PHẦN ILÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.Tổng quan về Môi trường kinh doanh 1.1.Khái niệm về môi trường kinh doanh Môi trường là tổng thể các yếu tố, các nhân tố
Trang 1PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.Tổng quan về Môi trường kinh doanh
1.1.Khái niệm về môi trường kinh doanh
Môi trường là tổng thể các yếu tố, các nhân tố (bên ngoài và bên trong) vận động tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp và giãn tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Xuất phát từ quan niệm này có thể coi môi trường kinh doanh là giưới hạn không gian mà ở đó doanh nghiệp tồn tại phát triển sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào dù quy mô như thế nào hoặc kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau đi chăng nữa bao gời cũng là quá trình vận động không ngừng trong một môi trường kinh doanh đầy biến động.
Mở rộng: Sự phát triển có hiệu quả và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, suy
cho cùng phụ thuộc vào kết quả của các phần tử cấu thành - các doanh nghiệp Mức
độ đạt được hệ thống mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi doanh nghiệp lại phụ thuộcvào môi trường kinh doanh và khả năng thích ứng của doanh nghiệp với hoàn cảnhcủa môi trường kinh doanh
Các yếu tố, các điều kiện cấu thành môi trường kinh doanh luôn luôn có quan
hệ tương tác với nhau và đồng thời tác động đến hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, nhưng mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố, điều kiện lại khácnhau Trong cùng một thời điểm, với cùng một đối tượng có yếu tố tác động thuận,nhưng lại có yếu tố tạo thành lực cản đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Các yếu tố, điều kiện tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không cốđịnh một cách tĩnh tại mà thường xuyên vận động, biến đổi Bởi vậy, để nâng cao hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản trị phải nhận biết một cách nhạy bén
và dự báo đúng được sự thay đổi của môi trường kinh doanh
1.2.Các loại môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau Xét theo cấp độ tácđộng đến sản xuất và quản trị doanh nghiệp, có cấp độ nền kinh tế quốc dân và cấp độ
ngành Ngoài ra còn có môi trường quốc tế
Trang 2Ở cấp độ nền kinh tế quốc dân (còn gọi là môi trường vĩ mô, môi trường tổng quát),
các yếu tố(bối cảnh) môi trường bao gồm:
- Môi trường chính trị - pháp lý
- Môi trường kinh tế
- Môi trường văn hóa - xã hội
- Môi trường kỹ thuật - công nghệ
- Môi trường dân số và lao động
- Môi trường điều kiện tự nhiween, cơ sở hạ tầng
- Những đối tượng hữu quan bên ngoài
Ở cấp độ ngành (còn gọi là môi trường tác nghiệp hay môi trường ngánh), các yếu tố
môi trường bao gồm:
- Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành
- Áp lực của các sản phẩm thay thế
- Áp lực của các đối thủ cạnh trang tiềm ẩn
- Áp lực của các nhà cung cấp
Trang 3- Áp lực của khách hàng
Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter
Môi trường tác nghiệp được xác định đối với một ngành công nghiệp cụ thể, với tất cảcác doanh nghiệp trong ngành chịu ảnh hưởng của môi trường tác nghiệp trong ngànhđó
Môi trường nội bộ doanh nghiệp
- Phân tích theo chuỗi giá trị của M.Porter
- Các phân tích bổ sung: tình hình tài chính doanh nghiệp;văn hóa doanh
nghiệp; uy tín, danh tieengscuar doanh nghiệp; lãnh đạo doanh nghiệp
- Các đối tượng hứu quan bên trong
Trang 4PHẦN 2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA NGÀNH KINH
DOANH DU LỊCH TẠI VIỆT NAM
2.1.Lịch sử hình thánh và phát triển của ngành Du lịch Việt Nam
Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đại cho lập Sở
