Trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước hay vùng địa bàn, không thể không nhắc tới vai trò của việc đầu tư và lập kế hoạch phát triển kinh tế. Có thể nói đầu tư là công cụ cơ bản để phát triển kinh tế. Phát triển bền vững ở địa bàn mỗi tỉnh, thành phố vừa đem lại sự giàu có, nâng cao đời sống nhân dân địa phương đó, đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Do đó con đường xây dựng đất nước giàu mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đặt ra yêu cầu cho từng tỉnh, thành phố phải năng động, sáng tạo, khai thác lợi thế so sánh, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Quá trình này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu về đầu tư và phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố. Bằng cách tiếp cận cụ thể, với việc nghiên cứu về đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động đầu tư, thực hiện công cuộc phát triển kinh tế, xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của từng tỉnh, vùng cũng như của đất nước. Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế đất nước, chúng ta có Bộ Kế hoạch và Đầu tư, là cơ quan giúp việc của chính phủ, thực hiện chức năng quản lý chung về các hoạt động có liên quan đến đầu tư và lập kế hoạch đầu tư. Trên phạm vi từng tỉnh thành thì các cơ quan chuyên thực hiện chức năng quản lý hoạt động đầu tư của tỉnh là các Sở Kế hoạch và Đầu tư. Trước năm 1997 các cơ quan này được gọi là Uỷ ban Kế hoạch và Đầu tư của nhà nước hay của TW. Từ năm 1997 các Uỷ ban này được đổi tên thành Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Sở Kế hoạch và Đầu tư của các tỉnh, thành phố. Là mét sinh viên đại học Kinh tế quốc dân, những kiến thức cơ bản mà em đã được học ở trường là tương đối bao quát. Tuy nhiên, thực tế của hoạt động đầu tư diễn ra khá phong phú phức tạp và khó có thể nắm bắt được một cách dễ dàng. Thực tế bên ngoài nền kinh tế diễn ra rất sôi động, đôi khi rất khác với kiến thức đã thu thập được từ sách vở và chúng đòi hỏi chỉ có kiến thức thực tế mới có thể giải quyết được một cách hiệu quả nhất. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, chúng em thấy để trở thành một cử nhân kinh tế trong tương lai không xa và có thể thực hiện tốt mọi công việc thì việc được rèn luyện trong môi trường thực tế là rất quan trọng. Với lý do này em đã xin liên hệ thực tập tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh là cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý về hoạt động lập kế hoạch và đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Trang 1Phát triển bền vững ở địa bàn mỗi tỉnh, thành phố vừa đem lại sựgiàu có, nâng cao đời sống nhân dân địa phương đó, đồng thời đóng gópvào sự phát triển chung của đất nước Do đó con đường xây dựng đất nướcgiàu mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đặt ra yêu cầu chotừng tỉnh, thành phố phải năng động, sáng tạo, khai thác lợi thế so sánh,đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Quá trình này đòi hỏi phải có sự nghiêncứu về đầu tư và phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố Bằng cáchtiếp cận cụ thể, với việc nghiên cứu về đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàntỉnh Bắc Ninh sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạtđộng đầu tư, thực hiện công cuộc phát triển kinh tế, xã hội theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá của từng tỉnh, vùng cũng như của đất nước.
Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế đất nước, chúng ta có Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, là cơ quan giúp việc của chính phủ, thực hiện chức năng quản lýchung về các hoạt động có liên quan đến đầu tư và lập kế hoạch đầu tư.Trên phạm vi từng tỉnh thành thì các cơ quan chuyên thực hiện chức năngquản lý hoạt động đầu tư của tỉnh là các Sở Kế hoạch và Đầu tư Trước
Trang 2năm 1997 các cơ quan này được gọi là Uỷ ban Kế hoạch và Đầu tư của nhànước hay của TW Từ năm 1997 các Uỷ ban này được đổi tên thành Bộ Kếhoạch và Đầu tư và Sở Kế hoạch và Đầu tư của các tỉnh, thành phố.
