1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung cơ bản về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp. Phân tích tình hình đầu tư trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước

31 570 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội Dung Cơ Bản Về Đầu Tư Phát Triển Trong Doanh Nghiệp. Phân Tích Tình Hình Đầu Tư Trong Hệ Thống Doanh Nghiệp Nhà Nước
Người hướng dẫn Thầy Giáo Từ Quang Phương
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2025
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 196 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu tư phát triển tác động đến cả tốc độ và chất lượng tăng trưởng , tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Chỉ có trên cơ sở đầu tư đúng , trọng tâm , trọng điểm và đồng bộ cơ cấu đầu tư hợp lý…mới làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH . Đầu tư tác động đến sự phát triển của khoa học và công nghệ . Không thể có công nghệ hiện đại, phù hợp nếu không đầu tư tương ứng hiệu quả.

Trang 1

Lời nói đầu

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình tất yếu,khách quan khôngdoanh nghiệp nào có thể tránh né.Tư tưởng bảo hộ trông chờ vào Nhànước sẽ bị đào thải.Tất nhiên, thành công tới đâu còn tùy thuộc vào sứccạnh tranh,tính năng động sáng tạo của doanh nghiệp.Do vậy các doanhnghiệp phải thực sự vào cuộc,vì sự sống còn của mình,để đáp ứng yêucầu khi việt nam đã và đang tham gia quá trình toàn cầu hóa

Đảng ta cũng chỉ rõ:”Chính sách tài chính quốc gia hướng vào việctạo ra vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trong toàn xã hội,tăng nhanh sảnphẩm xã hội và thu nhập quốc dân”.Vì vậy,vấn đề nâng cao hiệu quả vàkhả năng cạnh tranh của doang nghiệp nhà nước(DNNN) được đặt ra hếtsức cấp bách Đại hội §ảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu một bướcngoặc đổi với chính sách và cơ chế kinh tế nói chung, thị trường và Sảnxuất kinh doanh nói riêng:Xóa bỏ cơ chế bao cấp(nhà nước chịu hoàntoàn trách nhiệm),thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần;cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa.Các DNNN được quyền tự chủ hơn trong hoạt động sản xuất kinhdoanh, nhưng cùng với nó, DNNN phải đối mặt với sự cạnh tranh gaygắt trên thị trường Các DNNN đều phải chịu trách nhiệm trước đồngvốn mình bỏ ra, làm sao cho có lãi để tồn tại và phát triển được

DNNN là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, giữ vaitrò chủ đạo trong nền kinh tế Nhà nước Có ý nghĩa quyết định đến sựnghiệp Công nghiệp hoá, hiện Đại hoá đất nước và trong quá trình hộinhập

Đầu tư phát triển tác động đến cả tốc độ và chất lượng tăng trưởng ,tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chỉ có trên cơ sở đầu tư đúng ,trọng tâm , trọng điểm và đồng bộ cơ cấu đầu tư hợp lý…mới làm cho

cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH Đầu tư tác độngđến sự phát triển của khoa học và công nghệ Không thể có công nghệhiện đại, phù hợp nếu không đầu tư tương ứng hiệu quả

Tuy nhiên, hiện nay DNNN cũng đang đứng trước một số khó khănbất lợi về vốn, bộ máy chậm thích ứng với sự biến đổi của thị trường,lắm tầng nấc, trung gian, nhiều sự ràng buộc lẫn nhau, phần lớn cán bộrất thụ động Do đó, đi tìm lời giải về vấn đề nâng cao hiệu quả đầu tưphát triển cho khu vực DNNN là vấn đề mang tính thời sự và thiết thực

Trang 2

Qua nghiên cứu và được sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo Từ

Quang Phương, em quyết định chọn đề tài “Nội dung cơ bản về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp Phân tích tình hình đầu tư trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước.”

Song do kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên đề tài này không tránhkhỏi những thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến quý báucủa thầy giáo để việc nghiên cứu của em ngày càng hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Chương I.Nội dung cơ bản về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.

1/Khái niệm chung:

a/khái niệm:

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư,là việc chi dùng vốn tronghiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tàisản vật chất(nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ(tri thức, kỹ năng…) giatăng năng lực sản xuất,tạo thêm việc làm và tìm mục tiêu phát triển

Theo nghĩa hẹp nguồn lực sử dụng trong đầu tư phát triển là vốn.Theonghĩa rộng,nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn đất đai,lao động,máymóc,thiết bị,tài nguyên.Như vậy,khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánhgiá hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lựctham gia

-Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng,đối tượng đầu tư chia thành:loại được khuyến khích đầu tư,loại không được khuyến khích đầu tư và loại

bị cấm đầu tư

Trang 3

-Từ góc độ tài sản,đối tượng đầu tư chia thành: những tài sản vậtchất(tài sản thực:là những tài sản cố định được sử dụng cho sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động) và tài sản vôhình( phát minh sang chế,uy tín thương hiệu…)

c/ Mục đích:

Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phat triển bền vững,vì lợi íchquốc gia cộng đồng và nhà đầu tư.Trong đó ,đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩytăng trưởng kinh tế,tăng thu nhập quốc dân,góp phần giải quyết việc làm vànâng cao đời sống các thành viên trong xã hội Đầu tư của doanh nghiệpnhằm tối thiểu chi phí,tối đa lợi nhuận nâng cao khả năng cạnh tranh và chấtlượng nguồn nhân lực…

d/ Chủ đầu tư

Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhấtđịnh.Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao quản lý,sử dụng vốnđầu tư(luật đầu tư 2005) Chủ đầu tư chiụ trách nhiệm kiểm tra giám sát đầutư,chịu trach nhiệm toàn diện về những sai phạm và hậu quả do ảnh hưởngcủa đầu tư đến môi trường môi sinh do đó có ảnh hưởng quan trọng đến việcnâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư Thực tế quản lý còn có những nhận thứckhông đầy đủ về chủ đầu tư

e/ Nguồn lực đầu tư:

Là bao gồm tất cả tiền vốn ,đất đai lao động,máy móc ,thiết bị,tàinguyên… là tất cả những gì có thể tham gia vào quá trình sản xuất,kinhdoanh

f/Yếu tố thời gian

Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình diễn ra trong thời kỳ dài vàtồn tại vấn đề”độ trễ thời gian”.Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữathời gian đầu tư với thời gian vận hành kết quả đầu tư.Đầu tư hiện tại nhưngkết quả cho ở tương lai Đặc điểm này của đầu tư cần đượng quán triệt khiđánh giá kết quả, chi phí và hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển

2/ Đặc điểm của đầu tư phát triển:

Qui mô tiền vốn, vật tư,lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư pháttriển thường vốn rất lớn Vốn đầu tư lớn nằm khe đọng lâu trong suốt quátrình thực hiện đầu tư.Qui mô vốn đầu lớn đòi hỏi phải có giải pháp huy độngvốn và tọa vốn hơp lý,xây dựng chính sách ,qui hoạch ,kế hoạch đầu tư đúngđắn,quản lý chặt chẽ vốn đầu tư,thực hiện đầu tư trọng điểm Lao đọng sửdụng cho các dự án rất lớn,đặc biệt đối với dự án trọng điểm quốc gia.Do đócông tác tuyển dụng,đào tạo,sử dụng và đãi ngộ cần tuân thủ mooyj kế hoạchđịnh trước,sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu của từng loại nhân lực theo tiến

độ đầu tư,đồng thời,hạn chế mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực do

Trang 4

“vấn đề hậu dự án”tạo ra như việc bố trí lại lao động,giải quyết lao động dôidư…

Thời kì đầu tư kéo dài Thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự

án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động.Nhiều công trình lớn lạinăm kê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quảvốn đầu tư,cần tiến hành phân kì đầu tư,bố trí vốn và các nguồn lực tập trunghoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình,quản lý chặt chẽ tiến độ kếhoạch đầu tư,khắc phục tình trạng thiếu vốn,nợ đọng vốn đầu tư trong xâydựng cơ bản

Thời gian vận hành các keets quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành cáckết quả đầu tư tính từ khi công trình đưa vào hoạt động cho đến khi phát huytác động lâu dài,có thể tồn tại vĩnh viễn như kim tư tháp AI CẬP,nhà thờ La

Mã ở Rôm,…Trong suốt quá trình vận hành,các thành quả đầu tư chịu tácđộng hai mặt,cả tích cực và tiêu cực,của nhiều yếu tố tự nhiên,chính trị kinh

tế xã hội…Để thích ứng với đặc điểm này,công tác quản lý hoạt động đầu tưcần chú ý một số nội dung sau:

-Thứ nhất,cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả

ở cấp độ vĩ mô và vi mô về nhu cầu htij trường đối với sản phẩm đầu tưtương lai,dự kiến khả năng cung từng năm và vòng đời dự án

-Thứ hai,quản lý tốt quá tình vận hành,nhanh chóng đưa các thànhquả đầu tư vào sử dụng,hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồivốn,tránh hao mòn vô hình

-Thứ ba,chú ý đúng mức đến yếu độ trễ thời gian trong đầu tư.Đầu

tư trong năm nhưng chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đó mà tưnăm sau và kéo dài trong nhiều năm.Đây là đậc điểm riêng của nhiều lĩnhvực đầu tư,ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư

Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xâydựng thương phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên,dođó,quá trình thực jieenj đầu tư cũng hư thời kì vận hành các kết quả đầu tưchịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tư nhiên,kinh tế xã hội vùng.Không thể dễdàng di chuyển các công trình đầu tư phát triển cần phải quán triệt đặc điểmnày trên một số nội dung sau:

Trước tiên cần phải có chủ trương đầu tư và quyết đúngđịnh đầu tưđúng.Đầu tư cái gì ,sản xuất bao nhiêu là hợp lý… cần phải nghiên cứu kĩlưỡng,dựa trên cơ sở khoa học.Ví dụ ,công suất xây dựng nhà máy tuyển than

ở khu vực mỏ.Nếu trữ lượng than của mỏ ít thì qui mô nhà máy sàng tuyểnkhông nên quá lớn để đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động hết côngsuất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án

Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý.Để lựa chọn địa điểm thực hiên đầu tưđúng phải dựa trên những căn cứ khoa học,dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu

Trang 5

kinh tế,chính trị, xã hội,môi trường,văn hóa…Cần xây dựng một bộ tiêu chíkhác nhau nhiều phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và địa điểmđầu tư cụ thể hợp ly nhất,sao cho khai thác được tối đa lợi thế vùng và khônggian đầu tư cụ thể,tạo điều kiện nâng cao hiêu quả vốn đầu tư.

