Bài giảng "Khai thác thủy sản đại cương - Phần 3: Thành phần cấu tạo ngư cụ" giới thiệu tới người đọc các khái niệm về ngư cụ, các vật liệu ngư cụ và đặc điểm của nó như xơ, sợi, chỉ lưới, thừng, cáp, nút lưới, ván lưới, phao, chì, lưỡi câu, dây giềng; phương pháp bảo quản ngư cụ và vật tư nguyên liệu của ngư cụ. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1KHAI THÁC THỦY SẢN ĐẠI CƯƠNG
Phần 3 Thành phần cấu tạo ngư cụ
Trang 2Các khái niệm
Ngư cụ: là công cụ để khai thác thủy sản
Vật liệu nghề cá: nguyên vật liệu tự nhiên
hoặc nhân tạo để làm ngư cụ.
Hệ thống ngư cụ: được liên kết bởi nhiều bộ
phận và chi tiết khác nhau (áo lưới, dây
giềng, phao chì…), với những vật liệu, công nghệ chế tạo và yêu cầu kỹ thuật tương
thích
Trang 4Xơ
Xơ là vật liệu cơ bản ban đầu để chế tạo nên sợi và chỉ lưới, cũng như các loại dây dùng trong nghề cá
Phân loại xơ:
Xơ tự nhiên: các loại xơ thực vật lấy từ quả bông, vỏ cây đay, gai…và từ động vật như tơ tằm.
Xơ tổng hợp: (xơ nhân tạo / xơ hóa học hoặc xơ me): là sản phẩm do trùng hợp các chất và hợp chất hóa học Số lượng phân tử pô-li-me, liên kết theo dạng xích, có thể đạt tới hàng trăm hoặc hàng ngàn Cấu trúc như thế của phân tử pô-li-me đã tạo nên xơ tổng hợp có tính chất rất đặc biệt.
Trang 5pô-li-Xơ bông
lấy từ quả bông, đường kính xơ khoảng 0,01mm, chiều dài 1,5-5,0cm
độ hút ẩm nhỏ hơn các loại xơ thực vật khác
Sau khi hút ẩm, đường kính tăng lên 40-50% nhưng chiều dài chỉ tăng 1-2%
Xơ bông có chất sáp sẽ chảy ở nhiệt độ 80°C, cản trở việc giữ màu khi nhuộm, nên cần luộc kỹ sợi bông để tẩy sáp trước khi nhuộm màu
So với các loại xơ thực vật khác, xơ bông có lực đứt khá cao, độ mảnh nhỏ đồng đều, độ bền ma sát và tính chống mục nát cao
Tuy nhiên, do chiều dài của xơ bông ngắn, nên khi gia
công chỉ lưới có độ xoắn lớn.
Trang 6 chiều dài ngắn từ 8-40mm, đường kính 0,032mm
0,016- Lực đứt của xơ khá cao
thường dùng xơ đay để làm chỉ lưới, dây giềng hoặc dây giềng hỗn hợp cáp thép bọc đay
Trong xơ đay có chất gỗ (lignin) nên xơ có tính chất đàn hồi và dễ mục nát
độ ẩm lớn
Xơ đay
Trang 7 Xơ gai: Loại xơ dùng phổ biến trong nghề cá Việt
Nam trước đây Chiều dài xơ từ 50-250mm, đường kính từ 0,016-0,08mm Lực đứt của xơ gai khá lớn
và tính hút ẩm nhỏ là ưu thế của loại xơ này so với các loại xơ thực vật khác Trong xơ gai chất gỗ ít nên
độ bền cao, dễ gia công Tuy vậy, trong xơ cũng có chất sáp nên dễ bị phá hoại khi ẩm
Tơ tằm: Xơ dài từ 600-700m có khi tới 1.000m,
đường kính từ 0,013-0,026mm Tơ tằm có lực đứt
khá cao, độ đàn hồi tốt, mặt ngoài nhẵn bóng nên
trước đây người ta sử dụng nó làm lưới rê và một số ngư cụ khác
Xơ gai và tơ tằm
Trang 8Xơ tổng hợp (1)
Các loại xơ tổng hợp thường dung trong nghề cá thuộc các
nhóm như:
Poliamit, ký hiệu PA, gồm các loại kapron, nylon…
Polieste, ký hiệu PES, có tên thường gọi là laptan, tertoron…
Polivinin ancolon, ký hiệu PVA, có tên thường gọi là vinilon.
Polivinin clorit, ký hiệu PVC, có tên thường gọi là clorin, envilon…
Polipropilen, ký hiệu PP, có tên thường gọi là polipropilen, pro-tex.
