1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giảng văn truyện kiều và các đoạn trích truyện kiều

7 400 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 63,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về thể loại là truyện Nôm viết theo thể thơ lục bát gồm 3254 câu lục bát - Truyện Kiều viết dựa theo cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện ” của TTTN nhng Nguyễn Du đã lấy cảm hứng từ cuộc số

Trang 1

Truyện Kiều

I- Tác giả:

- Học thuộc lòng tác giả Nguyễn Du

- Sự nghiệp sáng tác văn học của ông chia làm 2 bộ phận:

+ VH chữ Hán còn có 243 bài in “Thanh Hiên thi tập” “Nam trung tạp ngâm”

“Bắc hành tạp lục”

+ VH chữ Nôm: Truyện Kiều, văn chiêu hồn, thác lời trai phờng nón vv

II- Truyện Kiều:

1 Nguồn gốc thể loại

- Truyện Kiều sáng tác từ 1802-1818 lúc đầu có tên là Đoạn trờng tân thanh về sau đổi tên thành Truyên Kiều Về thể loại là truyện Nôm viết theo thể thơ lục bát gồm

3254 câu lục bát

- Truyện Kiều viết dựa theo cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện ” của TTTN nhng Nguyễn Du đã lấy cảm hứng từ cuộc sống và số phận đau thơng của ngời phụ nữ trong xã hội đơng thời để viết nên kiệt tác Truyện Kiều Tác phẩm thể hiện hiện thực cuộc sống với con mắt “ trông sáu cõi ” và tấm lòng “ nghĩ tới muôn đời ” của tác giả

2 Tóm tắt truyện Kiều

Thuý Kiều là thiếu nữ tài sắc vẹn toàn , con gái đầu lòng một gia đình trung lu

l-ơng thiện Trong buổi du xuân nhân tiết thanh minh, Thuý Kiều gặp Kim Trọng,hai ngời chớm nở một tình yêu đẹp Sau đó Kim Trọng đến trọ cạnh nhà Kiều , nhân trả chiếc thoa rơi hai ngời đã gặp nhau Kim Trọng bày tỏ tâm tình Hai ngời chủ động đính ớc chuyện trăm năm.Kim Trọng về chịu tang chú , gia đình Kiều mắc oan, Kiều nhờ Vân trả nghĩa cho Kim trọng còn nàng bán mình chuộc cha Kiều bị bọn buôn ngời là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt đẩy vào lầu xanh Nàng đợc Thúc Sinh một khách làng chơi hào phóng chuộc ra lấy làm thiếp, nhng lại bị vợ cả Thúc Sinh là Hoạn Th ghen tuông đầy đoạ nàng trốn chạy đến nơng nhờ cửa phật Giác duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà cũng là phơng buôn thịt bán ngời nên nàng bị bán vào lầu xanh lần thứ hai.ở đây nàng gặp Từ Hải, Từ Hải lấy Kiều giúp nàng báo ân ,báo oán Do mắc lừa quan tổng đốc trọng thần là Hồ Tôn Hiến , Từ Hải bị giết, Kiều phải hầu rợi hầu đàn Hồ Tôn Hiến rồi bị

ép gã cho viên thổ quan Đau đớn tủi nhục Kiều trẫm mình ở sông Tiền Đờng nhng lại

đ-ợc s Giác Duyên cứu và lại nơng nhờ cửa phật Sau nửa năm Kim Trọng trở lại tìm Kiều,hay tin gia đình Kiều gặp tai biến nàng phải bán mình chuộc cha , chàng đau đớn vô cùng Tuy kết duyên cùng Thuý Vân nhng chàng không quên mối tình đầu quyết công đi tìm Kiều Nhờ gặp s Giác Duyên, Kim Trọng gặp lại Thuý Kiều, gia đình đoàn

tụ Kiều nối lại tình duyên với Kim Trọng nhng cả hai cùng nguyện ớc “ duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy ”

3 Nội dung, nghệ thuật:

a) Nội dung:

* Giá trị hiện thực:

- Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về xã hội phong kiến bất công tàn bạo trà đạp lên quyền sống con ngời Lên án tố cáo sức mạnh ghê gớm của đồng tiền tạo nên sự đổi trắng thay đen trong xã hội

- Thể hiện số phận ngời phụ nữ phong kiến tài hoa, đức hạnh nhng bạc mệnh

* Giá trị nhân đạo

- Thể hiện niềm thơng cảm của Nguyễn Du trớc những kiếp đời bất hạnh

- Lên án, tố cáo các thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con ngời

- Khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con ngời: tự do, công lý, tình yêu, hạnh phúc, quyền sống vv

b) Nghệ thuật:

- Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật của văn hoc dân tộc trên 2 phơng diện: - Ngôn ngữ

- Thể loại

Trang 2

* Ngôn ngữ: - Tiếng Việt đạt đến đỉnh cao nghệ thuật có đủ các chức năng

miêu tả, biểu cảm, thẩm mĩ

* Thể loại: - Thể thơ lục bát đạt đến đỉnh cao điêu luyện, nhuần nhuyễn

- Nghệ thuật tự sự có bớc phát triển vợt bậc

+ Dẫn truyện với 3 hình thức: Trực tiếp, gián tiếp, nửa trực tiếp, nửa gián tiếp + Nghệ thuật tả cảnh, tả cảnh ngụ tình, tả ngời rất đặc sắc

+ Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật xuất sắc

Chị em Thuý Kiều

1 Vị trí đoạn trích:

- Đoạn trích gồm 24 câu (15-38) thuộc phần 1 gặp gỡ và đính ớc

2 Giới thiệu chung:

- Bốn câu đầu giới thiệu khái quát 2 chị em Thuý Kiều Đó là 2 cô con gái đầu lòng gia đình Vơng Viên ngoại Thuý Kiều là chị, Thuý Vân là em Nghệ thuật ớc lệ, t-ợng trng “Mai cốt cách tuyết tinh thần”, biện pháp tiểu đối gợi tả vóc dáng mảnh mai, duyên dáng, phẩm chất thanh cao trong trắng của ngời thiếu nữ

- Cũng chỉ 1 câu thơ “Mỗi ngời một vẻ mời phân vẹn mời” tác giả đã khái quát

đ-ợc vẻ đẹp hoàn mĩ của hai chị em Kiều nhng mỗi ngời một vẻ đẹp riêng khác nhau

3 Chân dung Thuý Vân:

- Câu mở đầu giới thiệu khái quát đặc điểm nhân vật “Vân xem khác vời” Hai chữ “Trang trọng” nói lên vẻ đẹp cao sang, quý phái, đoan trang của ngời thiếu nữ, vẻ

đẹp ấy đợc so sánh với hình tợng thiên nhiên, với những thứ cao đẹp: Trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc

- Bút pháp nghệ thuật ớc lệ tợng trng đợc sử dụng cụ thể Tác giả liệt kê: khuôn mặt, đôi mày, mái tóc, làn da, nụ cời, giọng nói, tác giả dùng từ ngữ cụ thể để tả làm nổi bật vẻ đẹp riêng “đầu đặn” “nở nang”, “đoan trang”- Nghệ thuật so sánh ẩn dụ đều làm nổi bật vẻ đẹp trung thực phúc hậu mà quý phái của ngời thiếu nữ: khuôn mặt tròn trịa

đầy đặn nh mặt trăng, lông mày sắc nét, đậm nh con ngài, miệng cời tơi thắm nh hoa, giọng nói trong trẻo thoát ra từ hàm răng ngà ngọc, mái tóc đen óng nhẹ hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết

- Bức chân dung TV là chân dung mang tính cách số phận vẻ đẹp của Thuý Vân tạo sự hài hoà, êm đềm với xung quanh “Mây thua, tuyết nhờng” báo trớc nàng có cuộc