Đầu tư pháy triển có độ rủi ro cao Do qui mô vốn lớn,thời kì kéo dài vàthời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài…nên mức độ rủi ro củahoạt động đầu tư

Phát triển thương cao.Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân,trong đó nguyênnhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lý kém,chất lượng sản phẩmkhông đạt yêu cầu có nguyên nhân chủ quan như giá nguyên liệu tăng,giábán sản phẩm giảm,công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế.Như vậy

để quản lý hoạt động đầu tue phát triển hiệu quả,cần phải thực hiện các biệnpháp quản lý rủi ro bao gồm:

-Thứ nhất ,nhận diện rủi ro đầu tư.Có nhiều nguyên nhân rủi ro,dovậy,xác định được đúng nguyên nhân rủi ro sẽ là khâu quan trọng đầu tiên đểtìm ra giải pháp khăc phục phù hợp

-Thứ hai, định giá mức độ rủi ro.Rủi ro xảy ra co khi rất nghiêmtrọng,nhưng co khi chua đến mưc gây nên những thiệt hại về kinh tế Đánhgiá đúng mức độ rủi ro sẽ đưa ra những biện pháp phòng và chống phù hợp -Thứ ba, xây dựng các biên pháp phòng và chống rủi ro mỗi loại rủi

ro và mức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tương ứngnhằm hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại do rủi ro này gây ra

3/Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp:

Hoạt động đầu tư phát triển bao gồm nhiều nội dung, tùy theo cách tiếpcận

Căn cứ vào lĩnh vực phát huy tác dụng, đầu tư phát triển bao gồm các nộidung: đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng-kĩ thuậtchung của nền kinh tế, đầu tư phát triển văn hóa giáo dục, y tế và dich vụ xãhội khác, đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật và những nội dung đầu tư pháttriển khác.Cách tiếp cận này là căn cứ để xác định quy mô vốn đầu tư, đánhgiá kết quả và hiệu quả hoạt động cho từng ngành, lĩnh vực trong nền kinh ếquốc dân

Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm:đầu tư những tài sảnvật chất (tài sản thực) và đầu tư phát triển những tài sản vô hình Đầu tư pháttriển những tài sản vật chất gồm: đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơbản) và đầu tư vào hàng tồn trữ Đầu tư phát triển tài sản vô hình gôm các nộidung: đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu triểnkhai các hoạt động khoa học, kỹ thuật, đầu tư xây dựng thương hiệu, quảngcáo…

Trang 6

Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố địnhcủa doanh nghiệp.Đầu tư XDCB bao gồm các hoạt động chính như:xây lắp

và mua sắm máy móc thiết bị.Trong doang nghiệp, đặc biệt doang nghiệp sảnxuất kinh doanh, để các hoạt động diễn ra bình thường đều cần xây dựng nhàxưởng, kho tàng, các công trình kiến trúc,mua và lắp đặt trên nền bệ các máymóc thiết bị… Hoạt động đầu tư và đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỉ trọng caotrong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị

Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộnguyên nhiên vật liệu, bán thàng phẩm và sản phẩm hoàn thành được tồn trữtrong doanh nghiệp Tùy theo loại hình doanh nghiệp, quy mô và cơ cấu cácmặt hàng tồn trữ cũng khác nhau.Nguyên vật liệu là một bộ phận hàng tồntrữ không thể thiếu của doanh nghiệp sản xuất nhưng lại không có trongdoanh nghiệp thương mại dịch vụ.Tỷ trọng đầu tư vào hàng tồn trữ trongtổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp thương mại thường cao hơn cácloại hình doanh nghiệp khác.Do vậy, xác định quy mô đầu tư hàng tồn trữ tối

ưu cho doanh nghiệp lại rất cần thiết

Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quantrọng trong nền kinh tế và doanh nghiệp.Chỉ có nguồn nhân lực chất lượngcao mới đảm bảo dành thắng lợi trong cạnh tranh.Do vậy,đầu tư nang caochất lượng nhân lực là rất cần thiết.Đầu tư phát triển nguồn nhân lực baogôm đầu tư cho hoạt động đào tạo (chính quy,không chính quy,dài hạn,ngắnhạn,bồi dưỡng,nghiệp vụ…) đội ngũ lao động;đầu tư cho công tác chăm sócsức khỏe,y tế;đầu tư cải thiện môi trường,điều kiện làm việc của người laođộng….Trả lương đúng và đủ cho người lao động cũng được xem là hoạtđộng đầu tư phát triển

Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và côngnghệ.Phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi cần đầu

tư cho các hoạt động nghiên cứu,triển khai,ứng dụng công nghệ.Đầu tưnghiên cứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao.Hiện naykhả năng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học và côngnghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn khá khiêm tốn.Cùng với đà phát triểncủa kinh tế đất nước và doanh nghiệp,trong tương lai tỷ lệ chi cho hoạt độngđầu tư này ngày càng tăng,tương ứng với nhu cầu và khả năng của doanhnghiệp

Đầu tư cho hoạt động marketing.Hoạt động marketing là một trongnhững hoạt động quan trọng của doanh nghiệp.Đầu tư cho hoạt độngmarketing bao gồm đầu tư cho hoạt động quảng cáo,xúc tiến thương mại,xâydựng thuong hiệu… Đầu tư cho các hoạt động marketing cần chiếm một tỷtrọng hợp lý trong tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp

Trang 7

Mục đích của cách tiếp cận này là xác định tỷ trọng,vai trò của từng bộphận trong tổng đầu tư của đơn vị.