Poliethylen, ký hiệu PE, có tên thường gọi là polietilen, etylon…
Xơ tổng hợp nhẹ hơn xơ tự nhiên: các loại xơ tổng hợp có trọng lượng riêng từ 950-1.150kg/m3, còn xơ tự nhiên từ 1.400-
1.500kg/m3
Độ nặng, nhẹ của xơ dùng trong nghề cá có ảnh hưởng đến
hiệu quả khai thác cá của ngư cụ, đến độ chìm của lưới, đến quá trình lao động, sản xuất như thao tác nặng nề, gây cản trở trong chuyển động của ngư cụ Với lưới nhuộm, tốc độ chìm
nhanh hơn lưới chưa nhuộm.
Trang 9Xơ tổng hợp (2)
Độ bền của xơ tổng hợp khi khô và khi ẩm cao hơn so với xơ tự nhiên từ 1,3-2,0 lần
Xơ tổng hợp không bị thối rữa khi bị ẩm do vi khuẩn phá hoại
Tuy nhiên, dưới ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, xơ tổng hợp lại bị giảm cường độ nhanh hơn so với xơ tự nhiên Qua thực nghiệm, nếu chiếu trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời trong 150 ngày, độ bền của xơ poliamit giảm từ 15-25% trong khi đó sợi bông chỉ giảm 18% Xơ poliethylen cũng tương tự
Khi sử dụng lưới bằng xơ tổng hợp, không để lưới phơi ánh
nắng qua lâu, cần che nắng cho lưới khi không làm việc.
Độ hút ẩm của xơ tổng hợp thấp hơn so với xơ tự nhiên từ 1,5-2 lần, độ ngậm nước ít hơn, độ thoát nước nhanh hơn.
Nhiệt độ nóng chảy của xơ tổng hợp từ 125-250°C Trong nước sôi, xơ tổng hợp bị mềm và co ngắn.
Xơ tổng hợp, nói chung không bị hóa chất thông thường phá
hỏng Tuy nhiên, HCl 37%, Axit sulfuaric 97-98% có thể hòa tan được xơ poliamit, còn xơ polietilen không bị tác dụng.
Trang 10Chiều dài xơ
Xơ ngắn: có độ dài khoảng vài cm, vd: bông xơ
Xơ dài trung bình: có độ dài khoảng vài chục
cm, vd: đay, chuối, dứa,
Xơ dài: có độ dài khoảng vài trăm cm, vd: tơ tằm.
Xơ dài tùy ý: là các xơ tổng hợp
Trang 11 Sợi là sản phẩm trung gian giữa xơ và chỉ lưới
Sợi là nguyên liệu cơ bản dùng trong chế tạo ngư cụ, ngoài ra sợi còn có thể dùng để bện, buộc trong các hoạt động khác
Sợi có thể trực tiếp dùng để đan lưới hoặc được se xoắn thêm (một hay nhiều lần) để tạo nên chỉ hoặc thừng
Do sợi làm từ xơ nên các tính chất lý, hóa học của sợi thường giống như các tính chất của xơ, nhưng khác hơn về mặt cơ học, như độ bền (hay cường độ đứt) tương đối của sợi thì lớn hơn xơ
Trang 12Các loại sợi
Sự khác biệt của công đoạn chế tạo từ nguyên liệu
ra sợi dẫn đến sự phân biệt về sản phẩm sợi:
Sợi thô (sợi nguyên): là sản phẩm từ xơ chắp nối lại và xoắn ở mức độ nào đó Từ vài sợi nguyên có thể xoắn lại với nhau tạo thành sợi con hoặc chỉ xe đơn
Sợi đơn: là sợi dài vô hạn (chỉ có đối với sợi tổng
hợp), không có vòng xoắn, trơn bóng (thường gọi là cước) Sợi đơn là thành phẩm đầu tiên từ nguyên liệu Sợi đơn có thể dùng trực tiếp để đan (lưới rê), làm dây câu, hoặc bện tết một vài lần để tạo thành chỉ lưới, dây
có độ thô khác nhau (chỉ lưới, dây giềng…)
Sợi poliethylen thường được sản xuất dưới dạng sợi đơn (cước), có màu trắng, trắng xanh hoặc màu kem
Trang 13Chỉ lưới
Chỉ lưới là thành phần cơ bản cấu tạo nên lưới Ngoài ra chỉ
lưới còn được dùng để buộc, liên kết các phần lưới hoặc dây giềng với nhau
Do chỉ lưới được se xoắn từ sợi và xơ nên:
tính chất vật lý, hóa học của chỉ cũng giống như sợi và xơ
nhưng cường độ đứt tương đối của chỉ thì lớn hơn nhiều lần
so với sợi và xơ.
Tùy theo phương thức se xoắn mà chỉ còn phân biệt:
chỉ se đơn
chỉ se kép
chỉ se 3 lần
hay được gọi là chỉ se thuận (chiều phải)
hoặc chỉ se nghịch (chiều trái).
