Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh, sự hình thành vàphát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình khảo sát thế giới,tích lũ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
MÔN TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
Giá trị lịch sử và thời đại
Trang 2MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thếgiới Người còn là một nhà ngoại giao kiệt xuất, từng giữ cương vị Bộ trưởngNgoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh, sự hình thành vàphát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình khảo sát thế giới,tích lũy tri thức và gắn liền với hoạt động lý luận, thực tiễn cách mạng của Nguyễn
Ái Quốc – Hồ Chí Minh Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là hệ thống những
nguyên tắc, quan điểm của Người về thế giới và thời đại, về đường lối đối ngoại của Đảng, chiến lược, sách lược ngoại giao của Nhà nước Việt Nam.
1 Cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Cơ sở hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là sản phẩm kết hợp truyền thống văn hóadân tộc và truyền thống ngoại giao Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông,phương Tây và kinh nghiệm ngoại giao thế giới Trên nền tảng ấy, với những phẩmchất và trí tuệ tinh tường được tôi luyện trong quá trình lao động, học tập, tranh đấutrong hoạt động cách mạng, đã hình thành nên nhân cách ngoại giao – văn hóa HồChí Minh
Truyền thống văn hóa dân tộc
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở một dân tộc có truyền thống văn hóa lâuđời Ngay từ nhỏ, Người đã được sống trong một cái nôi ứng xử trọng nghĩa tình,cởi mở, thích giao thiệp, tính cộng đồng cao… Trong đó, chủ nghĩa yêu nước là sợichỉ đỏ xuyên suốt quá trình lịch sử, đi đôi với sự hình thành, phát triển quốc gia –dân tộc Từ trong công cuộc dựng nước và giữ nước, đã biểu hiện nền văn hóachính trị mà nội dung chủ yếu là coi trọng độc lập, tự chủ và thân dân, đề cao tư
Trang 3tưởng nhân nghĩa, hòa mục trong việc trị quốc, yên dân Trong truyền thống vănhóa dân tộc, thì truyền thống ngoại giao cũng có giá trị lâu đời
Có thể nói, tư tưởng truyền thống ngoại giao của Việt Nam là ngoại giao
hòa bình, hữu nghị, nhân văn với các dân tộc khác Nhà sử học Phan Huy Chú đã
đúc kết lịch sử bang giao của đất nước ta: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với láng
giềng là việc lớn” Ông cha ta luôn đề cao chính sách đoàn kết “láng giềng thân
thiện”, chính sách ngoại giao nhu viễn, “ngoại giao công tâm” đánh vào lòngngười, đề cao tư tưởng nhân nghĩa, hòa mục trong việc trị quốc an dân… Nhìnchung, ngoại giao Việt Nam từ xưa đã có truyền thống tự tôn dân tộc, điều đó cótác động rất lớn đến sự hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh cũng tiếp thu tư tưởng hướng ngoại của các bậc sĩ phu yêu
nước cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Đó là tư tưởng “xuất dương cầu viện” sangNhật nhờ đào tạo thanh niên, đồng thời tìm kiếm sự giúp đỡ của Nhật để đánh đuổiPháp của Phan Bội Châu Phan Chu Trinh hướng về nước Pháp với mong muốndựa vào Pháp để đánh đổ triều đình phong kiến và thực hiện khai hóa nước nhà
“chấn hưng dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh” Dù thất bại, dù Nguyễn Ái Quốc
không tán thành quan điểm đó, song các hoạt động hướng ngoại đó cũng là nhân tốtích cực, tiến bộ vì nó phá bỏ tư tưởng truyền thống “bế quan tỏa cảng”, đặt cơ sởcho thiên hướng ngoại giao với bên ngoài, hòa nhập với thế giới
Bên cạnh những nhân tố chủ quan tác động, thì chính trí tuệ, tài năng xuấtchúng của Hồ Chí Minh đã tạo nên phong cách, phương pháp ngoại giao Hồ ChíMinh Quá trình khảo sát thực tiễn, hoạt động cách mạng, sự tiếp xúc với các nềnvăn hóa trên thế giới khiến Người tích lũy được tri thức và kinh nghiệm để từ đóvận dụng trong ứng xử, trong hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách ngoại
