Trong đề tài này, tôi nghiên cứu việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp với thơ văn trong giảng dạy bài 14 Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam, bài 15 Thời Bắc thuộc và các cu
Trang 11 TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Nói về tầm quan trọng của việc nắm vững lịch sử, qua đó giáo dục niềm tự hào
về lịch sử dân tộc, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục ở nước ta hiện nay, chất lượng dạy học của môn Lịch
sử chưa cao Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng này là chậm đổimới phương pháp dạy học Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.”
Dạy học lịch sử là quá trình giúp học sinh (HS) tìm hiểu những gì đã diễn ra ởquá khứ, và mục tiêu của bộ môn Lịch sử chính là việc giúp HS biết quá khứ, hiểuquá khứ đồng thời rút ra những bài học từ quá khứ để vận dụng vào trong cuộc sốnghiện tại và tương lai
Đặc thù học tập của môn Lịch sử là các em phải tiếp cận với nhiều sự kiện lịch
sử, với những vị anh hùng… bản thân những sự kiện lịch sử vốn đã khô khan, nhất lànhững bài, những chương viết về các trận đánh có rất nhiều những con số về ngày,tháng, năm xảy ra sự kiện hoặc những số liệu về các thành tựu đã đạt được trên cáclĩnh vực Khi học lịch sử thì yêu cầu các em nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài họcmột cách chính xác và đầy đủ, vì thế bộ môn Lịch sử khó gây được hứng thú cho các
em, làm cho các em cảm thấy nặng nề, gò ép và nhàm chán
Trong thực tế, lịch sử là môn học có kiến thức liên môn, song có lẽ có mốiquan hệ tác động qua lại mật thiết và bổ sung cho nhau nhiều nhất là mối quan hệgiữa lịch sử và văn học Tài liệu văn học nói chung và thơ văn nói riêng ở nước ta cókhả năng biểu hiện nội dung lịch sử rất sâu sắc, nó không chỉ có giá trị như những tài
Trang 2liệu lịch sử, mà còn phản ánh được bản chất của từng sự kiện lịch sử cụ thể Nếu nhưvăn học thường mô tả những sự kiện bằng hình tượng thì lịch sử tái tạo lại quá khứbằng những con số, sự kiện cụ thể, điều đó đã tác động rất lớn đến nhận thức của HS.
Trong việc khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, nội dungtruyền đạt và phương pháp của giáo viên (GV) là yếu tố hết sức cần thiết Để cho bàigiảng lịch sử không phải rơi vào tình trạng “khô, khó, khổ”, người GV lịch sử phảilinh hoạt sử dụng nhiều phương pháp đổi mới trong dạy học, trong đó sử dụng cáccâu chuyện và các tài liệu văn thơ là một trong những phương pháp hữu hiệu nângcao chất lượng bài giảng Thông qua những câu chuyện lịch sử, những tài liệu thơvăn sinh động có liên quan đến nhân vật, địa danh hay sự kiện sẽ có tác dụng giúp HShứng thú hơn, có thể ghi nhớ sâu hơn những sự kiện lịch sử, những nhân vật, mốcthời gian, có sự hình dung đa dạng về quá khứ, tạo được biểu tượng sinh động, chínhxác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử Từ đó, HS có thể hiểu rõ bản chất sự kiện,hiện tượng lịch sử, có thể dễ dàng lĩnh hội các kiến thức lịch sử, các thuật ngữ, hìnhthành các khái niệm lịch sử, nắm được những kết luận khoa học mang tính khái quát.Trên cơ sở đó, giáo dục, bồi dưỡng cho HS những tư tưởng, tình cảm đúng đắn (tựhào, gìn giữ, phát huy các truyền thống tốt đẹp của dân tộc, hình thành và phát triểnlòng yêu nước, biết khâm phục, kính trọng những anh hùng dân tộc, người có côngvới tổ quốc ) và hình thành nhân cách cho HS
Trong đề tài này, tôi nghiên cứu việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp
với thơ văn trong giảng dạy bài 14 (Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam), bài 15 (Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X) và bài 16 (Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)- (Tiếp theo)) chương trình Lịch sử lớp 10 và coi đó
là nguồn cung cấp thông tin tạo hứng thú học tập, giúp HS nắm rõ bản chất sự kiện,hiện tượng lịch sử