Là mét sinh viên đại học Kinh tế quốc dân, những kiến thức cơ bản
mà em đã được học ở trường là tương đối bao quát Tuy nhiên, thực tế củahoạt động đầu tư diễn ra khá phong phú phức tạp và khó có thể nắm bắtđược một cách dễ dàng Thực tế bên ngoài nền kinh tế diễn ra rất sôi động,đôi khi rất khác với kiến thức đã thu thập được từ sách vở và chúng đòi hỏichỉ có kiến thức thực tế mới có thể giải quyết được một cách hiệu quả nhất.Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, chúng em thấy để trở thànhmột cử nhân kinh tế trong tương lai không xa và có thể thực hiện tốt mọicông việc thì việc được rèn luyện trong môi trường thực tế là rất quantrọng Với lý do này em đã xin liên hệ thực tập tại Sở Kế hoạch và Đầu tưtỉnh Bắc Ninh Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh là cơ quan nhà nước
có trách nhiệm quản lý về hoạt động lập kế hoạch và đầu tư trên địa bàntỉnh Bắc Ninh
II Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua.
Bắc Ninh là tỉnh được thành lập từ năm 1831, bao gồm cả huyện GiaLâm, Đông Anh ( Hà Nội ) và Văn Giang ( Hưng Yên ) ngày nay
Sau năm 1963, do yêu cầu phát triển kinh tế và đấu tranh giải phóngmiền Nam, Bắc Ninh được hợp nhất với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc.Sau gần 34 năm hợp nhất, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX ( tháng 10năm 1996 ) đã có nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh : Bắc Giang vàBắc Ninh để phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ
Trang 3mới và khả năng quản lý Ngày 01/01/1997, tỉnh Bắc Ninh đi vào hoạtđộng theo đơn vị hành chính mới.
Bắc Ninh là tỉnh đất chật, người đông Dân số trung bình năm 1999
là 944 nghìn người, mật độ dân số đạt 1.183 người/km2, dân số nông thônchiếm 90,6%, lao động trong độ tuổi là 499 nghìn người chiếm 52,8% dân
số, trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ 83%, ngành côngnghiệp chỉ có 8% Dự báo trong 10 năm tới mỗi năm tăng bình quân trên 1vạn lao động Đây là nguồn lực để bổ xung cho các ngành kinh tế trong quátrình phát triển
Những năm qua nhịp độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh đạt mứckhá cao Giai đoạn 1991-1995, tỷ lệ tăng trưởng bình quân đạt 8,1%, giaiđoanh 1996-2000 đạt 11,6% Đây là một kết quả đáng khích lệ đối với tỉnhBắc Ninh trong điều kiện mới tái lập còn gặp nhiều khó khăn
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh những năm quakhá tích cực, mức độ chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành côngnghiệp trong GDP nhanh hơn so với cả nước đặc biệt trong giai đoạn 1997-
2000 Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP của Bắc Ninh giảm từ44,7% năm 1997 xuống 38,3% năm 2000, tỷ trọng ngành công nghiệp tăng
từ 24,5% năm 1997 lên 35% năm 2000 Tuy nhiên, tỷ trọng khu vực dịch
vụ lại giảm đi, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh
III Tổng quan thực trạng đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 1991-2000.
1.Thực trạng đầu tư phát triển phần địa bàn Bắc Ninh giai đoạn 1991-1996.
Phần địa bàn Bắc Ninh trong tỉnh Hà Bắc ( cò ) bao gồm 5 huyện :Yên Phong, Thuận Thành, Gia Lương, Quế Võ, Tiên Sơn và thị xã Bắc
Trang 4Ninh Giai đoạn này, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội tăngnhanh qua các năm Vốn NSNN, vốn ngoài quốc doanh đều tăng mạnh.Sau 10 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, vào năm 1996,trên địa bàn tỉnh mới có một dự án được thực hiện với số vốn 102,8 tỷ đồng( giá 1994 ).
Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 1991-1996 ( theo giá 1994 )
Trang 5năm, vốn bổ xung của địa phương và khoản chi phát triển sự nghiệp giáodục, y tế, văn hoá, xã hội Tuy tỷ trọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tậptrung của ngân sách tỉnh Hà Bắc cho khu vực Bắc Ninh tăng dần ( từ mứcthấp vào năm 1991 là 22,8% lên mức cao nhất vào năm 1995 là 39,5% ),nhưng mức tăng này chưa tương xứng với thu ngân sách từ các hoạt độngkinh tế trên địa bàn Bắc Ninh thường xuyên chiếm 50% tổng thu ngân sáchcủa tỉnh Hà Bắc.
