1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

thuế tài sản kinh nghiệm thế giới và hướng vận dụng tại việt nam

227 472 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 22,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỰC ỉ • «;1 Trang Lời Nhà xuất bản 5 Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỂ TÀI SẢN VÀ t h u ế TÀI SẢN n I. Tài sản và phân loại tài sản 11 1. Tài sản 11 2. Phân loại tài sản 19 •• ’• r . ĩ . .1 II. Thuế đánh trên tài sản và vai trò của thuế tài sản f 23 1. thuế tài sản , 23 2. Vai trò của thuế tài sản 38 Chương II: THUẾ TÀI SẢN ở MỘT s ố NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM RÚT RA CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC XÂY DựNG CHÍNH SÁCH THUẾ TÀI SẢN 42 I. th u ế tài sản ở một số nước trên thế giới 42 1. Thuế tài sản ở Cộng hòa Pháp 42

Trang 2

T h u ế t à i s ả n

K i n h n g h i ệ m t h ế g i ớ i

HƯỚNG VẬN DỤNG TẠI Việt NAM ■ m

Trang 4

BỘ TÀI CHÍNH

VỤ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH Tiến sĩ Quách Đức Pháp, Thạc sĩ Dương Thị Ninh

Trang 5

• Thạc sỹ NGUYỄN VĂN PHỤNG

• Tiến sỹ NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

• Tiến sỹ PHAN HỔNG PHÚC

• Thạc sỹ LƯU ĐỨC HUY

• Chuyên viên cao C ấ p HUỲNH HUY QUế

• Thạc sỹ NGUYỄN VĂN HIỆU

• Thạc sỹ HUỲNH VƯƠNG NAM

• Cử n h â n PHAN Ti ế n LÂN

Những người tham gia

Trang 6

sự thay đổi lớn Để góp phần thực hiện phân phôi lại thu nhập của các tầng lớp dân cư, bảo đảm sự công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, đóng góp vào sự tăng trưởng vững chắc, ổn định của nền kinh tế, việc xem xét, sửa đổi bổ sung chính sách th u ế hiện hành, trong đó có chính sách thuế đối với tài sản, là việc làm cần thiết.

Với mong muôn đưa ra những gợi mỏ cho công tác hoạch định chính sách thuế tài sản và cung cấp tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu của đông đảo bạn đọc quan tâm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuôn sách thuế tài sản - Kinh nghiêm thế giới và hướng vận dụng tại Viêt Nam (Sách tham khảo) Cuốn sách do tập thể tác giả công

tác tại Vụ Chính sách tài chính, Bộ Tài chính biên soạn Nội dung tập trung mô tả bức tranh toàn cảnh về chính sách thuế đối với tài sản thời gian qua ở Việt Nam, xem xét một

Trang 7

cách có chọn lọc và công phu kinh nghiệm thực tiễn về thuế tài sản ở một sô nước trên thế giới Từ đó đưa ra quan điểm

về chính sách th u ế tài sản ở Việt Nam trong những năm tới Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc để làm tài liệu tham khảo. Ị /: I V '4 , Ị ' K í V ''

/ * "4- * i ^ - • V iíí' í í

Tháng 10 năm 2003

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ Q u ố c GIA

Trang 8

2 Vai trò của thuế tài sản 38

Chương II: THUẾ TÀI SẢN ở MỘT s ố NƯỚC

TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM RÚT RA

CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC XÂY DựNG

I t h u ế tài sản ở một số nước trên thế giới 42

1 T huế tài sản ở Cộng hòa Pháp 42

Trang 9

2 T h u ế tài sản ở N hật Bản 54

3 T h u ế tài sản ở Inđônêxia 61

4 T h u ế tài sản ở Đài Loan 63

5 T h u ế tài sản ở Thụy Điển 75

6 T h u ế tài sản ở Cộng hòa liên bang Đức 76

7 th u ế thổ trạch ở miền Bắc Việt Nam trước thời kỳ

8 T h u ế tài sản ở miền N am Việt N am 1 82

II Kinh n ghiệm rút ra cho V iệt Nam trong

xây dựng ch ín h sách thuế tài sản 86

1 N hững nhận xét về việc áp dụng thuế tài sản ở <

một số nước trên th ế giới 86

2 Kinh nghiệm rút ra cho Việt N am trong xảy

: r ~ 'ỊQ? t ' % r" *•' - ^ ' ' ĩ ‘ i

dựng chính sách th u ế tài sản 91

Chương III: THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH ; ■

■ THUẾ ĐỐI v ớ i TÀI SẢN ở VIỆT NAM ■ f Í9

1 Tài sản - Các quy định pháp lý liên quan

Ị Đối với đất đai - ' ' , ■ ' : ỉ ' 119

2 Đối với các loại tài sản khác 143

II Thực trạng chính sách t h u ế đối với tài:"A

1 Khái quát về chính sách thu tài chính đối với

Trang 10

2 Đánh giá ưu, nhược điểm của chính sách thuế

đối với tài sản

III Nhận xét chung về chính sách thuế đối

với tài sản ở nước ta

Chương IV: PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DựNG

CHÍNH SÁCH THUẾ Đối VỚI TÀI SẢN ở

NƯỚC TA TRONG NHỮNG NẢM TỚI

I Sự cần th iết phải xây dựng chính sách

th u ế đối với tài sản

II Mục tiêu xây dựng chính sách thuế đối

với tài sản

III Phương hướng xây dựng chính sách thuế

« a ' « / - • \ •

dỏi với tài sản

1 Các cách tiếp cận khác nhau trong việc xây

dựng chính sách thuế đối với tài sản

2 Phương hướng xây dựng chính sách thuế đối

với tài sản

IV Điều kiện đế triển khai xây dựng chính

sách thuế tài sản ở nước ta trong những

201

150

Trang 11

Thông thường, mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng hay

cá nhân đều sử dụng nguồn lợi riêng do thiên nhiên hoặc do chính những hoạt động kinh tê của họ tạo ra Các nguồn lợi đó hợp lại th àn h khôi tài sản của chủ thể với khái niệm rất rộng, được duy trì từ lâu và không ngừng được bổ sung phong phú, đa dạng trong đời sống xã hội

Trong cuốn Kinh tế học đánh thuế, hai nhà kinh tê

học người Anh là Simon James và Christopher Nobes

viết: "Tài sản, giống như là thu nhập, là những của cải

' j * 1 ■ r V ~ *

mà một người có được nhờ những nguồn lợi thu được từ hoạt động kinh tế S ự khác nhau giữa tài sản và thu nhập Là: tài sản là khôi lượng của cải ở một thời điềm nào đó, còn thu nhập là số của cải thu được trong một khoảng thời gian".

' í • - r - ,

Trang 12

Trong thực tế, việc xác định của cải nào thuộc về tài sản của một người là vấn đề phức tạp và càng khó hơn khi xác định giá trị đích thực của tài sản đó.

