Cũng như các địa phương khác trong cả nước công tác bồi thường, GPMB để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn huyện cũng gặp một số khó khăn vướng mắc về chính sách bồi thường, hỗ trợ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
PHAN THỊ THÚY
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Ở MỘT SỐ DỰ ÁN XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS TS PHẠM NGỌC THỤY
HÀ NỘI, NĂM - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phan Thị Thúy
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của cơ quan, tổ chức, nhân dân
và địa phương
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa học PGS TS Phạm Ngọc Thụy đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo trong khoa và nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND Huyện Ba Vì, Hội đồng Bồi thường Giải phóng Mặt bằng Ba Vì, Trung tâm phát triển quỹ đất, phòng TN&MT huyện, phòng công thương, UBND Thị trấn Tây Đằng, các xã Đồng Thái, Minh Quang đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phan Thị Thúy
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
Đặt vấn đề 1
Mục đích và yêu cầu 2
Mục đích 2
Yêu Cầu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý về bồi thường, hỗ trợ tái định cư 4
1.1.1 Khái niệm về thu hồi bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4
1.1.2 Các chính sách liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ TĐC của của một số nước và các tổ chức trên thế giới 6
1.1.3 Kinh nghiệm từ các nước đối với Việt Nam 16
1.2 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam 16
1.2.1 Thời kỳ trước 1987 16
1.2.2 Thời kỳ từ 1987 đến năm 1993 17
1.2.3 Thời kỳ từ 1993 đến năm 2003 18
1.2.4 Thời kỳ từ 2003 đến nay 19
1.3 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở thành phố Hà Nội 22
1.3.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố Hà Nội 22
1.3.2 Thực trạng về tình hình bồi hường, hỗ trợ: 24
1.3.3 Tồn tại, vướng mắc 26
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
Trang 52.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ba Vì thành phố Hà Nội 28
2.2.2 Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, tái định cư trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 28
2.2.3 Thực trạng công tác bồi thường thu hồi đất, bồi thường, TĐC 03 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội huyện Ba Vì 28
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy công tác thu hồi đất ở huyện Ba Vì nói riêng và TP Hà Nội nói chung 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Ba Vì 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì 36
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý Nhà nước về đất đai của huyện Ba Vì 44
3.2 Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, tái định cư trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 50
3.2.1 Những kết quả đạt được 50
3.2.2 Những khó khăn, vướng mắc 53
3.2.3 Đánh giá công tác bồi thường, thu hồi đất, tái định cư trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 54
3.3 Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, tái định cư ở ba dự án nghiên cứu 55
3.3.1 Khái quát ba dự án 55
3.3.3 Kinh phí bồi thường hỗ trợ của ba dự án 68
3.3.4 Đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của ba dự án 72
3.4 Những tác động của việc thu hồi đất đến đời sống việc làm của người dân thuộc 03 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội huyện Ba Vì 75
Trang 63.5 Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy công tác thu hồi đất ở huyện Ba Vì
nói riêng và TP Hà Nội nói chung 76
3.5.1 Giải pháp về chính sách 76
3.5.2 Giải pháp về chính sách và thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Kiến nghị 82
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: So sỏnh hiện trạng sử dụng dụng đất đai huyện Ba Vỡ năm
2010-2013 46
Bảng 3.2 :Tổng hợp số dự ỏn GPMB khi NN thu hồi đất ở huyện Ba Vỡ từ 2007 đến 2013 51
Bảng 3.3: Tổng hợp về đối tượng và điều kiện bồi thường về đất dự ỏn 01 56
Bảng 3.4 Tổng hợp khối lượng đất và tài sản trên đất 61
Bảng 3.5: Tổng hợp về đối tượng và điều kiện bồi thường về đất dự ỏn 02 65
Bảng 3.6: Tổng hợp về đối tượng và điều kiện bồi thường về đất dự ỏn 03 65
Bảng 3.7: Kinh phớ BTTH dự ỏn nõng cấp mở rộng Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Vỡ đạt tiờu chuẩn hạng II giai đoạn I 68
Bảng 3.8: K inh phớ bồi thường, hỗ trợ GPMB dự ỏn xõy dựng trường THPT Minh Quang: 70
Bảng 3.9: Kinh phớ bồi thường, hỗ trợ GPMB: 71
Bảng 3.10: Tổng hợp diện tớch, kinh phớ bồi thường hỗ trợ của ba dự ỏn 72
Bảng 3.11: Tổng hợp thống kờ theo điều tra sử dụng tiền sau bồi thường 75
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết tắt đầy đủ
1 ADB Ngân hàng phát tiển Châu á
2 BTHT&TĐC Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
3 CNH-HĐN Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Trang 9MỞ ĐẦU Đặt vấn đề
Ở Việt Nam đất đai luôn là vấn đề nhạy cảm và được sự quan tâm của toàn
xã hội Đặc biệt, khi đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện
cơ chế quản lý đất đai mới bằng việc xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông - lâm nghiệp, tiến hành giao đất, cho thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài Chính sự thay đổi cơ chế quản lý này đã trả lại cho đất đai những giá trị vốn có của nó: Đất đai ngày càng trở nên có giá và được đem trao đổi trên thị trường
Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã xây dựng, ban hành và triển khai nhiều văn bản chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người có đất bị thu hồi Những bất cập đã được chỉnh sửa, bổ sung thường xuyên nhằm đáp ứng được những đòi hỏi của thực tế Tuy nhiên, công tác thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi vẫn là những vấn đề nóng, gây nên sự chú ý của xã hội Tuy nhiên, hiệu quả của những giải pháp này chưa được như mong muốn; nhiều quy định mới được ban hành dường như chưa phù hợp với thực tiễn (đặc biệt là các quy định về giá đất bồi thường; các quy định về tái định cư cho người dân
bị thu hồi đất ở, giải quyết vấn đề việc làm cho người bị mất đất sản xuất v.v ) Các tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có xu hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ gay gắt, phức tạp về nội dung Điều này cho thấy chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu về cơ chế, chính sách bồi thường nói chung và các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng nhằm hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này
Để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người
có đất bị thu hồi cần phải có nhiều nghiên cứu ở các địa phương khác nhau, chuyên sâu về các khía cạnh khác nhau của vấn đề, trên cơ sở đó đánh giá đúng, đủ, khách quan thực trạng công tác bồi thường hỗ trợ tái định cư; nắm rõ bản chất của các vấn
đề còn bất cập
Trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm vừa qua đã có nhiều
“điểm nóng” do thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB khi Nhà nước thu hồi
Trang 10đất chưa tốt, người dân khiếu nại, tố cáo với số đông, gây mất ổn định xã hội, việc giải quyết, khắc phục kéo dài, mất nhiều thời gian
Huyện Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, vị trí địa lý trên đã tạo cho huyện Ba Vì những điều kiện lý tưởng để thu hút đầu tư, đặc biệt là
từ 01/8/2008, Ba Vì là một huyện của Hà Nội (Hà Tây sáp nhập Hà Nội)