Trang 14Cách xe chỉ
Chỉ se đơn: xơ hoặc sợi đơn được chãi, chắp nối và xếp song song nhau, sau đó được xe theo chiều phải hoặc trái qua 1 lần xe mà thành, ký hiệu Z hoặc S
Chỉ xe kép: các chỉ xe đơn có cùng chiều xoắn được sắp song song nhau, sau đó qua 1 lần xe ngược
chiều với chiều xoắn trước đó mà thành, ký hiệu Z/S hoặc S/Z
Chỉ se 3 lần: quá trình tương tự chỉ xe 2 lần, các chỉ
xe kép được xếp song song nhau, sau đó qua 1 lần
xe ngược chiều với chiều xoắn trước đó mà thành,
ký hiệu S/Z/S hoặc Z/S/Z
Trang 15Độ thô của chỉ lưới
Độ thô là một đặc trưng kỹ thuật của chỉ lưới
Độ thô (độ to, nhỏ) của chỉ lưới, có thể biểu diễn bằng đường kính, hoặc diện tích hoặc chu vi mặt cắt ngang của chỉ, dây lưới
Do cấu trúc của chỉ lưới khá đặc biệt, mặt ngoài của chỉ không đều nhau do tạo thành vòng xoắn, hơn nữa vật liệu chỉ lưới lại mềm, kích thước ngang nhỏ, vì vậy, gây khó khăn trong việc đo đạc chính xác độ thô của chỉ lưới
Để khắc phục khó khăn đó, có thể sử dụng các đại lượng gián tiếp, biễu diễn độ thô của chỉ lưới.
Nếu chỉ xe từ sợi thô hoặc sợi đơn, độ thô của chỉ lưới được quyết định bởi độ thô của sợi và số lượng sợi được xe thành chỉ
Các số liệu độ thô của chỉ lưới sử dụng trong kỹ thuật sau này
có thể sử dụng chỉ số độ thô của sợi hay của chính chỉ lưới đó
Trang 16Các đại lượng đo độ thô chỉ lưới
Số chi của sợi : là chiều dài tính bằng mét của một gam sợi hoặc chỉ đó
N = L/G; trong đó N là Số chi (m/g); L - Chiều dài mẫu
đo (m); G - Khối lượng mẫu đo (g)
Chỉ số Text của sợi : hệ thống Text dùng chiều dài 1.000m các sợi con có trong chỉ rồi cân trọng lượng tương ứng, ký hiệu là T hay Tex
T = G/L.1000; trong đó T - Độ thô đo bằng Tex (g/m);
G - Khối lượng mẫu (g); L - Chiều dài mẫu (m)
Chỉ số Denier của sợi : hệ thống Denier dùng chiều dài 9.000m các sợi con có trong chỉ rồi cân trọng lượng tương ứng.
D = G/L.9000; trong đó: D - Số Đơ-ni-ê (g/m); G - Khối lượng mẫu sợi (g); L - Chiều dài mẫu (m)
Khi số Tex hoặc số Denier càng lớn, độ thô của sợi chỉ càng lớn
Trang 17Diễn giải kết cấu chỉ
Biểu thị trên nhãn 1 loại chỉ, vd: 210D/9 hoặc 210D/3
x 3 hoặc 210D/12 hay 210D/4 x 3
210D/9 hoặc 210D/12: cân 9.000 m chiều dài của sợi con có trong chỉ đó sẽ có trọng lượng 210 gr, với 9 hoặc 12 sợi con xe xoắn lại với nhau
210D/3 x 3 hoặc 210D/4 x 3: diễn tả chi tiết hơn,
trong chỉ đó có 9 hoặc 12 sơi con được xe 2 lần (xe kép), lần 1 gồm 3 hay 4 sợi con se lại thành chỉ se đơn, sau đó 3 chỉ se đơn cùng chiều xoắn được xếp song song nhau để xe thêm lần nữa thành chỉ xe
kép
Trang 18Dây lưới
Dây lưới: là một dạng của chỉ lưới
Dây lưới được sản xuất bằng cách bện tết
một số lần từ chỉ sợi thô, sợi con, sợi đơn,
thậm chí từ chỉ lưới
Dây lưới to hơn nhiều lần chỉ lưới, có đường kính khác nhau tùy theo từng yêu cầu công việc
Trong nghề cá, dây lưới thường sử dụng với các chức năng khác nhau như dây giềng, dây kéo lưới, dây neo…
Trang 19 Thừng dùng trong các việc cần sức chịu lực lớn:
làm dây giềng lực hoặc dây cáp kéo trong chế tạo vàm lưới,
dùng lên kết tàu với neo
dùng để cố định tàu (dây cột tàu)
Chế tạo thừng: dùng số lượng lớn các xơ hoặc sợi, chấp nối xếp song song với nhau rồi qua 1 hoặc 2
lần se xoắn mà thành
Phân loại: giống như chỉ, phân biệt thành thừng se đơn và se kép, hiếm có thừng se 3 lần
