Với mục đích xây dựng phát triển mạng lưới dân cư theo hướng phát triển nông thôn mới, tạo tiền đề cho sự phát triển chung của huyện đảo, đồng thời đảm bảo đời sống cho người dân yên tâm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ HUYỆN CÔ TÔ,
TỈNH QUẢNG NINH THEO HƯỚNG NÔNG THÔN MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ HUYỆN CÔ TÔ,
TỈNH QUẢNG NINH THEO HƯỚNG NÔNG THÔN MỚI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.850.103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS VŨ THỊ BÌNH
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
Trang 4Lời cảm ơn
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các thầy, cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh và nhân dân địa phương
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Vũ Thị Bình đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh, các phòng, ban, cán bộ và nhân dân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Cô Tô đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hường
Trang 5
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển hệ thống điểm dân cư nông
1.1.3 Căn cứ pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư 6 1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống điểm dân cư 8 1.1.5 Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển khu
1.2.3 Nhận xét chung về xu thế, kinh nghiệm phát triển mạng lưới dân
1.3 Tổng quan về phát triển khu dân cư và xây dựng nông thôn mới ở
1.3.1 Một số điểm khái quát về xu hướng phát triển điểm dân cư Việt Nam 23
Trang 61.3.3 Một số công trình nghiên cứu về quy hoạch dân cư ở Việt Nam 29 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế, xã hội
2.3.2 Đánh giá thực trạng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Cô Tô
2.3.3 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Cô Tô đến năm
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu 32
2.4.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu và tổng hợp 34
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Cô Tô 36
3.2 Đánh giá thực trạng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện 47
3.2.1 Tình hình quản lý sử dụng đất khu dân cư 47
3.2.3 Thực trạng kiến trúc, cảnh quan trong các điểm dân cư 64 3.2.4 Đánh giá về kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn
3.3 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Cô Tô đến năm
Trang 73.3.1 Các dự báo cho định hướng phát triển mạng lưới dân cư 89
3.3.3 Một số giải pháp để thực hiện định hướng phát triển điểm dân cư 105
Trang 8Danh mục bảng
Bảng 1.3 Chỉ tiêu sử dụng đất xây dựng cho các điểm dân cư nông thôn 11
Bảng 3.1 Tình hình phát triển dân số trong 5 năm từ 2009 - 2013 42 Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất khu dân cư huyện Cô Tô 50 Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng một số loại đất chính trong khu vực đô thị 51 Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất một số loại đất chính trong khu dân cư nông
Bảng 3.5 Hiện trạng đất ở, số hộ, dân số trên địa bàn thị trấn Cô Tô 53 Bảng 3.6 Hiện trạng các điểm dân cư nông thôn trên địa bàn huyện Cô Tô 57 Bảng 3.7 Phân cấp một số chỉ tiêu đánh giá điểm dân cư nông thôn huyện Cô Tô 58 Bảng 3.8 Chi tiết kết quả phân loại điểm dân cư nông thôn trên địa bàn huyện
Bảng 3.9 Các điểm dân cư nông thôn loại 1 trên địa bàn huyện Cô Tô 60 Bảng 3.10 Các điểm dân cư nông thôn loại 2 trên địa bàn huyện Cô Tô 62 Bảng 3.11 Bảng đánh giá tổng hợp các tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn khu
Bảng 3.12 Dự báo sự phát triển của các điểm dân cư nông thôn trên địa bàn
Bảng 3.13 Định hướng phát triển khu vực nông thôn huyện Cô Tô theo hướng
Bảng 3.14 Diện tích sử dụng đất trong khu dân cư trước và sau định hướng 105
Trang 9Danh mục hình
Hình 3.3: Kiến trúc nhà kinh tế mới ở khu vực nông thôn huyện Cô Tô 65 Hình 3.4: Kiến trúc nhà người Hoa khu vực nông thôn huyện Cô Tô 65 Hình 3.5: Kiến trúc khu dân cư tự xây tại khu vực nông thôn huyện Cô Tô 66 Hình 3.6: Một số kiến trúc nhà phổ biến của khu vực trung tâm huyện 67 Hình 3.7: Một số tuyến đường giao thông tại thị trấn Cô Tô 69 Hình 3.8: Một số tuyến đường giao thông khu dân cư nông thôn huyện 69 Hình 3.9: Một số công trình y tế trên địa bàn huyện Cô Tô 71 Hình 3.10: Một số công trình giáo dục trên địa bàn huyện Cô Tô 72 Hình 3.11: Một số văn hóa thể thao trên địa bàn huyện Cô Tô 73 Hình 3.12 Sơ đồ hiện trạng hệ thống điểm dân cư huyện Cô Tô năm 2013 74 Hình 3.13 Sơ đồ định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Cô Tô đến
Trang 10Danh mục chữ viết tắt
BVHTTDL : Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cô Tô là huyện đảo tiền tiêu của tỉnh Quảng Ninh và vùng Đông Bắc tổ quốc có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng đảm bảo an ninh và chủ quyền lãnh hải Vì vậy cần xây dựng ở huyện đảo Cô Tô những tiền đề vững chắc, phát triển tốt về mọi mặt, phục vụ tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, trong đó phải đặc biệt chú trọng vấn đề an cư lập nghiệp cho nhân dân trên đảo
Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn huyện Cô Tô tập trung ở 01 thị trấn và 02 xã Những năm gần đây, trên địa bàn thị trấn Cô Tô và khu vực trung tâm các xã đã và đang hình thành những tụ điểm giao lưu kinh tế -
xã hội theo hướng đô thị hóa Bản thân dân cư tại các trung tâm này đang có sự chuyển hóa về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động: các hoạt động dịch vụ - thương mại - ngành nghề ngày càng phát triển, trong đó du lịch đang là ngành thu hút hàng đầu sự đầu tư của Nhà nước, các tổ chức và người dân địa phương Một bộ phận lao động đã tách khỏi sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp hoặc ít nhiều thoát
ly nông nghiệp
Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn huyện có 02 điểm quy hoạch dân
cư hoàn chỉnh là khu vực trung tâm của hai xã theo đề án xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, 02 điểm quy hoạch này chưa có sự liên kết rõ ràng với các điểm dân cư khác trong huyện Sự phát triển ở các điểm dân cư chủ yếu là tự phát, quá trình xây dựng nhà ở dựa vào nguồn vốn tự có của người dân Các công trình công cộng được xây dựng nhưng chưa đồng bộ, nhiều điểm chưa được bố trí hợp