đời bình lặng suôn sẻ

4 Chân dung Thuý Kiều:

- Câu đầu khái quát đặc điểm nhân vật “Kiều càng sắc sảo mặn mà” Nàng sắc sảo

về trí tuệ, “mặm mà” về tâm hồn

- Tác giả gợi tả vẻ đẹp Thuý Kiều bằng hình ảnh ớc lệ, tợng trng: thu thuỷ (nớc mùa thu) xuân sơn (núi mùa xuân) hoa, liễu tạo ấn tợng chung về vẻ đẹp của “tuyệt thế giai nhân”

- Tác giả tập trung tả Kiều ở vẻ đẹp của đôi mắt “Làn thu thuỷ” -> làn nớc mùa thu gợn sóng sống động đó là vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt, hàm chứa cái sắc sảo của trí tuệ, cái mặn mà của tâm hồn Nét xuân sơn là nét núi mùa xuân gợi đôi mày thanh tú nổi bật trên khuôn mặt trẻ trung

- Tả Thuý Vân tác giả gợi tả nhan sắc không thể hiện cái tài cái tình của nàng Đến Thuý Kiều nhà thơ tả sắc 1 phần, dành 2 phần tả tài năng Tài của Kiều đạt đến mức tý t-ởng theo quan điểm thẩm mỹ PK gồm đủ cả: Cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ) Đặc

Trang 3

biệt đàn chính là sở trờng, năng khiếu đợc xem là “nghề riêng” “ăn đứt” mọi ngời Ngoài ra Kiều còn biết sáng tác nhạc cung đàn “bạc mệnh” Kiều sáng tác là tiếng lòng của 1 trái tim đa cảm

- Vẻ đẹp của Kiều là sự hội tụ cả sắc - tài - tình Tác giả dùng điển tích nghiêng

n-ớc nghiêng thành, tả vẻ đẹp giai nhân

- Chân dung Kiều là chân dung tính cách số phận, vẻ đẹp Kiều khiến thiên nhiên, tạo hoá phải ganh ghét, đố kị “hoa ghen”, “liễu hờn” nên số phận của nàng đầy éo le, đau khổ

- Gợi tả sắc đẹp chị em Thuý Kiều Thuý Vân đợc tả làm đòn bẩy, làm nền nổi bật chân dung Thuý Kiều Điều này khẳng định tài năng tả ngời của Nguyên Du đạt đến

độ bậc thầy của các thi nhân

- Gợi tả vẻ đẹp 2 Kiều Nguyễn Du trân trọng đề cao giá trị của con ngời, đó chính

là thể hiện cảm hứng nhân đạo và Nguyễn Du đợc công nhận là nhà nhân đạo, giàu tình yêu thơng con ngời

Cảnh ngày xuân

1 Vị trí đoạn trích:

Cảnh ngày xuân gồm 18 câu từ câu 39 đến câu 56, thuộc phần 1 gặp gỡ và đính

-ớc

2 Nội dung cơ bản:

- 4 câu đầu mở ra 1 không gian rộng lớn Bầu trời bao la, những cánh én bay qua bay lại

nh thoi đa Chim én là loài chim báo hiệu mùa xuân, khi chim én bay đi bay lại báo hiệu mùa xuân về Chữ “đa thoi” rất gợi hình gợi cảm, thời gian trôi nhanh, mùa xuân đang trôi nhanh, thành ngữ tục ngữ nhập vào thơ Nguyễn Du 1 cách tinh tế

- Sau cánh én đa thoi là ánh xuân, là “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mơi” Thiều quang gợi lên cái màu hồng của ánh xuân cái ấm áp của khí xuân, cái mênh mông bao la của trời đất Phó từ “ đã ” gợi tâm trạng nuối tiếc, thời gian trôi nhanh đã qua sáu mơi ngày trong chín mơi ngày của mùa xuân, cách tính thời gian của ngời xa thật độc đáo, ý

vị bằng vài nét vẽ Ng Du đã tái hiện không gian mùa xuan thật trong sáng, cao rộng và thoáng đãng

