1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại việt nam

30 1,9K 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 563,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là một hiện tượng tất yếu trong đời sống kinh tế là hành vi của các doanh nghiệp. Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường xuất phát từ một nền sản xuất nhỏ đi lên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một số lượng đông và chủ yếu vì vậy để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp đó tìm cách liên kết, tập trung lại với nhau là một điều tất yếu và rất cần thiết. Mặt khác trong bối cảnh chúng ta đang tham gia hội nhập kinh tế và đang dần khẳng định mình trước nền kinh tế thế giới, nền kinh tế đang có những bước phát triển mạnh mẽ và có sự chuyển biến tích cực, khi mà kinh tế thị trường phát triển thì sự cạnh tranh sẽ gia tăng và ngày càng gay gắt, sự gia tăng các hoạt động tập trung kinh tế như một đòi hỏi khách quan. Để thực hiện mua bán, sáp nhập doanh nghiệp cần phải có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp khác nhau, sau khi tập trung lại thì thị phần của các doanh nghiệp cũng sẽ thay đổi. Khi hoạt động tập trung kinh tế xảy ra sẽ tiềm ẩn việc hình thành nên các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, nếu trường hợp này xảy ra sẽ dẫn đến việc gây hạn chế cạnh tranh và nhiều hơn nữa là thủ tiêu cạnh tranh. Chính vì vậy việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế, đối với sự cạnh tranh công bằng trên thị trường. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh, Luật cạnh tranh 2004 đã ra đời. Để tìm hiểu rõ hơn quy định của Luật cạnh tranh về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp người viết chọn đề tài “Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt Nam” làm tiểu luận môn học Pháp luật về cạnh tranh.

Trang 1

1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

5 Bố cục đề tài 4

CHƯƠNG 1 5

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ 5

1.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam 5

1.2 Những vấn đề lý luận chung về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 6

1.2.1 Khái niệm về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 6

1.2.2 Hình thức mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 9

1.3 Kiểm soát hành vi tập trung kinh tế bằng cơ chế pháp luật 10

1.3.1 Khái niệm về kiểm soát tập trung kinh tế 10

1.3.2 Vai trò của kiểm soát hành vi tập trung kinh tế 11

CHƯƠNG 2 13

QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP, THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM 13

2.1 Quy định của Luật cạnh trạnh về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 13

2.1.1 Các quy định về hình thức mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 13

2.1.1.2 Hợp nhất doanh nghiệp 13

2.1.1.3 Mua lại doanh nghiệp 14

2.1.1.4 Liên doanh giữa các doanh nghiệp 15

2.1.2 Kiểm soát mua bán sáp nhập doanh nghiệp (tập trung kinh tế) theo Luật cạnh tranh 16

Trang 2

2

2.1.2.2 Nhóm hành vi cần kiểm soát 18

2.1.2.3 Nhóm hành vi bị cấm 19

2.1.2.4 Các trường hợp được miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế bị cấm và thủ tục miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế 19

2.2 Thực tiễn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 20

2.2.1 Tình hình mua bán, sáp nhập doanh nghiệp hiện nay 20

2.2.2 Những tồn tại và hướng giải quyết 22

* Những tồn tại về thực tiễn áp dụng 23

* Hướng giải quyết 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 3

3

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là một hiện tượng tất yếu trong đời sống kinh

tế là hành vi của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường xuất phát từ một nền sản xuất nhỏ đi lên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một

số lượng đông và chủ yếu vì vậy để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp đó tìm cách liên kết, tập trung lại với nhau là một điều tất yếu và rất cần thiết Mặt khác trong bối cảnh chúng ta đang tham gia hội nhập kinh tế và đang dần khẳng định mình trước nền kinh tế thế giới, nền kinh tế đang có những bước phát triển mạnh

mẽ và có sự chuyển biến tích cực, khi mà kinh tế thị trường phát triển thì sự cạnh tranh sẽ gia tăng và ngày càng gay gắt, sự gia tăng các hoạt động tập trung kinh tế như một đòi hỏi khách quan Để thực hiện mua bán, sáp nhập doanh nghiệp cần phải có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp khác nhau, sau khi tập trung lại thì thị phần của các doanh nghiệp cũng sẽ thay đổi Khi hoạt động tập trung kinh tế xảy ra

