Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của nguyên tắc tự do hợp đồng, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay, học viên đã lựa chọn đề tài: “Nguyên tắc tự do hợp đồng trong pháp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hợp đồng là một trong những chế định pháp lý có bề dày lịch sử Ngay
từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao đổi hàng hoá thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản Tuy nhiên, để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi đồng thời đảm bảo về mặt pháp lý cho các chủ thể khi tham gia ký kết hợp đồng thì cần thiết phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc
ký kết hợp đồng, đặc biệt là nguyên tắc tự do hợp đồng
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của nguyên tắc tự do hợp đồng, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay, học viên đã lựa chọn
đề tài: “Nguyên tắc tự do hợp đồng trong pháp luật Việt Nam” làm luận
văn thạc sỹ, với các lý do cơ bản sau:
Thứ nhất: Nguyên tắc tự do hợp đồng là một trong những nguyên tắc
quan trọng nhất trong việc thiết lập các quan hệ hàng hóa - tiền tệ
Có thể nói, nền kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì chế định hợp đồng càng được coi trọng và càng được hoàn thiện hơn Điều này xuất phát từ việc pháp luật hiện đại thừa nhận quyền bình đẳng của con người trước pháp luật và quyền tự do cá nhân Ngày nay, nhất là trong nền kinh tế hội nhập - nơi mà mọi dịch vụ, hàng hóa phải được tự do chuyển dịch trong thị trường thì phần lớn các quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bằng hợp đồng Vai trò, vị trí của chế định hợp đồng và việc tuân thủ nguyên tắc tự do hợp đồng vì thế ngày càng được khẳng định trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Trang 4Thứ hai: Nguyên tắc tự do hợp đồng trong pháp luật Việt Nam hiện
nay còn nhiều khiếm khuyết, cản trở việc hình thành các giao lưu kinh tế - thương mại
Hoạt động kinh tế - thương mại là một trong những lĩnh vực không thể thiếu của đời sống kinh tế - xã hội Các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hoạt động này là nền tảng của các quan hệ xã hội khác tồn tại trong xã hội
Để duy trì và phát triển các quan hệ này thì Nhà nước phải tạo lập cho nó khung pháp lý ổn định và hoàn thiện Tuy nhiên, pháp luật về hợp đồng nói chung, nguyên tắc tự do hợp đồng nói riêng ở Việt Nam hiện nay vẫn còn
có những hạn chế nhất định Do vậy, chúng ta cần thiết phải đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa nguyên tắc này cho phù hợp với nền
kinh tế thị trường ở nước ta
Như vậy, có thể khẳng định rằng việc nghiên cứu đề tài: “ Nguyên tắc tự
do hợp đồng trong pháp luật Việt Nam” có ý nghĩa to lớn, không chỉ về mặt
lý luận mà còn cả về thực tiễn áp dụng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về hợp đồng là một chế định quan trọng Nó là “xương sống” của pháp luật dân sự, pháp luật kinh doanh nên trong BLDS năm 1995 đã
có hẳn một phần (phần thứ 3 -nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự) để quy định về vấn đề này Thực tế, Pháp luật về hợp đồng đã được nhiều cơ quan,
tổ chức và các nhà nghiên cứu quan tâm Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, hầu như ở tất cả các khía cạnh liên quan đến hợp đồng, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, như: Khái niệm, đặc điểm, trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng, vấn đề hợp đồng vô hiệu… Ngoài các sách chuyên khảo còn có rất nhiều bài viết của các nhà luật học bàn về các vấn đề liên quan trong các tài liệu, các báo và tạp chí chuyên ngành như: “Pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam - thực trạng và phương hướng hoàn thiện” của TS Dương Đăng Huệ; “Mấy vấn đề về pháp luật kinh tế Việt Nam hiện nay” của TS.Nguyễn
Trang 5Am Hiểu; “Bàn thêm về hoàn thiện pháp luật kinh tế ở Việt Nam” của TS.Lê Hồng Hạnh; “Hiệu lực và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự” của TS Đinh Văn Thanh…
Như vậy, có thể khẳng định rằng, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề hợp đồng từ nhiều góc độ khác nhau nhưng hầu như
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về nguyên tắc tự
do hợp đồng trong pháp luật Việt Nam
Do đó, việc lựa chọn đề tài: “Nguyên tắc tự do hợp đồng trong pháp luật Việt Nam” làm đối tượng nghiên cứu là không trùng lặp và có ý nghĩa cả
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nêu trên, Luận văn có nhiệm vụ:
Phân tích nội dung và tầm quan trọng của nguyên tắc tự do hợp đồng
Nghiên cứu nguyên tắc tự do hợp đồng qua các thời kỳ khác nhau, đánh giá thực trạng của nguyên tắc tự do hợp đồng ở Việt Nam
Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện nguyên tắc tự
do hợp đồng trong pháp luật Việt Nam
3.3 Phạm vi
Chế định hợp đồng là một chế định pháp lý rất phức tạp, liên quan nhiều
Trang 6nội dung và hình thức hợp đồng Tuy nhiên, Đề tài luận văn không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ chế định hợp đồng, toàn bộ các nguyên tắc
mà chỉ đi sâu nghiên cứu một nguyên tắc quan trọng, đó là nguyên tắc tự
do hợp đồng trong pháp luật Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn, các tài liệu tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật và các sách tham khảo
có liên quan,
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê,
5 Những đóng góp mới về khoa học của Luận văn
Luận văn đã phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của nguyên tắc
Luận văn đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn các quy định về
tự do hợp đồng ở Việt Nam
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trang 7 Luận văn giải quyết những bức xúc trong việc tìm kiếm các quy định mới về hợp đồng và nguyên tắc tự do hợp đồng trong Bộ luật dân sự mới năm 2005 (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006)
Luận văn góp phần vào việc nhận thức rõ những khiếm khuyết của pháp luật Việt Nam khi quy định về nguyên tắc tự do hợp đồng và sự cần thiết phải hoàn thiện nguyên tắc này trước yêu cầu của thực tiễn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu lý luận, làm đề tài tham khảo giảng dạy và học tập cho giáo viên và sinh viên
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được dự kiến với kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Các vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc tự do hợp đồng Chương 2: Tự do hợp đồng trong pháp luật Việt Nam qua các thời
kỳ
Chương 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện nguyên tắc tự do hợp
đồng ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 8hệ kinh tế giữa người sản xuất biểu hiện qua thị trường, qua việc trao đổi sản phẩm và dịch vụ
Hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của con người
và thông qua việc trao đổi, con người có thể thỏa mãn những nhu cầu trên Quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa đã làm xuất hiện tiền tệ Tiền làm thước đo giá trị vì bản thân nó cũng là một loại hàng hóa đặc biệt có giá trị như các hàng hóa khác Giá trị của mỗi hàng hóa được biểu hiện bằng một số tiền nhất định là giá cả Mặc dù giá cả của hàng hóa thường thay đổi biến động nhưng tổng số gía cả thì luôn bằng tổng số giá trị của hàng hóa Do vậy, việc trao đổi hàng hóa và tiền tệ là một bộ phận của nền sản xuất hàng hóa, một khâu quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội Quá trình trao đổi đó sẽ làm phát sinh, chấm dứt quyền tài sản của chủ thể hay nói cách khác quan hệ hàng hóa – tiền tệ (quan hệ tài sản) là quan hệ giữa người với người gắn liền với một tài sản nhất định Quan hệ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, việc các
Trang 9bên thiết lập với nhau những quan hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng và là một tất yếu đối với đời sống xã hội Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải tự nhiên hình thành bởi tài sản (vốn là hiện thân của các lợi ích vật chất) không thể tự tìm đến nhau để thiết lập các quan hệ Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể Trong bộ Tư bản, C.Mác viết:“Tự chúng, hàng hóa không thể đi tới thị trường và trao đổi với nhau được Muốn cho những vật đó quan hệ như những hàng hóa thì những người giữ hàng hóa phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó…mối quan hệ ý chí đó, mà hình thức của nó là bản giao kèo dù có được củng cố thêm bằng pháp luật hay không cũng vậy - là mối quan hệ ý chí phản ảnh mối quan hệ kinh tế”