Thông thường, tài sản có giá trị nhất đối với nhiều người là ngôi nhà và mảnh đất mà họ làm nhà trên đó Tuy nhiên, nếu như toàn bộ số tiền mua nhà hay làm nhà do người này bỏ ra thì trị giá ngôi nhà đó mới là tài sản thực sự của anh ta Nhưng nếu nhà được mua bằng một phần khoản vay nợ chưa trả được thì khoản nợ chưa trả được phải tính trừ ra khỏi giá trị tài sản để xác định giá trị tài sản thực sự của anh ta Đó chính là

khái niệm về “tài sản ròng” Đồ đạc trong nhà và tấ t cả

các động sản khác của cá nhân, kể cả chứng từ có giá trị như tiền gửi ngân hàng, cổ phiếu, trái phiếu đều được tính là tài sản ròng theo khái niệm này Cũng có những của cải không thể trực tiếp nhìn thấy được nhưng lại có giá trị lớn như quyền được hưởng bảo hiểm nhân thọ, quyền tác giả, quyền sở hữu sáng chế, bí quyết kỹ thuật, bằng phát minh,v.v được xếp vào loại tài sản vô hình

Theo luật Anh-Mỹ, tài sản là công cụ để duy trì sự liên tục của quyền sở hữu của chủ thể trong một khoảng thòi gian Bởi vậy, khi một người đã chết, người

ta kiểm kê các tài sản do người chết để lại cùng với những nghĩa vụ, công nợ mà người đó phải giải quyết nếu còn sống Sau đó, người ta tổ chức việc thanh toán mọi khoản công nợ, phải thu, phải trả của người đã chết

Trang 13

bằng các tài sản liên quan đến các nghĩa vụ đó và xác định những người có đủ tư cách được hưởng di sản theo

di chúc hoặc người thừa kê theo pháp luật, hay ngườiđược ụỷ thác để tiếp nhận các tài sản còn lại của người

đã mất

ở Việt Nam, theo luật và tục lệ cổ, các tài sản tư thuộc về gia đình Các quyền đối với tài sản tư của gia đình do người chủ gia đình thực hiện và nghĩa vụ về tài sản chỉ có thể do chủ gia đình quyết định trực tiếp hoặc thông qua các thành viên trong gia đình Tài sản thuộc

về tất cả những người có quan hệ trực tiếp hoặc quan

hệ hôn nhân trong gia đình, nhưng việc quản lý tài sản được giao cho ông, bà, cha, mẹ, tức là những người đứng đầu gia đình Nếu ông, bà, cha, mẹ chết thì tài sản được giao lại cho con, cháu Cùng có khi ông, bà, cha, mẹ quyết định chia các tài sản của gia đình cho con cháu

để có cơ sở kinh tế thành lập các hộ gia đình mới và tài sản đã chia trở thành tài sản của hộ gia đình mới đó Tuy vậy, khi còn sống, ông, bà, cha, mẹ có thể lấy lại tài sản đã chia, trừ khi hộ gia đình mới đã ra ở riêng Trong một số trường hợp ông, bà, cha, mẹ không lấy lại tài sản đã chia thì khi người con chết, tài sản được chuyển giao cho cháu

Theo Bộ luật Gia Long, khái niệm gia đình được hiểu

là tập hợp những người xung quanh một người đàn ông, gọi là gia trưởng và gắn bó với người này do quan hệ thân thuộc về trực hệ, bằng hệ, quan hệ hôn nhân hoặc quan

Trang 14

hệ nuôi dưỡng Tài sản thuộc về tất cả những người này nhưng quyền sở hữu lại thuộc gia trưởng Nếu gia trưởng chết thì người vợ goá không tái hôn sẽ cùng với các con và trưởng tộc bên chồng thực hiện việc quản lý tài sản Nếu cha, mẹ đều chết thì các con, đứng đầu là con trai trưởng, cùng nhau quản lý tài sản của gia đình cho đến khi được phép của trưởng tộc bên nội để tiến hành phân chia tài sản cho mọi anh em trong gia đình.

Từ năm 1945, trong những văn bản đẩu tiền chứa đựng các quy phạm pháp luật dân sự của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thừa nhận quyển sở hữu

tư nhân Cá nhân có quyền sở hữu tài sản và khi chết, tài sản để lại cho người thừa kế gọi là di sản

Điều 172 Bộ luật dân sự năm 1995 xác định: “Tài sản bao gôm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản'; và Điều 188: “quyền tài sản

là quyền trị giá được bằng tiền và có th ể chuyên giao trong giao lưu dân sự, k ể cả quyền sờ hữu trí tuệ " Như

vậy, quyền đối với tài sản phải có đủ hai yếu tố: trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân

sự Ví dụ, chủ sở hữu tài sản có những quyền nhất định đối với tài sản của họ như quyền sử dụng, quyền chuyển đổi, quyền chuyển nhượng, quyền mua bán, quyền thừa

kê, quyền thế chấp, quyền huỷ bỏ, V.V.; còn những quyền như quyền bầu cử, quyền đi lại, quyền được tôn trọng danh dự không có trị giá bằng tiền và cũng không thể chuyển nhượng nên không có tính chất tài sản

Trang 15

Trong cuốn Từ đ iển th u ậ t n g ữ k in h tế có định

nghĩa về tài sản như sau: "Tài, sản là vật chất cụ thế

hoặc vô hình có một giá trị nhất định đối với chủ sở

hữu”1.

Từ những trích dẫn và phân tích trên đây, khái

niệm “tài sản” có thể được hiểu theo ba khía cạnh:

- Thứ nhất, về phương diện p h áp lý, tà i s ả n là của

cải được con người sử dụng, v ề phần mình, "của cải" là

một khái niệm luôn được biến đổi và tự hoàn thiện

theo sự hoàn thiện của quan niệm về giá trị vật chất

Thòi La Mã cổ xưa, thuật ngữ "của cải" chỉ khiến

người ta liên tưởng đến ruộng đất, gia súc, nô lệ, hoa

lợi tự nhiên chưa thu hoạch, V.V Trong xã hội hiện

đại, xuất hiện th ếm những của cải đặc biệt như sóng

vô tuyến, năng lượng nguyên tử, công nghệ thông tin,

bản quyển tác giả, V.V

- Thứ hai, về hình thức, tài sản là một vật được con

người sử dụng, một vật cụ thể có thể nhận biết được

bằng xúc giác: tàu thuyên, nhà cửa, giấy bạc, V.V

Trong chừng mực nhất định, có thể xem mọi tài sản

đều hữu hình hoặc đều có thế được hữu hình hoá: một• • •

quyền tài sản vô hình sẽ hữu hình khi được thực hiện• • •

Trang 16

quyền tài sản vô hình cũng sẽ trở thành hữu hình khi được chuyến nhượng có đền bù (ví dụ chuyển nhượng một quyền sở hữu công nghiệp để nhận tiền) Nhìn chung, của cải hay một vật chỉ có thể là tài sản n ế u chúng có thể V được sở hữu, ¡tức là có thể thuộc về riêng một chủ thể nào đó của quan hệ pháp luật dân sự (ví dụ: thuộc quyền sở hữu của một quốc gia, một cộng đồng, một tập thể, một gia đình, một cá nhân) Tài sản

có thế được mua bán, chuyển nhượng, có hao mòn và biến mất Cũng từ tiêu chí đó, không khí được người ta

sử dụng thường xuyên nhưng ít nhất cho đến thòi đại này, không khí chưa bao giờ được coi là tài sản theo nghĩa pháp lý hoặc theo nghĩa thông dụng, bởi vì,

không khí không có chủ sở hữu

- Thứ ba, về tính vật thể, tài sản là tất cả những

vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các

quyền của một chủ thể ở thời điểm nhất định Tài sản

có được là do sự tích luỹ thu nhập của chủ thể từ tất cả

các nguồn có thể tạo ra thu nhập: do thiên nhiên ban

cho hay do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh

doanh, do đầu tư vốn, do biếu tặng, do được thừa kế, do

vận may,v.v Tài sản có thể thường xuyên th a y đổi

trạng thái và giá t r Ị t u ỳ thuộc vào hành động của chủ

sở hữu: tài sản bằng tiền có thể được chuyển thành

hiện vật hoặc ngược lại, nếu chủ sở hữu tiến hành bán

tài sản Tài sản có thể tăng thêm nếu có sư đầu tư, bổ, I 1 , : : \ '• - I • 7

sung hoặc do tăng giá; tài sản có thể giảm đi nếu có sự

Trang 17

chuyển sở hữu tài sản sang cho chủ thể khác hoặc cũng

có thể giảm do hao mòn, giảm giá

Như vậy, khái niệm tài sản không phải là một khái niệm bất biên mà nó được biến đối và tự hoàn thiện theo quan niệm về giá trị vật chất Vì vậy, khi nghiên cứu khái niệm tài sản, cần phải chú ý đền các khía cạnh sau:

Một là, tài sản có thể đồng nghĩa với của cải tồn tại

dưới dạng hũu hình hoặc vô hình trong trường hợp của cải đó trị giá được bằng tiền và có thế dùng để giao dịch đem lại lợi ích cho chủ sở hữu

Hai là, tài sản phải luôn gắn liền với một chủ sở

hữu nhất định, không có tài sản vô chủ

Ba Là; tài sả n -khác với thu nhập Nói đền tài sản của một chủ thể là nói về lượng của cải tại một thời điểm nào đó của chủ thể Ví dụ, nếu nói một người có tài sản trị giá 1 tỷ đồng thì có nghĩa là người này có tài sản bằng 1 tỷ đồng vào thòi điểm đang nói (chẳng hạn

là vào cuối năm 2001) Tài sản này vào nhũng lúc khác không phải là 1 tỷ đồng nữa mà có thể nhiều hơn hoặc

ít hơn Còn nói đến thu nhập là nói đến lượng của cải

mà chủ thể thu được trong một thời kỳ nhất định: 1 tuần, 1 tháng, 1 năm, V.V Ví dụ, thu nhập của một người'trong tháng là 3 triệu đồng, tức vào cuối tháng người đó đã bổ sung thêm được 3 triệu đồng vào số tài sản đã có từ đầu tháng Như vậy, thu nhập của một thòi kỳ sẽ không bao gồm tài sản ở thời kỳ trưốc, còn tài

sản lúc cuối kỷ thì bao gồm tất cả các hu nhậ của các

írrniồKtìriM iA Ã s* p 9 V» r.v^jhrm 1

Trang 18

kỳ trước đó cộng lại Vì vậy, khái niệm về tài sản phải

g ắ n VỚI y ế u t ô t h ò i đ i ể m

Bốn là, tài sản khác với vốn Tài sản và vốn là hai

khái niệm có lúc đồng nhất, có lúc không đồng nhất Cụ thể, tài sản sẽ trở thành vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh Còn tài sản cất giữ, không dùng vào kinh doanh sinh lời thì chỉ có thể là vốn tiềm năng Vốn không những là tài sản theo nghĩa vật lý mà còn bao gồm cả sức lao động trí tuệ, môi trường, V.V Cùng với quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hoá, vốn thường vận động và chuyển hoá từ hình thái này sang hình thái khác để thực hiện giá trị của hàng hoá Vốn được tiền tệ hoá và quá trình vận động, luân chuyển của vốn làm cho của cải xã hội ngày càng phong phú Từ đó, khái niệm vốn có thể hiểu là tiền và các hình thức biểu hiện khác của tiền với tư cách là hàng hoá khi tham gia vào thị trường

N ăm là, khi nói đền tài sản, thường người ta không

cần truy tìm đền nguồn gốc thu nhập tạo ra tài sản và thu nhập có từ bao giò, bằng cách nào mà chỉ cần biết tài sản đó đang thuộc về ai

Sáu là, quan niệm về tài sản trong kinh tế phải

nhất quán với quy định trong luật dân sự về tài sản, bởi

vì, đối với tài sản, các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có những quyền mà nội dung, hình thức và phương thức thực hiện các' quyền đó (kể cả các biện pháp hạn chế thực hiện) đều do luật xác định

' "C / ỉ'\ vAYTx\is K k r : ■ ■

Trang 19

2 P h â n lo ạ i tà i sả n

Tài sản thể hiện mức độ giàu có của một chủ thể Đây là yếu tố vật chất có tính chất quyết định đến khả năng tiêu dùng, đầu tư nhằm tái tạo và bổ sung của cải Đối với một quốc gia, tổng giá trị tài sản chung cả nước chính là tiềm lực kinh tế của quốc gia đó Cho nên, tất

cả các quốc gia đều phải thường xuyên nắm chắc được tổng tài sản xã hội, cơ cấu tài sản và sự phân bổ các tài sản đó để có chính sách phù hợp nhằm phát huy tác dụng của các tài sản quốc gia đối với sự phát triển kinh

tế - xã hội và chính trị của đất nước Một trong nhũng

bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế liên quan đến tài sản chính là chính sách thuế đánh vào tài sản Trong lĩnh vực thuế khoá, việc phân loại tài sản là rất quan trọng Phân loại tài sản cho phép khai thác, sử dụng tài sản một cách hợp lý và hiệu quả nhất Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà có thể phân loại tài sản theo những tiêu thức khác nhau:

- Theo nguồn hình thành: có tài sản do thiên nhiên

đem lại (như đất đai, rừng biển, vùng trời, tài nguyên khoáng sản, thắng cảnh, v.v.) và tài sản do con người tạo ra bằng lao động hoặc được thừa kế, chiếm hữu hợp pháp (như đường sá, cầu cống, nhà ở, tàu thuyền, đồ dùng gia đình, tiền vốn, V.V.)

- Theo hỉnh thức sở hữu: có tài sản quốc gia (thuộc sở

hữu chung của tất cả các thành viên trong một nước hay còn gọi là sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước (tài sản công);

Trang 20

tài sản tập thể (thuộc sở hữu của một làng xã, họ tộc, tôn

giáo, công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, V.V.); tài sản hỗn

hợp (thuộc nhiều chủ sở hữu) và tài sản cá nhân (thuộc sở hữu tư nhân, là tài sản riêng của một người)

- Theo đặc điểm: có bất động s ả n (là các loại tài sản

không di dời được như đất đai, nhà xưởng, vật kiến trúc

gắn liền với đất); và động sản (là các tài sản không phải

là bất động sản như thiết bị sản xuất, kinh doanh, tàu

thuyền, đồ dùng, tra n h ảnh, đồ SƯU tầm, tiền dự trữ,

tiền cho vay, tiền gửi ngân hàng, trái phiếu, thương

phiếu, cổ phiếu, V.V.) Có những tài sản, ban đầu là bất

động sản nhưng lại có xu hướng trở thành động sản;

ngược lại có những tài sản, ban đầu là động sản nhưng

chỉ phát huy tác dụng khi được cô định ở một vị trí

thích hợp như một bất động sản Ví dụ: hoa lợi tự nhiên

chưa được th u hoạch gắn liền với đất theo lu ật là bất

động sản nhưng có thể được chủ sở hữu chuyển nhượng

quyền thu hoạch hoa lợi tự nhiên đó theo một giá nhất

định trong một m ùa như một tài sản độc lập, dù vẫn

còn gắn liền với đất và trong trường hợp này, bất động

sản đó đã được chuyển th àn h động sản Ngược lại, có

động sản được coi là bất động sản do được gắn liền với

b ất động sản, ví dụ trong cơ sở sản xuất công nghiệp,

máy móc, dụng cụ phải gắn liền với nhà xưởng; trong

sản xuất nông nghiệp, công cụ lao động, vật nuôi gắn

liền với trang trại; trong nhà ở, cửa kính gắn liền với

công trình xây dựng Từ đó, tiêu chí để phân loại là

động sản hay bất động sản còn tuỳ thuộc vào tính chất,

Trang 21

đặc điểm của tài sản như ổn định, tồn tại lâu dài và phù hợp với cÔng dụng đích thực của chúng, dù lúc đầu, khi mối được tạo ra, chúng mang tính chất khác Lợi ích của cách phân loại này được thể hiện chủ yếu trên ba phương diện: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, xác lập quyền

sở hữu do thời hiệu và th ẩ m quyển của toà án n h â n dân trong việc giải quyết các tranh chấp về tài sản