giao Đó có thể nói chính là tố chất ngoại giao thiên bẩm của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh tiếp thu văn hóa của nhiều nước phương Đông, phương Tây và kinh nghiệm ngoại giao thế giới
2
Trang 4Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng “thế giới đại đồng”, “tứ hảigiai huynh đệ” trong Nho giáo Đó là tư tưởng xây dựng một thế giới đại đồngkhông có chiến tranh, mọi người sống với nhau hòa mục, không có sự phân biệtnước lớn, mà chỉ có sự hòa đồng giữa con người với con người, con người vớithiên nhiên
Hồ Chí Minh còn nghiên cứu kỹ phép dùng binh của Tôn Tử để hình thành
nên bài học ngoại giao để thắng địch: dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu Thứ
hai là đánh bằng ngoại giao, thứ ba mới là đánh bằng binh
Người cũng đề cao những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và các quyền conngười trong cách mạng tư sản Pháp và Mỹ
Thời đại Hồ Chí Minh bước vào hoạt động chính trị, những năm đầu thế kỷ
20, chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn thếgiới Nhu cầu mở rộng thị trường, thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ngày càng lớn,nên gắn liền với việc gây chiến tranh xâm lược Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệthống thế giới, xác lập sự thống trị, nô dịch thực dân đối với các dân tộc trên phạm
vi thế giới Khi đó sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địamuốn giành thắng lợi, không thể hành động riêng rẽ mà phải có quan hệ với nhau,phối hợp đoàn kết cùng nhau chống kẻ thù chung Bối cảnh thời đại chủ đạo này đã
có tác động mạnh mẽ tới phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam Điều đócũng chi phối sự hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Nhân tố có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sự hình thành tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh đó là lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ quốc tế.
Trong đó, quan điểm về đoàn kết giai cấp vô sản thế giới, về vấn đề hợp tác giúp
đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc thuộc địa và tinh thần quốc tế vô sản trong sáng đượcMác – Lênin nêu ra trong luận thuyết của mình Trong “Tuyên ngôn Đảng cộngsản”, Mác – Ăngghen nêu rõ: vô sản giai cấp toàn thế giới đều là anh em Muốntiến hành cách mạng vô sản, giai cấp công nhân thế giới cũng phải tập hợp, đoàn
kết lại Mác đưa ra khẩu hiệu: “Giai cấp vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” Sau
Trang 5này, căn cứ vào đặc điểm thời đại, Lênin phát triển thành khẩu hiệu “Giai cấp vô
sản toàn thế giới và các dân tộc thuộc địa liên hiệp lại” Điều đó có ý nghĩa quyết
định phương pháp luận, dựa trên cơ sở đó để xác định đối tác quan hệ, trong việchoạch định chủ trương, đường lối đối ngoại: đâu là bạn, đâu là đồng minh, đâu là
kẻ thù
Có thể nói, lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã trang bị cho Hồ Chí Minh
cơ sở thế giới quan và phương pháp luận về quan hệ quốc tế và tư tưởng ngoại giao
Đặc biệt, cơ sở thực tiễn là cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thànhcông có tác động rất lớn đến sự hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Cáchmạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới nổ ra vàgiành thắng lợi, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử Về quan hệ quốc tế, với sự
ra đời của nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới, mở ra chương mới trong quan hệquốc tế khác biệt hoàn toàn với quan hệ quốc tế thời kỳ trước đó: quan hệ bìnhđẳng giữa các dân tộc; giữa hai ý thức hệ TBCN và XHCN
Cách mạng tháng Mười Nga và hoạt động của Nhà nước Xô Viết đã cungcấp cho cách mạng thế giới nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học