Trang 3Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương là hai lớp 10C5, 10C6Trường THPT Nguyễn Trung Trực Lớp 10C5 là lớp thực nghiệm và lớp 10C6 là lớpđối chứng Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế Kết quả của thựcnghiệm cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của HS: Lớpthực nghiệm có kết quả cao hơn lớp đối chứng Điểm kiểm tra đầu ra của lớp thực
nghiệm có giá trị trung bình là 7.40; điểm kiểm tra đầu ra của lớp lớp đối chứng có giá trị trung bình là 5.86 Kết quả kiểm chứng T-test cho thấy p = 0.0001< 0.05;
nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm với lớp đối
chứng Mức độ ảnh hưởng là 0.81 cho thấy có tác động có ảnh hưởng lớn đối với
nhóm thực nghiệm Điều đó chứng minh rằng sử dụng phương pháp kể chuyện kếthợp với thơ văn trong dạy học làm nâng cao kết quả học tập lịch sử cho HS lớp 10Trường THPT Nguyễn Trung Trực
2 GIỚI THIỆU
Kể chuyện lịch sử là một phương pháp dùng lời nói để diễn tả một cách sinhđộng hấp dẫn, có hình ảnh về một câu chuyện đã xảy ra trong quá khứ Câu chuyện
kể có khi chỉ là những mảnh sự kiện, biến cố lịch sử liên quan đến nội dung bài học,
có khi là những tình tiết liên quan đến các nhân vật lịch sử, có khi chỉ là giải thích
cho một cái tên, địa danh, cho một khái niệm, thuật ngữ trong bài học “Những câu chuyện lịch sử mang lại giá trị vô cùng to lớn bởi đó là những bài học làm người, hình thành nhân cách sống”.
Sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử kết hợp với thơ văn không chỉ tạohứng thú học tập cho HS, giúp HS nắm vững bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử màcòn góp phần giáo dục, bồi dưỡng cho HS những tư tưởng, tình cảm đúng đắn
Một số công trình nghiên cứu liên quan:
- “Sử dụng tài liệu văn học dân gian phục vụ giảng dạy và học tập lịch sử Việt Nam trong trường phổ thông ” của tác giả Đặng Hoàng Sang - Hội khoa học lịch sử
Đồng Tháp
Trang 4- “Giải pháp hữu ích tăng cường hứng thú cho HS thông qua kể chuyện lịch
sử trong dạy học lịch sử ở trường THCS”, tác giả Tạ Văn Tuấn, Trường trung học cơ
sở Đinh Trang Hòa
- “Sử dụng tài liệu thành văn nhằm tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn (1919 – 1945” của Nguyễn Hải Yến.
- “Sử dụng thơ văn để tạo hứng thú cho HS trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT” của Nguyễn Thị Thúy.
- “Phương pháp kể chuyện nhân vật lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn (1946 – 1954)” của Mai Thị Ngọc Lệ.
- “Sử dụng thơ văn trong dạy học lịch sử” của Ngô Thị Hòa.
Tuy nhiên, mỗi công trình chỉ nghiên cứu một mảng của vấn đề, hoặc là sửdụng phương pháp kể chuyện hoặc là sử dụng tài liệu thơ văn trong dạy học lịch sử ởtrường THPT, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu sử dụng phương pháp kểchuyện kết hợp thơ văn trong dạy học lịch sử lớp 10
2.1 Hiện trạng
Nội dung kiến thức chương trình và sách giáo khoa môn Lịch sử ở trườngTHPT còn quá nặng, bài giảng thiên về lý thuyết khô khan, HS khó nắm vững, dẫnđến chán nãn không thích thú học môn Lịch sử
Quan niệm của xã hội, gia đình và đặc biệt là của HS đối với bộ môn Lịch sửcòn khá lệch lạc: không đầu tư, không chú ý thậm chí xem thường hoặc học choxong Việc dạy và học lịch sử ở bậc phổ thông hiện nay dường như chỉ chú tâm vàohọc thuộc bài là chính, hay còn gọi là “học vẹt”
Ở mỗi lớp học, trình độ không đồng đều, HS cá biệt ngày càng nhiều ở trường,lớp làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giảng dạy của GV
Thực tế trong chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 10, các câu chuyện vàcác bài thơ văn đã được lồng ghép vào nội dung một số bài học Nhưng do nội dung
Trang 5và thời lượng chương trình nên số lượng các câu chuyện và các bài thơ văn được đưavào chương trình còn hạn chế.