Trang 20 Cáp có chức năng như thừng, dùng trong các việc cần lực chịu tải lớn, nhưng sức chịu lực của cáp lớn hơn thừng ở cùng đường kính
Cáp được tạo thành từ các sợi kim loại (D: 0,2-5mm) được xếp song song với số lượng lớn và được se qua 1 hoặc 2 lần
Ưu điểm: độ bền cơ học lớn, chịu tải trọng năng,
hoạt động tốt trong môi trường ẩm ướt
Nhược: dễ gỉ sét, khó bảo quản trong môi trường
ẩm; khi bị đứt khó nối; dễ gây tai nạn lao động
Trang 21 Ván lưới được liên kết với đầu cánh lưới và được tàu kéo đi bằng dây cáp kéo
Khi chuyển động trong nước, do có góc nghiêng nhất định so với
phương chuyển động, áp lực của nước lên ván lưới đựơc phân thành hai phần: lực cản và lực mở ngang
Để giảm bớt lực cản của ván lưới, người ta thường làm các khe hở ở giữa ván, hoặc là sử dụng loại ván lưới hình đĩa
Để cho ván lưới luôn làm việc ổn định người ta sử dụng hệ thống gọng ván và cách liên kết đặc biệt với đầu cánh lưới
Kích thước ván lưới được lựa chọn phù hợp với cỡ loại tàu thuyền, ngư cụ và độ sâu lưới kéo làm việc
Hiện nay nghề lưới kéo Việt Nam thường dùng cỡ ván lưới: 1,0 x
0,5m-1,5 x 0,75m (loại nhỏ); 20 x 1,0m (loại trung bình); 3,0 x 1,5m hoặc lớn hơn.
Trang 22 Có nhiều loại phao:
nếu gọi theo tên gọi của ngư cụ có phao lưới rê, phao lưới vây, phao lưới kéo…,
theo tính chất lực nổi có phao thủy tỉnh, phao thủy
Trang 24Lưỡi câu
Lưỡi câu là bộ phận chủ yếu của ngư cụ dùng trong
họ nghề câu, với sự đa dạng về kích thước và hình dạng
Lưỡi câu thường được làm bằng thép mạ kẽm (để chống gỉ), đồng thau hoặc thép không gỉ
Có nhiều loại lưỡi câu, hình dạng và kích thước của lưỡi câu phụ thuộc vào đối tượng đánh bắt
Phân loại lưỡi câu:
theo hình dạng có lưỡi câu hình tròn và hình góc cạnh;
phân loại lưỡi câu theo số lượng lưỡi (có lưỡi câu 1 lưỡi hay lưỡi câu nhiều lưỡi);
phân loại lưỡi câu theo đối tượng đánh bắt (có lưỡi
câu mực và lưỡi câu cá).
Trang 25 Có nhiều loại dây giềng:
dựa vào vật liệu chế tạo có dây đay, gai, malina, xơ
dừa, nilon, kapron, PE, PP, dây cáp thép…,
theo kết cấu của dây giềng xe xoắn hoặc bện tết
Đối với ngư cụ thường có các loại dây giềng sau:
giềng phao, giềng chì, giềng biên, giềng lực…
Trang 26Bảo quản ngư cụ & vật tư nguyên liệu
của ngư cụ
Xơ, sợi, chỉ lưới, phao nhựa… cần để nơi
râm mát, thoáng gió, tránh ánh sáng mặt trời, nơi nóng hoặc ẩm…
Nếu là kim loại thì tháo rời khỏi vàng lưới,
Trang 27Tài liệu tham khảo
Chính phủ, 2010 Nghị định số 33/2010/NĐ-CP Về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển
HN, 31/3/2010.
Ngô Đình Chùy, 1881 Giáo Trình Nguyên Lý Tính Toán Ngư Cụ Đại Học Thủy Sản Nha Trang.
F.A.O, 1985 Fishing Method of The World 1245 pp
Friman, A L., 1992 Calculations for fishing gear designs Fishing News Books, University Press, Cambridge 241pp.
Nguyễn Nguyễn Du, Claire Smallwood, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn
Xuân Trinh, Nguyễn Trọng Tín Bộ sưu tập ngư cụ nội địa vùng Đồng bằng sông Cửu Long Viện NCNT TS II & MRC.
Nguyễn Thiết Hùng, 1982 Giáo Trình Thiết kế lưới Kéo Đại Học Thủy Sản Nha Trang.
Nguyễn Văn Kháng, Lê Văn Bôn, Bùi Văn Tùng Bách khoa thủy sản Hội Nghề cá Việt Nam
- Hà Phước Hùng – Giáo trình kỹ thuật khai thác thủy sản, ĐH Cần Thơ.