về đối ngoại, ngoại giao Sự kiện nước Nga xô viết tạm thời ký Hòa ước Bretlitốp(3 - 3 - 1918) với chính phủ Đức với các điều kiện nặng nề cho phía Nga, nước Ngaphải cắt cho Đức và Thổ Nhĩ Kỳ một phần lãnh thổ rộng 750.000 km2 với hơn 50triệu dân, phải giải ngũ quân đội và bồi thường cho Đức 6 tỷ Mác, để có thời giancủng cố chính quyền Đây là bài học về sự nhân nhượng cần thiết và có nguyên tắc.Sau này, khi nguy cơ chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, để tránh cùng một lúcphải đối đầu với nhiều kẻ thù (Đức – Nhật), đồng thời có thêm thời gian chuẩn bịchiến tranh, Liên Xô lại ký với Đức Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau (23 - 8 -1939) Bài học “hòa để tiến” đã được Đảng ta và Hồ Chí Minh vận dụng trong cáchmạng Việt Nam sau này với chỉ thị “hòa để tiến” ngày 9 - 3 - 1946 của Trung ươngĐảng, Hiệp định sơ bộ 6 - 3 - 1946 và Hiệp ước 14 - 9 - 1946 mà Hồ Chí Minh đã
ký với Chính phủ Pháp
4
Trang 6Rõ ràng, với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin cùngcác giá trị văn hóa, nhân văn dân tộc và thế giới, những kinh nghiệm đúc rút từ nềnchính trị quốc tế, thông qua hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú đã hòa quyệntrong mối liên hệ biện chứng, là cội nguồn của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Quá trình hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh:
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đã dần hình thành trong nhận thức và đượcthể hiện sinh động trong hoạt động trực tiếp của Người qua hai thời kỳ cơ bản:
Thời kỳ khảo sát thế giới, tích lũy tri thức, kinh nghiệm về quan hệ ngoại giao và tích cực xây dựng quan hệ với lực lượng Đồng minh chống phá xít, giành độc lập
Đây là thời kỳ hình thành những nhận thức ban đầu, tích lũy kiến thức, kinhnghiệm về quan hệ quốc tế, rút ra những kết luận ban đầu về thế giới, thời đại, vềquan hệ dân tộc – giai cấp, quốc gia – quốc tế; là những vấn đề rất quan trọng trongviệc hình thành nên tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh Thời kỳ này bắt đầu từviệc ra đi tìm đường cứu nước, với hành trình khảo sát thực tiễn khắp năm châu,cùng với quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm, sự nhận thức về thế giới và thờiđại của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã từng bước sáng tỏ Đặc biệt khi tiếpcận với những nguyên lý về đoàn kết giai cấp, tinh thần quốc tế vô sản trong họcthuyết Mác – Lênin, tư tưởng của Người đã định hình về đường lối cách mạng giảiphóng dân tộc nói chung, về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và các vấn
đề có tính nguyên tắc, quan điểm khi xử lý các mối quan hệ quốc tế Từ nhận thức
đó, Người vận dụng vào việc xây dựng đường lối của cách mạng Việt Nam, đưacách mạng Việt Nam dần đến thắng lợi
Thời kỳ từ sau khi nước nhà giành được độc lập, Hồ Chí Minh chỉ đạo việc hoạch định đường lối đối ngoại, chính sách ngoại giao với tư cách là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và là Nguyên thủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Có thể nói, thời kỳ này dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhữngquan điểm, nguyên tắc trong đường lối đối ngoại của Đảng, trong chính sách ngoại
Trang 7giao của Nhà nước được giữ vững Những quan điểm, nguyên tắc đó vừa phù hợpvới thực tại lịch sử, vừa giữ bản sắc truyền thống Việt Nam, vừa phù hợp với luậtpháp và quy ước quốc tế Do đó, vừa phát huy được tiềm năng sức mạnh dân tộc,vừa tận dụng được sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế Đó là sự vận động,kết hợp hài hòa giữa nhân tố sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo nên sứcmạnh tổng lực khả dĩ có thể thực hiện thắng lợi công cuộc kháng chiến chống xâmlược Pháp, Mỹ và công cuộc tái thiết xây dựng đất nước Đó đồng thời cũng là quátrình hình thành, hoàn thiện nên tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
2 Nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Một là, tư tưởng giữ vững đường lối ngoại giao độc lập tự chủ
