

để đạt được mục đích sống cao hơn

Trong mọi giai đoạn của lịch sử, tinh thần ham học luôn được dân tathể hiện cụ thể và sâu sắc Điều này Hồ Chí Minh có viết trong “Chính sáchngu dân”: “Người An Nam rất hiếu học…, có con học giỏi là một vinh hạnhcho cha mẹ Cho nên dù có nghèo đến đâu, cha mẹ cũng cố tìm cách cho concái học hành “Nửa bụng chữ bằng một hũ vàng”là một câu tục ngữ biểu hiệnnhiệt tình ham muốn có học thức của dân tộc An Nam”[42, tr 423] Học đãtrở thành đạo lý của nhiều người cũng như của nhiều dân tộc Ở Việt Nammột đất nước ngàn năm văn hiến, trong lịch sử phát triển giáo dục nước nhàchúng ta thấy xuất hiện nhiều những gia đình khoa bảng, gia đình có conthành đạt, gia đình nổi tiếng về lòng ham học, hiếu học Khi chúng ta tới địaphương nào, chúng ta cũng bắt gặp những gia đình, dòng họ làm rạng danh

Trang 39

xóm làng, cộng đồng dân cư bởi sự vun đắp truyền thống này Và cho đếnngày nay, sự ra đời của các Hội khuyến học ở từng địa phương lại càng làmcho tinh thần hiếu học được phát huy hơn nữa Có thể nói với truyền thốngnày đã đóng góp khá lớn vào sự phát triển của đất nước, cũng như trong việcgiáo dục con người mới, đặc biệt là tầng lớp học sinh, sinh viên ngày nay.

1.2.2 Các giá trị văn hóa của nhân loại

* Những tinh hoa của Nho giáo

Nho giáo là một học thuyết tư tưởng của Trung Quốc ra đời đến nay

đã hơn 2500 năm Về nội dung tư tưởng của Nho giáo, bên cạnh những mặttiêu cực thì chúng ta không thể không thừa nhận những mặt tích cực, mangtính nhân văn, nhân đạo mà nó đã giúp Nho giáo tồn tại cho đến ngày nay.Thực tế, Nho giáo có những điểm hợp lý được xây dựng trên cơ sở của sựnhận thức: đó là đời sống cá nhân không thể tách rời các mối quan hệ xã hội.Vậy cụ thể đó là cái gì mà Hồ Chí Minh đã kế thừa để xây dựng nên đạo đức

về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa

Trước hết, nói đến Nho giáo là nói đến tư tưởng coi con người là trungtâm của xã hội Nho giáo coi mỗi cá nhân có quan hệ mật thiết tới sự tồn tại

và phát triển của xã hội Vì vậy, việc tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cá nhânluôn được coi trọng Trong Nho giáo, mọi sự thịnh, suy trong phạm vi giađình, nhà nước đều có điểm xuất phát từ chỗ có hay không sự nỗ lực học tập,rèn luyện của những con người cụ thể Mỗi người phải chịu khó học tập, rènluyện mới có khả năng làm tốt vai trò làm người chủ trong gia đình, ngườichủ đất nước Tức là mỗi con người đều cần chủ động tích cực tham gia vào

sự vận động, biến đổi của đất nước Ngày nay con người xã hội chủ nghĩakhông phải từ trên trời rơi xuống mà phải trải qua quá trình học tập, rèn luyện.Như vậy, việc tu thân là một điều cần thiết hơn cả Tuy nhiên, mỗi xã hộikhác nhau mục đích tu thân khác nhau Trong xã hội chủ nghĩa, tu thân là đểrèn luyện đạo đức cách mạng, tiếp thu những thành tựu khoa học của nhânloại, phấn đấu trở thành những con người mới Những con người biết sống vì