lý và phù hợp với nhu cầu của người dân
Chính vì huyện chưa có quy hoạch phát triển hệ thống dân cư đồng bộ đã dẫn đến tình trạng khó khăn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như quản lý công tác xã hội ở địa phương Tuy đã có sự cố gắng đầu tư nhưng hiện tại hệ thống kết cấu hạ tầng vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa đảm bảo quy mô, tiêu chuẩn
Trang 12kỹ thuật, kiến trúc cảnh quan, dân cư nhiều khu vực xây dựng chưa đúng quy định làm ảnh hưởng chung đến kiến trúc cảnh quan
Với mục đích xây dựng phát triển mạng lưới dân cư theo hướng phát triển nông thôn mới, tạo tiền đề cho sự phát triển chung của huyện đảo, đồng thời đảm bảo đời sống cho người dân yên tâm bám đảo và thu hút nguồn lực từ bên ngoài cho địa phương, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá thực trạng và định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh theo hướng nông thôn mới”
3 Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững các quy định, tiêu chuẩn, quy phạm hiện hành về quy hoạch
đô thị và khu dân cư nông thôn của Việt Nam
- Các thông tin, số liệu, tài liệu sử dụng trong đề tài phải trung thực, phản ánh đúng hiện trạng
- Đề xuất định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện theo hướng xây dựng nông thôn mới và các giải pháp thực hiện phải thiết thực phù hợp với đặc điểm của địa phương, tuân thủ các quy định theo tiêu chuẩn Việt Nam và pháp luật của Nhà nước
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển hệ thống điểm dân cư nông thôn
1.1.1 Những khái niệm về điểm dân cư
- Cơ cấu cư dân:
Cơ cấu cư dân là toàn bộ các điểm dân cư của một nước, một tỉnh trong vùng kinh tế, phân bố trong không gian có phân công liên kết chức năng và hài hoà cân đối trong mỗi điểm và giữa các điểm dân cư trong một đơn vị lãnh thổ (Vũ Thị Bình, 2007)
Như vậy, cơ cấu cư dân là một cấu trúc tổng hợp và tương đối bền vững,
là một hình thái tổ chức của cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu vùng Các điểm dân cư phân biệt với nhau về quy mô và cấp hạng dựa trên sự tổng hợp các mỗi quan hệ phân công chức năng trong toàn bộ vùng Vì vậy trong quy hoạch cơ cấu cư dân phải lưu ý các mối quan hệ tương hỗ trong nội tạng cơ cấu của từng điểm dân cư, cũng như cơ cấu của toàn bộ trong một nhóm các điểm dân cư cụ thể
- Điểm dân cư đô thị:
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị (Nguyễn Thế Bá, 2004)
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương Đô thị bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, trị trấn Dân số toàn đô thị là dân số của khu vực nội thị và khu vực ngoại thị
- Điểm dân cư nông thôn:
Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm
vi một khu vực nhất định (gọi chung là thôn), được hình thành do điều kiện tự
Trang 14nhiên, điều kiện kinh tế xã hội - văn hoá, văn hóa, phong tục, tập quán và các yếu
tố khác Điểm dân cư nông thôn là một bộ phận của khu dân cư nông thôn (Vũ Thị Bình, 2007)
1.1.2 Phân loại hệ thống điểm dân cư
1.1.2.1 Phân loại đô thị
Nhằm phục vụ cho công tác quản lý hành chính về đô thị cũng như để xác định cơ cấu và định hướng phát triển đô thị, đô thị được phân chia thành nhiều loại khác nhau Thông thường việc phân loại đô thị dựa theo tính chất, quy mô và
vị trí của nó trong mạng lưới đô thị quốc gia (Nguyễn Thế Bá, 2004)
Ở nước ta, theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân loại và phân cấp quản lý đô thị, đô thị được chia thành 6 loại: đô thị đặc biệt; đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại
IV, đô thị loại V, thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1 Phân loại đô thị
Loại đô thị Đối tượng
Quy mô dân số (nghìn người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (%)
Vai trò đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
Đô thị loại đặc biệt thuộc Trung ương Thành phố trực >= 5000 >=15000 >=90 Cả nước
Đô thị loại I
Thành phố trực thuộc Trung ương >= 1000 >=12000 >=85
Một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước Thành phố thuộc tỉnh >= 500 >=10000 Một hoặc một số vùng lãnh thổ liên tỉnh
Đô thị loại II
Thành phố trực thuộc Trung ương >= 800 >=10000
>=80
Một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh Thành phố thuộc tỉnh >= 300 >=8000
Một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước
Đô thị loại III thị xã thuộc tỉnh Thành phố hoặc >= 150 >=6000 >=75
Một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh
Đô thị loại IV
Thị xã thuộc tỉnh
>= 50 >=4000 >=70
Một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh Thị trấn thuộc huyện
Đô thị loại V Thị trấn thuộc huyện >= 4 >=2000 >=65 Huyện hoặc một cụm xã
(Nguồn: Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ)
Trang 15Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương
Các đô thị được xác định là đô thị đặc thù thì tiêu chuẩn về quy mô dân số
và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương đương và bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị
1.1.3.2 Phân loại điểm dân cư nông thôn
Phân loại điểm dân cư nông thôn theo Tiêu chuẩn Việt Nam 4418 (TCVN) năm 1987 Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 4418 quy định phương pháp đánh giá và phân loại điểm dân cư nông thôn như sau: Mạng lưới điểm dân cư hiện trạng được phân thành 3 loại:
+ Loại 1: Các điểm dân cư chính, tồn tại lâu dài và phát triển gần những thôn, bản được quy hoạch xây dựng mới hoặc cải tạo để trở thành điểm dân cư chính thức của hệ thống dân cư chung trên lãnh thổ toàn huyện, được ưu tiên quy hoạch và đầu tư xây dựng đồng bộ Các điểm dân cư này có các trung tâm sản xuất và phục vụ công cộng chung của xã
+ Loại 2: Các điểm dân cư phụ thuộc, phát triển có giới hạn Các điểm dân
cư này có mối quan hệ hoạt động sản xuất và sinh hoạt gắn chặt với các điểm dân
cư chính, chúng được khống chế về quy mô mở rộng, về mức độ xây dựng trong giai đoạn quá độ, không được đầu tư xây dựng những công trình có giá trị