Như vậy, ngay từ thuở sơ khai trong lịch sử phát triển của mình, hợp đồng đã được coi là “bản giao kèo” được thiết lập trên cơ sở tự do ý chí của các chủ thể trong quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hóa Sự hình thành nhà nước đồng thời kéo theo sự xuất hiện của pháp luật Khi được pháp luật điều chỉnh, các quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật và “bản giao kèo” trở thành hình thức pháp lý của nó Về tên gọi, “bản giao kèo” được gọi là khế ước hay hợp đồng Có thể khẳng định rằng điều kiện ra đời của nền sản xuất hàng hóa cũng chính là những điều kiện ra đời của hợp đồng hay nói cách khác trao đổi sản phẩm hàng hóa dẫn đến sự ra đời của hợp đồng Hợp
đồng là hình thức pháp lý của quan hệ hàng hóa – tiền tệ Ví dụ: Nhu cầu
trao đổi sản phẩm sẽ dẫn đến việc thiết lập hợp đồng mua bán; nhu cầu về đất đai sẽ dẫn đến việc thiết lập các hợp đồng như hợp đồng chuyển nhượng đất, hợp đồng thuê đất… Nếu việc giao kết hợp đồng không phát sinh lợi nhuận, không hàm chứa lợi ích vật chất trong đó mà chỉ chứa đựng
Trang 10lợi ích tinh thần thì các chủ thể có thể thiết lập hợp đồng cho mượn, hợp đồng tặng cho tài sản…
Hiện nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, xã hội ngày càng văn minh thì phần lớn các quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bằng hợp đồng, chính vì thế chế định Hợp đồng càng được tôn trọng và hoàn thiện hơn Kinh tế thị trường là nền kinh tế của sự giao lưu năng động của hàng hóa - dịch vụ giữa người sản xuất và tiêu dùng Hình thức pháp lý thích hợp và
có hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hóa, dịch vụ đó chính là Hợp đồng Thực tiễn của nền kinh tế thị truờng trên thế giới từ xưa đến nay đều khẳng định vai trò của hợp đồng Nó luôn giữ vai trò quan trọng bởi lẽ khi mọi hàng hóa, dịch vụ được tự do chuyển dịch trên thị trường thì sự tự do thể hiện ý chí của các bên cũng phải được tôn trọng trên
cơ sở các quy định của pháp luật Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hợp đồng và ở mỗi nước, tùy theo độ tương hợp mà các khía cạnh của hợp đồng
sẽ được chú trọng tới ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, tất cả những khái niệm cũng như nhận định về hợp đồng ở hầu hết các quốc gia đều phản ánh một quan niệm thống nhất về bản chất của hợp đồng Đó chính là
sự gắn kết chặt chẽ của hai yếu tố:
* Yếu tố thứ nhất: Sự thỏa thuận (Đây là yếu tố thể hiện sự thống
nhất trong việc bày tỏ ý chí của các bên, theo đó, nội dung và các vấn đề khác của hợp đồng được hình thành)
* Yếu tố thứ hai: Mục đích của sự thỏa thuận (Mục đích của việc
thiết lập các quan hệ hợp đồng là nhằm làm phát sinh một hậu quả pháp lý
mà các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng hướng tới Tất nhiên, hậu quả pháp lý đó phải hợp pháp
Với quan niệm này thì mọi quan hệ đảm bảo các yếu tố trên về bản chất đã được coi là quan hệ hợp đồng, không phụ thuộc vào chủ thể tham gia hay hình thức thể hiện
Trang 11Tóm lại, Hợp đồng là một trong những sản phẩm lâu đời nhất liên
quan đến giao lưu dân sự Ngay từ khi sự trao đổi hàng hóa xuất hiện trong
xã hội loài người thì hợp đồng đã đóng vai trò là chuẩn mực, định hướng cách xử sự cho các bên tham gia quan hệ nhằm đảm bảo cho sự vận động
của quan hệ hàng hóa - tiền tệ diễn ra nhanh chóng và hiệu qủa
1.2 VỊ TRÍ CỦA NGUYÊN TẮC TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG VIỆC THIẾT LẬP CÁC QUAN HỆ HÀNG HÓA - TIỀN TỆ
1.2.1 Các nguyên tắc ký kết hợp đồng và vị trí của nguyên tắc tự do
hợp đồng
1.2.1.1 Các nguyên tắc ký kết hợp đồng
Xét dưới góc độ ngôn ngữ học Việt Nam thì nguyên tắc được hiểu
là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”(Từ điển Tiếng Việt)
Xét dưới góc độ khoa học pháp lý thì nguyên tắc là những quan
điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong hệ thống pháp luật thể hiện tập trung những yêu cầu và đòi hỏi của Nhà nước trong việc điều chỉnh pháp luật đối với nhóm quan hệ xã hội nào đó Việc thực hiện các nguyên tắc mang tính chất bắt buộc chung đối với tất cả mọi người, mọi cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội có liên quan
Có thể nói, Hợp đồng là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật của bất cứ Quốc gia nào Tuy có nhiều điểm khác nhau về lịch sử phát triển, về một số quy định cụ thể liên quan đến chủ thể tham gia hợp đồng, cách phân loại, song về lý luận, chế định hợp đồng có rất nhiều điểm tương đồng Và, sự tương đồng đó bắt nguồn từ chính bản chất của hợp đồng là một công cụ đảm bảo sự bình đẳng, tự nguyện của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh Để hợp đồng thực hiện được tốt vai trò của mình trong các quan hệ pháp luật thì đòi hỏi chúng ta phải xây dựng, hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản cho nó
Trang 12Để các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại thực hiện có hiệu quả trên thực tế thì đòi hỏi các chủ thể pháp luật phải thiết lập các quan hệ hợp đồng (giao kết hợp đồng) theo những nguyên tắc và trình tự nhất định Giao kết hợp đồng là việc các chủ thể bày tỏ ý chí bằng cách trao đổi ý kiến với nhau về những nội dung, điều kiện của hợp đồng để đi đến sự thỏa thuận trong việc cùng nhau xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ qua lại của các bên trong quan hệ hợp đồng Các hành vi giao dịch trong giao kết hợp đồng bao gồm: Đề nghị giao kết hợp đồng (được quy định tại điều 396-BLDS 1995 và điều 51-Luật thương mại 1997); Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (được quy định tại điều 403-BLDS 1995 và điều 51/2- Luật thương mại 1997); Thời điểm giao kết hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng (được quy định tại điều 403,404-BLDS 1995, điều 55 và 56-Luật thương mại 1997, điều 11- Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989)
Tóm lại, Khi tiến hành giao kết hợp đồng, các chủ thể pháp luật phải
tuân thủ các nguyên tắc cơ bản, bao gồm: nguyên tắc tự do, bình đẳng, hợp tác, thiện chí và trung thực
a Nguyên tắc tự do
Thuyết tự do y chí trong giao kết hợp đồng xuất hiện từ thế kỷ thứ
XVIII và nằm trong hệ thống các quan điểm của nền triết học ánh sáng Một số người cho rằng quan điểm này là của Kant, nhà triết học người Đức đưa ra
Thuyết tự do ý chí trong giao kết hợp đồng xuất phát từ quan điểm cho rằng ý chí của con người là tối thượng và tự chủ Chỉ các hành vi xuất phát từ ý chí của một người mới có hiệu lực ràng buộc đối với người đó Một người chỉ bị ràng buộc khi người đó muốn như vậy và ràng buộc theo cách mà người đó muốn Tuy nhiên, mỗi bên tham gia hợp đồng nhằm thỏa
mãn những lợi ích riêng của mình trong phạm vi phù hợp với lợi ích chung
Trang 13Khi bàn về vấn đề tự do ý chí, C.Mac đã chỉ ra rằng: Không thể bàn về lý luận, đạo đức và pháp quyền mà lại không đề cặp đến tự do ý chí, đến quan
hệ giữa tất yếu và tự do
Để tạo cho các chủ thể thỏa mãn được các nhu cầu về đời sống vật chất cũng như tinh thần, pháp luật cho phép mọi chủ thể được quyền “ tự
do giao kết hợp đồng” Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có
đủ tư cách chủ thể đều có quyền tham gia giao kết bất kỳ một hợp đồng nào, nếu họ muốn, mà không ai có quyền ngăn cản Bằng y chí tự do của mình, các chủ thể có quyền giao kết những hợp đồng đã được pháp luật quy định cụ thể cũng như những hợp đồng khác dù rằng pháp luật chưa quy định Tự do ýchí của chủ thể trong việc xác lập quan hệ hợp đồng bao gồm các yếu tố: Tự do đề nghị giao kết, tự do chấp nhận hay không chấp nhận
đề nghị của phía bên kia, tự do thỏa thuận các điều khoản cơ bản của hợp đồng như đối tượng, giá cả, phương thức thanh toán,…
Ngay từ thời kỳ La Mã cổ đại, hợp đồng đã là một trong những nội dung quan trọng nhất của pháp luật về nghĩa vụ Và, “nó đã trở thành cơ
sở nền tảng cho sựphát triển của khoa học pháp lý trong nhiều hệ thống luật sau này” [41, tr.8] Trong pháp luật La Mã, hợp đồng được coi là hình thức thể hiện của các giao dịch song phương mà việc xác lập chúng có thể trực tiếp làm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ Như
vậy,“với tư cách như là một cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ, hợp đồng chỉ có
thể có nếu các bên ký hợp đồng có chủ ý xác lập” [28, tr.77]
Xuất phát từ bản chất của quan hệ hợp đồng, pháp luật La Mã ghi nhận ý chí đã thỏa thuận (convention) của các bên là một trong các điều kiện để một hợp đồng có hiệu lực Có thể thấy rằng, trong lịch sử lập pháp, khái niệm về hợp đồng đã được hình thành từ rất sớm và dường như đã khái quát được toàn bộ bản chất của hợp đồng cho đến nay (sự thỏa thuận
và thống nhất ý chí của chủ thể khi tham gia giao dịch) Các hệ thống pháp
Trang 14luật hiện đại sau này cũng có nhiều khái niệm khác nhau về hợp đồng song tựu trung lại vẫn khó xa rời khái niệm nguyên gốc về hợp đồng từ thời La
Mã cổ đại
Bộ luật Napoleon của Pháp là một trong những Bộ luật lớn và được coi là Bộ luật kinh điển nhất về dân luật Cho đến nay, hầu hết các Bộ luật dân sự của các nước trong hệ thống luật Romanh – Giecmanh đều chịu ảnh hưởng hoặc tham chiếu đến Bộ luật này Khái niệm về hợp đồng trong Bộ