Nhiều GV hiện nay đã sử dụng các câu chuyện kết hợp văn thơ trong dạy họclịch sử, nhưng trong quá trình giảng dạy và tích hợp câu chuyện với văn thơ chưa có
hệ thống và chưa hiệu quả
Qua việc thăm lớp, dự giờ khảo sát trước khi tác động, khi giảng dạy GV đã cốgắng sử dụng các câu chuyện và tài liệu thơ văn vào bài giảng Tuy nhiên, hầu hếtcác GV đều bám vào các câu chuyện và thơ văn trong sách giáo khoa mà ít liên hệ,
mở rộng đối với các câu chuyện và thơ văn bên ngoài, vì vậy chưa tạo được hứng thúhọc tập cho HS
2.2 Nguyên nhân
- GV ít đầu tư sưu tầm và sử dụng tư liệu
- Phương pháp dạy học sử dụng trong môn Lịch sử chưa phát huy được tínhtích cực của HS, chưa tạo được sự hứng thú của HS Các sự kiện, hiện tượng lịch sử,nhân vật lịch sử, không được trình bày một cách cụ thể, sinh động
- Việc giảng dạy được xem là “lối dạy truyền thống” (thầy đọc, trò chép, nóilại những điều trong sách giáo khoa, học sinh chỉ ghi nhớ, học thuộc mà không hiểunên chóng quên…) đã ăn sâu vào suy nghĩ, thói quen trong cách dạy và học của GV
và HS, chi phối việc chỉ đạo dạy học, việc tổ chức kiểm tra, thi cử
- Tư tưởng xem nhẹ bộ môn chính, phụ
- Việc tích cực chủ động tìm tòi tài liệu lịch sử ở HS còn hạn chế
2.3 Giải pháp thay thế
GV sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp với thơ văn trong giảng dạy lịch
sử nhằm đổi mới phương pháp dạy học của bộ môn để nâng cao chất lượng giảng dạycũng như phát triển các năng lực của HS
Qua phương pháp này giúp HS hứng thú hơn khi học lịch sử, có sự hình dung
đa dạng về quá khứ, tạo được biểu tượng sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện
Trang 6tượng lịch sử Từ đó, các em có thể dễ dàng lĩnh hội các thuật ngữ, hình thành cáckhái niệm lịch sử, nắm được những kết luận khoa học mang tính khái quát Mặt khác,
nó còn có tác dụng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức và hình thànhnhân cách cho HS
2.4 Vấn đề nghiên cứu
Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học có làmnâng cao kết quả học tập của HS lớp 10C5 Trường THPT Nguyễn Trung Trực haykhông?
2.5 Giả thuyết nghiên cứu:
Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học có làmnâng cao kết quả học tập của hs lớp 10C5 Trường THPT Nguyễn Trung Trực
3 PHƯƠNG PHÁP
3.1 Khách thể nghiên cứu
+ GV: Nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và giáo dục
HS, giảng dạy môn Lịch sử tại trường THPT Nguyễn Trung Trực trực tiếp thực hiệnviệc nghiên cứu
+ HS: Hai lớp chọn: Lớp 10C5 và lớp 10C6 có nhiều điểm tương đồng nhau vềtrình độ HS, số lượng, giới tính và độ tuổi
Bảng 1 Tổng số và giới tính của HS lớp 10 trường THPT Nguyễn Trung Trực
3.2.Thiết kế nghiên cứu
Chọn hai lớp: Lớp 10C5 là lớp thực nghiệm, lớp 10C6 là lớp đối chứng
* Kiểm tra trước tác động: Tôi dùng kết quả bài kiểm tra học kì I để xác định các
nhóm tương đương
Bảng 2 Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
Lớp đối chứng (10c6) Lớp thực nghiệm (10c5)
Trang 7Điểm trung bình 5.62 5.74
+ Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai lớp có sự khác nhau, do đóchúng tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm sốtrung bình của hai lớp trước khi tác động
+ P = 0.799> 0.05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai lớp
thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai lớp được coi là tương đương
* Kiểm tra sau tác động: Tôi dùng bài kiểm tra giữa học kì II theo phân phối