Độc lập, tự chủ là tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh.Độc lập, tự chủ là dựa vào sức mình là chính, định ra những chủ trương, chínhsách, biện pháp nhằm giải quyết công việc của đất nước, không chịu bất cứ một sức
ép nào từ bên ngoài
Mức độ độc lập tự chủ trong ngoại giao phụ thuộc vào thực lực chính trị,kinh tế, quân sự… của đất nước và phụ thuộc vào cả trình độ tư duy, kinh nghiệm,phương pháp, khả năng ứng xử… của Đảng và lãnh tụ trong hoạt động và chỉ đạo
ngoại giao song quan trọng nhất là thực lực Hồ Chí Minh nói “Nếu tự mình không
có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao”1
Điều này đặc biệt được thể hiện rất rõ trong bối cảnh giữa những năm 60,mâu thuẫn Trung – Xô ngày càng sâu sắc, cả hai nước lớn đều yêu cầu ta phải tỏthái độ “nhất biên đảo”, trong khi công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và sựnghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam phụ thuộc vào sự viện trợ quân sự, kinh tếrất lớn của cả hai nước Mặt khác, Mỹ lợi dụng tình hình đó để chơi con bài TrungQuốc chống Liên Xô và phe XHCN, đặc biệt Mỹ luôn đưa ra các điều kiện “đánhđổi” để ép Việt Nam Trong điều kiện đó, làm thế nào để giữ được đường lối ngoại
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 2000, tập 3, tr 459
6
Trang 8giao độc lập tự chủ là vấn đề vô cùng khó khăn Tuy nhiên, với kinh nghiệm, trí tuệ
và sự khôn khéo trong đường lối và hoạt động ngoại giao, Hồ Chí Minh đã lãnhđạo Đảng và Nhà nước ta vượt qua những thử thách, giữ vững đường lối ngoại giaođộc lập, tự chủ, duy trì hài hòa mối quan hệ với cả Liên Xô và Trung Quốc trongkhi hai nước có bất đồng sâu sắc Người còn nhiều lần vận động hai nước Xô –Trung hãy gạt bỏ mâu thuẫn để tăng cường sức mạnh chống chủ nghĩa đế quốc,đồng thời cũng tỏ rõ ý thức tự chủ về lập trường, quan điểm và đường lối đối ngoạicủa Việt Nam là không chịu bất cứ sức ép nào từ bên ngoài Qua việc xử lý mốiquan hệ Việt – Trung – Xô, những giải pháp tháo gỡ bất đồng giữa Việt Nam vàcác nước lớn, chúng ta thấy ở Hồ Chí Minh có sự hội tụ đầy đủ giữa kinh nghiệm,tài năng, bản lĩnh và uy tín của một nhà ngoại giao lỗi lạc Đó là thành công lớn vềmặt ngoại giao của Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh
Có thể nói, xuất phát từ sự chỉ đạo mềm dẻo nhưng kiên định của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về đường lối ngoại giao độc lập tự chủ, mà vấn đề quốc tế hóa cuộcchiến tranh của Mỹ ở Việt Nam không thực hiện được, mưu đồ lôi kéo Liên hợpquốc can thiệp vào Việt Nam của Mỹ bị thất bại Chúng ta đã hoàn toàn chủ độngkhống chế phạm vi cuộc chiến tranh, chủ động đánh và đàm với Mỹ
Ta cũng cần chú ý, tư tưởng độc lập tự chủ của Hồ Chí Minh trong quanđiểm ngoại giao không phải là tự cô lập, mà Người thường xuyên chỉ đạo phải gắnliền độc lập tự chủ với đoàn kết quốc tế Vấn đề là dù trong bất cứ hoàn cảnh nàocũng không để sứ mạng của dân tộc bị lệ thuộc vào một nước khác, cho dù đó lànhững nước đồng minh Nắm vững nguyên tắc độc lập tự chủ, theo Hồ Chí Minh,cũng không có nghĩa là thực hiện đường lối máy móc, cứng nhắc mà phải “biếtcương, biết nhu”, giải quyết bất đồng thông qua đàm phán để đi đến thống nhất
Hai là, kết hợp dân tộc với quốc tế, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tinh thần độc lập tự chủ “đem sức ta mà giảiphóng cho ta”, tự lực cánh sinh dựa vào sức mình là chính, coi sức mạnh bên trongbao giờ cũng là yếu tố quyết định Đồng thời, Người cũng khẳng định: cách mạng
Trang 9Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, muốn giành được thắng lợi, cáchmạng Việt Nam phải tranh thủ được sự ủng hộ giúp đỡ của cách mạng thế giới
Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò quyết định của sức mạnh dân tộc Đó là sựtổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, truyền thống và hiện đại, là sức mạnhkhối đại đoàn kết toàn dân Trong thời đại Hồ Chí Minh, sức mạnh của dân tộc tađược phát huy ở mức cao, nhờ đó đã đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thửthách hiểm nghèo