luật Napoleon được quy định tại điều 1101, theo đó: “ Hợp đồng là sự thỏa thuận của hai hay nhiều bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc nào đó”
Theo quy định của Bộ luật dân sự Nhật Bản, hợp đồng được hiểu là:
“Một loại giao dịch dân sự thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên Mục đích của hợp đồng thông thường làm phát sinh nghĩa vụ”
(Bình luận khoa học BLDS Nhật Bản - Bộ tư pháp - Viện NCKHPL)
Qua đây, chúng ta có thể thấy pháp luật Nhật Bản cũng coi tự do ý chí là một nguyên tắc trong giao kết hợp đồng Tự do giao kết ở đây bao gồm tự do đề nghị và chấp nhận giao kết; tự do xác định nội dung của hợp đồng và tự do hình thức của hợp đồng Tuy nhiên, muốn cho các quan hệ
về nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng thì các nghĩa vụ đó phải hợp pháp, không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng và điều cấm của pháp luật
Với bản chất nguyên thủy của hợp đồng, vấn đề tự do y chí đã được
đề cao trong Bộ luật dân sự Philipin Theo quy định tại Điều 1305 - Bộ luật
dân sự Philipin thì hợp đồng được hiểu là “sự thống nhất ý chí giữa hai bên, theo đó, mỗi bên tự ràng buộc mình trên cơ sở tôn trọng bên kia để đưa một cái gì đó hoặc trả cho một dịch vụ nào đó” Có thể thấy, “sự ưng thuận giữa các bên”- tự do ý chí của chủ thể (Điều 1318-Bộ luật dân sự
Philipin) là yếu tố quan trọng, không thể thiếu khi giao kết hợp đồng Nó là
Trang 15một trong ba điều kiện cơ bản để xác định hợp đồng đó có hiệu lực hay không
Tại Điều 1378- Bộ luật dân sự của Quy- bec cũng định nghĩa hợp đồng
là:“một thỏa thuận của ý chí bởi một hoặc nhiều người để ràng buộc nghĩa
vụ với một hoặc nhiều người khác nhằm thực hiện một công việc”
Theo quy định của pháp luật Quy- bec thì ý chí của các bên trong hợp đồng rất được đề cao, cùng với nguyên nhân và mục đích của hợp đồng, các yếu tố này được coi là bản chất vốn có của một hợp đồng Theo
đó, sự “ưng thuận giữa những người có năng lực tham gia giao kết là căn
cứ duy nhất để một hợp đồng được hình thành trừ trường hợp pháp luật hoặc các bên trong hợp đồng yêu cầu hợp đồng cần phải đáp ứng những điều kiện nhất định theo mẫu của một thỏa thuận nghiêm túc” (Điều 1385 -
Bộ luật dân sự Quy- bec)
Hợp đồng dân sự theo quy định của BLDS Việt Nam được hiểu là
“sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 394 - BLDS 1995) và tiếp tục được khẳng
định tại Điều 388 của Bộ luật dân sự năm 2005
Trên cơ sở các khái niệm trên, chúng ta có thể thấy vấn đề tự do hợp đồng đã được khẳng định khá rõ nét trong các quan niệm, khái niệm về hợp
đồng ở hệ thống pháp luật các quốc gia khác nhau trên thế giới, từ thời xa xưa cho đến hiện đại Căn cứ để xác lập hợp đồng chính là sự tự do ý chí (sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên khi tham gia giao dịch)
Như vậy, ý muốn cũng thuộc chủ quan của chủ thể, là động lực bên trong thúc đẩy các chủ thể xác lập giao dịch, do đó thể hiện ý chí là biểu lộ cái bên trong đó ra bên ngoài, làm thấy rõ nội dung của ý chí dưới hình thức cụ thể là các hợp đồng (khả năng biểu hiện ý chí của chủ thể ra bên ngoài)
Và, người ta có thể nhận biết ý chí đó qua nhiều phương diện khác nhau,
Trang 16mà cơ bản là nhận biết qua: (i) nội dung và mục đích của giao dịch; (ii) tính tự nguyện của chủ thể
(i) Sự biểu hiện ý chí qua nội dung và mục đích của giao dịch
Mục đích của giao dịch là yếu tố không thể thiếu được trong giao dịch Mục đích đó có thể là những lợi ích vật chất hoặc những lợi ích tinh thần - điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí và nguyện vọng cũng như mong muốn của các chủ thể Tuy nhiên, sự mong muốn của chủ thể sẽ mãi mãi chỉ tồn tại ở suy nghĩ bên trong của chủ thể nếu như không được bày
tỏ, biểu lộ “ý chí” bên trong đó ra ngoài dưới một hình thức nhất định Do vậy, để đạt được mục đích của mình, các bên phải có những cam kết, thỏa thuận với nhau về những nội dung cụ thể Việc xác lập nội dung cụ thể của giao dịch (hay quyền và nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên) xuất phát từ chính các lợi ích, mong muốn bên trong mà chủ thể đang hướng tới Vấn đề này được các chủ thể thực hiện khi hướng các hoạt động của mình, hành vi của mình vào việc cùng nhau tiến hành trên thực tế những cam kết, thỏa thuận, thống nhất với nhau về nội dung của giao dịch trên cơ sở nhận thức được những tác động của điều kiện khách quan cũng như chủ quan Tóm lại, mục đích và nội dung của giao dịch có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng thể hiện
ý chí của chủ thể, vì thông qua các cam kết, thỏa thuận sẽ cho ta thấy rõ được nội dung của ý chí, đó là: Mục đích của mỗi bên chủ thể hướng tới là gì? họ sẽ có quyền và nghĩa vụ gì đối với nhau và sẽ sử dụng phương thức nào để đạt được y muốn đó?
Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán tài sản, mục đích mà các bên hướng
tới là quyền sở hữu tài sản Để đạt được mục đích này, các bên phải thỏa thuận được với nhau về nội dung của hợp đồng mua bán bao gồm các điều khoản như đối tượng (vật bán), giá cả, thời hạn, phương thức thực hiện hợp đồng… Sự thỏa thuận về các điều khoản đó lại nhằm đạt được mục đích là quyền sở hữu tài sản Từ đó có thể khẳng định rằng không thể có hành vi
Trang 17mang tính ý chí khi các chủ thể tham gia vào việc xác lập, thực hiện giao dịch lại không nhằm vào một mục đích nhất định Có nghĩa là khi tham gia vào các quan hệ trong phạm vi, giới hạn mà pháp luật quy định, chủ thể có năng lực hành vi hoàn toàn có khả năng tự xác định mục đích cho hành động của mình dù là hành vi tuyên bố đơn phương hay hành vi xác lập hợp đồng dân sự
Pháp luật tôn trọng và bảo đảm quyền tự do cam kết thỏa thuận của các bên tham gia giao kết hợp đồng, tôn trọng và bảo vệ những lợi ích mà các bên mong muốn đạt được nhưng không phải không có những giới hạn (hạn chế) nhất định, không thể có tự do ý chí tuyệt đối được Chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng không thể “bất chấp tất cả” để thỏa mãn nhu cầu của mình Sự tồn tại đa dạng lợi ích trong xã hội hay xu hướng lấn át của chúng đòi hỏi pháp luật phải tạo ra được một giới hạn phát triển hợp lý cho các lợi ích đó, tạo ra một sự hài hòa cho các lợi ích đang cùng tồn tại trong một mối liên hệ chung Sự đấu tranh và thống nhất giữa các lợi ích chính là động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội Điều này đòi hỏi phải tạo ra phạm vi giới hạn cho quyền tự do phù hợp với yêu cầu xã hội, đòi hỏi của pháp luật Vấn đề này có nghĩa là y chí của chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng phải phù hợp với ý chí của Nhà nước được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật (ý chi của giai cấp thống trị) Bởi vậy trong quan hệ hợp đồng, ý chí của các chủ thể và ý chí của Nhà nước phải được kết hợp lại, ý chí của cá nhân phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Cho nên một trong những điều kiện để hợp
đồng có hiệu lực là “mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và đạo đức xã hội” - (khoản 2, điều 131, BLDS Việt Nam năm 1995)
Mục đích và nội dung của giao dịch thể hiện ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, còn pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước quy định khung pháp lý, tạo hành lang pháp lý Trong giới hạn hành lang pháp lý đó, các bên
Trang 18tham gia vào hợp đồng được tự do thể hiện ý chí của mình Việc thiết lập giới hạn của tự do cá nhân trước tiên nhằm bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, của xã hội nhưng cũng là bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng Tính không trái pháp luật phải được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là không chỉ trong phạm vi các điều cấm của pháp luật mà còn không trái với các nguyên tắc chung của pháp luật nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng Ngoài ra, mục đích và nội dung của giao dịch còn không được trái với đạo đức xã hội (không trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, không trái với những phong tục tập quán) Do vậy, pháp luật và đạo đức xã hội thể hiện ý chí của Nhà nước đã hạn chế tự do ý chí của chủ thể trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng
Nghĩa là, nếu vi phạm điều cấm, vi phạm đạo đức xã hội thì hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu, tài sản trong giao dịch sẽ bị sung công quỹ nhà
nước Ví dụ: các giao dịch mua bán hàng bị cấm đưa vào lưu thông dân sự
như thuốc phiện, chất nổ, vũ khí… Những hạn chế này chính là giới hạn đối với quyền của các chủ thể nhằm mục đích bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng xã hội, bảo đảm an ninh quốc gia và quốc phòng toàn dân