+ Loại 3: Những xóm, trại, ấp nhỏ không có triển vọng phát triển, không thuận lợi cho tổ chức sản xuất và đời sống, trong tương lai cần có biện pháp và
kế hoạch di chuyển theo quy hoạch
- Tiêu chuẩn đánh giá phân loại điểm dân cư nông thôn:
Ở những khu vực dân cư đông đúc đã tồn tại mạng lưới dân cư từ lâu đời cần dựa trên các tiêu chuẩn sau đây để đánh giá phân loại điểm dân cư:
+ Thôn xóm chính đảm nhận từ 100 ha canh tác trở lên
Trang 16+ Cự ly trung bình từ điểm dân cư đến cánh đồng xa nhất không quá từ 1,5 đến 2 km
+ Có điều kiện thuận lợi về đất đai, vị trí địa lý, khả năng trang bị kỹ thuật
và nguồn nhân lực để xây dựng nhiều công trình phục vụ sản xuất, sớm hình thành cụm trung tâm sản xuất tập trung của xã
+ Có điều kiện để xây dựng các công trình văn hóa phúc lợi công cộng chung của xã (Đối với những điểm dân cư chính phải có số dân ít nhất là trên 1.500 người và phải có những điều kiện thuận lợi khác về đất đai, vị trí, trang bị
kỹ thuật, đối với điểm dân cư phụ phải có quy hoạch dân số tối thiểu là 500 người để xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo)
+ Có nhiều công trình có giá trị như: các cơ sở vật chất kỹ thuật của Hợp tác xã hoặc công trình phúc lợi công cộng của xã, nhà ở của dân được xây bằng gạch, ngói từ 30% đến 40% trở lên Những điểm dân cư có các công trình di tích lịch sử văn hóa, công trình đặc biệt hoặc có phong cảnh đẹp, khí hậu tốt cần quy hoạch cải tạo thành nơi nghỉ, dưỡng bệnh hoặc tham quan du lịch
+ Có vị trí thuận lợi gần tuyến giao lưu đầu mối kỹ thuật
1.1.3 Căn cứ pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư
1.1.3.1 Hệ thống các văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước
Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
Luật Xây dựng năm 2003;
Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020;
Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050;
Quyết định 193/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
Trang 17Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn năm 2010-2020;
Quyết định số 1738/QĐ-TTg ngày 20/9/2010 của Thủ tướng chính phủ thành lập Thường trực Ban chỉ đạo trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;
Quyết định số 1111/QĐ-UBND ngày 02 tháng 5 năm 2013 về việc ban hành tạm thời các tiêu chí nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh
cư nông thôn);
Thông tư số 07/2008/TT-BXD ngày 07/4/2008 của Bộ Xây dựng hướng
dẫn lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng;
Quyết định số 03/2008/QĐ-BXD ngày 31/3/2008 của Bộ Xây dựng về ban hành quy định nội dung thể hiện bản vẽ, thuyết minh đối với nhiệm vụ và đồ
án quy hoạch xây dựng;
Bộ tiêu chí Nông thôn mới do Chính phủ ban hành tại Quyết định số
491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009;
Thông tư số 21/2009/TT-BXD ngày 03 tháng 6 năm 2009 của Bộ Xây
dựng về lập, thẩm định, phê duyệt, quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn;
Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ Xây dựng về việc ban hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn;
Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ trưởng
Bộ Xây dựng về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
Trang 18Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04 tháng 10 năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới;
Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng quy định
việc lập thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;
Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị
1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống điểm dân cư
1.1.4.1 Nguyên tắc phát triển không gian đô thị:
- Tuân thủ quy hoạch vùng lãnh thổ về địa lí và phát triển kinh tế: Mỗi
đô thị đều phải gắn bó với sự phát triển của toàn vùng vì quy hoạch vùng đã cân đối sự phát triển cho mỗi điểm dân cư trong vùng lãnh thổ
- Triệt để khai thác các lợi thế của điều kiện tự nhiên: Những đặc trưng
của cảnh quan thiên nhiên là cơ sở để hình thành cấu trúc không gian đô thị Các giải pháp quy hoạch, đặc biệt là trong cấu trúc chức năng cần phải tận dụng triệt
để các điều kiện tự nhiên, nhằm cải thiện nâng cao hiệu quả của cảnh quan môi trường đô thị và hình thành cho đô thị một đặc thù riêng hòa hợp với thiên nhiên
Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị còn phải hết sức lưu ý đến vấn đề
cơ cấu tổ chức của các khu ở, khu trung tâm đô thị và các khu đặc trưng khác như khu vực danh lam thắng cảnh, khu vực lịch sử, khu vực tâm linh tôn giáo
- Kế thừa và phát huy thế mạnh của hiện trạng: Cần phải kết hợp và phát
huy mọi tiềm năng giữa cái cũ và cái mới trong đô thị, giữa truyền thống và hiện đại, đặc biệt chú ý đến công trình kiến trúc có giá trị, các khu phố cổ truyền thống
- Phát huy vai trò của khoa học kỹ thuật tiên tiến: Thiết kế quy hoạch
tổng thể xây dựng đô thị phải đảm bảo phát huy tốt các mặt về kỹ thuật đô thị,
Trang 19trang thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là giao thông đô thị Cần đảm bảo thực hiện các quy chế và chỉ tiêu về kinh tế kỹ thuật xây dựng Phải tuân thủ các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về xây dựng phát triển đô thị, hiện đại hóa các trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc
- Tính cơ động và hiện thực của đồ án quy hoạch: Bất kỳ một đồ án nào
khi thiết kế cũng phải đề cập đến khả năng thực thi của nó và trong từng giai đoạn Muốn thực hiện được ý đồ phát triển tốt thì tính cơ động và linh hoạt của
đê án phải rất cao, có nghĩa là trước những hiện tượng đột biến về đầu tư xây dựng, hoặc những chủ trương mới của chính quyền về xây dựng đô thị thì hướng phát triển cơ bản và lâu dài của đô thị vẫn dươc bảo đảm (Nguyễn Thế Bá, 2004)
1.1.4.2 Nguyên tắc phát triển hệ thống điểm dân cư nông thôn
- Dựa trên những cơ sở phương hướng, nhiệm vụ, phát triển sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ), đồng thời phải phục vụ thiết thực cho các kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương
- Phù hợp với quy hoạch bố trí lao động, dân cư trên địa bàn huyện và phải xem xét đến quan hệ với các điểm dân cư lân cận, phải phối hợp chặt chẽ với các quy hoạch chuyên ngành khác có liên quan như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch giao thông, quy hoạch đồng ruộng
- Phải xuất phát từ tình hình hiện trạng, khả năng về đất đai, nhân lực, vốn đầu tư, theo phương châm: “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đồng thời phải phù hợp với điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn…), phù hợp với các truyền thống, tập quán tiến bộ về sản xuất và sinh hoạt chung của từng vùng, từng dân tộc
- Đảm bảo yêu cầu về quốc phòng, chống bão lụt và bảo vệ môi trường
- Cần xét đến triển vọng phát triển trong tương lai, phải đáp ứng các yêu cầu sản xuất và đời sống trong giai đoạn trước mắt, đồng thời phải có phương hướng quy hoạch dài hạn từ 15 đến 20 năm
Trang 20- Kết hợp chặt chẽ giữa cải tạo và xây dựng mới, triệt để tận dụng những cơ
sở cũ có thể sử dụng được vào mục đích sản xuất và phục vụ đời sống (Vũ Thị Bình, 2007)
1.1.5 Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển khu dân cư
1.1.5.1 Những quy định về định mức sử dụng đất
Định mức sử dụng đất là cơ sở quan trọng để Nhà nước lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung và quy hoạch kế hoạch sử dụng đất khu dân cư nói riêng Định mức sử dụng đất được quy định trong các văn bản pháp luật sau:
- Theo khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai 2013, hạn mức giao đất ở do UBND cấp tỉnh căn cứ trên căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị (đối với đô thị), quy hoạch phát triển nông thôn (đối với nông thôn) và quỹ đất của địa phương Với địa bàn tỉnh Quảng Ninh, hạn mức giao đất ở được quy định tại Quyết định 1768/2014/QĐ-UBND ngày 13/8/2014 cụ thể như sau:
+ Hạn mức giao đất ở đô thị: Có các mức: <=120,0 m2/hộ; <=200,0 m2/hộ;
<=300,0 m2/hộ; <=400,0 m2/hộ dựa trên điều kiện của từng vị trí đất
+ Hạn mức giao đất ở nông thôn:
Các xã đồng bằng: Hạn mức giao đất ở cho 1 hộ không quá 300m2/hộ Các xã trung du, miền núi, hải đảo: Hạn mức giao đất ở cho 1 hộ không quá 400m2/hộ
- Điều 146 luật đất đai năm 2013 “Đất sử dụng để chỉnh trang, phát triển
đô thị và khu dân cư nông thôn” đã quy định: Việc sử dụng đất để chỉnh trang, phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
- Theo Công văn số 5763/BTNMT - ĐKTK ngày 25/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn định mức sử dụng đất áp dụng trong công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã hướng dẫn áp dụng
Trang 21định mức cho 10 loại đất: Đất y tế, đất văn hoá, đất giáo dục, đất thể thao, đất thương nghiệp dịch vụ, đất giao thông vận tải, đất thuỷ lợi, đất công nghiệp, đất
đô thị, đất khu dân cư nông thôn Đối với định mức sử dụng đất trong khu dân cư được quy định như sau:
Bảng 1.2 Định mức sử dụng đất trong khu dân cư
Loại đất
Khu vực đồng bằng ven biển Khu vực miền núi trung du Diện tích
(m 2 /người)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (m 2 /người)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Công văn số 5763/BTNMT - ĐKTK ngày 25/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
- Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ trưởng
Bộ Xây dựng về việc ban hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn Theo
đó quy định cụ thể về định mức sử dụng đất:
+ Chỉ tiêu sử dụng đất xây dựng cho các điểm dân cư nông thôn phải phù
hợp với điều kiện đất đai của từng địa phương nhưng không được nhỏ hơn các
giá trị quy định sau:
Bảng 1.3 Chỉ tiêu sử dụng đất xây dựng cho các điểm dân cư nông thôn
Loại đất Chỉ tiêu sử dụng đất (m 2 /người)
Đất nông, lâm ngư nghiệp; đất công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, phục vụ sản xuất Tuỳ thuộc vào quy hoạch phát triển của từng địa phương
(Nguồn: Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng)
Trang 22+ Ngoài ra quy định cụ thể đối với diện tích, định mức đất xây dựng tối
thiểu đối với: Trụ sở xã; Nhà trẻ, trường mầm non; Trường tiểu học; Trường trung học cơ sở; Trạm y tế xã; Trung tâm văn hóa - thể thao; Chợ, cửa hàng dịch vụ; Điểm phục vụ bưu chính viễn thông; Diện tích khu đất xây dựng cho một số công trình phục vụ sản xuất
1.1.5.2 Những quy định về quản lý đất đai và quản lý quy hoạch xây dựng
* Quản lý đất đai
Quản lý đất đai theo quy hoạch đã được ghi cụ thể trong Luật Đất đai hiện hành Trong phạm vi điểm dân cư nông thôn bao gồm các loại đất phân theo các mục đích sử dụng như: đất ở; đất nông nghiệp (đất vườn, ao trong khuôn viên của
hộ gia đình và có thể có một số đất nông nghiệp khác nằm xen kẽ trong dân cư,
do UBND xã quản lý sử dụng); đất lâm nghiệp (nếu có); đất chuyên dùng; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng (nếu có)
Theo quy định của Luật Đất đai 2013, Nhà nước thống nhất quản lý các loại đất và giao cho hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức sử dụng theo đúng mục đích và có hiệu quả
- Đất ở của mỗi hộ gia đình được quy định hạn mức cụ thể tuỳ theo từng địa phương dựa trên căn cứ điều 143, 144 của Luật Đất đai năm 2013
- Các loại đất chuyên dùng phục vụ yêu cầu xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở và phục vụ lợi ích công cộng phải được sử dụng theo đúng mục đích trên cơ sở phương án quy hoạch thiết kế đã được phê duyệt
* Quản lý quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn
Công tác quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn bao gồm quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn mới và quy hoạch cải tạo xây dựng phát triển các điểm dân cư nông thôn hiện có
1.1.5.3 Những quy định về hướng phát triển hệ thống điểm dân cư
* Định hướng phát triển đô thị:
- Ngày 07 tháng 04 năm 2009, Thủ tướng chính phủ có Quyết định số 445/QĐ-TTg Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 Theo đó:
Trang 23+ Hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 phát triển theo từng giai đoạn bảo đảm sự kế thừa các ưu điểm của định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1998, phù hợp với các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo từng thời kỳ và hội nhập kinh tế quốc tế