Trang 40

mọi người, vì tương lai của gia đình và đất nước, vì lý tưởng cộng sản chủnghĩa Đó là những con người có trình độ chuyên môn giỏi, nắm được nhữngtri thức khoa học tiên tiến, những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên,

xã hội và tư duy

Một điều mà Nho giáo đã để lại cho chúng ta nữa là: tư tưởng coi conngười không phải là các thực thể tách rời, cô lập, mà là con người xã hội ỞNho giáo, con người được đặt trong các mối quan hệ tác động qua lại vớinhau Đó là các mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, thầy trò…Cùng với việc đưa ra các mối quan hệ ấy, Nho giáo còn chuẩn mực hóa chúng

và coi đó là tư tưởng đạo đức của xã hội phong kiến Có thể nói, những chuẩnmực này nếu đặt ở thời đại ngày nay nó sẽ mang tính lạc hậu Song, nếuchúng ta lược bỏ đi những nội dung phong kiến của nó thì nó sẽ mang tínhchất chân lý và phổ biến trong xã hội Ở đây, vấn đề đặt ra là, con người cầnứng xử như thế nào trong các mối quan hệ xã hội để phù hợp với hoàn cảnhlịch sử cụ thể của xã hội mà mình đang sống Ở Việt Nam hiện nay, chúng tađang quá độ lên Xã hội chủ nghĩa Vậy trong xã hội chủ nghĩa, chúng ta vậndụng tính chân lý trong Nho giáo ở chỗ nào? Trong xã hội xã hội chủ nghĩa -các mối quan hệ khác hẳn so với xã hội trước đây, đặc biệt là xã hội tư bản Ở

đó không có sự lãnh đạo chuyên chế, không có sự phục tùng kiểu nô lệ hoặc

để đồng tiền lũng đoạn nhân tâm Đây là một xã hội dân chủ Mọi người luônquan tâm đến nhau với tinh thần: mình vì mọi người, mọi người vì mình.Trong xã hội này, các mối quan hệ vợ chồng, cha con, anh em không chỉmang tính huyết thống mà còn mang tính xã hội sâu sắc Người phụ nữ đượcgiải phóng và vai trò của họ trong xã hội được đề cao Quan hệ bạn bè là quan

hệ tương trợ và tin cậy Để các mối quan hệ được tốt đẹp thì con người cần cómột quá trình học tập và rèn luyện Bởi lẽ những cái cũ dễ gây trở ngại choviệc xây dựng các quan hệ xã hội mới Song ngay trong việc học tập và rènluyện của mỗi cá nhân, chúng ta cũng cần phải tiếp thu, kế thừa cách nhìn tíchcực về con người xã hội của Nho giáo

Ngày đăng: 13/09/2015, 11:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên) (2004), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh (dưới dạng hỏi và đáp), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh (dưới dạng hỏi và đáp)
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004
2. Phạm Ngọc Anh, Hoàng Trang,(2009), Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Hoàng Trang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
3. Phạm Ngọc Anh (chủ biên) (2006), Triết lý phát triển Hồ Chí Minh – Giá trị lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý phát triển Hồ Chí Minh – Giá trị lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Ngọc Anh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
4. Phạm Ngọc Anh (chủ biên) (2009), Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát huy các nguồn lực của dân, làm lợi cho dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát huy các nguồn lực của dân, làm lợi cho dân
Tác giả: Phạm Ngọc Anh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
5. Lê Trọng Ân, (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, Tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng", Tạp chí "Triết học
Tác giả: Lê Trọng Ân
Năm: 2005
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức – nhân văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức – nhân văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên) (2003), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
9. Lê Duẩn (1975), Con đường tu dưỡng rèn luyện đạo đức của thanh niên, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường tu dưỡng rèn luyện đạo đức của thanh niên
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1975
10. Thành Duy (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
11. Thành Duy (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Thành Duy (2004), Góp phần nghiên cứu Văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu Văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
13. Thành Duy (2007), Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
14. Đoàn Văn Đàn (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Giáo dục thanh niên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Giáo dục thanh niên
Tác giả: Đoàn Văn Đàn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1993
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w