(ii) Sự biểu hiện của ý chí trong tính tự nguyện của chủ thể
Một trong những điều kiện có hiệu lực của một giao dịch là: Những người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện Điều kiện quan trọng
trên đây đã được ghi nhận tại Điều 7 (tự do tự nguyện cam kết, thỏa thuận)
và tại Khoản 1, điều 395 (nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng) của BLDS Việt Nam năm 1995 Theo đó, khi xác lập các quan hệ hợp đồng, các chủ thể có quyền: Tự do đề nghị giao kết, tự do chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị của phía bên kia, tự do thỏa thuận các điều khoản căn bản của hợp đồng như đối tượng, giá cả, phương thức thanh toán,…
Có thể khẳng định, bản chất của hợp đồng chính là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các bên, cho nên tự do ý chí và bày tỏ ý chí là hai
Trang 19mặt của tự nguyện Tự nguyện phải có tự do ý chí và bày tỏ y chi và phải
thống nhất với nhau như là hai mặt của một vấn đề Điều này được hiểu như sau:
Ý chí là khả năng tự xác định mục đích cho hành động và hướng hoạt động của mình, khắc phục khó khăn nhằm đạt được mục đích đó tức là chủ thể có khả năng nhận thức được những quy luật tất yếu khách quan (gồm cả quy luật tự nhiên và xã hội) và vận động những quy luật tất yếu vào hành động vì lợi ích của mình Biểu hiện cụ thể của tự do ý chí là chủ thể đó tự nguyện, hoàn toàn có khả năng lựa chọn một tình huống nhất định khi có nhiều tình huống khác nhau và quyết định theo ý chí của mình Do
đó đối với những người không có tự do ý chí, không có khả năng cân nhắc, phán đoán, lựa chọn và quyết định một cách tự do về cách xử sự của mình, không nhận thức được tính tất yếu và tự do như bị điên, tâm thần, mất trí…hoặc bị đe dọa, lừa dối thì những hợp đồng mà họ giao kết sẽ không có hiệu lực và bị coi là vô hiệu (theo các quy định từ điều 140 đến điều 143 của BLDS Việt Nam năm 1995)
Mặt khác, hợp đồng chỉ được hình thành trên thực tế khi ý muốn bên trong của chủ thể phải được biểu lộ ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định Song, sự biểu lộ ý chí ra bên ngoài phải phản ánh được thực chất nội
dung của ý chí bên trong, tức là sự bày tỏ ý chí phải được phản ánh đúng nguyện vọng của chủ thể giao kết Như vậy, sự thể hiện ý chí chính là
phương thức, là cầu nối trong việc tiến hành xác lập hợp đồng sao cho phù hợp với mong muốn, với lợi ích của bản thân các chủ thể tham gia giao dịch Đây chính là biểu hiện của sự thống nhất giữa cái bên trong (ý chí) với những biểu hiện cụ thể ra bên ngoài (bày tỏ ý chí) – tính tự nguyện của chủ thể Khác với hành vi pháp lý đơn phương chỉ là sự thống nhất ý chi của một bên, bản chất thỏa thuận của hợp đồng lại luôn cần sự thống nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ Sự thống nhất ý chí này có thể đạt được
Trang 20ngay sau khi các bên biết được ý chí của nhau, song cũng có thể phải trải qua một quá trình và cần một khoảng thời gian nhất định Các bên sẽ phải bàn bạc, trao đổi nhằm làm rõ ý chí của nhau và cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn phát sinh về vấn đề lợi ích, quan điểm,…Chủ thể bên này sẽ xem xét ý kiến của bên kia trên quan điểm, lợi ích của mình Thông thường, sự thống nhất ý chí của các bên sẽ đạt được khi các bên dung hòa được lợi ích khi tham gia hợp đồng
Tuy nhiên, do giới hạn của những điều kiện khách quan và chủ quan, không phải mọi ý muốn đều có khả năng thực hiện và không phải mọi phương thức mà chủ thể lựa chọn để đạt được ý muốn đều có tính khả thi
Do vậy, tự do ý chí của chủ thể phải trên cơ sở nhận thức được các điều kiện chủ quan và khách quan Điều đó đồng nghĩa với quy luật: tự do chỉ có khi con người nhận thức được cái tất yếu
Trên thực tế, không phải hợp đồng nào cũng được giao kết xuất phát
từ sự tự nguyện của các bên chủ thể mà họ có thể bị ép buộc, đe doạ, lừa dối hay bị nhầm lẫn Chính vì vậy, hợp đồng được thiết lập trong khi bị đe dọa là hoàn toàn không có tính tự nguyện, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cơ bản “ tự do hợp đồng” Tại Điều 3.9 - Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế (Principles 0f International Commercial Contracts, viết tắt theo Tiếng Anh là PICC) của Viện thống nhất tư pháp quốc tế ((Insitut Internationl pour l, Unification des Droits Prive,,viết tắt theo Tiếng Pháp là
UNIDROIT) có quy định: “ Một bên trong hợp đồng được phép vô hiệu hợp đồng, nếu bên đó giao kết hợp đồng là do bị bên kia đe dọa không chính đáng, trong trường hợp nghiêm trọng và tức thời đến nỗi họ không còn cách nào khác hơn là buộc phải giao kết hợp đồng Cụ thể, sự đe dọa
là không chính đáng khi hành vi hoặc bất tác vi với một bên trong hợp đồng bị đe dọa là bất hợp pháp, hoặc khi mục đích sử dụng nó là bất hợp pháp nhằm đạt được giao kết hợp đồng”
Trang 21Giả sử trong trường hợp một người đe dọa tố cáo tội phạm khiến người kia phải xác lập giao dịch với mình Trong trường hợp này thì hành
vi tố cáo tội phạm là đúng pháp luật nhưng việc sử dụng phương thức này
để đe dọa buộc đối phương phải giao kết hợp đồng nhằm thực hiện mục đích của mình thì pháp luật không bảo vệ
Ngoài ra, trong nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế cũng có
quy định: “ Một bên trong hợp đồng được phép vô hiệu hợp đồng, nếu bên
đó giao kết hợp đồng do bị phía bên kia lừa dối về sự việc, kể cả trong ngôn ngữ hoặc hành vi, hoặc do bên kia (bên lừa dối) không cung cấp thông tin về các yếu tố, mà theo những tiêu chuẩn thông thường về công bằng và hợp lý trong thương mại, họ phải được thông báo” (Điều 3.8 -
PICC) Có thể nói, quy định trên đã thể hiện và đảm bảo nguyên tắc tự do hợp đồng
Như vậy, không có tự do ý chí và bày tỏ ý chí hoặc phá vỡ sự thống nhất
này sẽ không có sự tự nguyện
Tóm lại, Ở các quốc gia khác nhau, tại mỗi thời điểm khác nhau thì
ít nhiều cũng có sự khác nhau về khái niệm Nhưng, về bản chất là thống
nhất, không thay đổi, đó chính là sự tự do ý chí trong giao kết hợp đồng
“Khi xã hội đã đạt tới một trình độ nhất định thì tất cả những học thuyết
về quyền tự do của con người đều thừa nhận tự do hợp đồng là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm và tôn trọng các hình thức hợp đồng là một nét đặc trưng quan trọng của cuộc sống văn minh” [43, tr 109].
Tuy nhiên, sự tự do ý chí đó phải nằm trong một khuôn khổ nhất định Bên cạnh việc chú ý đến quyền lợi của mình, các chủ thể phải hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của những người khác cũng như lợi ích của toàn
xã hội Vì vậy, tự do của mỗi chủ thể phải “không trái pháp luật, đạo đức
xã hội” Nằm trong mối liên hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ, mỗi một chủ thể vừa có quyền “tự do giao kết hợp đồng” vừa có nghĩa vụ tôn trọng
Trang 22pháp luật và đạo đức xã hội Lợi ích của cộng đồng (được quy định bằng pháp luật) và đạo đức xã hội được coi là “sự giới hạn” ý chí tự do của mỗi một chủ thể trong việc giao kết hợp đồng
b/ Nguyên tắc bình đẳng
Quy luật giá trị đòi hỏi các bên khi thiết lập các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau Không một ai được lấy lý do khác biệt về thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo, sự lệ thuộc, hoàn cảnh khó khăn về kinh tế và nhu cầu cấp bách của phía bên kia, hoặc lợi dụng sự thiếu suy nghĩ, bất cẩn, thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu kỹ năng thương lượng hợp đồng … để làm biến dạng các quan hệ hợp đồng Chỉ khi nào các bên bình đẳng với nhau về mọi phương diện trong giao kết hợp đồng thì ý chí tự nguyện của các bên mới thật sự được bảo đảm Vì vậy, theo nguyên tắc trên, những hợp đồng được giao kết thiếu bình đẳng và không có sự tự nguyện của các bên sẽ không được pháp luật thừa nhận Như vậy, tất cả các hợp đồng được giao kết do bị đe dọa và là kết quả của bạo lực hoặc giao kết trên cơ sở thiếu bình đẳng đều là những hợp đồng không đáp ứng được nguyên tắc bình đẳng khi giao kết Do vậy, tất cả các hợp đồng được ký kết không dựa trên nguyên tắc bình đẳng thì sẽ không được pháp luật bảo vệ
Muốn nguyên tắc này được bảo đảm trên thực tế thì trước hết pháp luật phải tạo ra sự bình đẳng về địa vị pháp lý cho các thành phần kinh tế,
theo đó cần thiết phải quan tâm tới vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất Sự bình đẳng ở đây phải được hiểu một cách khách quan và toàn diện chứ không
phải là hình thức Pháp luật phải ghi nhận, thừa nhận và đưa ra các hình thức
áp dụng thực tế để bảo đảm nguyên tắc này trong các quan hệ hợp đồng
Ví dụ: K nợ H một số tiền là hơn 1 (một) tỷ để kinh doanh Sau một
thời gian do chơi đề thua lỗ nên K đã bán hết tài sản trừ ngôi nhà đang ở
mà vẫn không trả được hết nợ cho H Để đòi nợ, H đã gạ gẫm K ký hợp