- Cảnh gợi ra bởi sắc xanh mơn mởn ngọt ngào của cỏ non trải dài, trải rộng nh tấm thảm đến “tận chân trời”.Sắc xanh của cỏ chiếm lĩnh không gian triệt để và toàn diện khắp nơi sức sống mùa xuân căng tràn trong màu xanh dịu mát Là sắc trắng tinh khôi, thanh khiết của hoa lê nở lác đác chỉ mới hé lộ ra Trên cái nền xanh của cỏ non là một vài bông lê trắng điểm tạo nên sự hài hoà về đờng nét màu sắc Hai chữ “trắng điểm” là nét chấm phá tài tình của thi pháp cổ Ngòi bút tài hoa của Ng Du đã khéo léo đặt giữa nền xanh của cỏ sắc và trắng tinh khôi của cành lê là cánh én đa thoi là ánh hồng của thiều quang Bốn câu đầu tái hiện bức tranh mùa xuân tràn trề nhựa sống, viên mãn , tràn

đầy, tơi sáng, diễm lệ

- 8 câu tiếp theo là cảnh trẩy hội mùa xuân: “lễ là tảo mộ là hội đạp thanh” trong tiết tháng ba Điệp ngữ lễ là, hội là gợi cảnh lễ hội dân gian nối tiếp Lễ tảo mộ là lễ sửa sang, thăm viếng phần mộ của ngời thân, tởng nhớ ông bà tổ tiên Hội đạp thanh là hội dẫm lên cỏ xanh để đi chơi xuân

- Cảnh trẩy hội đông vui, tng bừng, náo nhiệt Trên các nẻo đờng gần xa dòng ngời cuồn cuộn đổ về, có biết bao tài tử, giai nhân dập dìu sánh vai nhau nối bớc Dòng ngời trẩy hội tấp nập ngựa xe, áo quần đẹp đẽ tơi thắm sắc màu Các hình ảnh so sánh ẩn dụ

Trang 4

“nh nớc” “nh nêm”, các từ láy từ ghép đợc sử dụng tài tình: dập dìu, nô nức, gần xa, yến anh, ngựa xe, áo quần vv gợi tả lễ hội tng bừng náo nhiệt Đờng sau những ngựa xe, xiêm áo kia là những rung động đầu đời cất cánh

- Trong đám tài tử giai nhân ấy có 3 chị em Thuý Kiều chờ trông mong đợi ngày lễ tảo mộ, hội đạp thanh để đến du xuân trong những bộ quần áo đẹp đẽ đã “sắm sửa”

- Đời sống tâm linh, phong tục dân gian cổ truyền đợc Nguyễn Du nói đến với nhiều cảm thông, san sẻ Cõi âm và cõi dơng, ngời sống và ngời chết đồng hiện trong

gò đống ngỗn ngang Nghi lễ đốt vàng vó, tiền giấy cho ngời đã khuất diễn ra trong không khí trang trọng, đó là nét đẹp trong văn hoá tâm linh của ngời Việt hớng về quá khứ

- 6 câu cuối là cảnh chị em Thuý Kiều đi tảo mộ đang dần bớc trở về nhà, nhịp thơ chậm rãi phù hợp với cảnh ngày tàn hội tan Cảnh vật đợc miêu tả 1 cách tinh tế qua 5 từ láy: tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ Mặt trời đã tà tà, tâm tình thì thơ thẩn, cảnh vật nhỏ bé, khe suối chỉ là ngọn tiểu khê, phong cảnh thanh thanh, dòng nớc nao nao uốn quanh, dịp cầu nho nhỏ bắc ngang cuối ghềnh Cái sôi động đã qua Cảnh vẫn

đẹp nhng nhạt nhoà vắng lặng Ngày hội xuân của các nam thanh nữ tú chờ đời hàng năm đã hết Lòng ngời bâng khuâng nuối tiếc Cảnh nh cũng lu luyến bớc chân con ngời,

đồng điệu với con ngời đúng nh câu thơ “ Ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ ” Ngay sau đây trên đờng du xuân trở về Th Kiều gặp nấm mồ Đạm Tiên, nhỏ lệ cảm thơng , sẽ