Du lịch Quốc gia ngày 5 Tháng Sáu, 1951 Chuyển tiếp sang thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, Nha Quốc gia Du lịch điều hành việc phát triển các tiện nghi du lịch trong nước ởphía nam vĩ tuyến 17 cùng tăng cường hợp tác quốc tế như việc gửi phái đoàn tham
dự Hội nghị Du lịch Quốc tế ở Brussel năm 1958 Năm 1961 Nha Du lịch cổ động du lịch "Thăm viếng Đông Dương"với ba chí điểm: Nha Trang, Đà Lạt và Vũng Tàu Vì chiến cuộc và thiếu an ninh ngành du lịch bị hạn chế nhưng chính phủ vẫn cố nâng đỡ
kỹ nghệ du lịch như việc phát hành bộ tem "Du lịch" ngày 12 Tháng Bảy năm 1974 Đối với miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam được tính là ngày 09 tháng 7 năm 1960
Ngày 16/3/1963 Bộ Ngoại thương ban hành Quyết định số 164-BNT-TCCB quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam
Ngày 18/8/1969 Chính phủ ban hành Nghị định số 145 CP chuyển giao Công
ty Du lịch Việt Nam sang cho Phủ Thủ tướng quản lý
Ngày 27/6/1978 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quyết nghị số 262 NQ/QHK6 phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Du lịchViệt Nam trực thuộc Hội đồng Chính phủ
Ngày 23/1/1979 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 32-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch Việt Nam
Ngày 15/8/1987 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 120-HĐBT về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch
Ngày 9/4/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 119-HĐBT thành lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam
Ngày 31/12/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 447-HĐBT về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch
Ngày 26/10/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục
Du lịch
Trang 5Ngày 27/12/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 20-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.
Ngày 7/8/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 53/CP về cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch
Ngày 25/12/2002 Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV về việccho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam
Khẩu hiệu của ngành du lịch Việt Nam qua các giai đoạn
2001-2004
Việt Nam - Điểm đến của thiên niên
kỷ mới Vietnam - A destination for the new millennium
Logo bị đánh giá là
"khó hiểu"
* Đặc điểm
Dịch vụ du lịch ngoài những đặc điểm chung còn có những đặc điểm sau:
- Là sản phẩm tổng hợp cần sự phối hợp của nhiều ngành
- Như cầu du lịch của khách thuộc laoi như cầu hông cơ bản nên rất dễ
thay đổi, do đó dịch vụ du lịch có tính linh động rất cao
- Dịch vụ du lịch có tính mùa vụ lớn
- Khác với các loại dịch vụ khác, thông thường mỗi loại dịch vụ du lịch
được sử dụng nhiều lần và kéo dài suốt hành trình của kháh hàng(dịch vụ hướng dẫn viên dịch vụ cung cấp thông tin , dịch vụ tư vấn,…) Đối với doanh nghiệp khác thời gian tiếp xúc giữa người mua và người bán chỉ một lần
- Dịch vụ du lịch giải quyết được nhiều việc làm và mang lại nhiều lợi nhuận
- Điều kiện để tự động hóa dịch vụ du lịch là không thể có
Trang 6Du khách nước ngoài đến Việt Nam, theo năm :
Năm Du khách từ nước ngoài Thay đổi
Trang 8Trấn Ba Đình (trái) và cầu Thê Húc bên
bờ hồ Gươm, Hà Nội
Chùa Trấn Quốc - Hồ Tây- Hà Nội
Hòn Gà chọi, Vịnh Hạ Long Cố đô Huế
Thành phố Hồ Chí Minh Đà Lạt
Trang 9Bãi biển Nha Trang,Khánh Hòa Sa Pa, Lào Cai
Đền Hùng- tỉnh Phú Thọ Tràng An ở Ninh Bình
Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà Vườn quốc gia Tràm Chim
Trang 10Vì thời gian có hạn và phần nghiên cứu rất rộng nên trong phạm vi của bài em xin phân tích gọn một số yếu tố của môi trường kinh tế quốc đân và đi sâu vào phần môi trường ngành của M.Porter.