+ Định hướng phát triển chung không gian đô thị cả nước theo hướng bảo đảm phát triển hợp lý các vùng đô thị hóa cơ bản giữa 6 vùng kinh tế - xã hội quốc gia, giữa miền Bắc, miền Trung và miền Nam; giữa phía Đông và phía Tây; gắn với việc phát triển các cực tăng trưởng chủ đạo và thứ cấp quốc gia, đồng thời bảo đảm phát triển theo mạng lưới, có sự liên kết tầng bậc theo cấp, loại đô thị
+ Từ nay đến 2015 ưu tiên phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng đô thị lớn và các khu kinh tế tổng hợp đóng vai trò là cực tăng trưởng chủ đạo cấp quốc gia; từ năm 2015 đến 2025 ưu tiên phát triển các vùng đô thị hóa cơ bản, giảm thiểu sự phát triển phân tán, cục bộ; giai đoạn từ năm 2026 đến năm
2050 chuyển dần sang phát triển theo mạng lưới đô thị
+ Định hướng tổ chức không gian hệ thống đô thị cả nước: Mạng lưới đô thị, các đô thị trung tâm các cấp được phân bố hợp lý trên cơ sở 6 vùng kinh tế xã hội quốc gia; Các đô thị lớn, cực lớn; Các chuỗi và chùm đô thị
+ Định hướng tổ chức hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị quốc gia; Bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái đô thị; Định hướng phát triển kiến trúc cảnh quan đô thị…
- Ngày 05/5/2004 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số TTg phê duyệt định hướng phát triển nhà ở đến năm 2020 Theo đó:
76/2004/QĐ-Khuyến khích phát triển nhà ở căn hộ chung cư cao tầng một cách hợp lý phù hợp với điều kiện cụ thể của từng đô thị để góp phần tăng nhanh quỹ nhà ở, tiết kiệm đất đai, tạo diện mạo và cuộc sống văn minh đô thị theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà ở đô thị phải được xây dựng phù hợp với quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chẩn và các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng nhà ở do cơ quan nhà nước có
Trang 24thẩm quyền ban hành; hình thành các tiểu khu nhà ở, khu dân cư tập trung vừa và nhỏ, phân bố hợp lý, không tập trung dân cư qúa đông và các thành phố lớn
Phấn đấu đạt chỉ tiêu bình quân 15m2 sàn/người vào năm 2010 và 20m2sàn/người vào năm 2020
* Định hướng khu dân cư nông thôn:
- Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn khẳng định quan điểm: “Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ
và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt”
- Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn năm 2010-2020 Theo đó, mục tiêu chung: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật
tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới) và đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới) Thời gian thực hiện Chương trình từ năm 2010 đến năm 2020, trên địa bàn nông thôn toàn quốc
- Ngày 05/5/2004 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số TTg phê duyệt định hướng phát triển nhà ở đến năm 2020 Theo đó phấn đấu để
Trang 2576/2004/QĐ-từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng chỗ ở của các hộ dân cư nông thôn Phát triển nhà ở nông thôn gắn với việc phát triển và nâng cấp hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
Phát triển nhà ở nông thôn phải đảm bảo phù hợp với điều kiện sản xuất, đặc điểm tự nhiên và tập quán sinh hoạt của từng vùng, sử dụng có hiệu quả quỹ đất sẵn có và khuyến khích phát triển nhà nhiều tầng để tiết kiệm đất, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang đất ở
Khuyến khích huy động nội lực của hộ gia đình, cá nhân khu vực nông thôn tự cải thiện chỗ ở kết hợp với sự giúp đỡ hỗ trợ của cộng đồng, dòng họ, các thành phần kinh tế
Phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành chương trình hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số và các hộ thuộc diện chính sách
Phấn đấu hoàn thành việc xóa bỏ nhà ở tạm (tranh, tre, nứa, lá) tại các khu vực nông thôn vào năm 2020 Diện tích nhà ở bình quân tính theo đầu người đạt 14m2 sàn/người, nhà ở nông thôn có công trình phục vụ sinh hoạt và sản xuất dịch vụ phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường
Dự kiến đến năm 2020, diện tích nhà ở bình quân đạt 18m2/người, tất cả các điểm dân cư nông thôn đểu có hệ thống cấp, thoát nước đảm bảo tiêu chuẩn quy định
1.1.5.4 Định hướng phát triển kiến trúc cảnh quan
Ngày 03/9/2002 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 112/2002/QĐ-TTg phê duyệt định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2020 Theo đó:
- Đô thị
Phát triển và hình thành tổng thể kiến trúc ở khu vực đô thị trên cơ sở phân bố và phát triển hệ thống đô thị theo Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 1998
Tổng thể kiến trúc của mỗi vùng và đô thị phải có bản sắc riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế, tự nhiên, dân số - xã hội, trình độ khoa học, kỹ thuật,
Trang 26truyền thống văn hóa lịch sử của địa phương và các đồ án quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Tổng thể kiến trúc của mỗi đô thị phải kết hợp hài hoà giữa cải tạo với xây dựng mới; đổi mới môi trường văn hóa kiến trúc truyền thống, nhưng không làm mất đi bản sắc riêng
Hình thành kiến trúc đô thị phải coi trọng nguyên tắc gắn công trình riêng
lẻ với tổng thể kiến trúc của đô thị; đảm bảo kết hợp hài hoà giữa quá khứ với hiện tại và tương lai Mọi việc cải tạo, xây dựng mới trong đô thị phải tuân thủ các quy định về quản lý kiến trúc và quy hoạch xây dựng đô thị
- Nông thôn
Phát triển kiến trúc tại các làng, xã có liên quan trực tiếp với cơ cấu quy hoạch chung của các đô thị phải được dựa trên quy hoạch chi tiết xây dựng, có sự tham gia của dân cư và cộng đồng; lưu ý giữ lại những di sản kiến trúc, thiên nhiên của làng, xã; bổ sung những chức năng còn thiếu, kết hợp hiện đại hóa kết cấu hạ tầng Công trình mới được tạo lập phải tuân thủ các quy định về quản lý kiến trúc và quy hoạch xây dựng đô thị
Hình thành tổng thể kiến trúc tại các thị tứ, trung tâm xã, cụm xã trên cơ
sở tuân thủ các quy định của quy hoạch xây dựng; khuyến khích phát triển các công trình xây dựng ít tầng, mái dốc, kế thừa hình thức kiến trúc truyền thống, gắn bó hài hoà với khung cảnh thiên nhiên, phù hợp với điều kiện khí hậu của địa phương