- Theo hình thái biêu hiện: có tài sản hữu hình (đất đai, nhà cửa, máy móc,v.v.) và tài sản vô hình (như quyền tác giả, quyền sáng chê phát minh); vật tiêu hao (thức ăn, xăng dầu, v.v.) và vật không tiêu hao (quần áo,

xe máy, tivi, nhà, đất,v.v.); tài sản cố định (nhà xưởng,

v.v.) và tài sản lưu động (hàng hoá, tiền von, V.V.)

- Theo mục đích sử dụng: có tài sản tiêu dùng hàng

ngày (như lương thực, thực phẩm, quần áo, phương tiện

đi lại,v.v.); tài sản dự trữ (v ận g bạc, đồ tran g sức, V.V.); tài sản kinh doanh (đất đai, chứng khoán, V.V.)

- Theo yêu cầu quản lý: có tài sản thuộc diện quản lý của Nhà nước, phải thực hiện chế độ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (như nhà, đất, phương tiện vận tải, súng thể thao, súng săn, v.v.) và tài sản không thuộc diện quản lý, không bắt buộc phải thực hiện chê độ đăng

ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (tivi, máy giặt, V.V.)

- Theo phương diện quản lý sản nghiệp: có tài sản

gốc và hoa lợi, lợi tức Tài sản gốc được hiểu như tài sản

để bảo tồn và để sản xuất ra lợi ích vật chất một cách đều đặn phục vụ cho chủ sở hữu hoặc cho người có quyền thụ hưởng lợi ích vật chất từ tài sản nhưng cũng có thể bị

Trang 22

phá tán (ví dụ, trong sòng bạc) mà chẳng sinh sản được

gì Tài sản gốc đối khi cũng không thể sinh lợi (như nhẫn

cưới, các kỷ vật của gia đình, dòng họ, V.V.) Thông thường, khả năng sinh lợi của tài sản gốc phụ thuộc vào ý

được sinh ra từ tài sản gốc mà không làm giảm sút chất liệu của tài sản gốc Trong trường hợp để thu được một lợi ích vật chất của tài sản, người ta làm giảm sút chất liệu của tài sản gốc mà không thể tái tạo bằng cách khai thác khả năng sinh sản của tài sản gốc hoặc chỉ có thể tái tạo bằng cách lặp lại chu kỳ đầu tư nhằm khôi phục chất liệu của tài sản gốc, thì lợi ích vật chất thu được gọi là sản phẩm Sự phân biệt này có ý nghĩa nhắc nhở đối với người đầu tư: nếu tài sản thu được là hoa lợi, lợi tức thì người đầu tư có thể yên tâm tiêu dùng; nhưng, nếu tài sản thu được là sản phẩm thì nên nghĩ ngay đến việc tái đầu tư để

Điều 172 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: "Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sả n", cụ thể có các loại tài sản

như: Bất động sản và động sản (Điều 181); Hoa lợi, lợi tức (Điều 182); Vật chính và vật.phụ (Điều 183); Vật chia được và vật không chia được (Điều 184); Vật tiêu hao và vật không tiêu hao (Điều 185); Vật cùng loại và vật đặc định (Điều 186); Điều 181 Bộ luật dân sự liệt kê các tài sản là bất động sản, sau đó, quy định rằng những tài sản không phải là bất động sản đều là động sản Vậy bất kỳ tài sản nào cũng chỉ có thể hoặc là bất động sản

Trang 23

hoặc là động sản Mặt khác, danh sách bất động sản do luật thiết lập và có giới hạn; còn danh sách động sản được mở rộng, có thể lập bổ sung trong thực tiễn áp dụng pháp luật mà không cần các quy tắc chi tiêt trong luật Đứng ở vị trí đầu trong danh sách bất động sản là đất đai (Bộ luật dân sự, Điều 181, khoản 1, điểm a) Chính trong mối quan hệ với đất mà các vật khác được định nghĩa là động sản hay bất động sản Ví dụ: vật được sinh

ra từ đất (như cầy cối, khoáng sản, v.v.) là bất động sản; vật gắn với đất do hoạt động có ý thức của con người và không thể tách ròi đất (như nhà, công trinh xây dựng, cơ

sở hạ tầng, v.v.) cũng là bất động sản1 Vật không cố

định trên đất (như tàu, thuyền, bàn ghê, v.v.) là động sản (kể cả vật tách khỏi đất như hoa lợi đã thu hoạch, khoáng sản đã khai thác, V.V.).

II THUẾ ĐÁNH TRÊN TÀI SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TÀI SẢN

l.Thuế tài sản

1.1 Sự ra đời của thuế tà i sản

t h u ế đánh trên tài sản là một trong những loại thuế ra đời sởm nhất trong lịch sử nhân loại với hình

1 Hiện nay, với kỹ thuật tách toàn bộ căn nhà rời khỏi mặt đât để di chuyển đền địa điểm khác, trong tương lai, có thể nhà sẽ được coi như một động sản (BT).

Trang 24

thức đầu tiền là thuế đất được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các xã hội cổ đại Thời kỳ đó, đất đai gần như là tài sản duy n h ất thực sự có giá trị Do đó, đây là đối tượng

có sẵn tốt nhất để đánh th u ế và th u ế được đánh với ý tưởng đầu tiên là dựa theo nguyên tắc lợi ích Dần dần, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hình thức của cải là tài sản khác ngày càng xuất hiện nhiều và các loại th u ế tài sản đánh vào các tài sản khác cũng được đặt ra

T heo n g h i ê n cứu củ a S e lig m a n , t h u ế đ ấ t là m ộ t trong những sắc thuế tài sản được áp dụng tại Aten (Hy Lạp cổ) vào năm 596 trước công nguyên Trong

tá c p h ẩ m C á c b à i t i ểu l u ận về th u ế n ă m 1992, Seligman đã viết là trong thời tiền La Mã cổ đại, người ta chỉ đánh t h u ế đối với bất động sản Thời La

Mã cổ đại, người ta áp dụng một h ìn h thức t h u ế có

tế n là "tributum ” (tiếng Latinh có nghĩa là đóng góp)

Quan toà địa phương thực hiện việc tính thuế tributum trên cơ sở theo dõi tài sản của từng công

thông kê) Mức th u ế đánh vào tài sản cá nhân là0,1% đền 0,3% Tributum bị bãi bỏ vào năm 167 trước công nguyên vì sau chiến tranh, th u ế tài sản đã thực

Trang 25

198 - 217 sau công nguyên), thuế thừa kế đã được áp dụng rất rộng rãi Hoàng để và họ hàng thân cận VỚI Vua được miễn thuế, những người họ hàng gần với người đã chết khi được thừa kế đất đai cũng được miễn thuế Quy định này đã khuyến khích người chết chuyển tài sản lại cho con cháu mình, bởi vì người La Mã có tập tục muốn để lại tài sản cho bạn bè hơn là cho con cái Những chi phí tang lễ được trừ vào giá trị tài sản thừa

kế với mức hợp lý để xác định căn cứ tính thuế Hoàng

để Adrian ra quy định chỉ có thế được hưởng quyền sở hữu tài sản thừa kế theo di chúc sau khi chủ sở hữu thừa kế nộp thuế