Đối với nguồn ngân sách Trung ương, vốn đầu tư được tập trung chủyếu cho các đơn vị do các bộ, ngành quản lý và một số công trình thuỷ lợi.Vốn đầu tư của ngân sách Trung ương trực tiếp đầu tư có vai trò quan trọngđối với sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương; tỷ trọng năm thấp nhất
là 50,5% (1993) và năm cao nhất là 72% (1991) tổng vốn đầu tư của ngânsách Nhà nước
Vốn ngân sách ở giai đoạn này chủ yếu được đầu tư cho khu vực sảnxuất vật chất, trong đó phần đáng kể cho sản xuất nông nghiệp và hạ tầnggiao thông Đầu tư cho ngành công nghiệp chủ yếu là các công trình điện
Cơ cấu vốn ngân sách Nhà nước đầu tư cho khu vực Bắc Ninh giai đoạn 1991-1996
Trang 6Phục vụ công cộng&sinh hoạt 4,3 - 4,9 5,6 6,7 3,6Giáo dục& Đào tạo 2,1 - 3,2 9,3 3,9 6,3
Đầu tư từ nguồn vốn tín dụng Nhà nước :
Năm 1991-1993 chỉ có một đầu mối cho vay tín dụng đầu tư của Nhànước là Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đến năm 1994, có thêm cục đầu tư
và phát triển thực hiện cho vay theo kế hoạch Nhà nước Ngoài ra Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng cho vay theo cơ chế tíndụng ưu đãi Ở giai đoạn này Nhà nước chưa có quy định cho vay một cáchchặt chẽ, áp dụng lâu mà theo hướng dẫn từng năm, gây khó khăn cho việcvay vốn của các doanh nghiệp
Việc huy động và sử dụng vốn tín dụng Nhà nước trong giai đoạnnày còn nhiều yếu kém: chưa chủ động lập được các dự án có tính khả thicao nên thiếu dự án đầu tư; việc thực hiện kế hoạch thường chậm, có nămkhông sử dụng hết số vốn mặc dù rất nhỏ bé; các dự án chưa được chuẩn bịtốt nên phải thay đổi nhiều lần, gây nhiều tranh cãi; chưa có sự phân biệt rõtrong quản lý vốn tín dụng của Nhà nước và ngân sách nhà nước, gây phiền
hà cho doanh nghiệp, nhiều khi kéo dài thời gian, bỏ lỡ cơ hội đầu tư
Trang 7 Đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước: Vốn đầu tư của doanhnghiệp Nhà nước tăng nhanh qua các năm, nhưng chủ yếu là các doanhnghiệp Nhà nước do Trung ương quản lý Những doanh nghiệp tiêu biểu làcông ty kính Đáp Cầu, Nhà máy thuốc lá Bắc Sơn,…Nguồn vốn đầu tư củacác doanh nghiệp này bao gồm vốn khấu hao, vốn tự bổ xung và vốn vay,vốn NSNN cấp không đáng kể.
Ngược lại, với xu hướng tăng đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nướcTrung ương, đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước do tỉnh qoản lý giaiđoạn này giảm sút do điều kiện kinh doanh khó khăn, quản lý yếu kém và
số lượng doanh nghiệp giảm do thực hiện Nghị định 388/NĐ-CP ngày20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng
Có thể nói, hoạt động đầu tư của doan nghiệp Nhà nước do tỉnh quản
lý ở giai đoạn này ngừng trệ Bản thân năng lực của doanh nghiệp suy yếu,không có điều kiện đầu tư
Về đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh:
Ngược lại với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước do tỉnhquản lý, đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh giai đoạn này có bước tăngtrưởng mạnh Vốn đầu tư khu vực này chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốnđầu tư toàn xã hội, năm cao nhất ( 1992 ) chiếm tới 82,5%
Sau khi Nhà nước ban hành Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công
ty vào năm 1991, nhiều hộ sản xuất, kinh doanh đã chuyển sang hoạt độngtheo loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn Trong
số các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn được UBNDtỉnh Hà Bắc cấp giấy phép thành lập thì chủ yếu nằm trên địa bàn Bắc Ninhthường chiếm ở mức 2/3 về số doanh nghiệp và vốn đăng ký
Như vậy, hoạt động đầu tư trên địa bàn Bắc Ninh giai đoạn
1991-1996 đã đạt được mét số kết quả tích cực như góp phần tăng cường nănglực kết cấu hạ tầng, bước đầu khai thác được tiềm năng về vốn lao động,
Trang 8kinh nghiệm sản xuất của dân cư, năng lực sản xuất của các doanh nghiệpnhà nước do Trung ương quản lý Tuy nhiên, hoạt động đầu tư còn thiếuđịnh hướng do tỉnh Hà Bắc chưa xây dựng được quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế – xã hội và xác định chiến lược phát triển đối với từng ngành,từng địa bàn, trong đó có phần địa bàn Bắc Ninh Việc sử dụng vốn đầu tưcủa NSNN và tín dụng ưu đãi của Nhà nước còn kém hiệu quả; hoạt độngđầu tư của các hoanh nghiệp Nhà nước do tỉnh quản lý đình trệ; nguồn vốnhuy động trên địa bàn còn nhỏ bé.