chương trình để kiểm chứng sự chênh lệch điểm số trung bình giữa hai lớp sau khitác động
Bảng 3 Thiết kế nghiên cứu
Kiểm tra sau tác động Thực
nghiệm
(Lớp 10C5)
O1
Dạy học có sử dụng phươngpháp kể chuyện kết hợp thơvăn
O4
Ở thiết kế này tôi sử dụng phép kiểm chứng T-tes độc lập
3.3 Quy trình nghiên cứu
a Cách thức tiến hành
- Lớp đối chứng (10C6): GV thiết kế giáo án và giảng dạy bình thường (không sửdụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong giảng dạy)
- Lớp thực nghiệm (10C5): GV thiết kế giáo án và giảng dạy sử dụng phương pháp
kể chuyện kết hợp thơ văn trong giảng dạy bài 14 (Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam), bài 15 (Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X) và bài 16 (Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh
Trang 8giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)-(Tiếp theo)) chương trình Lịch sử
lớp 10, cụ thể là lớp 10C5 - Trường THPT Nguyễn Trung Trực
Trong quá trình giảng dạy, GV lựa chọn một số câu chuyện và các bài thơ vănphù hợp với nội dung bài học để giảng dạy GV dẫn các câu chuyện và các bài thơvăn vào bài giảng theo dạng nhập đề (chuẩn bị cho HS tiếp thu bài mới), giới thiệuvấn đề (khắc sâu kiến thức trọng tâm) và kết luận (tóm tắt những tư tưởng chính, rút
ra kết luận, khái quát hóa) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS, giúp HS ghi nhớ tốtnhững sự kiện lịch sử, những nhân vật, mốc thời gian, qua đó hiểu rõ bản chất sựkiện, hiện tượng lịch sử Trên cơ sở đó giáo dục, bồi dưỡng cho HS những tư tưởng,tình cảm đúng đắn
b Thời gian thực hiện:
Thời gian của quá trình nghiên cứu khoảng đầu tháng 11 năm 2014 và đến cuốitháng 2 năm 2015 (theo kế hoạch dạy và học của nhà trường và theo thời khóa biểu
để đảm bảo tính khách quan)
3.4 Đo lường và thu thập dữ liệu
Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra học kì I (môn Lịch sử) do giáo viêntrong tổ thống nhất ra đề
Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra sau khi học xong bài 14, bài 15 và bài
16 Lịch sử 10 Dạng câu hỏi kiểm tra là tự luận
Sau khi dạy xong các bài học trên, tôi tiến hành bài kiểm tra 1 tiết và chấm bàitheo đáp án đã xây dựng (nội dung được trình bày ở phần phụ lục)
Trang 94 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
4.1 Trình bày kết quả
Bảng 4 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Lớp thực nghiệm (10C5) Lớp đối chứng (10C6)
Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-Test cho kết quả
P = 0.0001<0.05, cho thấy: sự chênh lệch giữa điểm trung bình lớp thực nghiệm và
lớp đối chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình lớp thực
nghiệm cao hơn điểm trung bình lớp đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quảcủa tác động
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0.81.
Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc dạy học có sử dụng phương pháp
kể chuyện kết hợp thơ văn đến kết quả học tập của lớp thực nghiệm là lớn.
Giả thiết của đề tài việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trongdạy học làm nâng cao kết quả học tập của hs lớp 10 Trường THPT Nguyễn Trung Trực đã được kiểm chứng
Trang 10Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước và sau tác động
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
4.3 Bàn luận
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của lớp thực nghiệm là điểm trung bình
= 7.40, kết quả bài kiểm tra tương ứng của lớp đối chứng là điểm trung bình = 5.86.