Trong luật thuế Saladin (năm 1188) - một luật thuế tài sản được ban hành nhằm phục vụ cuộc Thập tự chinh Thiên chúa giáo lần thứ III, thuế suất được quy định là 10% áp dụng với tiền cho thuế tài sản

Tại nhiều nước châu Âu, thuế tài sản được sử dụng làm nguồn thu chủ yếu phục vụ Vua và hoàng tộc Nhà Vua ban đất đai cho giới quý tộc và được hưởng các vật công nạp do nông nô các nông trại sản xuất ra, chủ yếu

là lương thực, thực phẩm, một hình thủc đẩu tiền về nộp thuế tài sản bằng hiện vật

Vào thế kỷ thứ XIII, các hình thức quản lý hành chính mới được hình thành Lãnh chúa giao đất cho nông dân và thu thuế bằng nông sản Luật thuế Alsno năm 1280 đã có sự phân biệt nghĩa vụ thuế của những người nông dân bình thường Trong thời kỳ đó, nhà thờ

Trang 26

đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống chính trị của châu Âu và sở hữu nhiều đất đai, nhưng đất đai của nhà thờ được miễn thuế Giai cấp nông dân không phải là chủ sở hữu đất, chỉ nhận đất của nhà thờ hay của các lãnh chúa và theo luật Alsno, họ mới chính là người nộp thuế Loại thuế đất ra đời vào thế kỷ thứ XIII được duy trì rất lâu và sau đó, được chuyển dần thành thuế đánh trên tài sản thuộc sở hữu nông dân và ngày nay tồn tại dưới hình thức thuế đánh trên tài sản thuộc sở hữu của các tầng lớp dân cư.

Trước thế kỷ XX, khi thuế thu nhập chưa xuất hiện

và áp dụng phổ biến thì thuế tài sản chiếm vai trò quan trọng trong các loại thuế trực thu

Hiện nay, tất cả các nước trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đều áp dụng việc đánh th u ế tài sản với các hình thức khác nhau và khá phức tạp Tài sản được định nghĩa chung là toàn bộ sản nghiệp gồm cả bất động sản, động sản mà chủ sở hữu có được

t h u ế có thể đánh trên toàn bộ tài sản hoặc một phần tài sản của chủ sở hữu (đất đai, nhà cửa, đồ trang sức bằng

đánh trên hoạt động chuyển dịch một số tài sản dưới hình thức không thu tiền (thừa kế, quà biếu, v.v.) hoặc chuyển nhượng có thu tiền (mua bán, trao đổi) T huế có thể đánh trên toàn bộ giá trị, trên giá trị ròng của tài sản hoặc tính trên thu nhập do tài sản tạo ra

Trong xu th ế phát triển của th u ế thu nhập tại các

Trang 27

nước, vai trò quan trọng của thuế tài sản bị giảm dần, phổ biến chiếm dưới 5% tổng số thu ngân sách nhà nước Riêng ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh, thuế tài sản chiếm từ 10% đển 12% trong số thu ngân sách nhà nước Phần lớn các nước đều phân cấp, phân quyền cho địa phương quy định mức thu, tổ chức quản lý và sử

dụng khoản thu này (số thu từ thuế tài sản thường giữ

vị trí quan trọng trong tổng ngân sách địa phương, khoảng 70-80%)

ở châu Á-Thái Bình Dương, th u ế tài sản, đặc biệt

là thuế nông nghiệp được áp dụng phổ biến ở các nước với đối tượng nộp thuế chủ yếu là nông dân ở ấ n Độ, trước đây thuế nông nghiệp đánh rất nặng, có khi động viên đến 50% tổng hoa lợi thu được nên đã trở thành nguồn thu rất lớn Tuy vậy, tỷ lệ th u ế đất

trong tổng số thu ngân sách nước này ngày càng giảm

dần; cụ thể là trong các năm 1793 -1794, th u ế đất chiếm đến 69% tổng số thuế, đã giảm xuống còn 36% trong những năm 1891-1892 và 16% vào những năm

1893 - 1939; đến nay chỉ còn khoảng 1% ở Đài Loan,

tỷ lệ này cũng giảm từ 2,7% vào năm 1975 xuống còn0,3% vào năm 1987,V.V Đây cũng là xu th ế chung tại nhiều nước châu Á Theo phân tích của các nhà nghiên cứu về thuế thì vai trò của th u ế đất giảm có phần do GDP tạo ra trong khu vực nông nghiệp đang giảm nhiều so với GDP trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân của các nước

Trang 28

Xu hướng cải cách thuế tài sản trên th ế giới là mở rộng diện đánh th u ế với đất và nhà; th u ế đánh trên trị giá tài sản ròng; thuế đánh trên tài sản thừa kế, V.V Thuế quà tặng cũng được áp dụng ở một số nước nhưng

kết quả thực hiện còn hạn chế Ví dụ, Thụy Sỹ là nước

mà thuế quà tặng (3%) chiếm tỷ lệ cao nhất về th u ế trong khôi OECD

1.2 K h á i niệm về t h u ế tà i sả n

Thuế đánh trên tài sản thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, với các tế n gọi khác nhau tuỳ thuộc vào chính sách th u ế của từng nước, song đểu có những tến gọi chủ yếu là: th u ế mua tài sản; thuế đất; thuế trị giá tăng thêm của đất; thuế nhà; thuế của cải đánh trên trị giá tài sản ròng (trị giá tài sản sau khi đã trừ đi các chi phí và các khoản vay mua tài sản) của cá nhân; thuế bất động sản (đánh chung trên cả nhà, đất); thuế chuyển nhượng tài sản (vốn, trái phiếu, nhà đất, V.V.);

th u ế đãng ký tài sản (ở Việt Nam là lệ phí trước bạ ); thuế thừa kế, thuế quà tặng (đánh vào tài sản được thừa kế hoặc được tặng biếu)

Nhìn chung, thuế đánh vào tài sản, đầu tiền là thuế đất, dựa chủ yếu vào diện tích, sau đó, đến các của cải khác như nhà cửa, gia súc, công cụ, V.V ở một số nước, th u ế tài sản đánh vào thiết bị, hàng tồn kho của

các doanh nghiệp và trang trại hoặc đánh vào tài sản

cá nhân như xe ô tô, vậng, bạc, đá quý, đồ dùng trong nhà, các dụng cụ lao động có giá trị của thợ thủ công,

Trang 29

các hợp đồng, phiếu nợ, phiếu cầm cố Thuế tài sản được đánh giá là loại thuế trực thu động viên tượng đối sát với khả năng đóng góp thực tế của người nộp thuế bởi vì thuế đánh vào tài sản, đặc biệt là nhà, đất dễ được nhận biết hơn là thuế đánh vào thu nhập hoặc tiêu dùng.