Huyện Ba Vì trong những năm gần đây đã có nhiều thay đổi, nhiều dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, khu thương mại dịch vụ, đường giao thông đã và đang được triển khai thực hiện và vấn đề thu hồi đất nhanh hay chậm ảnh hưởng rất lớn đến các dự án này Cũng như các địa phương khác trong cả nước công tác bồi thường, GPMB để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn huyện cũng gặp một số khó khăn vướng mắc về chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư; về thủ tục thu hồi đất, bồi thường đã làm cho dự án chậm tiến độ Đặc biệt ở một số dự án xây dựng
cơ sở hạ tầng xã hội như: dự án về giao thông, bệnh viện, trường học đều gặp nhiều khó khăn trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
Từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá việc thực hiện
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự
án xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội trên địa bàn huyện Ba Vì thành phố Hà Nội”
nhằm góp phần thúc đẩy công tác giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn của huyện
Trang 11- Vận dụng những quy định của Nhà nước để đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Các tài liệu, số liệu khảo sát phải phản ánh đúng tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của các dự án tại địa bàn huyện Ba Vì
- Những phân tích, đánh giá phải xuất phát từ thực tế khách quan
- Các giải pháp và kiến nghị đề xuất phải phù hợp thực tế, đảm bảo tôn trọng và đúng pháp luật hiện hành
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý về bồi thường, hỗ trợ tái định cư
1.1.1 Khái ni ệm về thu hồi bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Thu hồi đất
- Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất
của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (Quốc Hội, 2013)
- Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với
diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất (Quốc Hội, 2013)
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất
thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển (Quốc Hội, 2013)
Từ quy định trên của pháp luật đất đai hiện hành, chúng ta có thể tạm đưa ra quan niệm về tái định cư như sau :
Tái định cư (TĐC) khi Nhà nước thu hồi đất được hiểu là việc di chuyển người có đất bị thu hồi đến sinh sống ổn định tại một nơi mới thông qua các hoạt động hỗ trợ của Nhà nước nhằm giúp người bị thu hồi đất ổn định đời sống, sản xuất tại khu tái định cư
Trang 13Tái định cư là quá trình bồi thường các thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất, chi phí di chuyển, ổn định và khôi phục cuộc sống cho những người dân bị thu hồi đất để xây dựng các dự án Tái định cư còn bao gồm hàng loạt các hoạt động nhằm hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng do việc thực hiện dự án gây ra, nhằm khôi phục
và cải thiện mức sống, tạo điều kiện phát triển những cơ sở kinh tế và văn hoá - xã hội Tái định cư nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - văn hoá - xã hội đối với một bộ phận dân cư phải di chuyển nơi ở vì sự phát triển chung Vì vậy, các dự án TĐC cũng được coi là dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác Ngân hàng và các Nhà nước đang phát triển cần nhìn nhận vấn đề này như cơ hội chứ không phải là trở ngại Cần thực hiện một chính sách TĐC bắt buộc sẽ tạo nên một môi trường pháp chế lành mạnh khi Nhà nước cần thu hồi đất phục vụ cho các mục đích công cộng của quốc gia Mặt khác, cần cải tiến cách hiểu và lập kế hoạch thực hiện, sao cho các dự án luôn hướng tới sự phát triển, không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế mà còn
về môi trường, xã hội, phương thức này phù hợp với hai mục tiêu là xoá đói giảm nghèo
và phát triển bền vững
Như vậy, có thể hiểu công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư GPMB khi Nhà nước thu hồi đất không chỉ đơn thuần là việc bồi thường, hỗ trợ bằng tiền, vật chất khác cho người dân bị ảnh hưởng bởi quá trình thu hồi đất mà Nhà nước phải quan tâm đến đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất, phải có những chính sách, biện pháp nhằm đảm bảo lợi ích cho những người dân, đảm bảo cho họ có được chỗ ăn ở ổn định,
có điều kiện sinh sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ để người dân có thể yên tâm sản xuất phát triển kinh tế xã hội
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau;
+ Bồi thường bằng nhà ở;
+ Bồi thường bằng giao đất ở mới;
+ Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở
TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách GPMB
Trang 141.1.2 Các chính sách liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ TĐC của của một số nước và các tổ chức trên thế giới
1.1.2.1 Tại Trung Quốc, Thái Lan và Hàn Quốc
Tại Trung Quốc:
Cũng giống như Việt Nam, Trung Quốc không thừa nhận tư hữu đối với đất đai Dưới hệ thống kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa (XHCN), quyền sở hữu tài sản đối với tài nguyên thiên nhiên và các phương tiện sản xuất phần lớn đều bị quốc hữu hóa ngay sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền lực vào năm 1949 Quá trình này được tiến hành song song với các “phong trào”: “Bước nhảy vĩ đại” (1957 – 1962); “Tập thể hóa đất đai ở nông thôn” (1963 – 1965); “Cách mạng văn hóa” (1966 – 1978) Tuy nhiên, việc quốc hữu hóa toàn bộ đất đô thị của nước này chỉ chính thức hoàn tất sau khi Hiến pháp 1982 được ban hành Đất đô thị thuộc về Nhà nước và được quản lý bởi nhà nước Trung Quốc – người chịu trách nhiệm trước toàn xã hội Quyền sở hữu đối với bộ phận đất đai này được chính thức gọi là
sở hữu toàn dân XHCN Là người đại diện cho toàn dân, về mặt lý thuyết, Nhà nước Trung Quốc có toàn quyền của một chủ sở hữu
Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Việc quản lý giải phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm nhiệm Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn
vị xây dựng giải tỏa mặt bằng
Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một
là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai
là, giá đất tiêu chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân
ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian
để đánh giá, xác định giá Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những
Trang 15cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể.
Pháp luật đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai của Việt Nam Tuy nhiên nhìn về tổng thể việc chấp hành pháp luật của người Trung Quốc rất cao Việc sử dụng đất đai tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm, Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua bán chuyển nhượng đất đai Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà cửa
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính Phủ (Quốc vụ viện) và chính quyền
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có thẩm quyền thu hồi đất Quốc vụ viện
có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 hà trở lên và 70 ha trở lên đối với các loại đất khác Dưới hạn mức này thì do chình quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu Nhà nước
Về bồi thường thiệt hại về đất đai: pháp luật đất đai Trung Quốc quy định,
người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường do người sử dụng đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi Khi nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuỳ trường hợp cụ thể, nhà nước sẽ
cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất
Về tổ chức thực hiện và quản lý giải tỏa mặt bằng: Cục Quản lý tài nguyên
đất đai ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải tỏa mặt bằng Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải tỏa