Kiến trúc làng mạc được thực hiện theo quy hoạch tổng thể đến khuôn viên ngôi nhà của từng gia đình Xây dựng nông thôn đồng bộ về kiến trúc lẫn hạ tầng
kỹ thuật đảm bảo môi trường sinh thái và phát triển bền vững Phát triển không gian kiến trúc nông thôn cần phù hợp với sự phát triển kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, chăn nuôi, phát triển ngành nghề truyền thống, kinh tế, du lịch, văn hóa
Trong những năm tới, kiến trúc nông thôn được hình thành và phát triển theo 3 hướng sau:
Hướng hòa nhập vào không gian đô thị: xu hướng này diễn ra cùng với quá trình phát triển và mở rộng không gian đô thị ra các vùng ngoại ô, làm cho
Trang 27một số điểm dân cư nông thôn bị mất đi, một số khác sắp xếp lại, số còn lại được bảo tồn trong cơ cấu quy hoạch đồ thị
Hướng phát triển kiến trúc với việc hình thành các thị trấn, thị tứ giữ vai trò là trung tâm xã, cụm xã, các thị trấn, thị tứ gắn với vùng nông nghiệp trước khi xây dựng đều phải lập quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết
Hướng cải tạo, chỉnh trang và phát triển kiến trúc tại các làng xã: Việc phát triển kiến trúc tại các làng, xã thuộc các vùng nông nghiệp cần lưu ý bảo tồn được các truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán riêng biệt của từng địa phương
- Phát triển kiến trúc các thể loại công trình
Phát triển kiến trúc các thể loại công trình theo phương châm: thích dụng,
mỹ quan, bảo vệ môi trường sinh thái và kinh tế, đáp ứng nhu cầu tinh thần và vật chất của con người, xã hội; đảm bảo tính dân tộc và tính hiện đại, quán triệt nguyên tắc phát triển bền vững, tạo lập môi trường sống tốt đẹp cho mọi người, phát huy hiệu quả tổng hợp kinh tế, xã hội và môi trường trong thiết kế, thi công
và quản lý sử dụng công trình, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, vươn lên đạt trình độ tiên tiến quốc tế
Kiến trúc nhà ở phải đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng môi trường cư trú, thoả mãn các yêu cầu sinh hoạt đa dạng của dân cư; phấn đấu đến năm 2020 thực hiện được các chỉ tiêu cơ bản phát triển nhà ở
Kiến trúc công cộng phải thể hiện tổng hợp các yếu tố quy hoạch, cảnh quan đô thị, văn hóa nghệ thuật, kỹ thuật đạt tới trình độ tiên tiến trong khu vực Các công trình trọng điểm nhà nước phải đạt trình độ tiên tiến trên thế giới
Kiến trúc công nghiệp phải coi trọng việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến trong
và ngoài nước đối với tổ chức không gian, môi trường sản xuất và quản lý Các công trình công nghiệp lớn phải đạt trình độ tiên tiến trên thế giới
Nâng cao chất lượng thiết kế điển hình kiến trúc; tiêu chuẩn hoá cấu kiện xây dựng; thực hiện công nghiệp hóa và thương mại hóa cung cấp sản phẩm cho thị trường xây dựng
Trang 28Kiến trúc công trình ngầm phải được coi trọng trong quy hoạch, thiết kế xây dựng; quán triệt nguyên tắc kết hợp sử dụng trong thời bình và thời chiến; hình thành hệ thống không gian công cộng ngầm gắn kết với trên mặt đất
1.2 Thực trạng và xu thế phát triển hệ thống điểm dân cư một số nước trên thế giới
1.2.1 Một số nước Châu Âu
1.2.1.1 Vương quốc Hà Lan
Hà Lan không được thiên nhiên ưu đãi Sau thiên tai nặng nề trong thế kỷ thứ XIV, nhân dân Hà Lan đã tiến hành từng bước khoanh vùng rút nước để làm khô một diện tích rất lớn đất trũng nhằm mở mang diện tích đất đai sinh sống Diện tích đất này đến nay đã chiếm tới một nửa diện tích toàn quốc
Trên các vùng đất trũng đó được chia thành từng khu để lập các điểm dân
cư nông nghiệp Trung tâm vùng xây dựng một thành phố cỡ 12.000 dân, với các công trình công cộng đạt trình độ cao Xung quanh thành phố là các làng cách nhau từ 5 - 7 km với quy mô mỗi làng khoảng 1500 - 2500 dân, Mỗi làng được xây dựng đầy đủ các công trình văn hóa xã hội và nhà ở cho nông dân, công nhân nông nghiệp Mỗi làng có các xóm (hamlet) với quy mô khoảng 500 người Sản xuất nông nghiệp được tổ chức theo kiểu các điền chủ thuê đất của Nhà nước, tập hợp nhân công canh tác Số lượng này trở thành công nhân nông nghiệp và sống trong các làng nói trên Mạng lưới giao thông được tổ chức rất tốt Đường ô tô nối liền các điểm dân cư, bảo đảm liên hệ thuận tiện nhanh chóng từ nơi ở đến các cánh đồng và khu vực tiêu thụ, chế biến (villiage-fram-processing and market centre) Đây là công việc khó khăn và tốn kém, vì phải xây dựng mới hoàn toàn
cả một hệ thống đường (Đỗ Đức Viêm, 1997)
1.2.1.2 Liên Xô cũ
Mục tiên của nhà nước Liên Xô cũ là xây dựng nông thôn tiến lên sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn, hiện đại, xóa sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn
Đặc trưng của các điểm dân cư nông thôn ở toàn Liên Bang là hợp nhất từng bước các nông trang tập thể thành một đơn vị sản xuất lớn hơn Năm 1950
Trang 29có151.000 nông trang tập thể, đến năm 1959 chỉ còn 64.000 đơn vị sản xuất Các điểm dân cư rải rác cũng được tập trung lại, tạo điều kiện xây dựng các nông trang tập thể Năng suất lao động được nâng lên, số lao động trong nông nghiệp giảm xuống Việc xây dựng nông thôn ở Liên Xô có thể phân ra hai giai đoạn: trước năm 1960 và sau năm 1960 trở đi
Từ sau 1960, chỉ tiêu đất và diện tích xây dựng được khống chế chặt chẽ Quy hoạch khu ở theo dạng bàn cờ, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng công trình Giải pháp mặt bằng tự do - thời đó rất được lưu ý - để bảo vệ địa hình và phong cảnh Tầng cao phổ biến từ 3 đến 4 tầng; ít nhà một hộ riêng biệt Các công trình
hạ tầng kỹ thuật được xây dựng tập trung, đỡ tốn kém Các khu vực nông thôn truyền thống được giữ lại và nâng cấp dần theo sự phát triển sản xuất của mỗi khu vực (Đỗ Đức Viêm, 1997)
1.2.2 Một số nước Châu Á