sẽ tiềm ẩn việc hình thành nên các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, nếu trường hợp này xảy ra sẽ dẫn đến việc gây hạn chế cạnh tranh và nhiều hơn nữa là thủ tiêu cạnh tranh Chính vì vậy việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế, đối với sự cạnh tranh công bằng trên thị trường Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh, Luật cạnh tranh 2004 đã ra đời Để tìm hiểu rõ hơn quy định của Luật cạnh tranh về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp người

viết chọn đề tài “Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh

và thực tiễn tại Việt Nam” làm tiểu luận môn học Pháp luật về cạnh tranh

2 Mục đích nghiên cứu

Các hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp mặc dù đã được nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh nhưng vẫn được xem là khá mới mẻ với Việt Nam nhất là các doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên sẽ rất nguy hiểm khi các công ty có tiềm lực mạnh trên thế giới xâm nhập vào thị trường trong nước gây lũng đoạn nền kinh tế Qua đó mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ thế nào là mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, quá trình hình thành phát triển và các hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp trên thực tiễn, vì sao cần phải kiểm soát các hành

vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp và những quy phạm điều chỉnh của Luật cạnh tranh đối với hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

Trang 4

4

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu nghiên cứu những nội dung có liên quan đến kiểm soát các hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (còn gọi là tập trung kinh tế) theo Luật cạnh tranh Ngoài ra, đề tài còn đề cập đến thực tiễn hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp hiện nay, đồng thời đề ra phương hướng giải quyết đối với những tồn tại của pháp luật cạnh tranh trong việc điều chỉnh hành vi này

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong đề tài người viết đã sử dụng phương pháp phân tích các quy định của luật viết, lý luận về các vấn đề có liên quan, phân tích tổng hợp, thống kê chọn lọc

các số liệu, để giải quyết những mục đích nhiệm vụ mà đề tài nghiên cứu đã đặt ra

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục thì nội dung cơ bản của tiểu luận gồm có 2 chương được trình bày theo bố cục như sau:

- Chương 1 Khái quát về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp;

- Chương 2 Quy định của Luật cạnh tranh về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, thực tiễn tại Việt Nam

Trang 5

5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ

1.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam

Có thể chia quá trình hình thành của tập trung kinh tế Việt Nam thành hai giai đoạn: giai đoạn trước và sau khi hình thành Luật cạnh tranh

* Giai đoạn trước khi luật cạnh tranh được ban hành

Đặc trưng của giai đoạn này là pháp luật chưa nhìn nhận việc sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng vốn góp, mua bán cổ phần và liên doanh thành lập doanh nghiệp từ góc độ cạnh tranh Các quy định của pháp luật trong giai đoạn này chỉ giải quyết vai trò quản lý Nhà nước về doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, và ghi nhận cho quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp mà chưa đề cập đến nhiệm vụ quản lý, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, an toàn cho nền kinh tế Nói cách khác pháp luật giai đoạn này chỉ quy định nhiều về tổ chức doanh nghiệp, thực hiện quyền đầu tư, quyền sở hữu trong doanh nghiệp Các vấn đề trên chưa được giải quyết bởi pháp luật cạnh tranh Có thể lý giải tình trạng trên từ nhiều nguyên nhân khác nhau, song có lẽ từ nhiệm vụ cơ bản của pháp luật kinh tế trong giai đoạn này

là xây dựng các thiết chế cơ bản để hình thành thị trường, nhiều lĩnh vực pháp luật của thị trường hiện đại chưa được tiếp nhận và xây dựng tại Việt Nam, trong đó có pháp luật cạnh tranh mà cụ thể là chế định về tập trung kinh tế

Nền kinh tế của Việt Nam ta trong thời điểm nói trên đang trong quá trình chuyển đổi và là một nước có nền kinh tế đang phát triển, quy luật tất yếu và đòi hỏi nội tại của nền kinh tế là quá trình tích tụ kinh tế như là nền tảng cho sự tăng trưởng Mặc khác thực tiển cho thấy việc gia tăng sự xuất hiện của các tập đoàn đa quốc gia tại Việt Nam là hệ quả của quá trình hội nhập ngày một sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới sẽ khiến cho các hoạt động tập trung kinh tế ở quy mô

có khả năng chi phối thị trường xuất hiện trong tương lai ngày càng nhiều Chính vì vậy cần phải có biện pháp kiểm soát các hoạt động tập trung kinh tế để tránh tình trạng hình thành các doanh nghiệp lớn có sức mạnh khống chế thị trường, khung pháp lý cho phép các cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát các hoạt động tập trung kinh tế là một đòi hỏi cấp thiết từ cả thực tiễn khách quan và chủ quan