2.2.Môi trường kinh tế quốc dân đối với ngành du lịch Việt Nam
* Môi trường chính trị - pháp luật:
Là nội dung không thể xem nhẹ khi phân tích môi trường vĩ mô Bao gồm: luật
pháp, các chính sách và cơ chế Nhà nước đối với ngành kinh doanh Bất cứ sự thay đổi về chính sách hay chế độ của Nhà nước đều có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp du lịch Ngành du lịch là một trong các ngành rất nhạy cảm với các sự kiện như: ổn định chính trị, thể chế chính trị và tập trung quyền lực, quan hệ quốc tế, đường lối đối ngoại, các chính sách xã hội của Nhà nước, hệ thống luật pháp điều chỉnh, các hoạt động kinh doanh (doanh nghiệp, luật đầu tư, luật bảo vệ người tiêu dùng, luật môi trường ), văn bản quy phạm pháp luật du lịch, đườnglối phát triển du lịch của trung ương và địa phương, luật bảo vệ sức khỏe, an toàn vệ sinh thực phẩm, chống tệ nạn xã hội, quan hệ quốc tế Mỗi yếu tố trong thể chế, chính sách này hoặc là nâng cao hàng rào hoặc hạ thấp hàng rào vào thị trường du lịch và ra thị trường du lịch
* Môi trường văn hóa – xã hội:
Là cơ sở để tạo ra sản phẩm du lịch và tìm hiểu hành vi tiêu dùng của khách du
lịch Phân tích các chuẩn mực và giá trị văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, sắc tộc, học vấn
và ảnh hưởng của giao lưu văn hóa đến tiêu dùng du lịch Môi trường văn hóa – xã hộihình thành nên thói quen tiêu dùng của các nhóm dân cư, từ đó hình thành nên thói quen cư xử của khách hàng trên thị trường Văn hóa quy định cách thức mà doanh nghiệp có thể dùng để giao tiếp với bên ngoài Văn hóa ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển nền văn hóa bên trong của doanh nghiệp Lối sống con người ngày càng được nâng cao, đòi hỏi con người tích cực làm việc Qua đó, họ cần có thời gian
để thư giãn (giảm stress) bằng cách đi du lịch Do giới trẻ ngày càng năng động, thích khám phá, thích thể hiện cá tính của mình nên sự quan tâm hàng đầu của họ là những
sự phiêu lưu mạo hiểm để khám phá thế giới bên ngoài Văn hóa tạo thành nền móng cho hoạt động du lịch phát triển bền vững Các sản phẩm du lịch, các hoạt động của Saigontourist luôn được thực hiện trên cơ sở “vì cộng đồng”, thân thiện với môi trường thiên nhiên, phù hợp với môi trường văn hóa, kinh tế – xã hội, tạo nên mối quan hệ tích cực với cộng đồng và luôn nhận được sự ủng hộ của cộng đồng đối với hoạt động phát triển Hoạt động từ thiện xã hội chăm lo cộng đồng là một trong nhữngđặc trưng của văn hóa Du lịch
* Môi trường kỹ thuật – công nghệ:
Ngành Du lịch là một trong những đơn vị đi đầu về ứng dụng công nghệ thông tin vàoquản lý sản xuất kinh doanh và tiếp thị Website www.vietnamtourism.gov.vn ngày càng phát huy được thế mạnh của mình trong việc đẩy mạnh kinh doanh, giao dịch qua mạng internet, tham gia vào hệ thống đặt phòng toàn cầu Hotel Bank và các
Trang 11mạng bán phòng quốc tế khác để tăng lượng khách truy cập, chào bán các sản phẩm, dịch vụ của vietnamtourism … Hệ thống phần mềm quản lý ngày càng hoàn thiện hơn đáp ứng với sự phát triển ngày càng cao trong kinh doanh, hỗ trợ hiệu quả trong công tác quản lý các giao dịch với khách hàng, tính toán xử lý thông tin Ảnh hưởng của môi trường này đến doanh nghiệp du lịch chủ yếu thông qua hệ thống cơ sở vật chất như là các phương tiện di chuyển, hệ thống âm thanh, phương thức liên lạc, Điều này giúp cho vietnamtourism phát triển loại hình du lịch mạo hiểm một cách có chất lượng đảm bảo an toàn tuyệt đối cao hơn, sản phẩm dịch vụ được cải thiện hơn