1.2.2.1.Vương quốc Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước lớn cả về diện tích và dân số trong vùng Đông Nam Á, cả nước có khoảng 53.000 làng xóm Trải qua 06 kế hoạch phát triển 5 năm, khởi đầu từ năm 1962 cho đến hết năm 1991 đã góp phần thay đổi đáng kể đời sống của người dân so với trước đây Chính sách kinh tế của Thái Lan là ưu tiên phát triển giao thông, đặc biệt là giao thông đường bộ Từ kế hoạch 5 năm lần thứ năm, mạng lưới giao thông nông thôn đã được quan tâm phát triển, đặc biệt là các đường nối liên khu sản xuất với các thị trường chế biến, tiêu thụ Tính đến cuối năm 1976, đã xây dựng mới và nâng cấp được 16.569 km đường nông thôn, phần lớn tập trung vào các vùng có tiềm năng sản xuất Mặc dù phát triển hệ thống giao thông nông thôn trên toàn quốc, nhưng sự cách biệt giữa người giàu, người nghèo ở nông thôn ngày càng lớn Năng suất thu hoạch nông sản trung bình cả nước mới đạt 2,2 tấn/ha Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng lớn (Đỗ Đức Viêm, 1997)
1.2.2.2 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Trung Quốc là nước nông nghiệp lâu đời, đất rộng, người đông Dân số trên 1,3 tỷ người, trong đó dân số nông thôn chiếm xấp xỉ 80% Đơn vị cơ sở ở
Trang 30nông thôn Trung Quốc là làng hành chính (administration village) Trong nhiều trường hợp làng hành chính trùng với làng truyền thống (traditional village) Làng truyền thống chia thành hai hay nhiều làng hành chính Toàn quốc có trên 800.000 làng hành chính, mỗi làng có 800 - 900 dân Trong chiến lược hiện đại hoá đất nước, việc phát triển các cộng đồng nông thôn có ý nghĩa quan trọng
Trải qua một quá trình dài, Đảng Cộng sản dân chủ nhân dân Trung Hoa
đã tìm ra được con đường thích hợp cho sự phát triển nông thôn Trung Quốc, đó
là con đường công nghiệp hóa nông thôn Hệ thống các xí nghiệp thị trấn được khuyến khích thông qua các chính sách phát triển của Chính phủ, do người nông dân lập ra, tự phát triển, tự quản lý Các xí nghiệp này góp phần khép kín quá trình sản xuất ở các vùng nông thôn từ thu mua nông sản, thực phẩm, các nguyên liệu địa phương tiến tới sản xuất, chế biến và tiêu thụ Các xí nghiệp này thu hút lực lượng lao động chưa có việc làm - những người nông dân rời bỏ nông nghiệp nhưng không rời thị trấn, làng mạc Họ đến nhà máy nhưng không đến các thành phố lớn
Ưu điểm của mô hình phát triển công nghiệp nông thôn là sự tiếp nhận công nghiệp mà tránh được sự tập trung quá đông ở các thành phố và khu công nghiệp Người nông dân có thời cơ để làm giàu nhanh chóng, nông thôn phát triển mạnh, mức sống của nông thôn và thành thị xích lại gần nhau (Đỗ Đức Viêm, 1997)
Hiện nay, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa là một công trình có
hệ thống mang lại lợi ích cho hàng trăm triệu nông dân, đồng thời cũng là một quá trình lâu dài Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu dẫn đường, Chính phủ hỗ trợ, nông dân xây dựng Giải quyết trước mắt vấn đề nước sinh hoạt cho hàng trăm triệu nông dân; cải tạo và xây dựng mới 1,2 triệu km đường giao thông ở nông thôn; hoàn thiện hệ thống dịch vụ y tế khám, chữa bệnh ở nông thôn và chuyển dịch việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn Đồng thời với những công việc trên, trong việc xây dựng nông thôn mới, Trung Quốc còn
áp dụng các biện pháp thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục và y tế khám, chữa
Trang 31bệnh ở khu vực nông thôn (Nguyễn Thế Bá, 2004)
1.2.2.3 Cộng hòa Ấn Độ
Ấn Độ là một quốc gia đất rộng người đông, đứng thứ 2 ở Châu Á (sau Trung Quốc) Theo các chuyên gia kinh tế, đặc điểm của đất nước Ấn Độ được khái quát là:
Nền kinh tế chậm phát triển, tài nguyên phân bố không đồng đều, mất cân đối giữa các vùng, khác biệt lớn giữa thành thị và nông thôn, bình quân thu nhập đầu người rất thấp, tốc độ tăng dân số quá nhanh, nhiều người thất nghiệp, di dân
từ nông thôn ra thành thi khá lớn
Các chuyên gia phát triển nông thôn Ấn Độ cho rằng muốn đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới cần có 3 hệ thống trung tâm nông thôn được phân cấp và hoạch định như sau:
Hệ thống trung tâm thứ nhất gọi là làng trung tâm, có chức năng đảm bảo các dịch vụ cơ bản cho dân cư trong làng cũng như các khu vực xung quanh
Hệ thống trung tâm thứ hai được gọi là trung tâm dịch vụ, có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ ở mức trung bình
Hệ thống trung tâm thứ ba là trung tâm phát triển, đáp ứng các nhu cầu dịch vụ ở mức độ cao
Các trung tâm trên không chỉ đơn thuần là nơi có hạ tầng kỹ thuật thích ứng mà còn là các điểm nút để tổ chức toàn bộ hoạt động phát triển cho từng vùng, từng địa phương
Các kế hoạch 5 năm của Nhà nước Ấn Độ luôn chú ý tới việc xoá bỏ đói nghèo, cải thiện điều kiện vật chất và đời sống cho người nghèo, phát triển các trung tâm thị trường và dịch vụ cho các vùng nông thôn sâu trong nội địa, đồng thời chú ý nâng cấp giáo dục, đầu tư cho các nhu cầu về tinh thần Sự cố gắng của Chính phủ Ấn Độ trên bình diện quốc gia đã phần nào làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi Tuy nhiên kết quả phát triển nông thôn không được như mong muốn, sự phân hoá giàu nghèo ở nông thôn lại tăng lên, mục tiêu giảm chênh lệch giữa khu vực nông thôn - thành thị không đạt được (Đỗ Đức Viêm, 1997)
Trang 321.2.3 Nhận xét chung về xu thế, kinh nghiệm phát triển mạng lưới dân
cư trên thế giới
Qua nghiên cứu tình hình phát triển nông thôn trên thế giới từ châu Âu sang châu Á, từ các nước phát triển cao tới các nước đang phát triển, từ các nước
có chế độ chính trị khác nhau, ta thấy muốn phát triển nông thôn phải xây dựng
cơ sở hạ tầng Và trên hết, phải có một mạng lưới đường giao thông phát triển hợp lý mới có khả năng đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội đưa đất nước tiến lên Mặt khác, muốn giảm bớt sự di dân hàng loạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, ngăn cản sự phình to quá cỡ của các thành phố lớn, nhất thiết phải công nghiệp hóa nông thôn Công nghiệp hóa nông thôn còn mang lại sự thay đổi lối sống nông thôn truyền thống sang lối sống văn minh đô thị - thành thị hóa nông thôn Để đạt được điều đó, việc phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật luôn luôn phải giữ vai trò hàng đầu Hệ thống đường giao thông luôn luôn giữ vai trò trọng yếu trong việc phát triển kinh tế - xã hội nông thôn như kinh nghiệm của các quốc gia đã cho thấy