Ở Trung Quốc do có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn nên có sự phân biệt về bồi thường nhà ở giữa hai khu vực này Đối với trường hợp bồi thường cho người dân ở thành thị, chủ yếu Nhà nước tiến hành bằng tiền Giá tiền bồi thường do các tổ chức tư vấn về giá đất xác định căn cứ vào giá bất động sản tại thời điểm thu hồi Ngược lại, việc bồi thường cho người dân ở khu vực nông thôn lại có những đặc điểm riêng biệt Nhà nước quan tâm tới nông dân,
Trang 16tạo điều kiện cho họ được hưởng những thành quả công nghiệp hóa, đô thị hoác khu thu hồi đất Gắn công tác bồi thường với việc giải quyết các vấn đề xã hội
Về phương thức bồi thường thiệt hại: Nhà nước thông báo cho người sử dụng
đất biết trước việc sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới Tại thủ đô Bắc kinh và thành phố Thượng Hải, người dân thường lựa chọn bồi thường thiệt hại bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với công việc, nơi làm việc của mình
Các khoản tiền bồi thường phải được đảm bảo cho người dân bị thu hồi đất
có chỗ ở bằng hoặc tốt hơn so với nơi ở cũ Ở Bắc Kinh, phần lớn người dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ Nhưng vì vấn đề ô nhiễm ở Bắc Kinh nên buộc thành phố phải đóng cửa nhiều nhà máy, xí nghiệp và hạn chế tối đa việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, trường học trong thành phố (Gia Minh, 2014)
Về giá bồi thường thiệt hại: tiêu chuẩn là giá thị trường, mức giá này cũng
được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác động điều chỉnh tại thị trường đó Đối với đất nông nghiệp việc bồi thường thiệt hại theo tính chất của đất và loại đất (tốt, xấu)
Về tái định cư: các khu tái định cư và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ và
kịp thời, thường xuyên đáp ứng yêu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử dụng khác nhau Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền quan tâm đến điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước chú ý và có chính sách xã hội riêng
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do thứ nhất,
đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư Thứ ba, quyền
Trang 17sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng
hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chính quyền thôn,
xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng
Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây xong nhà tái định cư (Nguyễn Thị Dung, 2011)
Nếu so sánh với Việt Nam, xuất phát điểm và chính sách đất đai của Trung Quốc không có sự khác biệt nào đáng kể Thậm chí, việc chính thức quốc hữu hóa đất đai đối với đất đô thị ở Trung Quốc (năm 1982) còn chậm hơn so với trường hợp Việt nam (năm 1980) Tuy nhiên, việc đưa đất đai vào quan hệ thị trường của nước này lại diễn ra trước so với Việt nam Cũng cần phải thừa nhận một thực tế rằng, dù thời điểm chính thức “thị trường hóa đất đai” ở Trung Quốc (theo Hiến pháp sửa đổi 1988) diễn ra trước so với Việt Nam không lâu (theo Hiến pháp 1992) nhưng những gì mà quốc gia này làm được đối với lĩnh vực đất đai đặc biệt trong lĩnh vực đền bù giải phóng mặt bằng và TĐC thì chúng ta còn phải nỗ lực nhiều mới có thể theo kịp Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, những yếu tố trước mắt mà Việt Nam cần phải có để xây dựng một thị trường đất đai (hay thị trường QSDĐ) lành mạnh chính là: một hệ thống quản lý đất đai có đủ năng lực mà trong đó các cơ quan lập quy hoạch, cơ quan định giá, cơ quan đăng ký đất đai phải đảm bảo được tính hiệu quả và minh bạch trong hoạt động của mình; một chính sách đất đai cởi mở, không còn phân biệt đối xử giữa các loại chủ thể SDĐ phù hợp hơn với quá trình hội nhập, chẳng hạn như việc áp dụng hình thức “giao đất” cho nhà đầu tư nước ngoài như Trung Quốc đã làm; một hệ thống các yếu tố trung gian với quy chế pháp lý đầy đủ, rõ ràng để có thể hỗ trợ một cách hiệu quả cho thị trường QSDĐ ( Lưu Quốc Thái, 2008)
Tại Thái Lan
Cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết
Trang 18Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường
Chưa có chính sách bồi thường TĐC quốc gia, nhưng tại Hiến Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị cải tạo đất đai và mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả thiệt hại do việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên quy định này, các ngành có quy định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình
Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng BĐS áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc có lợi ích khác cho đất nước phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy định những nguyên tắc trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các quy định cụ thể về trình tự tiến hành bồi thuờng TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá bồi thường, các bước lập
và phê duyệt dự án bồi thường thủ tục thành lập các cơ quan, ủy ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường quyền khiếu nại, quyền khởi kiện đưa tòa án Ví dụ: Trong ngành điện năng thì cơ quan điện lực Thái Lan là nơi
có nhiều dự án bồi thường TĐC lớn nhất nước, họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: “Đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng và đặt một mức sống tốt hơn” thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng có chất lượng và đạt mức tối đa nhu cầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển xã hội, vì vậy thực tế đã tỏ ra hiệu quả khi cần thu hồi đất trong nhiều dự án (Nguyễn Thị Dung, 2011)
Trang 19Tại Hàn Quốc
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư
Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc (Nguyễn Thị Dung, 2011)
- Luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc được chia làm hai thể chế:
+ Một là: Luật “Đặc lệ” liên quan đến bồi thường thiệt hại cho đất công cộng
đã được quy định theo thủ tục thương lượng của pháp luật
+ Hai là: Luật “Sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp
Để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế thì cần rất nhiều đất công cộng trong một thời gian ngắn với mục đích cưỡng chế đất cho nên luật “Sung công đất” đã được xây dựng vào năm 1962 Sau đó theo pháp luật ngoài mục đích thương lượng thu hồi đất công cộng thì còn muốn thống nhất việc này trên toàn quốc và đảm bảo quyền tài sản của công nên luật này đã được lập vào năm 1975 và dựa vào hai luật trên, Hàn Quốc đã triển khai bồi thường thiệt hại cho đến nay Tuy nhiên dưới hai thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật “Đặc lệ” thương lượng không đạt được thoả thuận thì luật “Sung công đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế nhưng nếu như thế thì phải lặp đi lặp lại quá trình này và đôi khi bị trùng hợp cho nên thời gian
có thể bị kéo dài hoặc chi phí bồi thường sẽ tăng lên Do đó luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc mới ra đời và thực hiện theo 3 giai đoạn:
+ Thứ nhất tiền bồi thường đất đai sẽ được giám định viên công cộng đánh giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng
Trang 20Giá quy định không dựa vào những lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự khách quan trong việc bồi thường
+ Thứ hai pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có quyền sử hữu đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất Quy trình chấp nhận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng chấp nhận thu hồi