Xuất phát từ quá trình hình thành và thực hiện đầu tư,nội dung đầu tưphát triển bao gồm:đầu tư cho các hoạt động chuẩn bị đầu tư,đầu tư trong quátrình thực hiện đầu tư và đầu tư trong giai đoạn vận hành.Nội dung đầu tưphát triển trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều nội dung chi tiết khác nhau

Chương II :THỰC TRẠNG CHUNG CỦA HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1 CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp của Chínhphủ, sau quá tŕnh sắp xếp, đổi mới DNNN, đến nay cả nước hiện có 1.720doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được tổ chức dưới h́nh thức tập đoàn kinh

tế (7 đơn vị), tổng công ty nhà nước (86 đơn vị) và công ty nhà nước độc lập(1.099) Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ ở 524 doanh nghiệp thành viên, giữtrên 50% vốn điều lệ ở 738 doanh nghiệp thành viên và dưới 50% vốn điều lệ

ở 672 doanh nghiệp đă cổ phần hóa

Từ 2001 Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một trong nhữngvấn đề đang được đẩy mạnh ở nước ta, nhưng việc thực hiện một cách cóhiệu quả không đơn giản Vì vậy, sau 15 năm thực hiện cổ phần hóa, rất cần

có sự nhìn lại thực trạng, đánh giá triển vọng và các giải pháp nâng cao hiệuquả quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong những nămtới

Theo báo cáo gần đây của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanhnghiệp nhà nước (tháng 5-2006), trong 15 năm qua, nước ta đã thực hiện cổphần hóa được 2.935 doanh nghiệp nhà nước, trong đó có 80% số doanhnghiệp mới thực hiện cổ phần hóa từ năm 2001 đến nay Từ số liệu trong Báocáo này, bước đầu có thể phân tích thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp ởmột số khía cạnh sau:

Từ 2001 đến 2005 số doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá vàtrở thành các công ty cổ phần có vốn nhà nước đã tăng lên khá nhanh cả về

số lượng công ty, lẫn năng lực vốn, lao động, tài sản và kết quả hoạt động.Theo số liệu điều tra doanh nghiệp hằng năm của Tổng cục Thống kê từ năm

2000 cho thấy, từ số lượng công ty cổ phần có vốn nhà nước chỉ có 305doanh nghiệp trong năm 2000 đã lên 470 doanh nghiệp trong năm 2001, tăng

Trang 8

54,1%; lên 557 doanh nghiệp trong năm 2002, tăng 18,7%; lên 669 doanhnghiệp trong năm 2003, tăng 19,9%; lên 815 doanh nghiệp trong 2004, tăng21,8% và lên 1.096 doanh nghiệp trong năm 2005, tăng 34,5% Sau 5 năm đãtăng thêm 791 doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước, tăng gấp gần 3,6 lần

và bình quân mỗi năm tăng 158 doanh nghiệp, tương ứng với tốc độ tăngbình quân là 29,8%/năm

Do số doanh nghiệp được cổ phần hoá ngày càng tăng cao và số doanhnghiệp nhà nước chưa cố phần hoá ngày càng giảm đi nên tỷ trọng các công

ty cổ phần có vốn nhà nước đã chiếm ngày càng lớn, từ 5,3% vào thời điểmcuối năm 2000 đã lên chiếm 26,8% đến thời điểm cuối năm 2005 và ngượclại doanh nghiệp nhà nước còn nắm giữ 100% vốn đã từ chiếm 94,7% cuốinăm 2000 xuống chỉ còn 73,2% đến cuối năm 2005

Đối tượng cổ phần hóa Nói đến đối tượng cổ phần hóa là nói đến việc

lựa chọn doanh nghiệp nhà nước nào để thực hiện cổ phần hóa So với quyđịnh ban đầu, chúng ta đã bổ sung đối tượng cổ phần hóa là các doanh nghiệp

có quy mô lớn, các tổng công ty nhà nước Tuy vậy cho đến nay, 77% sốdoanh nghiệp đã cổ phần hóa chỉ có quy mô vốn dưới 10 tỉ đồng Riêng đốivới loại doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước không giữ tỷ lệ nào trongvốn điều lệ thì đều là doanh nghiệp nhỏ có vốn nhà nước dưới 1 tỉ đồng vàkinh doanh kém hiệu quả Loại doanh nghiệp nhỏ này chiếm gần 30% sốdoanh nghiệp mà Nhà nước thực hiện cổ phần hóa.sSự lựa chọn các doanhnghiệp thực hiện cổ phần hóa như vậy đã làm chậm tiến độ thực hiện chủtrương cổ phần hóa; các doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện được rõ những

ưu thế của doanh nghiệp đã cổ phần hóa với những doanh nghiệp chưa cổphần hóa, chưa thực hiện được các mục tiêu cổ phần hóa đề ra

- Cơ cấu vốn điều lệ Tỷ lệ cổ phần do Nhà nước giữ ở các doanh nghiệp đã

cổ phần hóa như sau: nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% ở 33% số doanh nghiệp; dưới 50% số vốn ở 37% số doanh nghiệp và không giữ lại tỷ lệ %

vốn nào ở gần 30% số doanh nghiệp

Xem xét cụ thể hơn có thể thấy: số vốn nhà nước đã được cổ phần hóa chỉmới chiếm 12%, và ngay trong số vốn này, Nhà nước vẫn nắm khoảng 40%,

vì thế số vốn mà Nhà nước cổ phần hóa được bán ra ngoài mới chiếm một tỷ

lệ rất nhỏ (khoảng 3,6%)