Như vậy, th u ế tài sản là tên gọi đề chỉ sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế Đây là một trong ba

loại thuế theo cách phân loại dựa vào đối tượng đánh thuế Theo cách phân loại dựa vào các yếu tố kinh tế bị đánh thuế (đối tượng đánh thuế) thuế được chia làm ba loại: thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập tích luỹ đã được vật hoá dưới dạng tài sản)

Việc phân biệt rõ đối tượng đánh thuế tài sản với đối tượng đánh thuế thu nhập và thuế tiêu dùng là hêt sức quan trọng để không đánh thuế chồng chéo vào những thu nhập có cùng tính chất Từ đó, xác định chính xác thời điểm cũng như cơ sở đánh thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản

Ví dụ, trường hợp đem bán một tài sản đang có: Đối với người bán, tài sản đã được thay đổi hình thái từ hiện vật thành tiền Hoạt động bán hàng thông thường phải nộp thuế tiêu dùng (GTGT) cũng cần xem đây có phải là tài sản kinh doanh hay không kinh doanh Nếu

là tài sản kinh doanh thì người bán đã được khấu trừ

th u ế lúc mua nay cần đánh thuế để thu tiếp số thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của giai đoạn này

Trang 30

Nếu là tài sản tiêu dùng không phục vụ sản xuất, kinh doanh thì không cần đánh thuế nữa Người mua sẽ tự động chịu khoản thuế này trong giá mua s ố t h u ế tiêu dùng đã được Nhà nước thu đủ từ trước Đối với người mua, tài sản sẽ trở th àn h đối tượng tính thuế tài sản theo quy định của pháp luật khi họ nhận được quyền

sở hữu hoặc trong quá trình lưu giữ tài sản (thuế đánh một lần vào thòi điểm tài sản được chuyển nhượng hoặc được mua hoặc th u ế đánh hàng năm đối với tài sản lưu giữ) Nếu người đó lại đem bán tài sản này và thu được một khoản tiền cao hơn so với giá vốn ban đầu của tài sản đó thì anh ta được coi là đã có thu nhập và phải chịu thuế thu nhập Thu nhập này là phần chênh lệch giữa tiền thu về bán tài sản và giá vốn của tài sản cùng với các chi phí liên quan đến việc nhượng bán tài sản

1.3 Các q u a n đ iểm về viêc đ á n h thuế tà i sản:

Việc đánh th u ế tài sản đã trở thành đề tài thảo luận sối nổi, thậm chí gay gắt trong một số cuộc hội thảo quốc tế xuất phát từ hai quan điểm khác nhau:

nên hay không nên đánh th u ế tài sản?

a) Quan điểm ủng hộ việc đánh thuế tài sản: thường dựa trên những luận điểm chủ yếu sau đây:

- Một là, sử dụng nhiều hình thức thuế, trong đó có

th u ế tài sản, đánh vào các dạng tồn tại khác nhau của

thu nhập là cần thiết để bảo đảm yêu cầu bao quát hết

các đối tượng đánh thuế, thực hiện được các mục tiêu

Trang 31

công bằng và hiệu quả của chính sách thuế Điều này

có th ể được lý giải bởi ba lý do sau:

+ về lý thuyết thì chỉ cần đánh thuế thu nhập là đủ

vì tất cả các khoản thuế suy cho cùng đều được trích từ thu nhập của các công dân Song, nếu chỉ đánh thuế thu nhập thì mức thuế sẽ rất cao dẫn đền có thể cản trở các hoạt động tạo ra thu nhập, cảm giác bề ngoài về việc đánh thuế cao vào thu nhập là sự thiếu công bằng: những người làm ra nhiều của cải cho xã hội, có nhiều thu nhập lại bị đánh thuế nhiều Hơn nữa, nếu chỉ đánh thuế vào thu nhập thì khả năng rủi ro về thất thu thuế sẽ cao Việc đánh thuế vào tài sản sẽ tạo điều kiện giảm bớt mức thuế suất đánh vào thu nhập Ngoài ra đánh thuế vào tài sản cho phép động viên thêm vào phần thu nhập chưa bị đánh thuế và cả những thu

động bóp méo của thuế do thuế thu nhập và th u ế tiêu dùng gây ra

+ Không một sắc thuế đơn lẻ nào có khả năng đồng thời đáp ứng được các mục tiêu công bằng, hiệu quả và không có tác động bóp méo đối với nền kinh tế Chính vì vậy, trên thực tế, các quôc gia đều phải sử dụng một hệ thông thuế gồm tổng hợp nhiều sắc thuế, mỗi sắc th u ế

có đặc điểm, tính chất, kỹ thuật ban hành và mục tiêu khác nhau dể bố sung, hỗ trợ nhau trong việc đáp ứng các mục tiêu chung của cả hệ thống chính sách thuế

+ Mỗi hình thức thuế tài sản có ưu điểm riêng và có

Trang 32

thể đạt được các mục tiêu chính sách xã hội mà các loại• • • • •

th u ế khác không thể đạt được

- Hai Là, việc đánh th u ế tài sản x u ất phát từ nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích Những người được hưởng lợi

ích nhiều phải nộp thuế nhiều hơn v ề vấn đề này, người

ta cho rằng tài sản được bảo tồn, phát triển và sinh lời là

do được thừa hưởng rất nhiều lợi ích từ các dịch vụ công

cộng của Nhà nước Các dịch vụ công cộng làm tảng

thêm giá trị của một số tài sản Chẳng hạn, trị giá nhà

đất có thể tăng lên rất nhiều nhò việc Nhà nước cải tạo

và mở rộng đường sá, cải thiện chất lượng cung cấp điện

nước, xây dựng thêm khu vui chơi giải trí thuận lợi, V.V

Trị giá của tài sản đã tăng lên mà không cần có sự đầu

tư nào của chủ sở hữu tài sản Bên cạnh đó, có một số tài

sản cá nhân được Nhà nước quản lý, theo dõi, bảo vệ

bằng một số biện pháp hành chính đặc biệt có lợi cho các

chủ sở hũu tài sản: công nhận và bảo hộ quyền sở hữu

tài sản, quyền thừa kế, quyền sử dụng tài sản, bảo vệ tài

sản trong trường hợp bị mất cắp, thất lạc, V.V Như thế,

người có những tài sản này cũng cần phải đóng góp một

khoản tiền nh ất định cho N hà nước để tran g trải các chi

phí mà Nhà nước đã chi ra trước đó Từ luận điểm này,

việc đánh thuế tài sản thường được xem xét trên giá trị

lợi ích khác nhau về các dịch vụ công cộng mà từng chủ

tài sản đã được hưởng Có nghĩa là, th u ế tài sản cần

phải đánh trên giá trị ròng của tài sản, tức là chếnh lệch

giữa tổng giá trị tài sản với giá trị tài sản nợ Đồng thời,

Trang 33

mức động viên của loại thuế này chỉ nên giới hạn

trong phạm vi để bù đắp các khoản chi của Nhà nước

cho các dịch vụ công cộng và quản lý tư pháp liên quan đến tài sản

- Ba là, thuế tài sản m ang tính chất là loại thuế bổ sung cho thuế đánh trên thu nhập còn nhiều nhược điểm, đặc biệt ở các nước mà diện đánh thuế thu nhập

cá nhân còn hạn hẹp và trình độ quản lý yêu kém Thực

tế cho thấy thu nhập, đặc biệt là thu nhập từ vốn không dễ dàng nhìn thấy được nhưng bất động sản, động sản lại rất dễ dàng nhận biết t h u ế đánh vào tài sản cho phép tính đến khả năng toàn bộ của người nộp thuế một cách đầy đủ nhất Sự giàu có được thể hiện bằng lượng của cải mà người ta sở hữu hơn là lượng tiền mà người ta chi tiêu t h u ế tài sản sẽ góp phần

thúc đẩy hoạt động kinh tế vì nó khuyến khích người sở

hũu tài sản sử dụng vốn, tài sản có hiệu quả t h u ế này chỉ động chạm tới một phần thiểu số dân cư là những người giàu có nên dễ tranh thủ được sự đồng tình ủng

hộ của đại đa số các tầng lớp dân cư Chính vì lẽ đó, việc đánh thuế tài sản có tác dụng bổ sung cho việc đánh thuế thu nhập còn nhiều nhược điểm: diện đánh thuế tài sản rộng hơn diện đánh thuế thu nhập, bao gồm mọi tài sản, không phân biệt tài sản đó có mang lại thu nhập hay không Hơn nữa, qua thuế tài sản còn động viên một phần thu nhập ngầm được tài sản hoá, góp phần phân phối lại thu nhập, bảo đảm công bằng