Độ chênh lệch điểm số giữa hai lớp là 1.54 Điều đó cho thấy điểm trung bình của hai
lớp đối chứng và lớp thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động cóđiểm trung bình cao hơn lớp đối chứng
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0.81 Điều
này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Phép kiểm chứng T- test điểm trung bình sau tác động của 2 lớp là P = 0.0001< 0,05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của 2 lớp
không phải là ngẫu nhiên mà là do tác động
* Hạn chế:
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạyhọc lịch sử ở bậc THPT là một giải pháp rất tốt để nâng cao kết quả học tập của HS,
Lớp đối chứng (10C6) Lớp thực nghiệm (10C5)
Trang 11nhưng để sử dụng phương pháp này có hiệu quả người GV cần phải đầu tư nhiều thờigian và công sức; biết khai thác các nguồn thông tin, tài liệu; biết chọn lọc tư liệu đểđưa vào tiết dạy sao cho có hiệu quả nhất Một vấn đề cần lưu ý khác là khi sử dụngphương pháp này yêu cầu GV phải có giọng nói diễn cảm nếu không kiến thức đưavào nhiều khi sẽ phản tác dụng vì giọng của GV khiến HS mất hứng thú
5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1 Kết luận
Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong giảng dạy lịch sử
10 Trường THPT Nguyễn Trung Trực đã góp phần nâng cao kết quả học tập của HS
Qua giảng dạy, tôi đã rút ra được một kinh nghiệm mà bản thân tôi cho là rấtquý Đó là: khi sử dụng các câu chuyện, kiến thức thơ văn vào việc giảng dạy lịch sử
sẽ gây hứng thú cho HS trong việc tiếp thu bài Những tiết học như vậy trở nên sinhđộng hẳn Khi GV kể chuyện hay đọc thơ minh hoạ, cả lớp chăm chú lắng nghe và tỏ
ra rất thích thú Những tiết học như thế đã để lại trong lòng các em những ấn tượngsâu sắc và lâu bền Chắc chắn những sự kiện trong bài học lịch sử sẽ lưu lại trong ký
ức các em sâu hơn, lâu hơn Tuy nhiên, trong chương trình lịch sử 10 không phảitrong bài giảng nào GV cũng sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn, nó chỉđược sử dụng khi đảm bảo tính cần thiết và hiệu quả cần đạt
5.2 Khuyến nghị
* Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm xây dựng và tiến tới sử dụng nhữngphương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học, cần chỉ đạo cho thư viện nhà trườngtăng cường sưu tầm, tập hợp các loại sách, tài liệu tham khảo phục vụ nhu cầu dạy vàhọc Lịch sử của GV và HS
Cần hỗ trợ và tạo điều kiện cho GV lịch sử tổ chức các cuộc thi, các trò chơi lịch sử, các chuyến tham quan di tích lịch sử, bảo tàng…
Trang 12* Đối với GV: không ngừng tự học, tự bồi dưỡng, chịu khó đầu tư thời gian,công sức để sưu tầm tài liệu, sắp xếp thành hệ thống theo từng tiết học, từng chương,từng phần phù hợp với nội dung và kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa.
GV cần đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với HS trong quá trình dạy học nhưsưu tầm tại liệu trước ở nhà theo định hướng của GV
Với kết quả của đề tài này, tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia
sẻ và đặc biệt là GV giảng dạy bộ môn Lịch sử có thể ứng dụng đề tài này vào việcdạy học để tạo hứng thú cho HS nhằm nâng cao kết quả bộ môn
Trang 13TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, Nxb
Đại học Sư phạm
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánhgiá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Lịch sửcấp trung học phổ thông, Hà Nội
3 Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (2003),
Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục.
4 Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên), Nguyễn Ngọc Cơ (Chủ biên), Nguyễn Anh
Dũng, Trịnh Đình Tùng, Trần Thị Vinh (2006), Lịch sử 10, sách giáo viên,
Nxb Giáo dục
5 Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên), Lương Ninh, Trương Hữu Quýnh (Chủbiên), Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Hồng Liên, Nguyễn Cảnh Minh, Nghiêm Đình
Vỳ (2013), Lịch sử 10, Nxb Giáo dục Việt Nam.
6 Nguyễn Thành (Chủ biên), Phùng Đức Thắng, Đặng Văn Thái (2000), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7 Nguyễn Khắc Thuần (2003), Việt sử giai thoại, tập 1, Nxb Giáo dục.