ám ảnh giấc mộng Tiền Đờng, dờng nh báo trớc mời lăm năm lu lạc của nàng Kiều

- Cái d âm lễ hội nh còn đọng lại trong lòng khách du xuân mà cảnh vật nh báo

tr-ớc có điều gì sắp xảy ra, sẽ làm nên btr-ớc ngoặt định mệnh trong cuộc đời Vơng Thuý Kiều

- Sáu câu cuối cảnh vật và thời gian đợc miêu tả bằng bút pháp ớc lệ tợng trng nhng rất sống động, gần gũi và rất đỗi thân quen với ngời Việt Nam chúng ta

- Đoạn trích cảnh ngày xuân quả thực là bức tranh ngày xuân thật đẹp, thật sống động nhng cũng đầy tâm trạng Bức tranh mùa xuân mà Nguyễn Du miêu tả không đơn thuần chỉ là cảnh thực mà còn là bức tranh tâm cảnh đợc nhìn qua đôi mắt đầy tâm trạng của Thuý Kiều

Kiều ở lầu ngng bích I- Vị trí đoạn trích:

- Đoạn trích gồm 22 câu thuộc phần 2 gia biến và lu lạc Nội dung : tái hiện cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo của Thuý Kiều

II- Nội dung cơ bản:

- Gia đình đang yên ấm thì gặp cơn gia biến để cứu cha và em Thuý Kiều phải bán mình nàng rơi vào tay bọn buôn thịt bán ngời, rơi vào lầu xanh, bị ép buộc tiếp khách làng chơi nên năng tự tử Vì sợ mất cả vốn lẫn lời Kiều đợc Tú bà đa ra lầu Ngng Bích với lời hứa “tìm nơi xứng đáng làm con cái nhà” nhng thực ra là bị giam lỏng Lầu

Ng-ng Bích là điểm dừNg-ng chân của Thuý Kiều trên con đờNg-ng lu lạc 15 năm đầy máu và nớc mắt

- 6 câu đầu là không gian nghệ thuật, và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện Cảnh vật

có “non xa”, “trăng gần” nh ở chung, cảnh gợi tả lầu Ngng Bích cao ngất nghểu cách biệt với thế giới bên ngoài Từ láy bát ngát gợi tả không gian mênh mônh vắng lặng, đối diện với không gian ấy chỉ thấy “cát vàng cồn nọ”, ‘bụi hồng dặm kia’ Hình ảnh cát

Trang 5

vàng, bụi hồng gợi sự trùng điệp nối tiếp trải dài vô tận khiến Thuý Kiều rơi vào cảm giác cô đơn tuyệt đối Từ láy bẽ bàng gợi sự xấu hổ, tủi thẹn diễn ra trong nhiều thời

điểm từ sáng sớm đến đêm khuya Cụm từ “mây sớm đèn khuya” không chỉ thời gian mà còn gợi cả tâm trạng nhàm chán cứ đuổi theo nàng ngày này sang ngày khác Cảnh và tình đan xen nhau, bốn chữ “nh chia tấm lòng” diễn tả một nổi lòng tan nát, đau thơng của 1 tuyệt thế giai nhân trớc dông tố cuộc đời

- 8 câu thơ tiếp theo là sự tởng nhớ của Thuý Kiều với ngời yêu và lòng xót thơng cha mẹ của Thuý Kiều khi sống 1 mình ở lầu Ngng Bích

- Với Kim Trọng nỗi nhớ của Thuý Kiều dừng laị ở việc tởng nhớ kỷ niệm uống

r-ợu dới trăng thề nguyền chuyện đôi lứa tại vờn Thuý vừa mới hôm nao nay thoắt đã xa xôi, cách biệt Nàng tởng tợng ra cảnh giờ đây ở phơng trời xa Kim Trọng đang ngày

đêm mong chờ tin tức của nàng trong vô vọng mà đâu hay biết nàng đã lỗi hẹn với chàng Nên nhớ thơng xen lẫn đau khổ ân hận Nàng nghỉ về thân phận của mình “ bên trời góc biển bơ vơ “”, từ láy bơ vơ gợi sự cô đơn, lạc lối nơi đất khách quê ngời Nàng đau đớn nghỉ về mình “ tấm thân gội rửa bao giờ cho phai”, cho nguôi