Trang 34

xã hội Ngoài ra, việc đánh th u ế tài sản sẽ có thêm cơ hội để hạ bớt thuế suất thuế thu nhập, làm cho sắc thuế này dễ được đông đảo quần chúng nhân dân chấp nhận Thực hiện đánh thuế tài sản theo quan điểm này đòi hỏi cơ sở đánh th u ế xác định phải là giá trị ròng và thuế đánh vào tài sản cá nhân, mức động viên cần đánh đồng nhất vào các loại tài sản.

- b ổ n là, đánh thuế tài sản là một trong những biện

pháp can thiệp của Nhà nước trong việc giải quyết sự không công bằng về phân phối tài sản giữa các tầng lớp dân cư Người ta cho rằng tình trạng phân phối tài sản không công bằng trong xã hội dễ nhận thấy hơn trong phân phối thu nhập và tiêu dùng, vì vậy, Nhà nước với chức năng quản lý xã hội phải có biện pháp can thiệp

để hạn chế tình trạng này một cách riêng biệt, độc lập Một trong những biện pháp can thiệp đó là áp dụng

th u ế tài sản Với quan điểm này, đòi hỏi th u ế tài sản phải đáp ứng được yêu cầu: phải thể hiện được tính chất của loại thuế cá nhân; th u ế phải đánh trên tấ t cả

sản; và giá tính th u ế phải là trị giá ròng chứ không phải là tổng trị giá tài sản

- N ăm là, thuế tài sản còn phục vụ yêu cầu điều

chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm của các tác nhân trong nền kinh tế Việc đánh

th u ế tài sản sẽ làm hạn chế ý thích tiết kiệm, tích luỹ bằng tài sản và khuyến khích tăng tiêu dùng hoặc đầu

Trang 35

tư sản xuất, kinh doanh Qua đó, góp phần thực hiện tốt chủ trương kích cầu để thúc đẩy phát triển kinh tế -

xã hội

- S á u là , thuế tài sản, đặc biệt là các loại thuế đãng

ký, thường dễ thu vì người có tài sản thường có tâm lý muốn đãng ký để được Nhà nước xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp và bảo hộ đối với một số tài sản có giá trị Yêu cầu cần được xem xét là mức động viên phải phù hợp khả năng đóng góp của đại bộ

phận các đối tượng nộp thuế, đặc biệt với những tài sản

đã qua nhiều lần chuyển chủ sở hữu, n h ữ n g tài sản có giá trị quá lớn được nộp thuế tài sản với mức hợp lý

Như vậy, đã có cơ sở lý luận và thực tiễn làm luận

cứ cho sự cần thiết khách quan của việc đánh thuế tài sản, qua đó có thể thấy thuế tài sản là một loại thuế cần thiết nhằm khắc phục những khiếm khuyết của thuế thu nhập cá nhân, đặc biệt là đối với những nước

mà chế độ thuế thu nhập cá nhân có diện đánh thuế hẹp

và bị hạn chế do năng lực thực hiện Cùng với các loại thuế khác, thuế tài sản cho phép thực hiện được các mục tiêu, yêu cầu đề ra về tài chính, kinh tế, xã' hội, v.v

đồng thời phát huy tác dụng hỗ trợ có hiệu quả cho thuế đánh vào thu nhập và tiêu dùng trong hệ thống thuế Đó cũng là lý do mà thuế tài sản ra đời từ lâu và đang được nhiều nước sử dụng, cả trong giai đoạn hiện nay mà xu thế cải cách hệ thông chính sách thuế là theo hướng đơn giản, giảm bớt các loại thuế Tuy nhiên,

Trang 36

trong một hệ thống thuế gồm nhiều loại th u ế thu nhập có diện đánh thuế mở rộng thì hình thức thuế tài sản đánh vào những tài sản do thu nhập tạo ra (như các tài sản kinh doanh hoặc cổ phiếu của công ty) đã chịu thuế thu nhập có thể đẫn đến tình trạng đánh thuế trùng vào khoản tiết kiệm và vì vậy, sẽ không mang lại hiệu quả kích thích các đối tượng tạo ra thu nhập trong xã hội Do vậy, việc đánh thuế tài sản cần được phân tích, xem xét thận trọng trong mối quan hệ với các loại thuế khác, đặc biệt là với các loại thuế trực thu để thuế tài sản vừa đáp ứng yêu cầu tăng thu cho ngân sách nhà nước một cách hợp lý, vừa khắc phục được sự trùng lặp, chồng chéo trong cách đánh thuế vào thu nhập, không kìm hãm phát triển sản xuất, kinh doanh và không làm nhụt ý chí làm giàu chính đáng, mua sắm tài sản của các tầng lớp dân cư.

Ngoài ra, cũng cần chú ý rằng việc quản lý th u ế tài sản có nhiều khó khăn, phức tạp vi khả năng che giấu tài sản (trừ tài sản là nhà, đất) và che giấu giá trị thực

tế của tài sản là rấ t lớn và phổ biến, từ đó, có thể dẫn đến việc đánh thuế thiếu công bằng giữa những người

có giá trị tài sản giông nhau Vì vậy, cần phải tính toán, xây dựng các biện pháp quản lý thu thuế sát đúng, mang tính khả thi, hạn chế thấp nhất những sở hở tạo

ra trôn, lậu thuế

b) Quan điểm Phân đối việc đánh th u ế tài sản: Không phải bao giờ việc đánh th u ế tài sản cũng nhận được sự ủng hộ tuyệt đối, nhiều nhà nghiên cứu

Trang 37

đã Phân đối việc đánh th u ế tài sản với những luận điểm chủ yếu là:

Thứ nhất, tài sản được hình thành trong quá trình

tích luỹ thu nhập đã từng bị đánh thuế thu nhập; khi mua sắm tài sản, người mua đã chịu thuế tiêu dùng nằm trong giá tài sản (như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu)

hoặc trong một số bộ phận cấu th à n h tài sản Như vậy,

nếu thu thuế tài sản thì thuế bị đánh trùng lắp

- T h ứ hai, việc đánh t h u ế t r ê n tài sản b ằ n g vật chất cất giữ, không tạo ra thu nhập mới đã mang tính chất tước đoạt một phần tài sản của chủ sở hữu Nêu xây dựng thuế suất cao thì trong một thòi gian dài, có thế coi như chủ sở hữu không còn nắm giữ được tài

sản đã có (ví dụ, với th u ế suất 5% thì trong 20 năm

tài sản của cá nhân được chuyển toàn bộ sang tài sản của Nhà nước)

- Thứ ba, thuế tài sản có thể gây ra những tác động

không tốt về hiệu quả kinh tế Nếu thuế suất không hợp lý sẽ làm nản lòng các chủ sở hữu tài sản trong việc đưa tài sản vào đầu tư hoặc không phấn khởi mạnh dạn đầu tư lao động, tiền vốn, tạo ra nhiêu thu nhập để mua sắm tài sản