Với cơ cấu vốn nhà nước đã cổ phần hóa như trên có thể thấy bức tranh cổphần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay và hiểu rõ hơn kháiniệm cổ phần “chi phối” của nhà nước

- Cơ cấu cổ đông Cổ đông trong các doanh nghiệp đã cổ phần hóa là cán bộ,

công nhân viên nắm 29,6% cổ phần; cổ đông là người ngoài doanh nghiệp

Trang 9

nắm 24,1% cổ phần; cổ đông là Nhà nước nắm 46,3% cổ phần.

Nét đáng chú ý về cơ cấu cổ đông là các nhà đầu tư chiến lược trong nướckhó mua được lượng cổ phần đủ lớn để có thể tham gia quản lý, điều hànhdoanh nghiệp, còn nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng về vốn, công nghệ, cónăng lực quản lý kinh doanh cũng chỉ được mua số lượng cổ phần hạn chế.Điều này làm cho các doanh nghiệp đã cổ phần hóa rất khó hoạt động có hiệuquả, nhất là trước sức ép cạnh tranh ở cấp độ quốc tế, khi nước ta đã chínhthức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Phân tích một số bài viết nghiên cứu về quá trình cổ phần hóa trên báo

chí, chẳng hạn bài “Cổ phần hóa - quỹ đạo nào để bảo toàn, phát triển thị

trường vốn?” đăng trên báo Tài chính; qua những thông tin từ Ban Chỉ đạo

đổi mới doanh nghiệp, có thể nhận thấy việc đánh giá về hiệu quả cổ phầnhóa doanh nghiệp nhà nước có những ý kiến không giống nhau Cụ thể nhưsau:

Thứ nhất, sau khi cổ phần hóa, có tới 90% doanh nghiệp hoạt động có hiệu

quả, góp phần tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động,huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sáchnhà nước, tạo thêm công ăn việc làm Chỉ có 10% số doanh nghiệp sau cổphần hóa hoạt động kém hiệu quả vì trước khi cổ phần hóa các doanh nghiệp

này đã hoạt động rất kém, nội bộ mất đoàn kết, không thống nhất; mặt khác

còn do sự can thiệp không đúng của chính quyền địa phương

Thứ hai, theo kết quả nghiên cứu, đến thời điểm này chưa có doanh nghiệp

nhà nước nào sau khi cổ phần hóa biến thành tư nhân hóa Tuy nhiên, trongđánh giá của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hộiĐặng Văn Thanh - người tham gia đoàn giám sát của Quốc hội - bên cạnhviệc công nhận một số kết quả do cổ phần hóa mang lại, cũng đã chỉ rõ: cótình trạng, một số doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đang dầnchuyển hóa thành doanh nghiệp tư nhân do một số cổ đông đã bán, chuyểnnhượng số cổ phần của mình, hoặc làm trung gian thu gom cổ phần cho tưnhân ngoài doanh nghiệp nắm giữ, có trường hợp đã nắm hơn 50% tổng giátrị cổ phần danh nghĩa để trở thành chủ nhân đích thực của doanh nghiệp.Theo ông Thanh, đây là điều trái với chủ trương cổ phần hóa của Đảng vàNhà nước

.Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm khác với tính quy luật chung ở các nước:

- Các doanh nghiệp mà Việt Nam thực hiện cổ phần hóa được hình thànhtrong quá trình thực hiện công hữu hóa, tập thể hóa nền kinh tế trước đây.Điều này khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước phát

Trang 10

triển: là kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất đã vượt quá tầmcủa sở hữu tư nhân, đòi hỏi phải mở rộng quan hệ sở hữu

- Các doanh nghiệp mà nước ta thực hiện cổ phần hóa vốn tồn tại lâu nămtrong cơ chế bao cấp và kế hoạch của Nhà nước và mới làm quen với cơ chếthị trường, khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là đãtồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, cạnh tranh

- Các doanh nghiệp mà nước ta tiến hành cổ phần hóa chủ yếu được tổ chức

và hoạt động theo yêu cầu và kế hoạch của Nhà nước, khác với các doanhnghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là tổ chức và hoạt động vì lợi nhuậntối đa của bản thân và tuân theo quy luật thị trường

- Lý do chính của chủ trương cổ phần hóa ở nước ta là các doanh nghiệp nhànước hoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phásản, khác với lý do thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp ở các nước phát triển

là chuyển từ giai đoạn tập trung tư bản sang giai đoạn tập trung vốn xã hội

(trong và ngoài doanh nghiệp) để nâng cao chất lượng và quy mô sản xuấttrong cạnh tranh

2.Đầu tư tràn lan:

Đầu tư nhiều, hiệu quả thấp

Với thế mạnh là Nhà nước, các DNNN có lợi thế rất lớn về tài sản

cố định (đặc biệt là đất đai), vốn đầu tư ngân sách, vốn tín dụng từ hệ thốngngân hàng, trong so sánh với các thành phần kinh tế khác đặc biệt là khốidoanh nghiệp tư nhân (DNTN) Thế nhưng đóng góp của DNNN cũng chỉtương đương với khối này (xấp xỉ 40% GDP)

Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các DNNN vẫn mang theo mộthình ảnh từ thời bao cấp đến nay, đó là trì trệ, kém năng động, ỷ thế độcquyền, đầu tư kém hiệu quả, sử dụng vốn lãng phí, Bài báo đăng kết quảKiểm toán của 19 đơn vị DNNN cho thấy có đến 21% đơn vị làm ăn thua lỗtrong năm 2004, 58% đơn vị lỗ luỹ kế đến cuối năm 2004

Một điều dễ nhận thấy nữa là các DNNN cũng là nơi diễn ra phần lớncác vụ tham nhũng, lãng phí nổi cộm Nhìn chung, khối DNNN đang làmchậm đà phát triển của cả nước một cách đáng kể

Tình trạng các doanh nghiệp đã đầu tư ra ngoài lĩnh vực chính quá lớn,đặc biệt là đầu tư vào các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bất động sản Việc đầu tư ra ngoài của các tập đoàn, tổng công ty làm phân tán nguồn lực,gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giữ vai trò chủ lực của nền kinh tế.Đặc biệt, việc ồ ạt đẻ non ra nhiều ngân hàng trong một thời gian ngắn luôn

Trang 11

tiềm ẩn rủi ro cho hệ thống tài chính và nền kinh tế Việc các tập đoàn thànhlập ngân hàng là rất dễ hỗ trợ đầu tư cho các dự án kém hiệu quả của tậpđoàn Đây là bài học đắt giá của nhiều nước mà Việt Nam cần tránh!

Phần lớn các tập đoàn, tổng công ty khi thành lập đều xác định vốn điều lệtrên cơ sở vốn sổ sách Vì vậy, không phản ánh được thực chất nhu cầu, biệnpháp sử dụng vốn tại doanh nghiệp Số vốn huy động của 70 tập đoàn, tổngcông ty đến 31/12/2007 lên đến 448.269 tỉ đồng, trong khi đó, vốn chủ sởhữu chỉ đạt 323.208 tỉ đồng Việc tự huy động vốn đã dẫn đến tình trạng một

số tổng công ty có hệ số vay nợ/vốn chủ sở hữu quá cao, rất đáng lo ngại

CHẠY THEO LỢI NHUẬN NHẤT THỜI

Tại hội nghị sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp (23/4/2008), hầu hết cáctập đoàn, tổng công ty đều cho rằng, nhà nước cần tạo điều kiện để họ đầu tưvào các lĩnh vực trên, vì có như thế mới xoay được vốn làm ăn(!) Ông PhạmThanh Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinashin, lý giải rằng, do đặc thùcủa ngành kinh doanh tàu thủy cần vốn lớn, Nhà nước không bổ sung vốnnên Vinashin phải đầu tư vào tài chính, bất động sản để kiếm vốn đầu tư chocác dự án lớn hơn Ông Bình cho rằng, tập đoàn đầu tư vào các công trìnhphúc lợi, khu nghỉ dưỡng, bệnh viện ngành là cần thiết để “lấy ngắn nuôidài” Và rằng “chúng tôi đầu tư ra ngoài đâu chỉ vì chạy theo lợi nhuận”! Lýgiải của ông Bình tại hội nghị đã không được sự đồng tình của các đại biểu Kinh doanh tài chính, bất động sản thì hoàn toàn không thể “ngắn” vànếu không “chạy theo lợi nhuận” thì lấy gì để nuôi được “dài”? Tương tự,ngành điện cũng “lấy ngắn nuôi dài” khi đầu tư sang lĩnh vực khác Nhiềuđại biểu Quốc hội đã hết sức bức xúc trước việc tập đoàn Điện lực Việt Nam(EVN) đem số tiền lớn đầu tư xây dựng khu resort ở miền Trung - một lĩnhvực không liên quan gì đến ngành điện, một dự án rất khả nghi, góp phầnlàm cho lạm phát gia tăng

Có thể nói, trong hai năm 2006, 2007, các lĩnh vực chứng khoán, ngânhàng, bảo hiểm và bất động sản phát triển mạnh và đem lại lợi nhuận caonhất Vì vậy, một số tập đoàn kinh tế đã thả phanh đầu tư vào “những ngànhkinh tế béo bở” - nói theo cách của ông Chủ tịch Hội đồng quản trị EVN.Ngược lại, bước sang năm 2008, tình hình đã thay đổi một cách nhanh chóng

và không thể lường trước được Đặc biệt, thời điểm hiện nay, các lĩnh vựctrên đã và đang có độ rủi ro rất cao

5 tháng đầu năm nay, lạm phát vẫn tiếp tục gia tăng, thị trường chứngkhoán đang giảm sút mạnh, chỉ trong 5 tháng đầu năm 2008 đã mất hơn 50%.Trong bối cảnh chung như vậy, đa số các hoạt động đầu tư vào thị trườngchứng khoán của các doanh nghiệp nhà nước cầm chắc thua lỗ Thị trường

Trang 12

bất động sản đóng băng Rồi, kinh doanh tiền tệ, ngân hàng, bảo hiểm ngàycàng khó khăn Chính sách tiền tệ của nhà nước trong cuộc chống lạm phátluôn có nhiều thay đổi Nỗi lo doanh nhiệp nhà nước “đá nhầm sân”, “trậtđường ray” đang lộ rõ Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, khi bongbóng tài chính/bất động sản vỡ mà lãi suất ngân hàng tăng cao thì rất dễ xảy

ra vỡ nợ hàng loạt của các doanh nghiệp

3.Doanh nghiệp nhà nước nợ đọng kéo dài,đang bên bờ vực phá sản: Các DNNN nợ đọng, nợ xấu kéo dài, đang bên bờ vực phá sản chính là

hệ lụy của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp C ̣u theo một chuyên gia kinh tế khác th́ các DN này là những "người khổng lồ" yếu bóng vía và đang làm kinh tế tụt hậu.