8 Trịnh Tùng (1999), Phương pháp dạy học lịch sử, Nxb Giáo dục.
9 Thái Duy Tuyên (2007), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nxb
Giáo dục
10.Việt Nam sử ca – sách điện tử
11.Mạng internet: vi.wikipedia.org, www.sugia.vn, baigiang.violet.vn, hotrodayhoc.com, vinhphuc.edu.vn …
Trang 14PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1: PHƯƠNG PHÁP KỂ CHUYỆN KẾT HỢP THƠ VĂN TRONG
DẠY HỌC BÀI 14, BÀI 15 VÀ BÀI 16 LỊCH SỬ 10
Sau đây là việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy họclịch sử ở bài 14, bài 15 và bài 16 trong chương trình Lịch sử lớp 10 ở trường THPTNguyễn Trung Trực mà bản thân tôi đã thực hiện:
Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam
Mục 1 Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc
GV liên hệ những câu chuyện truyền thuyết như: Con rồng cháu tiên, ThánhGióng, Bánh chưng bánh dày, những câu chuyện này đã cơ bản phản ánh được “cáithần” của sự kiện, của mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể
Ví dụ, khi cung cấp cho HS nội dung: công cụ sản xuất bằng đồng thau đã trởnên phổ biến và bước đầu sử dụng công cụ bằng sắt, GV tóm tắt ngắn gọn nội dungtruyền thuyết Thánh Gióng và sử dụng chi tiết Thánh Gióng yêu cầu: “Sứ giả hãymau về tâu với nhà vua đúc cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt, một áo giáp sắt
và một cái nón sắt Ta sẽ đánh tan quân giặc”
GV đặt câu hỏi: Tại sao Thánh Gióng không yêu cầu sứ giả đúc cho các loại vũkhí bằng công cụ khác mà phải bằng sắt?
Sau khi HS trả lời, GV nhận xét, bổ sung: thời Hùng Vương tương ứng với giaiđoạn văn hóa Đông Sơn nhân dân ta đã sử dụng công cụ bằng sắt tuy mới ở “bướcđầu” Từ đó, giúp HS nhận thức được rằng nhờ sử dụng công cụ mới nên người Việt
cổ có được một nền kinh tế phát triển mạnh để từ đây tạo nên những chuyển biến tolớn về mặt xã hội Bên cạnh đó, qua câu chuyện ta xác định được những yếu tố thờigian là thời Hùng Vương thứ 6 (tương ứng với thời nhà Ân ở Trung Quốc), đồng thờinêu cao truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ của nhân dân ta(cả làng góp gạo thổi cơm cho Gióng ăn)
Trang 15Khi giảng về nguồn gốc và quốc hiệu nước ta, GV có thể đọc câu thơ sau củaChủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Lịch sử nước ta”:
“Hồng Bàng là tổ nước ta Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang”
Tiếp đó, GV có thể trích dẫn câu ca dao sau để HS khắc sâu kiến thức về cộinguồn dân tộc:
“Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3”
Hoặc:
“Ai về Phú Thọ cùng ta Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười.
Ai về đến ngả ba Chanh Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa thành ốc lạ thường Trải bao năm tháng nẻo đường còn đây”
Từ đó HS thêm tự hào về truyền thống dân tộc và có ý thức giữ gìn và xâydựng đất nước
Về sự thất bại của nước Văn Lang – Âu Lạc trước sự tấn công của phương
Bắc, từ đó nước ta bước vào thời kì Bắc thuộc, chúng ta có thể kể câu chuyện “Mị Châu, Trọng Thủy” để HS dễ học dễ nhớ hơn Hoặc cũng có thể trích dẫn đoạn thơ
sau trong tác phẩm “Việt Nam sử ca”:
“Loa thành nhà Thục thật, hư:
“Nỏ thần trăm phát”? Gian mưu Triệu Đà:
Se duyên, Thục - Triệu thông gia
Đà mang giảo kế lừa nhà Thục Vương.
Xót nàng duyên gãy mà thương Tội nàng tình thiệt vạ vương rụng rời.
Trang 16Triệu Đà được nỏ, nuốt lời
An Dương Vương phải bỏ đời giữa khơi!”
Để tổng kết mục 1, GV có thể trích dẫn đoạn thơ sau trong “Việt Nam sử ca”:
“"Giấy rách còn giữ lấy lề"
Người Việt đâu cũng nhớ về chốn quê.
Lạc Long Quân lấy Âu Cơ Mười lăm bộ họp dưới cờ Văn Lang.
Họ Hồng Bàng, giữ giang san Mười tám đời rạng ngai vàng Hùng Vương!”