- Thứ tư, về mặt quản lý, thuế tài sản gặp nhiều

khó khăn, phức tạp vì khả năng che giấu tài sản và che giấu giá trị thực của tài sản (trừ bất động sản) là rất lớn và phổ biến Điều này dễ dẫn đến tình trạng không

Trang 38

công bằng về nghĩa vụ nộp thuế giữa những người có

giá trị tài sản như nhau

2 Vai trò của thuế tài sản

Vai trò chủ yếu của th u ế tài sản là bảo đảm công

bằng xã hội, góp phần quản lý và điều tiết vĩ mô nền

kinh tế, tạo nguồn thu quan trọng cho ngân sách địa

phương

2.1 t h u ế tà i sả n góp p h ầ n bảo đ ả m công b ằ n g

xã hội:

công bằng xã hội là mục tiêu, đồng thòi cũng là vai

trò cơ bản của thuế tài sản được thể hiện ở hai khía

cạnh: công bằng theo chiêu ngang và công bằng theo

chiều dọc Trong xã hội, một sei cá nhân nắm giữ một

lượng tài sản có giá trị lớn, thu được một số lợi ích nhất

định về sự an toàn và khả năng chi tiêu độc lập, thoải

mái Những lợi ích đó càng tăng khi tài sản có giá trị

lớn và tạo ra nhiều thu nhập mới cho chủ sở hũu Vì

vậy, người có giá trị tài sản ngang nhau phải đóng góp

thuế tài sản cho ngân sách nhà nước giông nhau và

người có tài sản nhiều hơn người khác phải nộp thuế tài

sản nhiều hơn là điều hợp lý, công bằng, phù hợp khả

năng đóng góp cụ thể của từng người

Nhìn chung ở các nước, thu nhập, đời sống của dân

cư thành thị cao hơn nhiều so với dân cư nông thôn gắn

với tình hình chếnh lệch lớn về tài sản giữa các vùng

Ngay trong một thành phố, đại bộ phận dân cư thuộc

Trang 39

tầng lớp nghèo không có tài sản gì đáng giá nhưng một

số ít người giàu lại có nhiều tài sản với giá trị cao, đặc

biệt là bất động sản, phương tiện đi lại, vật dụng trang

sức Ví dụ ở Pháp, tài liệu thông kế năm 1997 cho biết:

10% số hộ gia đình giàu có nhất nắm giữ tới 53% tổng

giá trị tài s.ản ròng của toàn xã hội, trong khi đó 50% số

hộ gia đình còn lại chỉ nắm giữ 6% Điều đó có nghĩa là

tài sản đã được tập trung quá mức vào một số ít người

trong xã hội và việc đánh thuế vào tài sản sẽ có tác dụng

bổ sung cho thuế thu nhập trong việc tái phân phối của

cải xã hội, giảm bớt chếnh lệch quá đáng về gia sản giữa

các cá nhân

t h u ế tài sản còn Phân ánh mối quan hệ công bằng

giữa các thế hệ Tuổi tác cao thường là yếu tô quan trọng

về khả năng tích luỹ, tập trung nhiều tài sản qua một

quá trình tiết kiệm, mua sắm lâu dài, w Việc đánh

thuế vào tài sản có giá trị lớn sẽ góp phần điểu chỉnh

mối quan hệ động viên về thuế hợp lý giũa các tầng lớp

trẻ đang cần cù lao động để xây dựng đất nước, người già

yếu cố đơn cần được trợ giúp với những người đang cất

giữ nhiều tài sản có giá trị cao; qua đó, tăng cường đoàn

kết nội bộ, bảo đảm công bằng trong chính sách động

viên nhân tài vật lực, giảm bớt khoảng cách chếnh lệch

quá đáng về thu nhập, đòi sống giữa các thế hệ

2.2 t h u ế tà i sản là công cụ qu a n trọn g để

q u ản lý điều tiết v ĩ mô nền kinh tế:

Thu nhập xã hội thường được sử dụng vào tiêu

Trang 40

dùng, đầu tư, tiết kiệm hoặc tích luỹ mua sắm tài sản

cất giữ, V.V Sau khi có thu nhập, mỗi người thường

phải suy tính tìm ra cách sử dụng thu nhập một cách

hợp lý nhất cho mình

Theo nhà kinh tế học người Anh J Keynes: “Con

người có thiên hướng tăng tiêu dùng cùng với tăng thu

nhập nhưng tốc độ tăng thu nhập thường cao hơn tăng

tiêu dùng" Phần còn lại của thu nhập được dùng vào

đầu tư, tiết kiệm hoặc mua sắm tài sản T huế tài sản

đánh vào nhà ở cao tầng, biệt thự hoặc tiền lãi tiết

kiệm sẽ có tác dụng khuyến khích việc sử dụng thu

nhập vào đầu tư, tăng cường trang thiết bị cho sản

xuất, kinh doanh, thiết thực phục vụ yêu cầu quản lý

và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Chính phủ

2.3 t h u ế tà i s ả n là nguồn thu q u a n tro n g của

n g â n s á c h đ ỉa phương:

t h u ế đánh vào bất động sản thường chiếm chủ vếu

trong tổng số thu từ thuế tài sản Bất động sản thuộc

loại tài sản cố định, không thể di chuyển, ít khả năng

trốn lậu thuế, dễ quản lý thu thuế, có thể ước tính số

thu tượng đối ổn định, việc thay đổi th u ế suất không

gây tác động đến giá cả, tiêu dùng xã hội Do đó, chính

quyền địa phương có nhiều điều kiện sâu sát nắm chắc

biến động về sử dụng đất đai để quản lý, thu thuế, xử lý

vi phạm thích hợp về th u ế đánh vào bất động sản

Đây cũng là nguồn thu chủ yếu nhằm đáp ứng các

nhu cầu dịch vụ công cộng thường rấ t khác nhau giữa

Ngày đăng: 12/09/2015, 10:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thức  đánh th u ế  tôi  ưu  là th u ế  tài sản  đánh  trên  trị - thuế tài sản kinh nghiệm thế giới và hướng vận dụng tại việt nam
nh thức đánh th u ế tôi ưu là th u ế tài sản đánh trên trị (Trang 94)
Hình  thức  này có  thể lựa  chọn  một trong  hai cách: - thuế tài sản kinh nghiệm thế giới và hướng vận dụng tại việt nam
nh thức này có thể lựa chọn một trong hai cách: (Trang 99)
Bảng 2  và  3).  '. y   -  ^  ; - thuế tài sản kinh nghiệm thế giới và hướng vận dụng tại việt nam
Bảng 2 và 3). '. y - ^ ; (Trang 156)
Hình thức  thuế sau  đây: - thuế tài sản kinh nghiệm thế giới và hướng vận dụng tại việt nam
Hình th ức thuế sau đây: (Trang 183)
Bảng  1 KẾT QUẢ THU  THUẾ s ử  DỤNG ĐẤT (SỬ DỤNG  ĐẤT  NÒNG  NGHIỆP, - thuế tài sản kinh nghiệm thế giới và hướng vận dụng tại việt nam
ng 1 KẾT QUẢ THU THUẾ s ử DỤNG ĐẤT (SỬ DỤNG ĐẤT NÒNG NGHIỆP, (Trang 210)
Bảng  8A  (đất ở) - thuế tài sản kinh nghiệm thế giới và hướng vận dụng tại việt nam
ng 8A (đất ở) (Trang 221)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w