2 Thực trạng đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000.
1997-Năm 1997, năm đầu tiên tỉnh Bắc Ninh hoạt động theo địa giới hànhchính mới, vốn đầu tư toàn xã hội tăng mạnh, tăng 1,28 lần so với năm
1996 Điều này có được không chỉ do tỉnh Bắc Ninh được tái lập, Trungương bổ xung và tỉnh tăng cường huy động vốn đầu tư mà còn do có một
số dự án lớn được xúc tiến và triển khai từ các năm truớc, trong đó đángchú ý là dự án liên doanh kính nổi Việt -Nhật với tổng vốn đầu tư theo dự
án lên tới 130 triệu USD
Theo giá năm 1994, tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh có xu hướnggiảm qua các năm 1997-1999, nguyên nhân chủ yếu là do có sự giảm sútcủa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi các nguồn vốn khác đã đượctăng cường huy động nhưng vẫn chưa bù đắp được sự giảm sút đó
Trang 9Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 1997-2000( giá 1994)
Vốn NSNN:
Trong giai đoạn này, vốn đầu tư của Ngân sách Nhà nước trên địabàn tỉnh Bắc ninh tăng nhanh: năm1997 tăng 69,8%, năm1998 tăng 109%,năm 1999 tăng 99,3% so với năm trước
Trang 10Đối với nguồn vốn từ ngân sách Trung ương, tỉnh Bắc Ninh đượcTrung ương quan tâm bổ xung trợ cấp và trực tiếp đầu tư vác công trìnhtrên địa bàn Năm 1999, vốn đầu tư của NSNN tăng đột biến do Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư công trình lớn Trạm bơm Tân Chivới giá trị 200 tỷ đồng Vì vậy, năm 2000, khi công trình này hoàn thànhthì vốn đầu tư của ngân sách Trung ương giảm xuống, làm cho tổng vốnđầu tư của NSNN giảm mạnh, chỉ bằng 74% so với năm trước.
Đối với nguồn ngân sách địa phương, thu ngân sách tăng chậm đãlàm cho việc bố trí vốn đầu tư phát triển gặp khó khăn
Chi đầu tư phát triển của ngân sách địa phương theo giá năm 1994giai đoạn này tăng chậm dần: năm 1998 tăng 32%, năm 1999: 31,8% vànăm 2000 chỉ tăng 0,08% so với năm trước Điều này có nguyên nhân lànăm 1999, vốn xây dựng cơ bản tập trung do Trung ương bổ xung lớn.Song điều quan trọng hơn là do thiếu tích cực trong việc sử dụng cac nguồnvốn của địa phương có thể bố trí cho đầu tư phát triển
Vốn tín dụng;
Vốn tín dụng bao gồm tín dụng Nhà nước và tín dụng thương mại,năm 1999 và năm 2000, vốn tín dụng Nhà nước tăng nhanh do đã giải ngâncho dù án đầu tư lớn là nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính với tổng số vốnđầu tư 280 tỷ đồng
Vốn tín dụng thương mại được huy động thông qua tiền gửi tiếtkiệm, mua kỳ phiếu của dân cư, các nguồn vốn huy động khác và nguồn bổsung từ các ngân hàng thương mại Trung ương
Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước;
Các doanh nghiệp Nhà nước địa phương mới được chia tách và đivào hoạt động từ giữa năm 1997, hầu hết không đủ vốn pháp định và thiếuvốn kinh doanh nên hoạt động đầu tư từ vốn tự có rất nhỏ bé, chỉ dưới 5 tỷ
Trang 11đồng, trong đó chủ yếu đầu tư cải tạo, nâng cấp quy mô nhỏ và mua sắm tàisản cố định phục vụ quản lý.