Trang 23đồng bán ngôi nhà mà K đang ở cho H để trừ nợ Vì túng quẫn, lại bị H thúc ép hàng ngày nên K đã ký hợp đồng mua bán nhà trên
Như vậy, trong trường hợp này, H đã lợi dụng sự lệ thuộc, hoàn cảnh khó khăn kinh tế của K để ký hợp đồng Rõ ràng khi tiến hành ký kết hợp đồng mua bán nhà trên, giữa K và H đều ở vị trí không bình đẳng Trừờng hợp này đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ hợp đồng
c/ Nguyên tắc hợp tác
Hợp tác là một trong những nguyên tắc không thể thiếu trong các quan hệ hợp đồng, theo đó, mỗi bên sẽ hợp tác với bên kia, khi sự hợp tác này có thể được mong đợi một cách khách quan nhằm thực hiện những nghĩa vụ của cả hai bên
Như vậy, một hợp đồng không chỉ là một điểm dung hòa các mâu thuẫn về quyền lợi của các bên trong hợp đồng, mà trong một chừng mực nhất định nó còn được xem như là một “dự án chung”, trong đó mỗi bên có nghĩa vụ phải hợp tác cùng thực hiện Dĩ nhiên, trách nhiệm của việc hợp tác phải được giữ trong một giới hạn nhất định (đề cập đến những yêu cầu hợp lý), vì thế, không được phép đảo ngược việc phân chia trách nhiệm trong việc thực hiện hợp đồng Yêu cầu chủ yếu và tối thiểu của việc hợp tác là nghĩa vụ không cản trở việc thực hiện của bên kia, đôi khi nghĩa vụ này cũng yêu cầu sự hợp tác tích cực hơn giữa các bên
Ví dụ : Công ty A sau khi ký hợp đồng với Công ty B về việc giao
hàng ngay (hàng giày da của hãng X), đã chỉ thị nhân viên của mình mua vét toàn bộ số hàng của hãng đó có trên thị trường từ các nguồn khác nhau Việc làm như vậy sẽ làm cản trở Công ty B trong việc thực hiện nghĩa vụ của họ, là trái ngược với nghĩa vụ hợp tác
d/ Nguyên tắc thiện chí và trung thực
Nguyên tắc thiện chí và trung thực là một trong những nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các giao dịch
Trang 24Viện thống nhất tư pháp quốc tế (UNIDROIT) - một tổ chức quốc tế liên
chính phủ thành lập tại Roma, Italia, đã tập trung nghiên cứu tìm kiếm các quy định chung để điều chỉnh hợp đồng, sao cho có thể thích hợp trong nhiều hệ thống pháp luật của những nước khác nhau Năm 1994, UNDROIT đã cho ra đời cuốn sách “Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế” (PICC) Theo đó, thiện chí và trung thực có thể được xem là một trong những ý tưởng chính của PICC, bằng việc xác định rõ trong các quy định chung rằng mỗi bên trong hợp đồng đều phải tiến hành giao dịch trên tinh thần thiện chí và trung thực, thậm chí không có những quy định trực tiếp điều chỉnh hành vi của các bên, họ vẫn phải tuân theo nguyên tắc này trong suốt thời hạn hợp đồng, kể cả giai đoạn đàm phán
Ví dụ1: B cho C một thời hạn là 48 giờ để chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng Khi C quyết định chấp nhận chỉ ít lâu trước khi hết hạn, nhưng không thể liên lạc được với bên B vì là ngày cuối tuần, máy Fax trong văn phòng công ty B không hoạt động và cũng không có một máy trả lời điện thoại tự động nào Đến thứ hai tuần sau, B từ chối lời chấp nhận của C Điều này được xem như là đi ngược lại với thiện chí và trung thực,
vì đã ra thời hạn chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thì bên B phải đảm bảo mọi thông điệp đều có thể đến được văn phòng công ty B trong vòng
48 tiếng đồng hồ
Ví dụ 2: Khách hàng A và ngân hàng JC ràng buộc với nhau bởi một
hợp đồng tín dụng nhằm hỗ trợ nguồn vốn lưu động cho bên A trong sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, bên ngân hàng JC bất ngờ từ chối cho bên A vay tiền tiếp mà không hề giải thích và thực hiện bất kỳ thông báo nào Kết quả là việc kinh doanh của bên A bị thiệt hại nặng do lỡ cơ hội ky hợp đồng với các đối tác vì không có vốn để tiếp tục kinh doanh Cho dù hợp đồng tín dụng có điều khoản cho phép bên Ngân hàng được từ chối cho vay
“bất cứ lúc nào” nhưng việc Ngân hàng từ chối cho vay và đòi khách hàng
Trang 25phải trả nợ ngay mà không hề thông báo trước và không giải thích – là vi phạm nguyên tắc thiện chí
Có thể nói, nghĩa vụ giao dịch theo nguyên tắc thiện chí và trung thực của các bên là một đặc tính bắt buộc mà các bên không được loại bỏ hoặc hạn chế sử dụng nó trong hợp đồng Điều 3.19 –PICC quy định rằng
“Các điều khoản trong chương này mang tính bắt buộc, trừ trường hợp chỉ liên quan đến tính ràng buộc của sự thỏa thuận giữa hai bên, việc không thể thực hiện được từ đầu của Hợp đồng hoặc Hợp đồng được giao kết khi nhầm lẫn” Việc quy định này có nghĩa là, những điều khoản trong chương
này liên quan đến lừa dối, đe dọa và được lợi lớn đều có tính bắt buộc đối với các bên trong hợp đồng.Việc các bên loại trừ hoặc sửa đổi những điều khoản này khi giao kết hợp đồng là trái với nguyên tắc thiện chí và trung thực Tuy nhiên, không có gì ngăn cản các bên từ bỏ quyền vô hiệu hợp đồng khi biết được sự thật và tự định đoạt xem liệu có nên vô hiệu hợp đồng hay không Mặt khác, những điều khoản của chương này liên quan đến tính ràng buộc của một hợp đồng, hoặc việc hợp đồng không thể thực hiện được, hoặc việc hợp đồng được giao kết khi nhầm lẫn thì không có tính bắt buộc Do vậy, các bên có thể quy định lại nếu luật áp dụng trong nước cho phép, ví dụ như thêm các yêu cầu về nguyên nhân hoặc mục đích của hợp đồng để một hợp đồng có hiệu lực, họ cũng có thể thỏa thuận hợp đồng sẽ bị vô hiệu khi hợp đồng không thể thực hiện được ngay từ đầu, hoặc quy định rằng sự nhầm lẫn của một trong hai bên sẽ không được coi
là nguyên nhân làm vô hiệu hợp đồng
Ngoài ra, điều 7.1.6 – PICC (điều khoản miễn trừ) cũng được soạn thảo nhằm mục đích cho phép tòa án được quyền uốn nắn hợp đồng dựa trên nguyên tắc thiện chí và trung thực Các điều khoản quy định về hậu quả của việc không thực hiện trên cơ bản có hiệu lực, nhưng tòa án có thể loại bỏ các điều khoản bất bình đẳng thái quá
Trang 26Như vậy, có thể thấy, nguyên tắc thiện chí và trung thực là một trong những nguyên tắc quan trọng trong quan hệ hợp đồng Nó đòi hỏi các bên phải tôn trọng những cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng
Với tinh thần này, Pháp luật Việt Nam cũng thể hiện nguyên tắc
thiện chí và trung thực trong hệ thống các văn bản pháp luật của mình Ví dụ: Quy định nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản cho đối tác khi tiến
hành giao dịch…
Cụ thể: Điều 465 - BLDS Việt Nam năm 1995 khi quy định đối với
hợp đồng tặng cho tài sản cũng đã quy định: Bên tặng cho phải có nghĩa vụ thông báo cho bên được tặng cho khuyết tật của tài sản tặng cho Sau này,
Bộ luật dân sự năm 2005 cũng kế thừa nguyên tắc trên trong quan hệ hợp
đồng tặng cho tài sản: “Bên tặng cho có nghĩa vụ thông báo cho bên được tặng cho khuyết tật của tài sản tặng cho Trong trường hợp bên tặng cho biết tài sản có khuyết tật mà không thông báo thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra cho người được tặng cho; nếu bên tặng cho không biết về khuyết tật của tài sản tặng cho thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại” (Điều 469)
1.2.1.2 Vị trí của nguyên tắc tự do hợp đồng
Có thể khẳng định, các nguyên tắc tự do, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc hợp tác, nguyên tắc thiện chí và trung thực là những nguyên tắc
cơ bản, không thể thiếu trong giao kết hợp đồng Nó là nền tảng pháp lý, là
tư tưởng chỉ đạo bao trùm và có giá trị bắt buộc chung đối với các chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng Do đó, sự tồn tại của các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hợp đồng là khách quan bởi nó thể hiện nhu cầu không thể thiếu trong sự điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập sự ổn định
và kích thích sự phát triển kinh tế-xã hội trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Không những thế, các nguyên tắc này còn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, xét theo phép duy vật biện chứng là mối liên hệ phổ biến
Trang 27giữa các sự vật và hiện tượng Trong khoa học pháp lý nói chung, mối liên
hệ này được hiểu là mối liên hệ nội tại và tất yếu Nó tồn tại trong một thể thống nhất, trong đó giữa chúng có sự tác động qua lại và ràng buộc lẫn
nhau Ví dụ: Để xem xét, nhận định quan hệ hợp đồng đó có tuân thủ triệt
để nguyên tắc tự do hay không thì trước hết chúng ta phải nhận biết được trong quan hệ đó, giữa các chủ thể đó có sự phân biệt đối xử sang hèn về địa vị, về thành phần kinh tế, có sử dụng bạo lực khi giao kết hợp đồng không? (nguyên tắc bình đẳng) hoặc khi tiến hành giao kết hợp đồng, các bên có thông báo cho nhau biết về thực trạng của đối tượng giao kết không? (nguyên tắc thiện chí và trung thực)…Ngược lại, để xác định nguyên tắc thiện chí và trung thực thì ta phải phân tích xem khi tiến hành giao kết hợp đồng, các bên có hoàn toàn tự do ý chí và bày tỏ ý chí không? (nguyên tắc tự do hợp đồng)…
Qua ví dụ trên, chúng ta thấy rõ trong các quan hệ hợp đồng luôn có