+ Thứ ba biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng Chế độ này được Nhà nước hỗ trợ tích cực về mọi mặt chính sách bảo đảm sự sinh hoạt của con người, cung cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng cần thiết của Nhà nước Đây là công việc có hiệu quả lôi cuốn người dân tự nguyện di dời và liên quan rất nhiều tới việc giải phóng mặt bằng Theo luật bồi thường, nếu như toà nhà nơi dự án sẽ được thực hiện có trên 10 người sở hữu thì phải xây dựng cho các đối tượng, xây cư trú hoặc hỗ trợ 30% giá trị của toà nhà đó Còn nếu như là dự án xây nhà chung cư thì cung cấp cho các đối tượng này nhà chung cư hoặc nhà ở với giá thấp hơn giá thành Đối với các đối tác kinh doanh để kiếm sống nhưng có pháp nhân, các đối tác kinh doanh nông nghiệp, gia cầm thì có chính sách mang tính chất ân huệ thì ngoài biện pháp di dời còn ưu tiên cung cấp cho họ các cửa hàng hoặc khu vực kinh doanh
1.1.2.2 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) có chính sách về bồi thường thiệt hại, tái định cư do các dự án này đưa ra Các chính sách này có nhiều khác biệt so với luật của Nhà nước Việt Nam nên một mặt có thể có những khó khăn nhất định trong việc áp dụng cho các dự án vay vốn và đặc biệt có khả năng gây ra một số vấn đề xã hội nhất định, song mặt khác cũng có những ảnh hưởng tích cực tới việc cải thiện chính sách bồi thường và tái định cư cho những người bị thu hồi đất của các dự án khác Một số điểm khác biệt đó là:
Mục tiêu chính sách tái định cư (TĐC) của ADB là giảm thiểu tối đa TĐC và phải bảo đảm cho các hộ bị di chuyển được bồi thường và hỗ trợ sao cho tương lai kinh tế và xã hội của họ được thuận lợi tương tự trong trường hợp không có dự án Xuất phát từ mục tiêu này chính sách TĐC của ADB phải bao hàm toàn bộ quá
Trang 21trình từ bồi thường, giúp di chuyển và khôi phục các điều kiện sống, tạo thu nhập cho các hộ bị ảnh hưởng bằng mức ít nhất như chưa có dự án
Hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, bên cạnh lợi ích chung của cộng đồng thì lợi ích cá nhân cũng ngày càng được khuyến khích và bảo vệ như
là một trong những động lực của sự phát triển Từ mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” đã chuyển dần sang mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, lấy con người làm trọng tâm của sự phát triển Tuy nhiên do kinh tế còn nhiều khó khăn và nguồn vốn hạn chế, mục tiêu giải toả mặt bằng vẫn được đặt trên mục tiêu khôi phục cuộc sống cho người bị thu hồi đất Mặc dù Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ đã tăng thêm mức bồi thường cũng như các chính sách hỗ trợ để ổn định đời sống và các hoạt động sản xuất của người bị thu hồi đất, song vẫn chưa đạt được mục tiêu khôi phục mức sống như khi không có dự
án Vì vậy các dự án do Ngân hàng Phát triển Châu á cho vay phải được các bộ chủ quản dự án thông qua như các chương trình TĐC đặc biệt và khi tổ chức thực hiện cũng thường gặp những khó khăn nhất định, đặc biệt trong việc gây ra sự bất bình đẳng giữa các cá nhân và hộ gia đình trong cùng một địa phương nhưng lại hưởng các chính sách bồi thường khác nhau của các dự án khác nhau
Các chính sách của Nhà nước ta chỉ bồi thường cho những người có quyền sử dụng đất hợp pháp hoặc có khả năng hợp pháp hoá quyền sử dụng đất Tuy nhiên Nghị định 197/2004/NĐ-CP có quy định thêm đối với những trường hợp không được bồi thường thiệt hại về đất là: “Trong trường hợp xét thấy cần hỗ trợ thì UBND cấp tỉnh xem xét quyết định đối với từng trường hợp cụ thể”, chính nội dung này đã là mối nối, bù đắp
sự khác biệt giữa hai chính sách của Nhà nước ta và của ADB
Theo chính sách của ADB thì việc bồi thường và TĐC bao giờ cũng phải hoàn thành xong trước khi tiến hành công trình xây dựng trong khi ở Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về thời hạn này (có rất nhiều dự án vừa giải toả mặt bằng vừa triển khai thi công, chỗ nào giải phóng mặt bằng xong thì thi công trước để chống lấn chiếm đất đai )
Công tác TĐC đòi hỏi các chủ dự án phải quan tâm nhiều hơn nữa và giúp
đỡ những người bị ảnh hưởng trong suốt quá trình TĐC, từ việc tìm nơi ở mới thích
Trang 22hợp cho một khối lượng lớn chủ sử dụng đất đai phải di chuyển, phải tổ chức các khu tái định cư, trợ giúp chi phí vận chuyển, xây dựng nhà ở mới, đào tạo nghề nghiệp, cho vay vốn phát triển sản xuất, cung cấp các dịch vụ tại khu tái định cư
Quy định của ngân hàng ADB là không những phải thông báo đầy đủ những thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, tái định cư của dự án cho các hộ dân mà còn tham khảo ý kiến và tìm mọi cách thoả mãn các yêu cầu chính đáng của
họ trong suốt quá trình kế hoạch hoá cũng như thực hiện công tác tái định cư Theo ADB những người bị ảnh hưởng là những người bị mất toàn bộ hay mất tài sản vật chất hoặc phi vật chất, kể cả đất đai và tài nguyên của gia đình như rừng, khu đánh
cá Do vậy, phạm vi ảnh hưởng của dự án phải quan tâm là rất rộng
Theo ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và các
tổ chức phi Chính phủ thì bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng phải đồng thời đảm bảo lợi ích của những người bị ảnh hưởng để họ có một cuộc sống tốt hơn trước về mọi mặt Trên tinh thần giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất có chính sách thỏa đáng, phù hợp đảm bảo người bị thu hồi đất không gặp bất lợi hay khó khăn trong cuộc sống Khắc phục cải thiện chất lượng cuộc sống, nguồn sống đối với người bị ảnh hưởng Để thực hiện được phương châm đó thì trong công tác bồi thường và tái định cư phải thực hiện chính sách phát triển con người là trung tâm chứ không phải chính sách bồi thường vật chất Từ quan điểm đó chính sách bồi thường công bằng là bồi thường ngang bằng với tình trạng như không có dự án được sử dụng bằng giá thay thế, sao cho đời sống của người bị ảnh hưởng sau khi được bồi thường ít nhất phải đạt được ngang mức cũ của họ như trước khi có dự án Tuy vậy các chính sách này cũng có những khác biệt so với chính sách của Nhà nước Việt Nam như:
- Khái niệm hợp pháp hay không hợp pháp trong chính sách bồi thường, tái định cư là một trong những khác biệt có khả năng gây ra những vấn đề xã hội lớn khi áp dụng chính sách tái định cư của ADB Theo ADB và WB thì thiếu chứng thư hợp pháp về đất sẽ không ảnh hưởng tới bồi thường cho một số nhóm dân bị ảnh hưởng và được mở rộng đối với cả đối tượng không bị thiệt hại về đất và tài sản mà
Trang 23chỉ bị ảnh hưởng tới mặt tinh thần Ở Việt Nam trước kia chỉ bồi thường cho những người có chứng thư hợp pháp nhưng ở Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định 84/2007/NĐ-CP, Nghị định Nghị định số 69/2009/NĐ-CP đã mở rộng hơn khái niệm hợp pháp, đồng thời có quy định rõ ràng các trường hợp không được bồi thường về đất nếu xét thấy cần được hỗ trợ thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định đối với từng trường hợp cụ thể
- Theo chính sách của ADB thì việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao giờ cũng phải hoàn thành xong trước khi tiến hành công trình xây dựng, trong khi
ở Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về thời hạn này (rất nhiều dự án vừa giải tỏa mặt bằng vừa triển khai thi công, chỗ nào giải phóng mặt bằng xong thì thi công trước tránh lấn chiếm đất đai), do vậy, nhiều gia đình còn chưa kịp thời sửa chữa, xây dựng lại hoặc xây dựng nhà ở mới ổn định trước khi giải tỏa
- Quy định của ngân hàng ADB là không những phải thông báo đầy đủ các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, tái định cư của dự án cho các hộ dân mà còn tham khảo ý kiến và tìm mọi cách thỏa mãn các yêu cầu chính đáng của
họ trong suốt quá trình kế hoạch hóa cũng như thực hiện công tác tái định cư Ở Việt Nam, thực tế cho thấy việc thực hiện đầy đủ nội dung này là rất khó khăn, vì việc thu hồi đất là quyền của Nhà nước, nhưng việc di chuyển theo kế hoạch như thế nào, tái định cư ra sao hầu như không trả lời ngay được