Tuy vậy, vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn cũng
có mức tăng khá Năm 1997 tăng 33,2%, năm 1998: 31,8,5, năm1999:14,1% và năm 2000 ở mức 52%
Vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh:
Ở tỉnh Bắc Ninh , vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Giai đoạn
1997-2000, tỷ trọng vốn ngoài quốc doanh giảm so với giai đoạnh trước đó, bởi
vì giai đoạn này vốn đầu tư của Nhà nước tăng mạnh, vốn đầu tư trực tiếpcủa nước ngoài khá lớn
Vốn đầu tư của các hộ dân cư giai đoạn 1997-2000 tăng đáng kể,chiếm phần lớn trong số vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh( năm
1999 chiếm 93,4% và năm 2000 chiếm87,9% )
Mặc dù chỉ có sự hỗ trợ nhỏ của Nhà nước, nhưng nhân dân đã tíchcực đóng góp vốn xây dựng cở sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống.Bốn năm qua vốn huy động của dân cư cho đầu tư xây dựng giao thôngnông thôn và trường học khá lớn
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn vào năm 1997,sau dó giảm liên tục Cả giai đoạn này vẫn chỉ có một dự án đầu tư củaCông ty liên doanh kính nổi Việt- Nhật thực hiện
Trang 12IV Quy chế làm việc của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh.
1 Những quy định chung
- Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chuyên môn của UBNDtỉnh Đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ, chuyên môn của Bộ Kếhoạch và Đầu tư
- Sở Kế hoạch và Đầu tư có chức năng tham mưu tổng hợp xâydựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, đề xuất cácchủ trương, biện pháp quản lý đầu tư trong nước và nước ngoài tại địaphương Làm đầu mối phối hợp giữa các ngành thuộc tỉnh và thực hiện cácnhiệm vụ khác
- Sở Kế hoạch Đầu tư hoạt động theo chế độ thủ trưởng, lấychức năng, nhiệm vụ của ngành làm căn cứ để hoạt động
2 Chế độ trách nhiệm
- Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm trước Tỉnh
uỷ, UBND tỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc chỉ đạo, thực hiện toàn bộcác mặt công tác của ngành Kế hoạch và Đầu tư trong phạm vi toàn tỉnh
- Trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình Giám đốc
Trang 13+ Những vấn đề phát sinh không nằm trong chương trình công tác
đã đề ra
+ Yêu cầu các Phó Giám đốc, các trưởng phòng báo cáo định kỳ( giao ban theo định kỳ ) hoặc đột xuất kết quả công việc thuộc lĩnh vựcđược Giám đốc phân công
- Giúp việc Giám đốc sở có các Phó giám đốc, Phó giám đốc cótrách nhiệm:
+ Giúp Giám đốc Sở chỉ đạo một số lĩnh vực, công tác theo sự phâncông của giám đốc Được quyền thay mặt Giám đốc giải quyết các côngviệc đựpc giao Chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở và Nhà nước về phầnviệc do mình phụ trách
+ Chủ động giữ mối quan hệ với các Phó giám đốc khác và cácphòng để giải quyết công việc được giao Đề xuất các biện pháp giải quyếtcông việc nhằm thực hiện tốt tiến độ, chất lượng những công tác đã đề ra
+ Khi Giám đốc và các Phó giám đốc khác đi vắng mà công việccấp bách đòi hỏi, Phó giám đốc phải giải quyết những công việc thuộcquyền hạn và trách nhiệm của Giám đốc, của các Phó giám đốc khác, hoặcthuộc phần việc của mình nhưng là việc mới phát sinh chưa có chủ trương;sau đó phải báo cáo ngay với Giám đốc khi Giám đốc có mặt và phải chịutrách nhiệm trước giám đốc và cấp trên về công việc mà mình đã giảiquyết
- Trưởng phòng của Sở Kế hoạch và đầu tư có nhiệm vụ sau:+ Xây dựng trương trình công tác tuần, quý, năm thuộc phòng mìnhphụ trách Điều hành hoạt động của phòng theo chức năng, nhiệm vụ đượcgiao và chương trình công tác đã được Lãnh đạo thông qua
+ Tổng hợp tình hình báo cáo công tác tháng, quý, năm và nhữngcông tác đột xuất do lãnh đạo yêu cầu