* Giai đoạn sau khi luật cạnh tranh được ban hành năm 2004

Trang 6

1.2 Những vấn đề lý luận chung về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

Thuật ngữ “mua bán, sáp nhập doanh nghiệp” thường được gọi tắt là M&A, trong Luật cạnh tranh gọi chung là hành vi tập trung kinh tế

Đứng ở nhiều góc độ khác nhau thì khái niệm mua bán, sáp nhập doanh nghiệp hay tập trung kinh tế sẽ được bình luận khác nhau Trong kinh tế học và trong khoa học pháp lý, khái niệm tập trung kinh tế ở Việt Nam được xem xét với ba cách tiếp cận cơ bản:

Một là, nhìn nhận như là một quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế trên thị trường được hiểu là quá trình mà

số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất1 Cách nhìn nhận này đã làm rõ nguyên nhân và hậu quả của tập trung kinh tế đối với cấu trúc thị trường cạnh tranh Trên cơ sở đó các nhà hoạch định chính sách có thể phân tích các yếu tố kinh tế để tìm kiếm bản chất pháp lý của tập trung kinh tế và đề ra những cơ chế điều chỉnh cho phù hợp

Hai là, với tư cách là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn gọi

là tập trung tư bản) được hiểu là tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại 2

1 Lê Viết Thái, chuyên về hành vi tập trung kinh tế, đề tài nghiên cứu về thể chế cạnh tranh trong điều kiện

phát triển thị trường Việt Nam, Viện nghiên cứu thương mại-Bộ thương mại, 2005

2 Tư bản được hiểu là các giá trị kinh tế trên thị trường được sử dụng để tìm kiếm lại giá trị thặng dư như vốn, công nghệ trình độ quản lý…

Trang 7

7

hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác 3 Khái niệm này đã không đưa ra các biểu hiện cụ thể của tập trung kinh tế, nhưng lại cho thấy bản chất và phương thức

của hiện tượng Theo chủ nghĩa Mác-Lê nin tập trung tư bản là sự tăng thêm quy

mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất những tư bản có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn Do cạnh tranh mà dẫn tới sự liên kết tự nguyện hay sáp nhập các tư bản cá biệt Và tập trung tư bản có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa Nhờ tập trung tư bản mà xây dựng được những

xí nghiệp lớn, sử dụng được công nghệ hiện đại Bởi lẽ tập trung tư bản và tích tụ là hai quá trình có mối quan hệ mật thiết và gắn kết chặt chẽ với nhau tạo nên quá trình tích lũy tư bản Cả hai quá trình này đều làm tăng quy mô của tư bản cá biệt nhưng giữa chúng có những điểm khác nhau cơ bản: một là nguồn của tích tụ tư bản

là giá trị thặng dư, do đó tích tụ tư bản làm tăng quy mô của tư bản cá biệt, đồng thời làm tăng quy mô của tư bản xã hội Còn nguồn của tập trung tư bản là những tư bản sẵn có trong xã hội dó đó tập trung tư bản chỉ làm tăng quy mô của tư bản cá biệt mà không làm tăng quy mô của tư bản xã hội Hai là do nguồn của tích tụ tư bản là giá trị thặng dư, xét về mặt đó nó phản ánh trực tiếp mối quan hệ giữa tư bản

và lao động, nhà tư bản đã bóc lột sức lao động làm thuê để tăng quy mô của tích tụ

tư bản Còn nguồn của tập trung tư bản là những tư bản cá biệt sẵn có trong xã hội

do cạnh tranh mà dẫn đến liên kết hay sáp nhập Tích tụ và tập trung tư bản có mối quan hệ mật thiết với nhau Tích tụ tư bản làm tăng thêm quy mô và sức mạnh của

tư bản cá biệt, do đó cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, dẫn đến tập trung gay gắt hơn.4

Ba là, dưới góc độ pháp luật, Luật Cạnh tranh năm 2004 không quy định thế

nào là tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là tập trung kinh tế Theo đó, khoản 3 Điều 3 khẳng định tập trung kinh tế là hành vi hạn chế cạnh tranh Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường Bao gồm các hành vi: Sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh

1.2.2 Bản chất của tập trung kinh tế

Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiện tượng tập trung kinh tế bao gồm: tăng trưởng nội sinh; hiện tượng rút khỏi thị trường của một số doanh nghiệp; hiện tượng gia nhập thị trường của một số doanh nghiệp; hiện tượng sáp nhập của một số doanh nghiệp (tăng trưởng ngoại sinh)…Cho dù được nhìn nhận từ nhiều góc độ