* Môi trường tự nhiên:
Phân tích môi trường tự nhiên bao gồm phân tích: vị trí, địa hình, thời tiết, khí hậu, mùa vụ, động thực vật, nguồn nước, sự khan hiếm một số nguyên liệu, tăng giá
năng lượng, sự gia tăng ô nhiễm môi trường Thực tế cho thấy sự ô nhiễm không khí
và môi trường xung quanh đã đến mức báo động Với nhiều cách khác nhau doanh nghiệp nên chủ động tìm cách giữ cho môi trường xung quanh luôn sạch sẽ, đảm bảo
vệ sinh an toàn cho con người trong doanh nghiệp hoạt động tích cực đem lại hiệu quảcao Việc phân tích này không những chỉ ra những hấp dẫn của tài nguyên du lịch đối với khách mà còn làm rõ sự thuận lợi hay khó khăn về các yếu tố đầu vào đối với các doanh nghiệp du lịch Nhìn chung các yếu tố môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến doanh nghiệp trên các mặt:
- Tạo ra thị trường cung ứng các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp
- Tác động đến dung lượng và cơ cấu thị trường hàng tiêu dùng
- Tác động đến việc làm và thu nhập của các tầng lớp dân cư, do đó ảnh hưởng đến sức mua và khả năng tiêu thụ hàng hóa Trong môi trường như vậy, thì chiến lược kinh doanh dịch vụ du lịch mạo hiểm của ngành hết sức thuận lợi cho việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm khai thác tốt các điều kiện và lợi thế của môi trường tự nhiên Trên cơ sở đảm bảo sự duy trì, tái tạo, đặc biệt góp phần phát triển các yếu tố cạnh tranh của môi trường tư nhiên
Trang 12
2.2 Mô hình năm áp lực cạnh tranh của ngành du lịch:
2.1 Các đối thủ cạnh tranh hiện hữu:
Trong nước:
Đối thủ cạnh tranh lớn cho ngành du lịch trong nước là các công ty du lịch có100% vốn từ nước ngoài tại Việt Nam, khả năng dồi dào về tài chính cho họ có thểnhanh chóng tạo ra sự đa dạng trong các tour du lịch, đồng thời nâng cao được chấtlượng dịch vụ cho các chuyến du lịch, tạo ra sự thoả mãn cao hơn cho khách du lịch,đồng thời với chi phí rất cạnh tranh Có 143 công ty du lịch cả trong và ngoài nước
Sự cạnh tranh diễn ra khá gay gắt Đây là bài toán khó cho các công ty du lịch trongnước, bởi khả năng tài chính của các công ty du lịch trong nước là rất hạn chế đểđương đầu trong cuộc cạnh tranh trên yếu tố tất yếu là không ngừng cải tiến nâng caochất lượng phục vụ
Với chất lượng cao và giá cạnh tranh thì nguy cơ mất khách hàng trong tươnglai của các công ty du lịch trong nước là rất lớn Hơn nữa việc tạo tâm lý cho khách dulịch là rất quan trọng, trong tương lai thì nhu cầu đi du lịch nước ngoài trong cộngđồng dân cư là rất lớn Thử hỏi nếu một người khách du lịch được đặt trước một sựchọn lựa giữa một công ty du lịch nước ngoài và một công ty du lịch nội địa cho mộtchuyến xuất ngoại của họ thì sao? Trong khi công ty nước ngoài kia đã quá dày dạntrong ngành du lịch còn công ty Việt Nam thì còn khá non nớt về các tour du lịchnước ngoài
Ngoài nước:
Có sự cạnh tranh gay gắt từ các ngành du lịch của các nước trong vùng nhưThái Lan, Singapore, Malaysia Đây có thể là những nước đại diện cho ngành du lịchcủa Đông Nam Á Cụ thể, năm 2013, Việt Nam đón 5.050 nghìn lượt khách quốc tế,tốc độ tăng trưởng 25% Song, con số này chỉ bằng 2/3 của Thái Lan (khoảng 12.000nghìn lượt) và Singapore (trên 10 triệu lượt), chưa bằng 1/3 của Malaysia (17,5 triệulượt)