- Các động từ: tởng, trông, chờ, bơ vơ, gột rửa, phai, liên kết thành 1 hệ thống ngôn ngữ độc thoại biểu đạt nội tâm nhân vật Thuý Kiều nhớ ngời yêu khôn nguôi, xót

xa cho mối tình đã nặng lời thề son sắt mà bị tan vỡ

- Sau nổi nhớ chàng Kim là nổi nhớ cha mẹ Nàng xót xa khi nghỉ đến cảnh cha

mẹ già yếu ngày ngày tựa cửa ngóng tin con Hình ảnh ấy cực tả nổi nhớ thơng cha mẹ không nguôi Các từ ngữ chỉ thời gian xa cách “hôm mai”, “cách mấy nắng ma”, các

điển tích: sân lai, gốc tử, thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, diễn tả nỗi đau buồn của ngời con hiếu thảo không đợc chăm sóc phụng dỡng cha mẹ khi già yếu Giọng thơ rng rng lệ, nỗi đau của nàng Kiều nh thấm vào cảnh vật, lòng ngời bấy lâu nay

- 8 câu cuối điệp ngữ “buồn trông” xuất hiện 4 lần ở đầu câu “buồn trông” là cảm xúc chủ đạo vì càng buồn thì càng trông, càng trông lại càng buồn

- Đây là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất Truyện Kiều, cứ mỗi cặp lục bát là một tâm trạng “buồn trông” Ngoại cảnh và tâm cảnh, thiên nhiên và diễn biến tâm trạng nhân vật đợc diễn tả qua hệ thống hình tợng và ngôn ngữ mang tính ớc lệ, mở ra 1 trờng liên tởng bi thơng

- Cửa bể mênh mông lúc chiều hôm càng làm tăng nổi buồn cô đơn của kiếp ngời

lu lạc Thuyền ai lúc ẩn lúc hiện “thấp thoáng cánh buồm xa xa” đầy ám ảnh Kiều càng nghĩ đến thân phận bơ vơ của mình nơi đất khách quê ngời Cánh buồm gợi nổi buồn day dứt, con đờng về quê xa mờ, tít tắp, vời vợi, mênh mông Cánh buồn cô đơn lẻ loi giữa một vùng cửa biển mênh mông vắng lặng nh chính nàng đang bơ vơ giữa không gian rộng lớn trớc lầu Ngng Bích khiến ta nhớ đến câu da dao “ Chiều chiều ra đứng bờ sông

Muốn về quê mẹ mà không có đò ”

- Ngọn nớc là ẩn dụ chỉ những sóng gió cuộc đời sẵn sàng nhấn chìm ngời con gái

bé nhỏ ấy Nàng nh cánh hoa trôi nổi giữa dòng nớc lũ không biết sẽ về phơng trời vô

định nào? không có bến đợi, không một tia hy vọng nào Từ láy man mác gợi nổi buồn,

sự lo âu đến khó tả, nó nh chiếm trọn tâm trạng của nàng Câu hỏi tu từ về hoa trôi “biết

là về đâu” chính là sự trôi nổi vô định của cuộc đời Kiều, Cuộc đời nàng biết về đâu? Ngời xa thờng ví kiếp ngời lênh đênh vô định chìm nổi với hình ảnh cánh bèo trên sông nớc, còn Nguyễn Du gợi tả kiếp sống lu lạc lênh đênh của Kiều với cánh hoa trôi thật là

đau đớn Bởi vì hoa lìa cành hoa sẽ héo khô

Trang 6

- Nhìn về 4 phía “chân mây mặt đất” nàng chỉ thấy trên cái nền xanh bao la là màu sắc tàn úa, dàu dàu của nội cỏ, màu sắc tê tái thê lơng ấy phản chiếu nổi đau tê tái , cuộc sống tẻ nhạt vô vị của ngời con gái lu lạc và tơng lai mờ mịt tàn héo của nàng