4 Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mac-Lênin, Nxb chính trị quốc gia 2010, tr 250

Trang 8

8

khác nhau và diễn tả bằng những ngôn ngữ pháp lý khác nhau, song các nhà khoa học đều thống nhất với nhau về bản chất của tập trung kinh tế bằng những nội dung sau:

Thứ nhất, chủ thể của hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là các doanh

nghiệp hoạt động trên thị trường Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có thể là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan Hành vi sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh chỉ xảy ra khi có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện Có nghĩa là trước khi thực hiện các hành vi tập trung kinh tế, các doanh nghiệp đã tồn tại và đang hoạt động trên thị trường Nói cách khác hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp không phải là hành vi đơn phương của doanh nghiệp Vì vậy hành vi đầu tư vốn của một cá nhân, của một doanh ngiệp nào đó có thể tạo ra nhóm kinh doanh nhưng sẽ không là hiện tượng

tập trung kinh tế theo luật cạnh tranh

Thứ hai, các hiện tượng tập trung kinh tế có thể thấy rằng để tập trung kinh tế

thì đòi hỏi phải có nhiều doanh nghiệp khác nhau tồn tại trên cùng thị trường hoặc không cùng thị trường Các doanh nghiệp nói trên đã liên kết khả năng kinh doanh bằng cách chủ động tích tụ các nguồn lực kinh tế như vốn, lao động, kỹ thuật, năng lực quản lý, tổ chức kinh doanh… mà chúng đang nắm giữ riêng lẻ để hình thành một khối thống nhất bằng việc sáp nhập, hợp nhất hoặc phối hợp theo kiểu tập đoàn theo mô hình liên kết về sở hữu hoặc góp vốn bằng cách mua lại vốn góp của nhau, liên doanh với nhau Dấu hiệu này giúp khoa học pháp lý phân biệt tập trung kinh tế

với việc tích tụ tư bản trong kinh tế học Tích tụ tư bản là tăng thêm tư bản dựa vào

tích lũy giá trị thặng dư, biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản 5 Có thể thấy rằng, tích tụ tư bản là quá trình phát triển nội sinh của một doanh nghiệp theo thời gian bằng kết quả kinh doanh, kết quả làm ăn phát đạt của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có thể tích tụ tư bản để có được vị trí đáng kể trên thị trường, song để điều

đó xảy ra đòi hỏi một khoảng thời gian khá dài Trong khi đó, tập trung kinh tế cũng

có dấu hiệu của sự tích tụ nhưng không từ kết quả kinh doanh mà từ hành vi của doanh nghiệp

Thứ ba, Hậu quả của mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là việc hình thành các

tập đoàn kinh tế, thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh trên thị thường Các hình thức sáp nhập, hợp nhất sẽ làm giãm đi số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường hình thành nên các tập đoàn kinh tế Khi hình thành

Trang 9

9

các tập đoàn kinh tế và đi vào hoạt động các tập đoàn này sẽ tăng cường đầu tư, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động, cơ cấu lại kinh doanh đa ngành tập trung vào các ngành nghề trọng điểm Tích cực nghiên cứu, triển khai ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ mới vào ản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực quản lý, kỹ thuật, tay nghề của đội ngủ công nhân xây dựng thành các tập đoàn kinh tế mạnh,

có tầm cỡ trong khu vực Các tập đoàn kinh tế có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, kéo theo các tiến bộ về văn hóa xã hội Bên cạnh đó khi các tập đoàn kinh tế lớn mạnh cũng có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế thị trường khi các doanh nghiệp liên kết lại sẽ làm giảm cạnh tranh gây hạn chế cạnh tranh trên cùng một lĩnh vực của ngành, khi mà các doanh nghiệp tăng cường liên kết lại với nhau tập trung kinh tế cao đến một lúc nào đó sẽ hình thành nên các công

ty lớn, các tập đoàn kinh tế có tính độc quyền, thống lĩnh thị trường trong một ngành, một lĩnh vực từ đây sẽ ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh khi các tập đoàn kinh tế, các công ty lạm dụng vị trí độc quyền, vị trí thống lĩnh thị trường chèn

ép các đối thủ cạnh tranh khác, các doanh nghiệp nhỏ hơn

1.2.2 Hình thức mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

Dựa vào vị trí của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong các cấp

độ kinh doanh của ngành kinh tế – kỹ thuật, tập trung kinh tế được bao gồm tập trung theo chiều ngang, tập trung theo chiều dọc hoặc tập trung theo đường chéo (tập trung hỗn hợp)