Mặt khác, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế cho dân tộc mình, Hồ Chí Minh đồngthời cũng nhắc nhở phải hoàn thành tốt nghĩa vụ quốc tế, coi “giúp bạn là tự giúpmình”, nhất là với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia Hồ Chí Minh là ngườiViệt Nam đầu tiên phá thế đơn độc của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhândân Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho đường lối quốc tế đúng đắn của Đảng
và nhà nước Việt Nam Về chính trị đối ngoại, Hồ Chí Minh chủ trương mở rộng
quan hệ quốc tế với phương châm “làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều
bạn đồng minh hơn hết” Để tập hợp lực lượng quốc tế, phải căn cứ vào mục tiêu
cách mạng của từng thời kỳ Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Đảng chủ
trương “Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả” Sau
khi ta giành được chính quyền và tiến hành kháng chiến kiến quốc, Đảng xác định:
“Mục đích của ta lúc này là tự do, độc lập… bạn của ta trong giai đoạn này là tất
cả những nước nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên thế giới tán thành mục đích ấy, cùng ta chung một ý chí ấy”2
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sự đoàn kết giữa các lực lượng tiến bộ trên
thế giới: “đoàn kết chặt chẽ với nhau thành một mặt trận thống nhất mạnh mẽ” tạo thành sức mạnh để thực hiện các mục tiêu cách mạng của thời đại Người nói: “có
sức mạnh cả nước một lòng đó lại có sự ủng hộ của nhân dân thế giới, chúng ta sẽ
có một sức mạnh thích hợp, nhất định cách mạng nước ta sẽ đi đến đích cuối cùng”3
2 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, t.8 , tr 437
3 Dẫn theo Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, H 2008, tr 127
8
Trang 10Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm thấy sự nhất trí giữa lợi ích dân tộc với quốc tế,
đó chính là sự hội tụ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh toàndiện cho Việt Nam Ngay sau khi giành được chính quyền, năm 1946, Hồ Chí Minh
đã tính tới việc tranh thủ hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài bằng chính sách
mở cửa và hợp tác, kể cả của Pháp, để xây dựng đất nước, từ đó tranh thủ sự ủng hộ
bên ngoài đối với nền độc lập của Việt Nam Thực tế, trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã ra sức vận động để hình thành một Mặt trậnnhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam nhằm khắc phục hạn chế về tiềm lực kinh tế,quân sự và cô lập kẻ thù ở khắp mọi nơi, hạn chế sức mạnh chiến tranh của Mỹ ởchính nước Mỹ Ngay những người cầm đầu Chính phủ Mỹ cũng phải thừa nhận,cùng với chiến tranh Việt Nam, có một cuộc chiến tranh ngay trong lòng nước Mỹ.Phong trào phản kháng cuộc chiến tranh cuả Mỹ ở Việt Nam đã thu hút đông đảochính giới và các tầng lớp nhân dân Mỹ tham gia Đã có hơn năm ngàn giáo sư đạihọc và nhiều nghị sĩ quốc hội ký vào bản kiến nghị đòi chấm dứt chiến tranh Phongtrào xuống đường của sinh viên, phong trào xé thẻ quân dịch của thanh niên, phongtrào ủng hộ hòa bình Việt Nam của các bà mẹ Mỹ, những cuộc tự thiêu phản đốichiến tranh của những người Mỹ yêu tự do… Điều đó đã tạo nên sức ép to lớn, cùngvới những thất bại về quân sự, buộc Nhà Trắng phải từng bước xuống thang chiếntranh, ngồi vào bàn đàm phán hòa bình Việc kết hợp các lực lượng đối ngoại đã pháthuy được sức mạnh tổng hợp, làm cho chính nghĩa của dân tộc ta càng thêm tỏasáng, tiếp thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta
Ba là, phát huy truyền thống hòa hiếu dân tộc, giương cao ngọn cờ độc lập và hòa bình, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ.
Do vị trí địa lý, ở bên cạnh một nước lớn, có tư tưởng bành trướng, bá quyềnnên chính sách ngoại giao nhất quán của cha ông ta trở thành truyền thống, đó làchính sách ngoại giao hòa hiếu, khôn khéo: vừa đánh, vừa đàm