- Theo quy định của Ngân hàng ADB, ngoài giám sát nội bộ, cơ quan thực hiện dự án phải thuê một tổ chức bên ngoài giám sát độc lập để đảm bảo những thông tin là khách quan Nhiệm vụ của cơ quan giám sát độc lập phải kiểm tra xem các hoạt động tái định cư có được triển khai đúng không? Từ đó có những kiến nghị biện pháp giải quyết, sao cho công tác tái định cư đạt được mục tiêu cuối cùng là giải quyết những vướng mắc nảy sinh (ADB, 2012)
Các chính sách hiện hành tại Việt Nam chưa có quy định về giám sát độc lập
về tái định cư Cho nên việc giám sát độc lập công tác tái định cư là công tác khá mới mẻ ở Việt Nam và ít cá nhân quen với công việc này
- Phạm vi ảnh hưởng của dự án phải quan tâm theo ADB là rất rộng còn theo
chính sách hiện hành của Việt Nam thì vẫn còn hạn chế
Trang 241.1.3 Kinh nghiệm từ các nước đối với Việt Nam
Qua nghiên cứu chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư của một số nước và các tổ chức ngân hàng quốc tế, Việt Nam chúng ta cần học hỏi các kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB
ở một số điểm sau:
- Hoàn thiện các quy định về công tác định giá đất nói chung và định giá đất
để bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư nói riêng bằng cách thành lập các đơn vị
tư vấn trong việc điều tra, nghiên cứu và xây dựng giá đất ở các tỉnh, thành phố cả nước để giúp nhà nước xây dựng được một khung giá phù hợp sao cho hài hòa giữa lợi ích của người và lợi ích quốc gia
- Công khai hoá đầy đủ các thông tin liên quan về dự án cũng như chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các hộ dân bị thu hồi được biết, được bàn và kiểm tra
- Quan tâm hơn nữa đối với việc lập quy hoạch và xây dựng các khu tái định cư; các chế độ chính sách của những người bị thu hồi đất; giá cả đền bù phải sát với giá thị trường; xử lý hài hoà lợi ích và quyền lợi của người bị thu hồi đất, chủ đầu tư với Nhà nước
- Ngoài khoản tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ trong việc chuyển đổi nghề và tạo công ăn việc sau khi bị thu hồi đất
- Việc xây dựng và phát triển các công trình đều cần đất Do đất đai không phải lúc nào cũng có sẵn để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của mỗi nước Vì thế, mọi Nhà nước đều phải sử dụng quyền lực của mình để thu hồi đất hoặc đặc trưng thu đất của người đang sở hữu, đang sử dụng để phục vụ cho nhu cầu xây dựng công trình phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia
1.2 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam
Trang 25đất thì bồi thường từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trung thu
- Đối với hoa màu thì được bồi thường đúng mức
- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc và cac công trình phục vụ sinh hoạt được giúp đỡ xây dựng cái khác
- Ngoài ra, mồ mả thì căn cứ vào tình hình cụ thể về phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ một số tiền làm phí tổn di chuyển
Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại trong Nghị định này là đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 Cách bồi thường như vậy được thực hiện cho đến khi Hiến pháp 1980 ra đời
1.2.2 Thời kỳ từ 1987 đến năm 1993
Hiến pháp 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, chính vì vậy việc thực hiện bồi thường về đất không được thực hiện mà chỉ thực hiện bồi thường những tài sản có trên đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên
Luật Đất đai năm 1988 ban hành quy định về việc bồi thường cũng cơ bản dựa trên những điều quy định tại Hiến pháp 1980
Ngày 31/5/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường Căn cứ để tính bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng và vị trí đất Mỗi hạng đất tại mỗi vị trí đều quy định giá tối đa, tối thiểu UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Khoản tiền này được nộp vào ngân sách Nhà nước và sử dụng vào việc khai hoang, phục hóa, trồng rừng, cải tạo đất nông nghiệp, ổn định cuộc sống, định canh, định cư cho vùng bị lấy đất
Tại quyết định này, mức bồi thường còn được phân biệt theo thời hạn sử dụng đất lâu dài hay tạm thời quy định việc miễn giảm tiền bồi thường đối với việc
sử dụng đất để xây dựng hệ thống đường giao thông, thủy lợi…
Trang 26vị trí đều quy định giá tối đa, tối thiểu UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Khoản tiền này được nộp vào ngân sách Nhà nước và sử dụng vào việc khai hoang, phục hóa, trồng rừng, cải tạo đất nông nghiệp,
ổn định cuộc sống, định canh, định cư cho vùng bị lấy đất
*Luật đất đai năm 1993
Đây là văn bản pháp luật quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất
Ngày 17/8/1994 Chính phủ Ban hành Nghị định số 90/NĐ-CP quy định cụ thể các chính sách làm cơ sở để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB theo quy định khi nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Nghị định này mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất
Ngày 24/4/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP thay thế Nghị định 90/NĐ-CP và quy định rõ phạm vi, đối tượng áp dụng Đặc biệt người bị thu hồi đất có quyền được lựa chọn một trong ba phương án bồi thường: Bằng tiền, bằng nhà ở hoặc bằng đất
Tuy nhiên trong quá trình triển khai Nghị định 22/NĐ-CP có những hạn chế nhất định Nó chưa đáp ứng hết được yêu cầu thực tế, chưa phù hợp với thực tiễn và gây phát sinh ra nhiều khiếu kiện cho nhà nước Đặc biệt chưa giải quyết được
Trang 27những tồn tạo do yếu tố lịch sử để lại khi thực hiện chính sách đền bù thiệt hại cho chủ sử dụng đất có tài sản, nhà cửa nằm trên đất không đủ điều kiện được bồi thường cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc bồi thường đất ở đối với các trường hợp sử dụng đất trước năm 1993 còn chưa được quy định cụ thể, nên trong tổ chức thực hiện chưa thống nhất dẫn đến khiếu kiện
Thứ hai, việc xác định giá đất còn gây khó khăn cho tổ chức như trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy định của chính phủ nhân với hệ số K để đảm bảo giá đất tính đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở địa phương Do vậy việc áp dụng hệ số K và khung giá đất ở địa phương còn thấp chưa phù hợp với thực tế dẫn đến giá bồi thường thấp làm cho nhân dân không đồng tình, không chấp hành ảnh hưởng đến tiến độ chung của dự án
Thứ ba, chưa có quy định chi tiết về vấn đề tái định cư: Tiêu chuẩn của khu tái định cư, phân định trách nhiệm của chủ dự án, của chính quyền các cấp trong việc tạo lập và bố trí tái định cư, quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở, các biện pháp khôi phục đời sống và sản xuất tại khu tái định cư
Thứ tư, chưa quy định cụ thể về cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường đối với các trường hợp cố tình không thực hiện đã dẫn đến một số đối tượng lợi dụng kẽ hở trong chính sách của Nhà nước cố tình chây ỳ không chịu cho Hội đồng bồi thường tiến hành đo đạc, kiểm đếm, không chịu nhận tiền bồi thường, không chịu di chuyển, lôi kéo người khác không thực hiện quyết định của Nhà nước, làm cho tình hình vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp hơn Thứ năm, quy định về điều kiện để được bồi thường hoặc không đủ điều kiện bồi thường về đất chưa quy định rõ dàng
1.2.4 Thời kỳ từ 2003 đến nay
Những đổi mới trong chính sách, pháp luật về đất đai trong hơn 15 năm qua đã đưa đến những kết quả tích cực, thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển, người sử dụng đất gắn bó nhiều hơn với đất đai, hệ thống kết cấu hạ tầng được xây dựng tạo
ra những tiền đề quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước Tuy nhiên, đánh giá dưới góc độ kinh tế, tiềm năng đất đai chưa được sử dụng một cách có hiệu quả,