* Tập trung kinh tế theo chiều ngang: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc

liên doanh… của các doanh nghiệp trong một thị trường liên quan (sản phẩm và không gian) Mục tiêu chính của hình thức này là: thực hiện hiệu quả theo quy mô, thực hiện mục tiêu chiến lược thị trường (khống chế thị trường hoặc tạo rảo cản thị trường)…

Tập trung kinh tế theo chiều ngang có thể tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực Theo lý thuyết cạnh tranh thì sự gia tăng tập trung theo chiều ngang sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp và từ đó dẫn đến hạn chế cạnh tranh theo giá, giảm khả năng sáng tạo, gây nguy cơ thiệt đến người tiêu dùng Về nguyên tắc khi số lượng doanh nghiệp hoạt động trên thị trường càng lớn (hoặc mức độ tập trung kinh tế càng nhỏ) thì nguy cơ để xuất hiện một thế lực khống chế trên thị trường càng nhỏ Chính vì vậy khi việc tập trung kinh tế tạo ra doanh nghiệp có quy lớn vượt qua một mức giới hạn nào đó thì việc Nhà nước kiểm soát sự tập trung đó, đánh giá tác động của nó đối với thị trường là

Trang 10

10

cực kỳ quan trọng, xem khi các doanh nghiệp này tập trung lại với nhau có tác động tiêu cực đến thị trường không, có hình thành nên doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, có vị trí độc quyền không để từ đó có thể quyết định cho phép hay không cho phép các doanh nghiệp này tập trung với nhau

* Tập trung kinh tế theo chiều dọc: là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại hoặc liên

doanh giữa các doanh nghiệp có quan hệ người mua – người bán với nhau Mục tiêu của sự hợp nhất này là thường nhằm làm giảm chi phí giao dịch hoặc thực hiện những mục tiêu chiến lược thị trường (đảm bảo nguồn cung ứng hoặc nguồn tiêu thụ, ngăn cản đối thủ cạnh tranh mở rộng thị trường hoặc dựng rào cản gia nhập thị trường)

* Tập trung kinh tế theo đường chéo (conglomerate): là sự hợp nhất, sáp nhập,

mua lại, liên doanh của các doanh nghiệp không cùng hoạt động trên một thị trường sản phẩm đồng thời cũng không có mối quan hệ khách hàng với nhau Mục tiêu của việc hợp nhất này thường là phân bổ rủi ro vào những thị trường khác nhau hoặc từ những lý do chiến lược thị trường của các doanh nghiệp khi tham gia tập trung kinh

tế Lợi thế quy mô thực sự của loại hình hợp nhất này chỉ có thể xảy ra ở những lĩnh vực như nghiên cứu và phát triển, tổ chức và quản lý

Từ phân tích ở trên có thể hiểu, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam điều chỉnh các hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp theo chiều ngang

1.3 Kiểm soát hành vi tập trung kinh tế bằng cơ chế pháp luật

1.3.1 Khái niệm về kiểm soát tập trung kinh tế

Ngày nay kiểm soát tập trung kinh tế đã được coi là một trong những nhiệm vụ

cơ bản của pháp luật cạnh tranh hiện đại Tất cả các quốc gia đang phát triển về thị trường đều đặt ra cơ chế phối hợp giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp để kiểm soát việc tập trung kinh tế Theo đó, pháp luật về doanh nghiệp sẽ thừa nhận quyền được tập trung kinh tế của doanh nhân, quy định về thủ tục pháp lý

để họ thực hiện các hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại và góp vốn để bảo đảm trật tự pháp lý trong kinh doanh Pháp luật cạnh tranh kiểm soát các hiện tượng tập trung kinh tế có khả năng đe dọa đến trật tự cạnh tranh của thị trường bằng hai cơ chế, đó là: (1) Cấm đoán các trường hợp tập trung kinh tế làm tổn hại đến tình trạng cạnh tranh; (2) Kiểm soát các trường hợp có khả năng tổn hại đến cạnh tranh Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam cũng vậy theo quy định tại mục 3 chương II Luật cạnh

Trang 11

11

tranh năm 2004, có thể thấy rằng, các nhà làm luật của Việt Nam đã chia các trường hợp tập trung kinh tế thành 3 nhóm để kiểm soát khác nhau:

- Nhóm tập trung kinh tế bị cấm

- Nhóm tập trung kinh tế cần phải kiểm soát

- Nhóm tập trung kinh tế được tự do thực hiện

Qua đó ta có thể định nghĩa về kiểm soát tập trung kinh tế như sau: là hoạt động, sự quản lý của cơ quan nhà nước, theo quy định của luật cho phép hay cấm các hành vi tập trung kinh tế nhằm kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế trên thị trường theo khuôn khổ pháp luật, giúp cho thị trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, các doanh nghiệp yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, đưa nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển

1.3.2 Vai trò của kiểm soát hành vi tập trung kinh tế

Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc thị trường và suy giảm tính cạnh tranh trên thị trường Bởi lẽ, khi các doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế thì số lượng doanh nghiệp trên thị trường sẽ thay đổi, kéo theo sự tương quan cạnh tranh trên thị trường cũng bị thay đổi theo Đồng thời, trên thị trường có khả năng sẽ hình thành nên các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền, từ đó làm triệt tiêu cạnh tranh hoặc hình thành nên các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng Khi

đó các doanh nghiệp có thể cùng nhau phối hợp về giá hoặc thỏa thuận về sản lượng đầu ra gây hạn chế cạnh tranh gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng Trong trường hợp này, các hành vi tập trung kinh tế này cần phải được kiểm soát để bảo vệ trật tự cạnh tranh

Qua đó ta thấy kiểm soát các hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng Vì nếu không kiểm soát các hành vi này để cho các hoạt động diễn ra một cách từ do sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế, hình thành nên các tập đoàn kinh tế độc quyền, có vị trí thống lĩnh thị trường từ đó nhiều tác động tiêu cực của hành vi tập trung kinh tế sẽ diễn ra mạnh hơn tạo môi trường cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, môi trường cạnh tranh không công bằng khi đó kẻ mạnh hơn sẽ chèn ép kẻ yếu hơn Nhưng nếu ta kiểm soát quản lý được nó đưa các hành vi này vào khuôn khổ của pháp luật kiểm soát được nó, các hành vi nào bị cấm, các hành vi nào cần kiểm soát các hành vi nào được tự do thực hiện từ đó nó sẽ có tác động tích cực hơn, giúp cho môi trường

Trang 12

12

cạnh tranh trở nên công bằng, môi trường cạnh tranh lành mạnh giúp cho nền kinh

tế phát triển bền vững, các doanh nghiệp tham gia kinh doanh hạn chế thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh Khi ta kiểm soát tốt các hành vi tập trung kinh tế thì ngoài việc tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nền kinh tế thị trường của ta sẽ thu hút nhiều doanh nghiệp trong nước và ngoài nước tăng cường đầu tư vào, phát triển sản xuất, đầu tư khoa học công nghệ - kỹ thuật, trang bị máy móc thiết bị hiện đại, giá cả hàng hóa giãm xuống có lợi cho người tiêu dùng Chính vì môi trường cạnh tranh lành mạnh mà khi các doanh nghiệp tăng cường đầu tư sẽ yên tâm hơn Bên cạnh đó khi ta kiểm soát tốt các hành vi tập trung kinh tế nó sẽ mang lại các tác động tích cực đối với nền kinh tế vì tập trung kinh tế giúp tạo khả năng hợp tác sâu sắc trong kinh doanh,

sẽ giúp cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tổng hợp và có thể thực hiện chiến lược mở rộng kinh doanh, giảm thiểu rủi ro kinh doanh Ngoài ra, tập trung kinh tế

có thể làm tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô và phạm vi, làm giảm chi phí, nâng cao chất lượng và thúc đẩy sản lượng Dưới góc độ lợi ích của doanh nghiệp, tập trung kinh tế giúp doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, nâng cao trình độ quản lý, chiến lược chiêu thị để mở rộng hoạt động kinh doanh mà không phải tốn quá nhiều chi phí để xây dựng thêm cơ sở hạ tầng Trong một số trường hợp, thông qua việc thực hiện tập trung kinh tế, doanh nghiệp có thể phát triển được hệ mạng lưới phân phối, kỹ năng quản lý và động lực bán hàng một cách dễ dàng và hiệu quả hơn