sự tồn tại, đan xen giữa các nguyên tắc, có nghĩa là muốn thực hiện triệt để nguyên tắc này thì phải thực hiện tốt các nguyên tắc còn lại Thực tế, các nguyên tắc này có giá trị bổ sung, hỗ trợ chặt chẽ cho nhau, cùng mục đích đảm bảo hiệu quả cho các hoạt động pháp luật liên quan đến hợp đồng
Tuy nhiên, khi xem xét mối liên hệ biện chứng giữa các nguyên tắc cơ bản
của hợp đồng, chúng ta có thể khái quát chúng thành nhiều mối liên hệ: bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu…Qua đó, chúng ta khẳng định rằng: nguyên tắc tự do là nguyên tắc có
vị trí, vai trò quan trọng, có tính quyết định trong hệ thống các nguyên tắc
cơ bản khi giao kết hợp đồng Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản sau:
(i) Tự do hợp đồng là nguyên tắc thể hiện bản chất đích thực của hợp đồng (tự do thể hiện ý chí và thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên)
Trang 28Đây là nguyên tắc cơ bản xuyên suốt quá trình giao kết hợp đồng vì khi nói đến hợp đồng người ta hiểu ngay đó là sự thể hiện ýchí và sự thống nhất ý chí của các bên Điều đó có nghĩa là các bên tham gia quan hệ hợp đồng có quyền tự do bày tỏ ý chí của mình (loại trừ sự áp đặt, cưỡng bức của bất cứ tổ chức, cá nhân nào) Pháp luật hợp đồng Việt Nam cũng như các hệ thống pháp luật về hợp đồng trên thế giới đều không bảo hộ các hợp đồng được giao kết trên cơ sở lừa dối, đe dọa và cưỡng bức…Do vậy, mọi giao kết hợp đồng không là kết quả của sự tự do bày tỏ ý chí và sự thống nhất của các ý chí ấy thì đều trở nên vô hiệu Việc ghi nhận và tôn trọng thực hiện nguyên tắc tự do hợp đồng là một trong các phương thức thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đồng thời tạo sự bình ổn và trật tự xã hội
(ii) Nguyên tắc tự do hợp đồng là tiền đề cho việc thực hiện các nguyên tắc khác
Nói đến tự do hợp đồng là nói tới việc các chủ thể (cá nhân, pháp nhân, các thực thể pháp lý khác) có quyền thông qua hợp đồng để thỏa mãn các yêu cầu của mình Nói cách khác, tự do hợp đồng là tự do thỏa thuận để làm bất cứ việc gì mà mình muốn, trừ những công việc mà pháp luật hoặc đạo đức xã hội cấm So với các nguyên tắc khác thì nguyên tắc tự do ký kết
là nguyên tắc cơ bản, then chốt vì trong nhiều trường hợp, nếu không có tự
do hợp đồng thì các nguyên tắc khác cũng không có nhu cầu để tồn tại,
không có cơ hội để được thực hiện Ví dụ, nếu như hoạt động ký kết hợp
đồng không được tự do, tức là nếu một công việc nào đó bị cấm làm, một hàng hóa nào đó bị cấm lưu thông thì các chủ thể sẽ không được tiến hành
và khi công việc đó không được tiến hành, hàng hóa đó không được mua bán trên thương trường thì tất nhiên nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc trung thực…cũng không được đặt ra
Khi các hợp đồng về các hàng hóa, giao dịch đó bị cấm thì không ai được làm và khi không ai được làm thì cũng không cần gì đến yêu cầu về
Trang 29tính bình đẳng, về tính hợp tác, về tính trung thực trong sự ứng xử giữa các bên tham gia hợp đồng nữa Chính vì vậy, có thể nói rằng nguyên tắc tự do hợp đồng là nền tảng của các nguyên tắc khác, là tiền đề cho các nguyên tắc khác tồn tại và thực thi trong thực tiễn
1.2.2 Nội dung của nguyên tắc tự do hợp đồng
Hợp đồng được coi là một loại giao dịch thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên Sự thống nhất ý chí của các bên chính là cơ sở và tiền đề của quá trình hình thành hợp đồng Hợp đồng suy cho cùng là kết quả của việc thống nhất ý chí của những người tham gia
Như vậy, yếu tố cơ bản nhất làm hình thành hợp đồng là tự do thể hiện ý chí của các bên Sự tự do ý chí cho phép các chủ thể được tự do thiết lập hợp đồng, tự do quyết định nội dung của hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên…Việc thay đổi hợp đồng cũng chỉ được thực hiện bởi sự thỏa thuận của các bên, không ai có quyền can thiệp vào quan hệ của họ và làm thay đổi ý chí của họ Ý chí của các chủ thể được thể hiện một cách độc lập, không phụ thuộc vào bất cứ ai Nhà nước không can thiệp và bất cứ ai cũng không có quyền ép buộc họ phải tham gia vào một giao dịch nào đó trái với y muốn đích thực của họ
Đàm phán hợp đồng là việc đối thoại, thương lượng giữa hai hay
nhiều bên nhằm mục đích đi đến một thỏa thuận chung phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc kinh doanh của các bên tham gia đàm phán Trong quá trình đàm phán, các bên tìm hiểu và bày tỏ với nhau về yêu cầu và nguyện vọng của mỗi bên đối với bên kia xoay quanh vấn đề có liên quan đến quyền lợi của tất cả các bên Trong giai đoạn đàm phán, các bên chưa có một cam kết gì
cụ thể đối với nhau và thông thường giữa họ chưa phát sinh quyền hay nghĩa vụ pháp lý nào liên quan đến giao dịch đang đàm phán Kết quả của cuộc đàm phán thành công là việc các bên ký kết một hợp đồng Ký kết
Trang 30hợp đồng (giao kết hợp đồng) là việc các bên thể hiện ý chí chung nhằm làm phát sinh, thay đổi các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ Như vậy, có thể phân biệt được đàm phán hợp đồng khác với ký kết hợp đồng.Ngoài ra, việc đàm phán thường diễn ra trước khi ký kết hợp đồng Tuy nhiên cũng
có trường hợp, đặc biệt là các hợp đồng lớn và kéo dài, việc đàm phán diễn
ra sau khi đã ký kết nhằm thay đổi hay điều chỉnh một nội dung nào đó của hợp đồng đã ký kết Các bên ký kết hợp đồng có thể thỏa thuận rằng khi điều kiện thực hiện hợp đồng thay đổi thì theo yêu cầu của một bên, một
nội dung nào đó sẽ được đàm phán lại Trong trường hợp này, nghĩa vụ đàm phán không có nghĩa là nghĩa vụ giao kết một hợp đồng mới sửa đổi
hay điều chỉnh hợp đồng đang có hiệu lực Mặc dù không phải việc ký kết hợp đồng nào cũng đều qua giai đoạn đàm phán nhưng nó thường xuyên xảy ra trước và/hoặc sau khi ký kết hợp đồng, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ tiếp theo giữa các bên trong khi thực hiện hợp đồng hay làm tiền
đề ký kết một hoặc nhiều hợp đồng mới…
Nếu như trong BLDS Việt Nam năm 1995, việc giao kết hợp đồng chiếm hẳn một phần riêng (Mục 7- BLDS) từ điều 394 đến điều 408 thì ngược lại không có điều luật nào quy định mối quan hệ của các bên tham gia đàm phán Trong ý tưởng nhà làm luật, giai đoạn đàm phán dường như không nằm trong phần hợp đồng và không cần thiết phải điều chỉnh Sự thiếu vắng các quy định chung của luật pháp thể hiện nguyên tắc quan trọng nhất trong giai đoạn đàm phán đó là nguyên tắc tự do Nguyên tắc tự
do trong giai đoạn đàm phán xuất phát từ một nguyên tắc cơ bản của Bộ
luật dân sự đó là nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận (Điều 7-BLDS
1995) Trong lĩnh vực hợp đồng, nguyên tắc này được cụ thể hóa bằng nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng quy định tại Điều 395-BLDS 1995 Theo đó các chủ thể hoàn toàn tự do quyết định tham gia hay không tham gia một giao dịch dân sự Khi tham gia vào một giao lưu dân sự, họ được tự
Trang 31do giao kết hay không giao kết hợp đồng Không có nguyên tắc tự do đàm phán thì cũng không có nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng và cũng không thể đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các Doanh nghiệp cũng như các chủ thể khác khi tham gia giao dịch
Việc đàm phán thường bắt đầu bằng việc một bên gửi cho bên kia lời
mời đàm phán Lời mời đàm phán được thể hiện dưới nhiều hình thức:
quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng, phát tờ rơi, áp-phich, treo biển quảng cáo, tập tài liệu…được gửi đến một hoặc nhóm người xác định hoặc một số đông không xác định
Lời mời đàm phán khác với đề nghị giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng phải đủ hai điều kiện: (i) lời đề nghị phải đầy đủ, có nghĩa, bao gồm những nội dung chủ yếu của hợp đồng, (ii) lời đề nghị phải thể hiện ý chí của người đề nghị bị ràng buộc bởi nội dung của lời đề nghị đó Lời mời đàm phán thường bao gồm những thông tin chung, chưa cụ thể và không thể hiện hết các nội dung chủ yếu của hợp đồng trong tương lai
Tuy nhiên trong thực tiễn thường xuất hiện một số lời mời đàm phán được soạn thảo chi tiết như một hợp đồng với mong muốn được tiếp xúc với đối tác để đối tác nghiên cứu một đề nghị giao kết hợp đồng hoặc tiến tới thương lượng đàm phán để đi đến một thoả thuận chung chứ chưa muốn
bị ràng buộc bởi nội dung thông báo Đó là lý do tại sao chúng ta thấy trong các bản giới thiệu hàng hóa nhiều khi được soạn thảo khá tỉ mỉ, thậm chí có thể kèm theo giá, thường có câu: “Nội dung trong bản giới thiệu hàng này không có giá trị hợp đồng” hay “bản chào hàng này không có giá trị như một đề nghị giao kết hợp đồng”
Nguyên tắc tự do trong giai đoạn mời đàm phán thể hiện rõ nét nhất,
cụ thể: Bên mời đàm phán có quyền rút lại, thay đổi lời mời đàm phán, bất
kể bên kia đã nhận hay là chưa nhận được lời mời vì mọi lời mời đàm phán không có giá trị ràng buộc giữa các bên Mặt khác, nếu không có thỏa