Trang 28hoạt động của thị trường bất động sản phát triển chưa thực sự lành mạnh, tình trạng đầu cơ về đất đai diễn ra phổ biến, đẩy giá đất lên cao, điều đó cản trở quá trình đầu
tư phát triển Nhìn nhận dưới góc độ quản lý, chính sách quản lý đất đai chưa hợp
lý, thủ tục hành chính rườm rà, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện quyền sử dụng đất, chính sách tài chính trong lĩnh vực đất đai còn nhiều bất cập gây thất thoát lớn cho nhà nước Trước những tình hình đó, việc đổi mới chính sách quản lý đất đai cụ thể là đổi mới các quy định pháp luật về đất đai là hoàn toàn cần thiết Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ra Nghị quyết về việc xây dựng Luật đất đai và giao nhiệm vụ này cho Bộ Tài nguyên & Môi trường trực tiếp soạn thảo Tại kỳ họp thứ tư Quốc Hội Khoá XI đã thông qua Luật đất đai năm 2003, luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 Luật đất năm 2003 đã quán triệt sâu sắc các quán điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai phù hợp với đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luật đất đai mới vẫn dựa trên nền tảng đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Luật đất đai năm 2003 có rất nhiều nội dung mới trong đó có vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như: Khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi thường, chính sách tái định cư và hạn chế phạm vi dự án phải thu hồi đất
Sau khi Luật đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều loại văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, bao gồm:
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương
Trang 29pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 116/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Thông tư số 57/2010/TT-BTC ngày 16/4/2010 quy định về lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
Sau khi Luật đất đai năm 2013 ngày 29/11/2013 có hiệu lực ngày 01/7/2014 thì một loạt các Nghị định, thông tư mới cũng thay đổi theo như:
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định về Bồi thường, hỗ trợ TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 hướng dẫn Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Quy định về chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định về giá đất
Trang 30Đối với TP Hà Nội thì Quyết định 23/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 thay thế cho QĐ 108/QĐ-UBND ngày 29/9/2009 ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND TP Hà Nội do Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chỉnh phủ giao cho về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TP Hà Nội
1.3 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở thành phố Hà Nội
1.3.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố Hà Nội
Theo Ban chỉ đạo GPMB TP Hà Nội, trong năm 2013, các quận, huyện, thị
xã đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 22.988 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất tại các dự án trên địa bàn TP
TP đã chi trả hơn 6.127 tỷ đồng tiền bồi thường, hỗ trợ; Phê duyệt bố trí tái định cư cho 1.390 hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở Đã thu hồi và nhận bàn giao mặt bằng cho hơn 1.033 ha đất đai tại 209 dự án Trong quá trình GPMB,
đã có một số địa bàn quận, huyện có kết quả thực hiện công tác thu hồi đất GPMB tốt, với diện tích đất đã thu hồi đạt khối lượng cao như: Cầu Giấy, Từ Liêm, Thạch Thất, Đan Phượng…
Đa số người bị thu hồi đất đều nghiêm chỉnh chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng cho dự án
Về cơ bản việc ban hành và thực hiện các chính sách về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội đã thống nhất được cơ chế đền bù cho tất cả các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách cũng như nguồn vốn khác Chính vì vậy các mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ dự án đã được giải quyết thỏa đáng Nhà nước giữ vai trò chủ sở hữu đất và thống nhất quản lý đất đai, đồng thời đảm bảo quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài của người bị thu hồi đất và tạo điều kiện cho các chủ dự án có quỹ đất đầu tư cho sản xuất kinh doanh
Thành phố đã tập trung chỉ đạo, đề ra nhiều giải pháp, rà soát, thống nhất ban hành nhiều cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC, đặc biệt sau khi mở rộng
Trang 31địa giới hành chính thành phố; trực tiếp xem xét, khảo sát, kiểm tra xử lý những khó khăn, vướng mắc về chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người dân phải di dời ở một số
dự án trọng điểm Các cấp, các ngành, đặc biệt là các ngành chức năng của thành phố
đã có nhiều cố gắng, vào cuộc quyết liệt, đồng bộ, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả của thành phố Tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ xã, xã, thị trấn, thị trấn về công tác GPMB Công tác tuyên truyền đối với nhân dân được thực hiện thường xuyên, đặc biệt qua các chuyên mục về cơ chế chính sách đền bù GPMB, thực hiện TĐC trên các báo, đài của thành phố Hà Nội
Những giải pháp đồng bộ, kịp thời của thành phố về những vấn đề: Quy hoạch, thu hồi đất, quy trình và chính sách GPMB nêu trên, với phương thức giải quyết, giải đáp tại chỗ, rà soát rút ngắn quy trình GPMB đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của thành phố đã tạo chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ GPMB đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của thành phố
đã tạo nên chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ GPMB trên địa bàn
Về công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác GPMB, mặc dù số lượng các vụ đơn thư khiếu nại, tố cáo vẫn còn rất lớn, đặc biệt sau địa giới hành chính thành phố được mở rộng, nhưng nhờ tích cực giải quyết, quy mô, tính chất, mức độ phức tạp của các vụ việc trong một, hai năm trở lại đây đã giảm nhiều Tuy nhiên, công tác GPMB và giải quyết đơn thư vần còn nhiều tồn tại:
- Cơ chế chính sách đền bù GPMB còn không ít những vấn đề bất cập, thiếu đồng bộ, thậm chí còn có mâu thuẫn, bất hợp lý trong chính sách giá bồi thường đối với các đối tựợng trong cùng một dự án có đất liền kề nhau, làm phát sinh khiếu kiện phức tạp, kéo dài, khiến công tác đền bù, GPMB gặp nhiều cản trở Một trong những vấn đề bất cập của thành phố hiện nay nữa là sau khi GPMB thì rất nhiều nhà siêu mỏng, siêu méo xuất hiện, GPMB là việc không hề dễ nên chủ đầu tư chủ yếu tập trung vào việc thu hồi đất theo chỉ giới mở đường, mà không quan tâm đến vấn
đề ngoài chỉ giới nên dẫn đến tình trạng tồn tại nhà siêu mỏng, siêu méo Bên cạnh
đó, tình trạng này tồn tại do giá đất sau khi GPMB tăng cao hàng chục lần nên người dân cố tình không chấp hành pháp luật Chính quyền địa phương cũng chưa vào cuộc ngăn chặn kịp thời, thành phố cũng chưa có chế tài xử lý đủ mạnh
Trang 32- Trong triển khai thực hiện các dự án cụ thể, công tác tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách của cấp huyện, huyện và ngành chức năng với UBND thành phố thiếu kịp thời, linh hoạt đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả và tiến độ công việc
- Trong một số dự án, công tác phối, kết hợp giữa thành phố với các bộ, ngành Trung ương; giữa các sở, ban ngành của thành phố các huyện, huyện; giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị ở một số huyện, huyện còn thiếu chặt chẽ và đồng bộ, nên việc huy động sức mạnh tổng hợp trong thực hiện công tác GPMB còn hạn chế