Qua đó ta thấy vai trò của kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế là rất lớn, nó

có ý nghĩa đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước, nếu ta kiểm soát tốt nó sẽ tạo môi trường cạnh tranh thuận lợi, các doanh nghiệp trong và ngoài nước yên tâm đầu

tư phát triển sản xuất Ngược lại nếu các hành vi tập trung kinh tế không được kiểm soát nó sẽ mang lại những tác động tiêu cực cho nền kinh tế thị trường cụ thể như các hành vi lợi dụng vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền gây lũng đoạn nền kinh

tế ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng

Như vậy, ngoài việc tạo điều kiện thuận lợi cho những trường hợp tập trung kinh tế có tác động tích cực đến nền kinh tế thì Nhà nước cần có những biện pháp hợp lý để kiểm soát những vụ tập trung kinh tế gây tổn hại cho chính sách cạnh tranh và nền kinh tế Biện pháp pháp lý, cụ thể là các chính sách và quy định pháp luật, là một trong những biện pháp đầu tiên mà Nhà nước có thể sử dụng để kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế

Trang 13

13

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH

NGHIỆP, THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM 2.1 Quy định của Luật cạnh trạnh về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

2.1.1 Các quy định về hình thức mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

2.1.1.1 Sáp nhập doanh nghiệp

Tại khoản 1 điều 17 Luật cạnh tranh quy định “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập”

Ví dụ: Doanh nghiệp A + Doanh nghiệp B  Doanh nghiệp B, sau khi sáp nhập về mặt pháp lý thì sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập (doanh nghiệp A)

bị chấm dứt, hoạt động của doanh nghiệp A bị chấm dứt, còn doanh nghiệp nhận sáp nhập (doanh nghiệp B) vẫn tồn tại với quy mô được mở rộng, hoạt động được

mở rộng trên nhiều mặt do được nhận sáp nhập từ doanh nghiệp A

Theo quy định của luật cạnh tranh chủ thể tham gia sáp nhập là các doanh nghiệp không có quy định cụ thể doanh nghiệp nào được tham gia doanh nghiệp nào không được tham gia, nếu theo đúng quy định không thuộc các trường hợp bị cấm hoặc phải thông báo đối với các trường hợp cần kiểm soát thì được thực hiện sáp nhập Nội dung của việc sáp nhập là doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chuyển toàn

bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang doanh nghiệp nhận sáp nhận và kết quả doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ lớn mạnh hơn còn doanh nghiệp

bị sáp nhập sẽ chấm dứt hoạt động

2.1.1.2 Hợp nhất doanh nghiệp

Theo quy định luật cạnh tranh thì “Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất” 6

Ví dụ: Doanh nghiệp A + Doanh nghiệp B  Doanh nghiệp X, trong đó doanh nghiệp A, doanh nghiệp B là các doanh nghiệp đã tham gia hợp nhất với nhau Sau khi tiến hành hợp nhất hai doanh nghiệp này sẽ chấm dứt hoạt động nghĩa là sẽ không còn doanh nghiệp A hay doanh nghiệp B nữa chỉ còn tồn tại doanh nghiệp X, doanh nghiệp X là doanh nghiệp mới được hình thành, sẽ nhận tất cả tài sản, quyền

và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp A, B…Tương tự như hành vi sáp nhập

6 Khoản 2 Điều 17 Luật cạnh tranh

Trang 14

14

doanh nghiệp thì hành vi hợp nhất doanh nghiệp cũng được nêu lên trong Luật cạnh tranh, nhưng chủ thể của hành vi này cũng chỉ là doanh nghiệp Luật cạnh tranh chưa quy định rõ ràng đối với chủ thể khi tham gia hành vi sáp nhập doanh nghiệp

là loại doanh nghiệp nào và quy định cụ thể đó được nêu ở trong Luật doanh nghiệp

2005 vì đây là luật chuyên ngành điều chỉnh về các hành vi trên

Qua phân tích ở trên ta thấy hình thức hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp có nhiều điểm tương đồng với nhau như: các doanh nghiệp điều chuyển hết tài sản, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình khi tham gia vào hai hình thức này và chấm dứt sự tồn tại của mình Tuy nhiên giữa chúng vẫn tồn tại sự khác nhau cơ bản đó là: với hành vi hợp nhất doanh nghiệp thì hai hoặc nhiều doanh nghiệp thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản, thị phần, thương hiệu,… để hình thành nên một doanh nghiệp hoàn toàn mới với tên gọi mới và chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp tham gia hợp nhất; đối với hành vi sáp nhập doanh nghiệp sau khi sáp nhập thì doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại, riêng doanh nghiệp nhận sáp nhập vần tồn tại với quy mô được mở rộng ra

2.1.1.3 Mua lại doanh nghiệp

Theo khoản 3 Điều 17 Luật cạnh tranh quy định: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác

đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”