- Vừa buồn trông vừa lắng nghe Nghe tiếng “gió cuốn trên mặt duềnh” Nghe tiếng vỗ ầm ầm của sóng Không phải sóng reo mà là sóng kêu Gió và sóng đang bủa vây “xung quanh ghế ngồi” Gió cuốn, sóng kêu gợi tâm trạng lo sợ, hãi hùng, âm thanh dữ dội ấy dờng nh là biểu tợng cho những tai hoạ khủng khiếp đang bủa vây và sắp giáng xuống đầu ngời con gái nhỏ bé đáng thơng

- Tám câu thơ điệp ngữ buồn trông đợc sử dụng thành công, mỗi lần điệp lại là mỗi lần cảm xúc của nàng lại đợc đẩy lên cao, nổi lo sợ ngày càng hiện hữu rõ nét hơn Cái từ láy: bát ngát, bẻ bàng, bơ vơ, thấp thoáng, xa xa, man mác, dàu dàu, xang xanh,

ầm ầm kết hợp với hình ảnh ẩn dụ và nghệ thuật cả cảnh ngụ tình đặc sắc Nguyễn Du đã

vẽ lên cảnh “Kiều ở lầu Ngng Bích” thành bức tranh tâm tình đầy xúc động, tô đậm thêm cảnh hứng nhân đạo trong tác phẩm

II- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

1-Tả cảnh ngụ tình là tả cảnh vật có liên quan đến tâm trạng con ngời, cảnh đợc miêu tả qua cái nhìn đầy tâm trạng của con ngời, tạo nên bức tranh tâm cảnh

2-Sáu câu thơ đầu :

- 6 câu đầu tâm trạng Thuý Kiều ngụ trong từng cảnh vật Cảnh vật có “non xa”,

“trăng gần” nh “ở chung”, gợi tả không gian trên lầu Ngng Bích trên cao mênh mông, rợn ngợp, cách biệt với thế giới bên ngoài Từ láy bát ngát gợi tả không gian mênh mônh vắng lặng, đối diện với không gian ấy chỉ thấy “cát vàng cồn nọ”, ‘bụi hồng dặm kia’ Hình ảnh cát vàng, bụi hồng gợi hình ảnh mặt đất ngổn ngang cát bụi, gợi sự trùng điệp nối tiếp trải dài vô tận khiến Thuý Kiều rơi vào cảm giác cô đơn tuyệt đối Từ láy bẽ bàng gợi sự xấu hổ, tủi thẹn diễn ra trong nhiều thời điểm từ sáng sớm đến đêm khuya Con ngời một mình đối diện với “mây sớm đèn khuya” càng cô đơn, buồn tủi , “ mây sớm đèn khuya” không những chỉ thời gian mà còn gợi cả tâm trạng nhàm chán cứ đuổi theo nàng ngày này sang ngày khác Cảnh và tình đan xen nhau, bốn chữ “nh chia tấm lòng” diễn tả một nổi lòng tan nát, đau thơng của 1 tuyệt thế giai nhân trớc dông tố cuộc

đời

3- Tám câu cuối đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngng Bích” là những câu thơ tả cảnh ngụ tình thật tuyệt bút Cứ mỗi cặp lục bát là một tâm trạng “buồn trông” Ngoại cảnh và tâm cảnh, thiên nhiên và diễn biến tâm trạng nhân vật đợc diễn tả qua hệ thống hình tợng và ngôn ngữ mang tính ớc lệ, mở ra 1 trờng liên tởng bi thơng Mỗi cảnh vật trớc lầu Ngng Bích gợi cho Kiều một nổi buồn khác nhau Từ cảnh vật mà Kiều nghĩ đến thân phận mình