Trang 32thuận gì đặc biệt giữa các bên tham gia đàm phán, một bên có thể đồng thời hoặc lần lượt đàm phán với nhiều đối tượng khác nhau nhằm khai thác và tìm kiếm những điều kiện có lợi nhất cho mình Việc đàm phán với nhiều bên khác nhau về một giao dịch và sau đó chỉ ký kết với một bên đàm phán
là điều bình thường thậm chí là cần thiết trong kinh doanh bởi nó đảm bảo
sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển Ngay cả khi đàm phán kết thúc thì cũng không có gì buộc các bên phải ký kết hợp đồng thể hiện nội dung đã đàm phán vì giữa
họ có thể đàm phán lại Đàm phán có thể thành công trong trường hợp các bên tìm được giải pháp chung tối đa hóa lợi ích của các bên và tối thiểu hóa mâu thuẫn giữa họ mà cũng có thể việc đàm phán sẽ thất bại (các bên không cùng thống nhất để đi đến một thỏa thuận nào).Tuy nhiên, không có một quy định nào đòi hỏi các bên phải đạt được thỏa thuận vì thế các bên đương nhiên không phải chịu trách nhiệm trong trường hợp đàm phán thất bại Từ mong muốn đến quyết định giao kết hợp đồng là một khoảng cách không nhỏ, các bên được tự do lựa chọn và xác định thời gian bỏ ra để đạt được sự thỏa thuận Mỗi bên có quyền tự do từ bỏ cuộc đàm phán mà không có trách nhiệm bồi thường cho phía bên kia các chi phí về tiền bạc, thời gian hay cơ hội kinh doanh bị mất mà bên kia đã gánh chịu do hậu quả của việc đàm phán thất bại đó
Nguyên tắc tự do trong đàm phán được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Nguyên tắc này được ghi nhận trong Nguyên tắc chung liên quan đến
hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 1994 (điều 2.15 PICC):
“Các bên được tự do đàm phán và không phải chịu trách nhiệm nếu như không đạt được thỏa thuận”
Tuy nhiên, nguyên tắc tự do trong giai đoạn đàm phán hợp đồng có mặt trái của nó Đó là sự thiếu an toàn pháp lý xuất phát từ hành động thiếu thiện chí của một bên Do đó, Nhà nước đã có biện pháp can thiệp bằng
Trang 33việc đưa ra các quy định pháp luật nhằm hạn chế những hành vi tiêu cực của các chủ thể lợi dụng nguyên tắc tự do khi tham gia giao dịch Tuy nhiên, Luật Việt Nam chưa quy định một trường hợp cụ thể nào về việc đàm phán thiếu thiện chí Việc thiếu các quy định cụ thể trong luật Việt Nam sẽ dẫn đến khó khăn trong việc đánh giá khi nào thì việc chấm dứt đàm phán của một bên là trái với nguyên tắc thiện chí trung thực Đó là lý
do tại sao trong thực tiễn ở nước ta hầu như không gặp trường hợp kiện đòi bồi thường do lỗi trong giai đoạn đàm phán gây ra Mặc dù vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia giao dịch hợp đồng, pháp luật Việt Nam bên cạnh việc ghi nhận nguyên tắc tự do còn áp dụng nguyên tắc thiện chí, trung thực trong quan hệ dân sự (điều 9 - BLDS 1995) nhằm chế ngự lẫn nhau Như vậy, về nguyên tắc, một bên tham gia đàm phán cần phải thiện chí, trung thực Hành động thiếu thiện chí, trung thực gây thiệt hại cho bên kia sẽ dẫn đến hậu quả là bên đó phải chịu trách nhiệm dân sự (chủ yếu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại) Song, theo pháp luật Việt Nam thì các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (từ Điều 609 đến Điều 616 của BLDS 1995) lại ít phù hợp với vấn đề trách nhiệm trong đàm phán nên chúng ta thường dựa vào những nguyên tắc, điều kiện chung nhất để áp dụng vào một trường hợp cụ thể khi xác định trách nhiệm khi vi phạm nghĩa vụ đàm phán hợp đồng
Ví dụ: Theo luật Việt Nam, các điều kiện của trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm hành vi trái pháp luật, lỗi của người gây thiệt hại, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối liên hệ nhân quả với hành vi trái pháp luật
Không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước cũng có những quy định pháp luật nhằm can thiệp trong giai đoạn đàm phán
Trong nguyên tắc chung liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 1994 cũng đã đưa ra khái niệm: Một bên có hành động
Trang 34thiếu thiện chí nhất là khi bên đó bắt đầu và tiếp tục cuộc đàm phán nhưng biết rằng mình không có ý định đi tới thỏa thuận
Để góp phần hạn chế sự thiếu thiện chí của các chủ thể khi tiến hành đàm phán, UNIDROIT đã quy định: bên hành động thiếu thiện chí trong khi đàm phán hoặc chấm dứt đàm phán sẽ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại mà bên đó đã gây cho bên kia
1.2.2.2 Tự do lựa chọn đối tác
Quyền tự do giao kết hợp đồng sẽ chỉ là hình thức nếu các chủ thể hợp đồng không được tự do lựa chọn đối tác trong quan hệ hợp đồng Khi thiết lập quan hệ hợp đồng, điều quan trọng mà chủ thể hợp đồng quan tâm
là giao kết hợp đồng với ai (đối tượng giao kết), người đó có khả năng như thế nào đối với việc thực hiện hợp đồng sẽ được giao kết Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với giao kết hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, bởi lẽ
nó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các nhà kinh doanh Do vậy, khi giao kết hợp đồng, các chủ thể căn cứ vào nội dung công việc cần thực hiện để tìm đối tác phù hợp Sự can thiệp về mặt ý chí đối với các chủ thể khi lựa chọn đối tác hợp đồng như cưỡng ép, đe dọa … đều bị coi là bất hợp pháp và đương nhiên hợp đồng đó không có giá trị pháp lý
Có thể nói, trong giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là những hành vi giao dịch cam kết quan trọng
Đề nghị giao kết hợp đồng là quyết định đơn phương có chủ ý của
một người bày tỏ ý định giao kết hợp đồng theo những điều kiện xác định với một hay nhiều người khác
Hợp đồng được giao kết khi có sự thống nhất về ý chí giữa bên đề nghị giao kết và bên chấp nhận giao kết hợp đồng về một nội dung xác định Đối với hành vi giao dịch trong giai đoạn này thì nguyên tắc tự do đóng vai trò quan trọng Mọi sự thể hiện ý chí phải xuất phát từ sự tự
Trang 35nguyện, không thể mang tính áp đặt hay cưỡng bức, theo đó Bên đề nghị có quyền tự do đưa ra lời đề nghị, còn phía đối tác khi nhận được lời đề nghị thì có quyền tự do lựa chọn để đi đến quyết định chấp nhận hay không chấp nhận lời đề nghị Do vậy, đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực khi đáp ứng hai yêu cầu cơ bản: (i) thể hiện được ý chí giao kết hợp đồng và (ii) có nội dung mang tính xác định Nếu thiếu ý chí xác lập các nghĩa vụ pháp luật của bên đưa ra đề nghị thì đề nghị đó không được coi là đề nghi giao kết hợp đồng và không dẫn đến trách nhiệm của người đã đưa ra nó Đề nghị giao kết hợp đồng nếu thỏa mãn các yêu cầu kể trên sẽ có hiệu lực vào thời điểm được gửi tới cho người nhận Trong thời hạn đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực, người nhận có quyền chấp nhận và hợp đồng sẽ được giao kết Nói cách khác, đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực làm phát sinh trách nhiệm của bên đề nghị và quyền của bên nhận có thể ràng buộc bên đề nghị bởi các nghĩa vụ hợp đồng Nguyên tắc tự do được thể hiện hơn khi quy định người đề nghị có quyền rút lại đề nghị ngay cả khi đã đưa
ra lời đề nghị trước đó Tuy nhiên, nguyên tắc tự do hợp đồng cũng có những chừng mực nhất định để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tác tham gia giao dịch, do đó trách nhiệm của bên đề nghị vì thế có giới hạn của nó (trong một số trường hợp) - đề nghị giao kết không rút lại được (không hủy ngang) Cụ thể, tại khoản 1, điều 53- Luật thương mại Việt Nam năm 1997 đã có quy định thời hạn hiệu lực của chào hàng là 30 ngày,
kể từ ngày được chuyển đi, nếu không được ấn định trước trong chào hàng Tại điều 2 -205 Luật thương mại nhất thể Mỹ (UCC) quy định: chào hàng bằng văn bản đã được ký bởi thương nhân hứa không hủy ngang thì không được rút lại trong thời hạn đã cam kết, hoặc trong một thời hạn hợp lý không quá 03 (ba) tháng, nếu không cam kết chi tiết trong chào hàng
Sau khi đề nghị giao kết hợp đồng được chuyển tới người nhận, người này có thể: chấp nhận hoặc từ chối hoặc sửa đổi Như vậy, chấp
Trang 36nhận này phải được chuyển đến cho người đề nghị thì hợp đồng mới được coi là đã xác lập Về nguyên tắc, Bên nhận được tự do quyết định có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không
1.2.2.3.Tự do thỏa thuận những nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng là toàn bộ các điều khoản mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng (khi giao kết) Việc trao quyền cho các chủ thể thỏa thuận những nội dung của hợp đồng là tất nhiên, phù hợp với bản chất của hợp đồng Các chủ thể có quyền thỏa thuận các nội dung của hợp đồng về đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán và các nội dung khác của hợp đồng sao cho các nội dung đó phù hợp với lợi ích của các bên Với quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng, các chủ thể có khả năng rất lớn