Thực trạng những "con nợ” thuộc diện phải xử lý hiện ra sao? Những

vướng mắc, rào cản đang tồn tại đó sẽ được xử lý như thế nào?

DNNN nợ xấu bao nhiêu?

Đây là câu hỏi mà có lẽ chưa cơ quan quản lư nào trả lời chính xác được;bởi lẽ cho đến nay, hệ thống các cơ quan quản lý chưa có thống kê đầy đủnào về t́nh trạng nợ xấu này Tuy nhiên các cấp quản lư chỉ có thể đoán ướcrằng: Đây là số tiền khổng lồ lên đến vài chục ngàn tỉ

Ngay từ năm 2005, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thống kê dư nợ chovay DNNN đă chiếm đến 33,2% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế Đặc biệt,NHNN đă có cảnh báo về t́nh trạng nợ xấu đang có xu hướng tăng

Theo một chuyên gia kinh tế thuộc Bộ Công thương th́i đă từ quá lâurồi, hệ thống các NH, không ít các chuyên gia kinh tế và nhà quản ly đă cảnhbáo về tính trạng nợ xấu, t́inh trạng tiêu cực, làm ăn thua lỗ kéo dài dẫn đến

nợ xấu của các DNNN

Cụ thể theo tài liệu kiểm toán năm 2005, cơ quan này đă nêu hàng loạtcác đơn vị nợ xấu khó đ ̣i và chưa có biện pháp khắc phục như TCty lươngthực Miền Nam, TCty Chăn nuôi, TCty Xây dựng công nghiệp, TCty Giấy

Bản thân các TCty này cũng được cảnh báo về t́nh trạng làm ăn thua lỗvới số lỗ luỹ kế từ gần 200 tỉ đồng đến dưới 500 tỉ đồng Đặc biệt, chỉ 16DNNN đă có số nợ trong năm lên đến 21.000 tỉ đồng; tổng nợ phải trả lênđến 47.000 tỉ đồng và chiếm tới hơn 80% tổng nguồn vốn

Gần đây nhất, theo thống kê sơ bộ của riêng hệ thống các NH, th́

Trang 13

nhóm DNNN nợ xấu kéo dài gồm các TCty xây dựng công tŕnh giao thôngthuộc Bộ Giao thông Vận tải Đây là nhóm có số nợ kéo dài nhất, khó xử lưnhất.

Theo ước tính th́ số nợ của các TCty này lên tới trên 12.300 tỉ đồng.Khối DNNN nợ xấu ít hơn bao gồm các TCty thuộc nhóm dịch vụ và chếbiến Tuy nhiên, gọi là ít song số nợ của khối các DN này cũng lên tới trêndưới 5.000 tỉ đồng Nếu tính cả số các DN nợ đọng thuế th́ con số này cũngthêm khoảng vài ngàn tỉ đồng nữa

Đối với các loại h́nh DN khác, họ buộc phải tuân thủ nguyên tắc "ràng buộcngân sách cứng" Các DN phải tự chịu trách nhiệm về t́nh h́nh DN với h́nhthức lời ăn, lỗ chịu và rất khắt khe về kỷ luật tài chính

Trong cạnh tranh, nếu thua lỗ họ phá sản ngay, c ̣n nếu có lăi th́ đóchính là sự hiệu quả và trách nhiệm của DN C ̣n đối với DNNN, họ lại đượcNhà nước ưu ái theo nguyên tắc "ràng buộc ngân sách mềm"

Cứ khi nào DN khó khăn th́ được hỗ trợ, thiếu vốn th́ cho vay, thậmchí là ban tặng cơ hội, hợp đồng Đặc biệt, có khi DN làm ăn thua lỗ th́ lạibơm thêm vốn; khoanh hoặc xóa nợ tóm lại là với rất nhiều ưu đăi bất hợplư

Chính cơ chế này đă triệt tiêu khả năng cạnh tranh, tự vươn lên của DN;đồng thời rất nhiều DNNN ỷ lại và làm ăn theo kiểu "gà què ăn quẩn cốixay"

Đồng thuận với quan điểm của TS Quang A, một chuyên gia kinh tế khác

so sánh để thấy sự bất cập: Nếu như các loại h́nh DN khác rất sợ nợ xấu, nợđọng , bởi nếu "sức khoẻ tài chính" không lành mạnh th́ DN khó vay vốn,khó tiếp cận cơ hội làm ăn

V́ì thế, họ tận dụng mọi khả năng tài chính, con người để tạo nguồn lực

phát triển Trong khi đó, rất nhiều DNNN được đầu tư tài sản, vốn nhưng lạisẵn sàng lăng phí; nhiều TCty hiệu suất sử dụng tài sản cố định chỉ đạt dưới50% Đặc biệt, nhiều lănh đạo DNNN không hề có ý thức phấn đấu trả nợ,thậm chí c ̣n có tư tưởng "để lại món nợ" cho người kế nhiệm

Các chuyên gia trên cho rằng: T́nh trạng nợ xấu kéo dài của các DNNN chính

là hệ lụy của sự quản lư kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp Đặc biệt, hệlụy trên cũng là lư do khiến rất nhiều DNNN tụt hậu, không bắt kịp với xu

Trang 14

hướng đổi mới Đồng thời đây cũng nguyên nhân năm 2007, việc cổ phầnhoá chỉ đạt gần 20% kế hoạch.