- Vẫn còn tồn tại tình trạng ngại va chạm, sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trong đội ngũ cán bộ thực thi công vụ Có nơi, bộ máy chuyên trách chưa đủ năng lực, thực hiện chưa nghiêm túc, đầy đủ yêu cầu về quy trình GPMB, nhất là nguyên tắc công khai, dân chủ; giải quyết chưa kịp thời thắc mắc, khiếu kiện của nhân dân
- Việc thiếu tự giác, thiếu hiểu biết, thậm trí cố ý làm sai của một số bộ phận cán
bộ và nhân dân là trở ngại không nhỏ cho công tác GPMB; là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng chậm trễ trong thu hồi đất và tình trạng khiếu kiện phức tạp, kéo dài
- Do nhiều yếu tố: Đất đai hiếm, giá đất thị trường cao, yêu cầu đối với công tác bảo đảm việc làm , đời sống cho người dân sau thu hồi đất khó khăn, nên so với các địa phương khác công tác GPMB ở Hà Nội khó khăn và phức tạp hơn nhiều
1.3.2 Thực trạng về tình hình bồi hường, hỗ trợ:
- Về cơ bản việc ban hành và thực hiện các chính sách về bồi thường bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội đã thống nhất được cơ chế đền bù cho tất cả các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách cũng như nguồn vốn khác Chính vì vậy các mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ dự án đã được giải quyết thỏa đáng Nhà nước giữ vai trò chủ sở hữu đất và thống nhất quản lý đất đai, đồng thời đảm bảo quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài của người bị thu hồi đất và tạo điều kiện cho các chủ dự án có quỹ đất đầu tư cho sản xuất kinh doanh
- Việc bồi thường, hỗ trợ cho nhân dân hầu hết được trả bằng tiền, trong số tiền được bồi thường, hỗ trợ đó có người dân có đủ điều kiện để tạo lập nơi ở mới
có điều kiện sống tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, song cũng có nhiều người do nhu cầu cuộc sống còn khó khăn, nhiều nhu cầu chi tiêu quan trọng hơn vì vậy họ không đủ
Trang 33tiền để tạo dựng nơi ở mới, phải sống tạm bợ với nhu cầu sống thấp
- Về cơ bản việc ban hành và thực hiện các chính sách về bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội đã thống nhất được cơ chế bồi thường cho tất cả các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách cũng như nguồn vốn khác Chính vì vậy các mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ dự án đã được giải quyết thỏa đáng Nhà nước giữ vai trò chủ sở hữu đất và thống nhất quản lý đất đai, đồng thời đảm bảo quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài của người bị thu hồi đất và tạo điều kiện cho các chủ dự án có quỹ đất đầu tư cho sản xuất kinh doanh
- Việc bồi thường, hỗ trợ cho nhân dân hầu hết được trả bằng tiền, trong số tiền được bồi thường, hỗ trợ đó có người dân có đủ điều kiện để tạo lập nơi ở mới
có điều kiện sống tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, song cũng có nhiều người do nhu cầu cuộc sống còn khó khăn, nhiều nhu cầu chi tiêu quan trọng hơn vì vậy họ không đủ tiền để tạo dựng nơi ở mới, phải sống tạm bợ với nhu cầu sống thấp
Thành phố đã tập trung chỉ đạo, đề ra nhiều giải pháp, rà soát, thống nhất ban hành nhiều cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đặc biệt sau khi mở rộng địa giới hành chính thành phố; trực tiếp xem xét, khảo sát, kiểm tra xử lý những khó khăn, vướng mắc về chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người dân phải di dời ở một số dự án trọng điểm Các cấp, các ngành, đặc biệt là các ngành chức năng của thành phố đã có nhiều cố gắng, vào cuộc quyết liệt, đồng bộ, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả của thành phố Tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ
xã, phường, thị trấn về công tác GPMB Công tác tuyên truyền đối với nhân dân được thực hiện thường xuyên, đặc biệt qua các chuyên mục về cơ chế chính sách đền bù, thực hiện tái định cư trên các báo, đài của thành phố Hà Nội
Những giải pháp đồng bộ, kịp thời của thành phố về những vấn đề: Quy hoạch, thu hồi đất, quy trình và chính sách GPMB nêu trên, với phương thức giải quyết, giải đáp tại chỗ, rà soát rút ngắn quy trình GPMB đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của thành phố đã tạo chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả trong thực hiện nhiệm
vụ GPMB đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của thành phố đã tạo nên chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ GPMB trên địa bàn
Trang 341.3.3 Tồn tại, vướng mắc
Tuy nhiên, công tác GPMB và giải quyết đơn thư còn có nhiều tồn tại:
- Cơ chế chính sách đền bù GPMB còn không ít những vấn đề bất cập, thiếu đồng bộ, thậm chí còn có mâu thuẫn, bất hợp lý trong chính sách giá bồi thường đối với các đối tượng trong cùng một dự án có đất liền kề nhau, làm phát sinh khiếu kiện phức tạp, kéo dài, khiến công tác đền bù, GPMB gặp nhiều cản trở
- Trong triển khai thực hiện các dự án cụ thể, công tác tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách của cấp quận, huyện và ngành chức năng với UBND thành phố thiếu kịp thời, linh hoạt đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả và tiến độ công việc
- Trong một số dự án, công tác phối, kết hợp giữa Thành phố với các bộ, ngành Trung ương; giữa các Sở, Ban ngành của thành phố các quận, huyện; giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị ở một số quận, huyện còn thiếu chặt chẽ và đồng bộ, nên việc huy động sức mạnh tổng hợp trong thực hiện công tác GPMB còn hạn chế
- Vẫn còn tồn tại tình trạng ngại va chạm, sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trong đội ngũ cán bộ thực thi công vụ Có nơi bộ máy chuyên trách chưa đầy đủ năng lực, thực hiện chưa nghiêm túc, đầy đủ yêu cầu về quy trình GPMB, nhất là nguyên tắc công khai, dân chủ; giải quyết chưa kịp thời thắc mắc, khiếu kiện của nhân dân
- Việc thiếu tự giác, thiếu hiểu biết, thậm trí cố ý làm sai của một số bộ phận cán
bộ và nhân dân là trở ngại không nhỏ cho công tác GPMB; là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng chậm trễ trong thu hồi đất và tình trạng khiếu kiện phức tạp, kéo dài
- Do nhiều yếu tố: Đất đai hiếm, giá đất thị trường cao, yêu cầu đối với công tác bảo đảm việc làm, đời sống cho người dân sau thu hồi đất khó khăn, nên so với các địa phương khác công tác GPMB ở thành phố Hà Nội khó khăn và phức tạp hơn nhiều
Trang 35- Một trong những vấn đề cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội và môi trường bền vững là đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp và đô thị
Từ đó cần phải nghiên cứu, đánh giá những ưu điểm, thuận lợi, khó khăn tồn tại vướng mắc trong việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi đến tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển xã hội ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Với những đổi mới tích cực như đã nghiên cứu ở trên, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay
Trang 36CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại ba dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội:
1 Mở rộng và nâng cấp Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Vì đạt tiêu chuẩn Bệnh viện hạng II- Giai đoạn I
2 Xây dựng Trường Trung học phổ thông Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội
3 Xây dựng khu Tái định cư thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ba Vì thành phố Hà Nội
2.2.2 Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, tái định cư trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
2.2.3 Thực trạng công tác bồi thường thu hồi đất, bồi thường, TĐC 03 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội huyện Ba Vì
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy công tác thu hồi đất ở huyện Ba
Vì nói riêng và TP Hà Nội nói chung
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra thu thập số liệu thứ cấp