- Trông cửa bể mênh mông lúc chiều hôm càng làm tăng nổi buồn cô đơn của kiếp ngời lu lạc Thấy thuyền ai lúc ẩn lúc hiện “thấp thoáng cánh buồm xa xa” đầy ám ảnh, Kiều càng nghĩ đến thân phận bơ vơ của mình nơi đất khách quê ngời Cánh buồm gợi nổi buồn tha hơng, nổi nhơ quê hơng day dứt, trào dâng, kiều hiểu rằng con đờng về quê

xa mờ, tít tắp, vời vợi, mênh mông, vô vọng Cánh buồn cô đơn lẻ loi giữa một vùng cửa biển mênh mông vắng lặng nh chính nàng đang bơ vơ giữa không gian rộng lớn trớc lầu Ngng Bích khiến ta nhớ đến câu da dao “ Chiều chiều ra đứng bờ sông

Muốn về quê mẹ mà không có đò ”

- Ngắm dòng nớc với cánh hoa trôi nàng tự hỏi “ hoa trôi man mác biết là về

đâu” Nàng nh cánh hoa trôi nổi giữa dòng nớc lũ không biết sẽ về phơng trời vô định nào? không có bến đợi, không một tia hy vọng nào Từ láy man mác gợi nổi buồn, sự lo

Trang 7

âu đến khó tả, nó nh chiếm trọn tâm trạng của nàng Câu hỏi tu từ về hoa trôi “biết là về

đâu” chính là sự trôi nổi vô định của cuộc đời Kiều, Cuộc đời nàng biết về đâu? Tơng lai rồi sẽ ra sao ? Ngời xa thờng ví kiếp ngời lênh đênh, vô định, chìm nổi với hình ảnh cánh bèo trên sông nớc, còn Nguyễn Du gợi tả kiếp sống lu lạc lênh đênh của Kiều với cánh hoa trôi thật là đau đớn Bởi vì hoa lìa cành hoa sẽ héo khô

- Nhìn về 4 phía “chân mây mặt đất” bằng tâm trạng buồn rầu rĩ nàng chỉ thấy trên cái nền xanh bao la là sắc xanh dần tàn úa, dàu dàu của nội cỏ, màu sắc tê tái thê lơng

ấy phản chiếu tâm trạng buồn bởi cuộc sống héo hắt, tẻ nhạt, vô vị của ngời con gái lu lạc bị giam cầm và tơng lai mờ mịt tàn héo của nàng

- Vừa buồn trông vừa lắng nghe Nghe tiếng “gió cuốn trên mặt duềnh” Nghe tiếng vỗ ầm ầm của sóng Không phải sóng reo mà là sóng kêu Gió và sóng đang bủa vây “xung quanh ghế ngồi” Gió cuốn, sóng kêu gợi sự bàng hoàng, lo sợ, hãi hùng âm thanh dữ dội ấy dờng nh là biểu tợng cho những tai hoạ khủng khiếp đang bủa vây và sắp giáng xuống đầu ngời con gái nhỏ bé đáng thơng

- Tám câu thơ điệp ngữ buồn trông đợc sử dụng thành công, mỗi lần điệp lại là mỗi lần cảm xúc của nàng lại đợc đẩy lên cao, nổi buồn tiếp nối triền miên không dứt, nổi lo sợ ngày càng hiện hữu rõ nét hơn Cái từ láy: bát ngát, bẻ bàng, bơ vơ, thấp thoáng, xa xa, man mác, dàu dàu, xang xanh, ầm ầm kết hợp với hình ảnh ẩn dụ và nghệ thuật cả cảnh ngụ tình đặc sắc Nguyễn Du đã vẽ lên cảnh “Kiều ở lầu Ngng Bích” thành bức tranh tâm tình đầy xúc động, tô đậm thêm cảnh hứng nhân đạo trong tác phẩm

- Đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngng Bích” cảnh đợc miêu tả không đơn thuần là cảnh thực mà còn là bức tranh tâm cảnh đợc nhìn qua đôi mắt đầy tâm trạng của Thuý Kiều Nhờ vậy tâm trạng của Thuý Kiều đợc iêu tả rất phong phú, tinh tế và sâu sắc Đó là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Du đúng nh câu thơ “ Ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Ngày đăng: 12/09/2015, 22:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w