4 Đổi mới doanh nghiệp nhà nước:

- Bước đầu đã thiết lập được hệ thống khung pháp lý tương đối đồng

bộ theo hướng tạo môi trường bình đẳng, không biệt giữa các thành phầnkinh tế, giảm thiểu các thủ tục gia nhập thị trường; hoàn thiện tổ chức quản

lý, quản trị doanh nghiệp, trong đó quyền và nghiã vụ của chủ sở hữu Nhànước đối với doanh nghiệp đã được sửa đổi theo hướng Nhà nước chỉ thựchiện các quyền và nghiã vụ như các chủ đầu tư, sở hữu vốn góp vào doanhnghiệp như các chủ đầu tư, chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác tạođiều kiện để doanh nghiệp nhà nước nâng cao tính tự chủ, tự chịu tráchnhiệm, hiệu quả sản xuất kinh doanh phù hợp với cơ chế thị trường nhằm giảiphóng và phát huy tối đa các nguồn lực trong doanh nghiệp phát triển kinh tế

xã hội đất nước, phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế Cụ thể là

- Các cơ chế, chính sách nhằm đổi mới cơ chế, tổ chức quản lý doanhnghiệp nhà nước như quy định về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sởhữu nhà nước đối với công ty nhà nước; quy định về giám sát, đánh giá hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; về quy chế quản lý tài chính củacông ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác; vềchuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên; về chuyển tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước quy mô lớn sanghoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con, hình thành các tập đoànkinh tế,… nhằm đổi mới cơ chế hoạt động, nâng cao quyền tự chủ, tự chịutrách nhiệm của công ty nhà nước; quy định rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn, động lực cũng như trách nhiệm của bộ máy quản lý công ty nhànước; đổi mới mô hình, cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động của tổng công tynhà nước,

Trang 15

- Các cơ chế, chính sách về sắp xếp, chuyển đổi sở hữu như: (i) quyđịnh về cổ phần hóa công ty nhà nước theo hướng thực hiện công khai minhbạch theo nguyên tắc thị trường, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kíntrong nội bộ doanh nghiệp, gắn với phát triển thị trường vốn, thị trườngchứng khoán, mở rộng đối tượng mua cổ phần, giá trị doanh nghiệp được xácđịnh theo cơ chế thị trường, cho phép bán bớt cổ phần tại các doanh nghiệpNhà nước giữ cổ phần chi phối; (ii) quy định về giao, bán, khoán kinh doanh,cho thuê công ty nhà nước theo hướng mở rộng quy mô doanh nghiệp ápdụng, mở rộng đối tượng tham gia mua công ty nhà nước cho các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các nhà đầu tư nước ngoài,nâng mức tỷ lệ tham gia góp vốn của các đối tượng này; (iii) quy định về phásản doanh nghiệp đã được sửa đổi theo hướng đơn giản hóa trình tự, thủ tụctạo điều kiện cho các công ty nhà nước lâm vào tình trạng phá sản có thểthực hiện phá sản.

- Bên cạnh đó, nhiều cơ chế, chính sách khác cũng được ban hành tạođiều kiện cho quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển khu vực doanh nghiệpnhà nước như ban hành cơ chế quản lý và xử lý nợ tồn đọng đối với doanhnghiệp nhà nước, thành lập Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng củadoanh nghiệp – công cụ hỗ trợ doanh nghiệp lành mạnh hóa tài chính, gópphần tách bạch chức năng quản lý và chức năng kinh doanh, chính sách đốivới lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước,…

+ Đã xây dựng và phê duyệt các đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanhnghiệp nhà nước phù hợp với vai trò của khu vực doanh nghiệp nhà nướctrong nền kinh tế thị trường làm cơ sở cho các bộ, ngành, địa phương tiếnhành tổ chức thực hiện Cụ thể là theo các đề án sắp xếp, đổi mới và pháttriển doanh nghiệp nhà nước của các bộ, ngành và địa phương đã được Thủtướng Chính phủ phê duyệt thì số lượng doanh nghiệp có 100% vốn nhànước chỉ còn khoảng 40% so với hiện nay; cổ phần hóa 43%; giao bán khoánkinh doanh và cho thuê 4,5%; còn lại sẽ giải thể, phá sản, chuyển sang đơn vị

sự nghiệp có thu; tổng số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp còn khoảng84%; lao động trong doanh nghiệp nhà nước còn khoảng 950 nghìn người(giảm 30,4%)

Điểm đáng chú ý là, tháng 11/2005 Quốc hội vừa thông qua LuậtDoanh nghiệp, trong đó quy định trong thời hạn 4 năm kể từ ngày LuậtDoanh nghiệp có hiệu lực (1/7/2006), tất cả công ty nhà nước phải chuyểnsang công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn Đây là giải phápquan trọng trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nướchoạt động bình đẳng trên cùng mặt bằng pháp lý với các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế

Ngày đăng: 17/04/2013, 10:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w