Qua đoạn trích trên sẽ khắc sâu cho HS kiến thức khái quát về giai đoạn lịch sửthời kì dựng nước của dân tộc Từ đó, bồi dưỡng cho HS ý thức về cội nguồn dân tộc,lòng yêu quê hương đất nước và tình đoàn kết gắn bó dân tộc
Mục 2 Quốc gia cổ Chăm pa
GV có thể kể chuyện về quá trình mở rộng lãnh thổ của nước ta xuống phíaNam
Ví dụ: Năm 1069, Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, bắt đượcvua Chế Củ và 5 vạn dân Năm sau (1070), vua Chế Củ xin đem ba châu: Địa Lý, MaLinh, Bố Chính (Quảng Bình và Bắc Quảng Trị) để chuộc
Tiếp đó, GV có thể kể cho HS câu chuyện về Công chúa Huyền Trân, con gáivua Trần Nhân Tông Năm 1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành là ChếMân để đổi lấy hai châu Ô, Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế)
Sau đó GV kết luận: Cuối thế kỉ XV, Chăm pa suy thoái và trở thành một bộphận của lãnh thổ, cư dân và văn hóa Việt Nam
Trang 17Bài 15: “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (Từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)”
Nhà Đường nước chiếm, nhà thâu:
“An Nam đô hộ phủ”, sầu quốc vong!”
Khi dạy đến chính sách đồng hóa về văn hóa, với nội dung mở trường dạy chữHán, truyền bá Nho giáo vào Việt Nam, GV có thể kể chuyện về Khổng Tử, trích dẫnmột số câu nói của Khổng Tử trên quan điểm Nho học
Mục 2 Những chuyển biến về kinh tế - xã hội
GV có thể kể tóm tắt nội dung câu chuyện “Sự tích bánh chưng bánh dày” đểkhẳng định các phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc vẫn được bảo tồn, nhândân ta không bị đồng hóa về văn hóa
Trang 18Bài 16: “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (Từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)”- Tiếp theo
Mục 1 Khái quát phong trào đấu tranh từ thế kỉ I đến đầu thế kỉ X
GV có thể trích đọc một số câu ca dao sau để HS tạo biểu tượng lịch sử, hìnhdung rõ hơn được bối cảnh lịch sử lúc đó như:
Về khởi nghĩa của Bà Triệu:
“Có bà Triệu tướng Vâng lệnh trời ta Trị voi một ngà Dựng cờ mở nước”
Và tương truyền, quân Ngô khiếp uy dũng của Bà Triệu nên có câu:
“Cầm ngang ngọn giáo chống hổ dễ Giáp mặt vua bà thực khó ghê”
Với khởi nghĩa Mai Thúc Loan, GV có thể đọc bài thơ sau (được ghi trong
“Tiên chân báo huấn tân kinh” ở đền thờ Ông), để HS nhớ và hiểu hơn nguyên nhân
bùng nổ khởi nghĩa, ca tụng công đức của Mai Thúc Loan:
“Hùng cứ châu Hoan đất một vùng, Vạn An thành lũy khói hương xông, Bốn phương Mai Đế lừng uy đức, Đường đi cống vải từ đây dứt, Dân nước đời đời hưởng phúc chung”
Mục 2 Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu
Về khởi nghĩa Hai Bà Trưng, GV sử dụng đoạn thơ trong “Đại Nam quốc sửdiễn ca” để giúp HS nắm được nguyên nhân bùng nổ, kẻ thù, diễn biến và kết quả củacuộc khởi nghĩa Từ đó, thấy được khí phách anh hùng của phụ nữ Việt Nam trongbuổi đầu đấu tranh giành độc lập:
“Bà Trưng quê ở Châu Phong
Trang 19Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống dần Long Biên Hồng quần nhẹ bước chinh yên Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành
Kinh kì đóng cõi Mê Linh Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”
Hoặc có thể sử dụng đoạn thơ sau trong “Việt Nam sử ca”:
“Tô Định bạo ngược khôn lường Giết người Giao Chỉ không tường thị phi.
Bắt Thi Sách đem giết đi Hai Trưng Trắc, Nhị tức thì khởi binh.
Con dòng Lạc tướng Mê Linh Đuổi quân Tô Định mà bình đất Nam.
Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam”
Chẳng bao lâu hạ sáu lăm thành trì.
Xưng vua, lừng lẫy ai bì
Mê Linh đóng phủ, uy nghi một miền.
Hay có thể sử dụng đoạn thơ trong “Thiên Nam ngữ lục” để nói về nguyên nhân cuộckhởi nghĩa:
“Một xin rửa sạch nước thù Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”