Theo đó, quyền kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh

nghiệp bị mua lại theo pháp luật cạnh tranh là trường hợp một doanh nghiệp (doanh nghiệp kiểm soát) giành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp khác (doanh nghiệp bị kiểm soát) chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc ở mức theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát Trong trường hợp này doanh nghiệp kiểm soát là doanh nghiệp đi mua và doanh nghiệp bị kiểm soát là doanh nghiệp bị mua Như vậy, nếu như một doanh nghiệp mua tài sản hoặc cổ phẩn của doanh nghiệp khác, nhưng không đủ kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại thì không được xem là tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh Ngoài ra, một số trường hợp mua lại doanh nghiệp mà Luật cạnh tranh không xem là tập trung kinh tế như: doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm mục đích bán lại trong thời hạn dài

Trang 15

15

nhất là 1 năm thì không bị coi là tập trung kinh tế nếu doanh nghiệp bị mua lại, hoạc thực hiện quyền này chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được mục đích bán lại Mua lại doanh nghiệp gồm hai trường hợp: mua lại toàn bộ và mua lại một phần doanh nghiệp Trường hợp mua lại toàn bộ doanh nghiệp thì người mua trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như tài sản doanh nghiệp, được hưởng các quyền và nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp đó; trường hợp mua lại một phần doanh nghiệp thì không thay đổi chủ sở hữu nhưng được thực hiện dưới hình thức mua tài sản, cổ phần của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp bị mua đó

2.1.1.4 Liên doanh giữa các doanh nghiệp

Tại Khoản 4 điều 17 Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định về hành vị liên

doanh giữa các doanh nghiệp như sau: “Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới”

Ví dụ: Doanh nghiệp A + Doanh nghiệp B  Doanh nghiệp A, B, C trong đó doanh nghiệp A, doanh nghiệp B là các doanh nghiệp đã tham gia hoạt động liên doanh, doanh nghiệp C là doanh nghiệp mới được hình thành Sau khi tiến hành liên doanh thì hai doanh nghiệp này vẫn tồn tại độc lập với nhau, còn doanh nghiệp C là doanh nghiệp mới thuộc sở hữu của A, B

Liên doanh là dạng liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua việc cùng tham gia thành lập một doanh nghiệp mới Chủ thể tham gia hoạt động này là các doanh nghiệp, nội dung của hoạt động này là các doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, hệ quả sau khi tiến hành liên doanh các doanh nghiệp tham gia vẫn tồn tại và tồn tại độc lập với nhau, riêng doanh nghiệp mới hình thành là doanh nghiệp chung

Hành vi liên doanh giữa các doanh nghiệp và hợp nhất doanh nghiệp cũng hằm mục đích tạo ra chủ thể pháp lý mới trên thị trường có sức mạnh kinh tế lớn hơn, song sự khác biệt cơ bản giữa hai hành vi được thể hiện ở chỗ: đối với hành vi hợp nhất hợp nhất doanh nghiệp, sau khi chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp để hình thành doanh nghiệp mới thì sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất chấm đứt về mặt pháp lý Còn đối với hành vi liên doanh, các doanh nghiệp chỉ góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của hình thành một doanh nghiệp mới, song các doanh nghiệp góp vốn liên doanh vẫn tồn tại địa vị pháp lý của mình

Ngày đăng: 12/09/2015, 12:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mac-Lênin, Nxb chính trị quốc gia 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mac-Lênin
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2010
3. Ts. Lê Hoàng Oanh, Bình luận khoa học luật Cạnh tranh, NXB Chính trị quốc gia, 20064. Đặng Thị Quỳnh Anh, Xu hướng mua bán và sáp nhập Ngân hàng ởViệt Nam, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, 2008, Số 33, Tháng 12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng mua bán và sáp nhập Ngân hàng ở "Việt Nam, Tạp chí
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
4. Nghị định 116/2005/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh Khác
6. Nghị định 56/2009/NĐ-CP Về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa * Các trang thông tin điện tử Khác
2. Lê Viết Thái, chuyên về hành vi tập trung kinh tế, đề tài nghiên cứu về thể chế cạnh tranh trong điều kiện phát triển thị trường Việt Nam, Viện nghiên cứu thương mại-Bộ thương mại, 2005 Khác
1. Báo cáo tập trung kinh tế Việt Nam năm 2012 của Cục quản lý cạnh tranh 2. Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 1994 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Xác định doanh nghiệp nhỏ vừa dựa vào tổng nguồn vốn và số lao động - Tiểu luận mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại việt nam
Bảng 2 Xác định doanh nghiệp nhỏ vừa dựa vào tổng nguồn vốn và số lao động (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w