- Thông tin, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Tham khảo các tài liệu năm 2012, 2013 về đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự
án khác trên địa bàn huyện
- Tham khảo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH năm 2013 huyện Ba Vì
- Tham khảo báo cáo thi hành Luật Đất đai năm 2003 huyện Ba Vì và các báo cáo của ngành Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Vì
- Số liệu về thực trạng sử dụng đất
Trang 37- Số liệu trên sẽ được điều tra, thu thập tại UBND huyện Ba Vì (Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban giải phóng mặt bằng, Trung tâm phát triển quỹ đất, Phòng Thống kê)
Điều tra thu thập số liệu sơ cấp
Xây dựng mẫu điều tra theo phiếu của những hộ được bồi thường, hỗ trợ và TĐC Điều tra các hộ bị thu hồi đất và các hộ không bị thu hồi đất tại 03 dự án theo mẫu phiếu điều tra nhằm tìm ra nhưng ưu điểm và nhược điểm của chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC, nguyện vọng của người bị thu hồi đất cũng như mức độ ảnh hưởng của dự án đến đời sống, việc làm, thu nhập của người bị thu hồi đất và người dân trong vùng dự án Cán bộ làm công tác bồi thường hỗ trợ và TĐC nhằm tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong công tác tổ chức thực hiện
Phương pháp phân tích số liệu
Phân tích xử lý số liệu bằng các phần mềm máy tính: kiểm tra và xử lý những sai lệch để nâng cao độ chính xác của số liệu thống kê, mô tả, so sánh và tổng hợp
Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Chọn ngẫu nhiên 200 mẫu điều tra ở 3 dự án
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Ba Vì
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa ở phía Tây Bắc của thành phố Hà Nội, có toạ độ địa lý từ 21019’40’’- 21020’ vĩ độ Bắc và 1050 17’35’’- 1050 28’22’’ kinh độ Đông
Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây và tỉnh Vĩnh Phúc
Phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình
Phía Bắc và Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ
Huyện Ba Vì có đường Quốc lộ 32 chạy qua, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 53 km; đây là tuyến đường quốc lộ từ Hà Nội qua huyện Ba Vì đến các tỉnh phía Bắc là Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái,… và có tuyến đường thuỷ qua phía Tây, phía Bắc
và Đông Bắc huyện từ Hà Nội đến Hoà Bình qua sông Hồng và sông Đà với chiều dài trên 70 Km
Với vị trí địa lý và giao thông thuỷ bộ thuận tiện huyện Ba Vì rất có điều kiện
để phát triển kinh tế xã hội như: Trao đổi hàng hoá, tiếp thu thông tin, khoa học kỹ thuật, công nghệ và vốn đầu tư tạo điều kiện tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đa dạng, nông - lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ, du lịch
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Ba Vì có núi Ba Vì với đỉnh cao 1.296 m và hai con sông lớn chảy vòng quanh
là sông Đà và sông Hồng, tạo nên một sắc thái riêng về tự nhiên, khả năng đa dạng hoá các loại cây trồng và phát triển kinh tế xã hội
Nhìn chung địa hình của huyện có hướng thấp dần từ Tây Nam xuống Đông Bắc, từ Tây sang Đông có thể phân thành 03 tiểu vùng khác nhau
+ Vùng núi: Có diện tích tự nhiên là 19.932,11 ha chiếm 46,5% diện tích tự nhiên của toàn huyện; có 5694.80 ha đất nông nghiệp, chiếm 28,5 % tổng diện tích toàn vùng Vùng này có hai loại địa hình: Núi cao thuộc vườn Quốc gia Ba Vì, đồi thấp thuộc 07 xã miền núi Độ cao trung bình toàn vùng từ 150 đến 300 m
Trang 39+ Vùng đồi gò: Địa hình thấp dần từ 100 m xuống 20 - 25 m theo hướng Tây Bắc thuộc địa bàn của 13 xã với diện tích tự nhiên là 14.840,15 ha chiếm 34,66% diện tích toàn huyện bao gồm 7.510,17 ha đất nông nghiệp, chiếm 50,6%; đất lâm nghiệp 1956,4 ha chiếm 13 % diện tích của vùng
+ Vùng đồng bằng sông Hồng: Có địa hình tương đối bằng phẳng, gồm 12 xã, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ đê sông Hồng đến tả ngạn sông Tích Diện tích tự nhiên của vùng là 8.032,11 ha chiếm 18,48% diện tích tự nhiên toàn huyện gồm 3.634,59 ha đất nông nghiệp
+ Với địa hình địa mạo trên đã tạo nên một sắc thái riêng về điều kiện tự nhiên
và khả năng đa dạng hoá trong phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là có ưu thế
Qua theo dõi nhiều năm, các yếu tố khí hậu trung bình như sau:
+ Nhiệt độ trung bình tháng: Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau nhiệt
độ trung bình khoảng 200C, tháng có nhiệt độ thấp nhất khoảng 140C Từ tháng 04 đến tháng 10 nhiệt độ trung bình đều cao, trên 230C, tháng 6 và 7 có nhiệt độ cao nhất
là 350C đến 370C Riêng vùng núi Tản Viên, từ độ cao 400m trở lên mùa hè có không khí mát mẻ, trên 700 m trở lên nhiệt độ trung bình về mùa hè là 180C
+ Lượng mưa: Lượng mưa trung bình đạt 1628 mm/năm, chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa bặt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10, với tổng lượng mưa là 1.478 mm, chiếm khoảng 91% lượng mưa cả năm Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với tổng lượng mưa 184 mm, chiếm khoảng 9% lượng mưa cả năm
+ Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình từ 85% đến 87% Tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất 81 - 82 % vào các tháng 11 và tháng 12 Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất 89 % vào tháng 3 và tháng 4
+ Số giờ nắng: số giờ nắng bình quân là 1.680,7 giờ/năm Các tháng 1, 2,3 có
Trang 40số bình quân giờ nắng dưới 100 giờ/tháng Các tháng còn lại đều có số giờ nắng trên
120 giờ/tháng, đặc biệt tháng 4 và tháng 7 số giờ nắng đạt trên 150 giờ/tháng
+ Gió: hướng gió chủ yếu là Đông Bắc và Đông Nam, mùa đông có gió mùa Đông Bắc lạnh Tốc độ gió trung bình 3,5 m/s
Mùa hạ hướng gió chủ yếu là Đông Nam và Nam, tuy nhiên khi có giông, bão vào mùa hạ tốc độ gió có thể đạt tới 100km /h Trong gió mùa hạ có thể có gió giật tới tốc độ trên 100 km/h Bão thường xảy ra từ tháng 7 đến tháng 10 Bão gây ra gió mạnh và mưa lớn, là thiên tai đáng lo ngại đối với Ba Vì Bão thường kèm theo mưa lớn gây nên ngập úng ở vùng đất trũng và gây ra sói mòn ở vùng đồi, núi, làm thiệt hại đến sản xuất, kinh tế và con người
Lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 12, tháng 01 năm sau, lớn nhất vào tháng 5-6 Nhìn chung, thời tiết của huyện có những biến động thất thường đi kèm các hiện tượng gây ảnh hưởng bất lợi cho đời sống và sản xuất Vào mùa mưa chịu ảnh hưởng của những đợt mưa lớn, dài ngày gây ngập, úng; đầu mùa hè thường chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng, nhiệt độ không khí có khi lên tới trên 380C Mùa đông, có những đợt gió mùa đông bắc về nhanh nhiệt độ thường giảm đột ngột gây ảnh hưởng tới sức khoẻ và sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, do đặc điểm khí nêu trên nêu có các biện pháp khắc phục sẽ rất thuận lợi cho việc đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của nhân dân trong huyện cũng như cung cấp cho các vùng lân cận
3.1.1.4 Thủy văn
Ba Vì có hệ thông thuỷ văn phong phú và đa dạng Bao gồm sông Đà và sông Hồng bao bọc từ phía Tây Nam lên Đông Bắc dài 50 km tạo nên nguồn nước tưới phong phú, mang phù xa màu mỡ bồi lên vùng đồng bằng ven sông của huyện
Địa hình chia cắt của vùng núi và vùng đồi gò đã hình thành nên hệ thống khe suối phân bố theo từng lưu vực nhỏ, đặc biệt là tạo nên con sông Tích chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam phân chia huyện thành hai vùng Vùng núi và đồi gò ở hữu ngạn và đồng bằng phì nhiêu ở tả ngạn Sông Tích là trục tiêu nước chính cho đất đai toàn huyện và cũng là nơi cung cấp nguồn nước tưới bổ xung cho vùng ven bên trong bờ sông Hồng