để tự tạo cho mình các quyền và nghĩa vụ cụ thể, nhưng không được xâm
hại tới những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ
đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng
Nguyên tắc tự do hợp đồng còn thể hiện ở chỗ các chủ thể có quyền thỏa thuận để thay đổi, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng mà mình đã giao kết bởi các chủ thể có quyền tạo ra hợp đồng thì đương nhiên họ cũng có quyền định đoạt số phận pháp lý của hợp đồng đó trong quá trình thực hiện Hay nói cách khác đây là một trong những nội dung không thể thiếu của nguyên tắc tự do hợp đồng và phải được pháp luật ghi nhận Việc thay đổi, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng được căn cứ vào tình hình cụ thể của các bên, do các bên thỏa thuận với nhau, không chủ thể nào có quyền áp đặt ý chí để ngăn cản hay bắt buộc các bên thỏa thuận thay đổi, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUYÊN TẮC TỰ DO HỢP ĐỒNG
Nghiên cứu ở mức khái quát, chúng ta có thể thấy nguyên tắc tự do hợp đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu và trước hết là:
Trang 371.3.1 Tính chất của nền kinh tế
Trước đây nền kinh tế nước ta được xây dựng và phát triển dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, tồn tại dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, trong đó sở hữu toàn dân giữ vai trò chủ đạo Phù hợp với cơ cấu kinh tế này là cơ chế quản lý hành chính bao cấp Theo
cơ chế này, nền kinh tế phải được tổ chức và quản lý theo phương pháp kế hoạch hóa tập trung cao độ và đòi hỏi phải có sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế
Ký kết và thực hiện hợp đồng trong giai đoạn này trở thành “nghĩa vụ” và phụ thuộc vào chỉ tiêu của Nhà nước Tính kế hoạch đã biến những hợp đồng kinh tế trở thành công cụ đắc lực để xây dựng và thực hiện kế hoạch Nhà nước Cơ chế quản ly kinh tế thời kỳ này có những đặc trưng cơ bản là:
(i) Cơ sở kinh tế được thiết lập trên nền tảng của chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất; Nhà nước thiết lập thành phần kinh tế XHCN với hai hình thức sở hữu: tòan dân và tập thể Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất không được thừa nhận
(ii) Nhà nước quản lý vi mô nền kinh tế, can thiệp quá sâu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch chi tiết với chế độ cấp phát và giao nộp theo quan hệ hiện vật, trở thành “ông chủ” của một “doanh nghiệp” khổng lồ, dẫn đến các đơn vị kinh tế không
có quyền tự chủ trong kinh doanh
(iii) Quy luật giá trị hầu như không được tính tới, các giá trị như đất đai, tư liệu sản xuất, sức lao động…không được coi là hàng hóa
Do cơ chế quản lý và tính chất của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao
độ nên dẫn đến hậu quả là các quyền của công dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh không được coi trọng và tất nhiên không có khái niệm
Trang 38quyền tự do kinh doanh và nguyên tắc tự do hợp đồng, vì thế, cũng không được khẳng định trong các quan hệ hàng hóa – tiền tệ
Ngày nay, nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế này cũng có những đặc trưng riêng, đó là:
(i) Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa đa hình thức sở hữu với nhiều thành phần kinh tế khác nhau Nhà nước tạo nên sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế này trước pháp luật Các doanh nghiệp tự
do cạnh tranh để tồn tại và phát triển
(ii) Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế, không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà chỉ tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi để các cá nhân, tổ chức tự do tham gia hoạt động
(iii) Nhà nước đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các chủ thể pháp luật (sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất cho ai…) đều là công việc của các nhà kinh doanh Công cụ tác động vào các hoạt động kinh doanh đó không phải là kế hoạch Nhà nước mà là đòi hỏi của nền kinh
tế thị trường, là nhu cầu của xã hội
Với một nền kinh tế thị trường như vậy thì tự do hợp đồng tất yếu phải trở thành nguyên tắc trong hoạt động của các nhà kinh doanh Tuy nhiên, kinh tế thị trường có các mô hình khác nhau Ở Mỹ có mô hình thị trường tự do Ở Châu âu có mô hình kinh tế thị trường - xã hội Ở Việt Nam có kinh tế thị trường nhưng lại được quản lý theo định hướng XHCN
và vì vậy mức độ tự do của việc ký kết hợp đồng cũng phải khác nhau Ở
Mỹ sự tự do được ghi nhận ở mức độ cao hơn các nước Tây Âu Ở Việt Nam mức độ tự do kinh doanh không giống như ở các nước có kinh tế thị trường phát triển theo hướng TBCN Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định
Trang 39rằng, tính chất của nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn tới việc ghi nhận nội dung của nguyên tắc tự do hợp đồng
1.3.2 Trình độ phát triển của nền kinh tế
Như phần 1.3.1 đã trình bày, tính chất của nền kinh tế (nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hay nền kinh tế thị trường) là yếu tố cơ bản có ảnh hưởng quyết định đến nội dung của nguyên tắc tự do kinh doanh nói chung
và nguyên tắc tự do hợp đồng nói riêng Điều này lý giải tại sao ở Việt Nam trước đây, khi chúng ta duy trì nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thì đồng thời cũng không thừa nhận nguyên tắc tự do hợp đồng và khi chúng ta xây dựng nền kinh tế mới – kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thì lập tức nguyên tắc này được ghi nhận ngay trong Hiến pháp và các đạo luật kinh tế quan trọng khác
Tuy nhiên, tính chất của nền kinh tế không phải là yếu tố duy nhất có ảnh hưởng đến nội dung của nguyên tắc này Trong số các yếu tố quan trọng khác có khả năng gây tác động không nhỏ đến nội dung của nguyên tắc tự do hợp đồng cần phải kể đến trình độ phát triển của nền kinh tế Điều này giải thích tại sao cũng là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN (được khởi xướng thành công từ năm 1986 đến nay) nhưng mức độ của quyền tự do hợp đồng hiện nay lại khác cơ bản với những năm đầu của cải cách Ví dụ, nếu như trước đây theo Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 thì việc phạt vi phạm hợp đồng là một quy định pháp lý bắt buộc (cho dù các bên không thỏa thuận trong hợp đồng thì nghĩa vụ nộp phạt cũng đương nhiên phát sinh đối với bên vi phạm hợp đồng) thì ngày nay (từ năm
1997 khi ban hành Luật thương mại) nghĩa vụ nộp phạt đã bị xóa bỏ như một trách nhiệm pháp lý đương nhiên Ngày nay, quyền tự do hợp đồng đã được mở rộng hơn nhiều, thể hiện không chỉ ở việc được ký kết hợp đồng
về nhiều công việc, dịch vụ, hàng hóa mà còn ở việc các bên có quyền quyết định cả việc có áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng đối với nhau
Trang 40hay không Từ nay, nếu các bên không thỏa thuận trong hợp đồng thì bên vi phạm không có nghĩa vụ phải nộp phạt nữa
1.3.3 Trình độ dân trí và văn hóa pháp lý của giới thương nhân
Một trong các tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ phát triển của một Quốc gia là trình độ dân trí của quốc gia đó Trong thời kỳ giao lưu kinh tế quốc tế hiện nay thì vấn đề nhận thức nói chung, trình độ văn hóa pháp lý nói riêng của các chủ thể pháp luật lại càng quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là, trong quá trình kýkết và thực hiện hợp đồng
Có thể nói, tự do hợp đồng không thể có được khi mà trình độ dân trí trong xã hội còn thấp kém và lạc hậu Điều đó giải thích tại sao cũng là kinh tế thị trường nhưng mức độ tự do trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta trong các giai đoạn khác nhau là không giống nhau
Trong bối cảnh mới chuyển sang nền kinh tế thị trường, khi mà nhận thức của các thương nhân về các hoạt động kinh tế còn hạn chế, khi mà ý thức pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật của họ chưa cao thì Nhà nước ta không thể mở rộng tối đa quyền tự do kinh doanh nói chung, về quyền tự do hợp đồng nói riêng cho các thương nhân Vì vậy, trong thời gian này, nguyên tắc tự do hợp đồng mặc dù đã được khẳng định song vẫn còn nhiều hạn chế khi thực hiện Ví dụ, trước đây đã là hợp đồng kinh tế thì tất nhiên phải được ký kết dưới hình thức văn bản mà không có bất cứ ngoại lệ nào Phải quy định nghiêm ngặt hình thức văn bản của hợp đồng trong giai đoạn này như vậy là nhằm khắc phục các khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp của Tòa án hoặc Trọng tài Ngày nay, khi ý thức pháp luật của thương nhân đã phần nào nâng cao, khi danh dự và uy tín đã trở thành yếu tố không thể thiếu của người kinh doanh thì việc mở rộng hình thức (chấp nhận cả hình thức miệng…) là điều hoàn toàn có thể Như vậy, việc mở rộng (chấp nhận mọi hình thức của hợp đồng) là việc làm không phải ở giai đoạn nào cũng được Nó chỉ thích hợp khi trình độ văn