Sự thu hút của Việt Nam có nguy cơ giảm sút, khi vào năm 2008 giá tour đếncác nước Thái Lan, Malaysia, Singapore chỉ tăng từ 5 đến 10% còn tour đến Việt Namtăng từ 15 - 30%, chủ yếu là do giá phòng và giá vé máy bay Hàng không, khách sạncủa Việt Nam phát triển chậm trong mấy năm qua nên vào những tháng cao điểm luôn
bị thiếu hụt trầm trọng, khách sạn tăng giá còn hàng không thì có quá ít sự lựa chọn
về giờ giấc, mức giá Điều đó dẫn tới sức cạnh tranh của ngành bị giảm sút
Tuy nhiên, du lịch Việt Nam đang trong giai đoạn "cất cánh" nên có thể pháttriển nhanh trong vòng 10-15 năm tới, trong khi Thái Lan, Singapore và Malaysiađang trải qua giai đoạn trưởng thành và từ nay đến năm 2020, sản phẩm du lịch của họ
sẽ bão hoà
2.2 Các đối thủ tiềm ẩn:
Trang 13Sau khi gia nhập WTO các chuyên gia cho rằng lĩnh vực du lịch - dịch vụ đang
là "điểm nóng" thu hút đầu tư nước ngoài, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư giántiếp
Các nhà đầu tư nước ngoài dường như không muốn chậm chân trước những cơhội kinh doanh lớn trong lĩnh vực này khi mà Việt Nam đã đứng trước cánh cửa rộng
mở của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong số 5,15 tỷ USD vốn đầu tư vào nước ngoàicam kết vào Việt Nam trong 9 tháng của năm 2013, có tới 2,2 tỷ USD (gần 43%) vốnđầu tư đổ vào lĩnh vực du lịch - dịch vụ, chủ yếu là vào xây dựng khách sạn, nhà hàng
Dẫn đầu về qui mô đầu tư vào du lịch Việt Nam là dự án khu nghỉ mát đa năngĐan Kia - Suối Vàng thuộc thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng do bốn tập đoàn đầu tư lớncủa Nhật Bản là Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo và Limtec liên doanh đầu tư, với sốvốn 1,2 tỷ USD
Một tổ hợp khách sạn - căn hộ - trung tâm thương mại 5 sao có số vốn đầu tư
200 triệu USD tại TP.HCM do Tập đoàn Kumho Asiana của Hàn Quốc làm chủ đầu
tư cũng dự kiến sẽ khởi công vào cuối tháng này sau một thời gian dài tạm ngừng vìkhủng hoảng tài chính
Tập đoàn Winvest LLC (Mỹ) cũng đã nhận giấy phép đầu tư khu du lịch 5 saoSaigon Atlantic tại Vũng Tàu với số vốn đầu tư 300 triệu USD Cũng tại Vũng Tàu,tập đoàn Plantium Dragon Empire đang khảo sát để đầu tư dự án khu du lịch vui chơigiải trí với số vốn lên đến 550 triệu USD
Ngoài các tập đoàn nước ngoài đầu tư trực tiếp, làn sóng đầu tư gián tiếp vàolĩnh vực này cũng sôi động không kém Cách đây hai tháng, Quỹ VinaCapital đã mua52,5% cổ phần của khách sạn 5 sao Hilton Hà Nội, nâng tổng số cổ phần của Quỹ tạikhách sạn này lên tới 70%
Trước đó, Quĩ VinaLand cũng đã mua lại 70% cổ phần của Sofitel Metropole,khách sạn lâu đời, sang trọng và đắt khách nhất Hà Nội hiện nay
Công ty Rockingham (Anh) cũng đã trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự án xâydựng khu du lịch biển có qui mô lên đến 1 tỷ USD tại Phú Quốc
Sức hút từ Việt Nam đến các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ dulịch thổi một luồng sinh khí mới mẻ cho ngành du lịch Việt Nam Họ mang vào trongnước phong cách quản lý hiện đại, những kinh nghiệm kinh doanh quốc tế Đây cũng
là một cơ hội cho các doanh nghiệp du lịch Việt Nam học hỏi kinh nghiệm quản lý
Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài vào ngành du lịch với thế mạnh về vốncùng với phong cách quản lý hiện đại, năng lực cạnh tranh cao, có nhiều sản phẩm