Trong thời gian gần đây, các nước Nam Á có rất nhiều cố gắng đưa ra các chương trình phát triển nông thôn để phát triển kinh tế và ổn định xã hội Có nước đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế, các vùng nông thôn được đầu tư cơ sở
hạ tầng, mạng lưới giao thông phát triển, dịch vụ công cộng được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện Tuy vậy, chưa nước nào đạt được mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ đói nghèo, nâng chất lượng sống ở các vùng nông thôn ngang với
đô thị Ở một số quốc gia, các nỗ lực phát triển có khi lại làm cho tình hình trở nên xấu hơn do tạo ra sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt hơn, thất nghiệp nhiều hơn, dẫn tới mất ổn định xã hội Do vậy, mỗi nước nông nghiệp cần phải tìm ra một
mô hình phát triển nông thôn phù hợp với điều kiện cụ thể cho mình (Đỗ Đức Viêm, 1997)
Trang 331.3 Tổng quan về phát triển khu dân cư và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.3.1 Một số điểm khái quát về xu hướng phát triển điểm dân cư Việt Nam
1.3.1.1 Khái quát chung
Theo nhà sử học Nguyễn Quang Ngọc, nghiên cứu về điểm dân cư ở nông thôn trước hết phải nói đến làng Làng vốn là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người Việt xuất hiện từ rất sớm Chính quyền trung ương đã dựa vào làng Việt truyền thống, biến làng thành một đơn vị quan hệ xã hội Qua bao nhiêu biến đổi phức tạp của lịch sử phát triển, làng vẫn tồn tại và vẫn giữ được bản sắc riêng của mình Ngày nay xã là đơn vị hành chính có quyền lực về mọi mặt nhưng làng vẫn là cốt lõi tinh thần và vật chất của xã Như vậy, khi nói đến “Làng” là đã chứa đựng một cách tương đối hoàn chỉnh một đơn vị cấu thành cơ bản ở nông thôn (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007)
1.3.1.2 Phân bố không gian các điểm dân cư truyền thống
Sự phân bố các điểm dân cư trên các vùng lãnh thổ nước ta không đồng đều Quá trình hình thành và phát triển điểm dân cư phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu, địa hình ) và điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán của mỗi vùng, trong đó các yếu tố về điều kiện tự nhiên giữ vai trò rất quan trọng Đặc trưng về mạng lưới dân cư trên các vùng thể hiện như sau:
* Vùng trung du và miền núi: Phổ biến ở rìa phía vùng trung du và miền
núi phía Bắc, các huyện trung du miền núi của các tỉnh Tây Nguyên Địa hình cơ bản là đồi gò, núi cao hay vùng cao nguyên rộng lớn là nơi bậc thềm cao ráo, lưới sông suối phân bố tương đối đều, nước sinh hoạt chủ yếu lấy từ giếng khơi hay nguồn nước mặt tuỳ theo vùng Đồng cao thích hợp cho việc trồng cạn Nhà
ở thường tập trung trên mặt thềm bằng phẳng, có vườn rộng để trồng cây lâu năm, nhà ở giữa vườn Vì thế nhà ở thưa, thành những xóm nhỏ, khoảng cách giữa các xóm cũng khá xa Tại nơi có đồi gò thì nhà ở tập trung ở chân đồi, gò,
để dành đất cho canh tác Nhà ở gần nhau hơn, tập trung hơn, bao quanh đồi nếu
Trang 34là những đồi riêng lẻ, còn nếu là dải đồi rộng giáp núi thì nhà hay bám lấy phía thông ra các cánh đồng Đường đi lối lại dễ dàng nên phần lớn là đường mòn, không có những trục đường rõ rệt, trừ khi làng nằm dọc các dòng sông, suối Đất đai khô ráo, bạc màu, nhiều nơi có đá ong, năng suất cây trồng không cao, kinh tế nông nghiệp không phồn thịnh, nhà ở đơn sơ, nhỏ bé Có nơi là đất lâm trường, nông trường (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007)
* Vùng đồng bằng: Làng, thôn cũng nằm trên các bậc thềm để tránh lụt,
quy mô tương đối lớn, đông vui, các điểm dân cư cách nhau khoảng 2 - 4 km, rải tương đối đều trên diện tích đất đai, mỗi điểm bao gồm 4 - 6 làng sát cạnh nhau Làng đã có luỹ tre bao quanh, nhà cửa khang trang, đình chùa to, đẹp, giao thông giữa các làng thuận tiện (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007)
+ Đồng bằng Bắc Bộ: là nơi tập trung dân cư với mật độ cao nhất trong cả nước Các điểm dân cư nông thôn ở đây đều là các làng xóm được hình thành lâu đời trong quá trình phát triển của lịch sử đất nước, người dân đắp đê, trị thuỷ để sản xuất lúa nước
Về mặt tổ chức xã hội: trong suốt quá trình phát triển lịch sử xã hội các đơn vị cơ sở căn bản vẫn duy trì theo các làng xóm truyền thống nên đa số các điểm dân cư nông thôn đều rất ổn định
Sự phân bố các điểm dân cư nông thôn tương đối tập trung và được liên hệ với nhau bằng mạng lưới đường bộ liên huyện, liên xã được hình thành từ lâu và thường xuyên được tu bổ nâng cấp
Mật độ các điểm dân cư cao, quy mô mỗi điểm dân cư cũng tương đối lớn + Đồng bằng Nam Bộ: Mật độ các điểm dân cư không cao, quy mô không lớn, tính ổn định của các điểm dân cư này cũng thấp hơn vùng đồng bằng Bắc Bộ
Các hộ dân cư nông thôn sống ít tập trung nên cũng gây trở ngại cho việc hình thành các mạng lưới công trình dịch vụ, phúc lợi công cộng cho khu vực nông thôn.Về giao thông đi lại đường bộ gặp nhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa lũ, phát triển mạnh giao thông đường thuỷ trên các kênh rạch
+ Vùng duyên hải miền Trung: Là những dải đồng bằng nhỏ ven biển, đất đai kém màu mỡ, năng suất cây trồng thấp, ngoài việc sản xuất nông nghiệp cư
Trang 35dân có thêm nghề đánh cá và làm muối Mật độ các điểm dân cư thưa, quy mô nhỏ Cơ sở hạ tầng kém phát triển, giao thông đi lại khó khăn
* Vùng ven sông ven biển: Thường chạy song song với sông, ngăn cách
với sông bởi hệ thống đê cao đối với đồng bằng Bắc bộ, rộng và trong làng đồng bằng có nhiều sống đất cao Đây cũng là vùng bị bão lụt đe doạ nhiều, nhưng cũng là nơi đất đai màu mỡ Làng tập trung trên các sống đất cao, nên to lớn và
có hình dáng kéo dài Như thế ưu điểm quần cư không rải đều trên diện tích đất đai mà có hướng chạy dài rõ rệt, hoặc theo dòng sông mới, hoặc theo dòng sông
cũ và quy mô cũng không đều, có nơi rất dày đặc đến trên chục làng, nơi thưa chỉ
có 2 - 3 làng (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007)
Kiểu làng bố trí trên bãi triều nhà thường tập trung thành hai dãy dọc hai
bờ kênh, xây dựng thấp nhưng khá chắc chắn, nếu lợp rạ hay cói thì mái cũng được đè chặt cẩn thận Nhà ở sít nhau, vườn hẹp không như trên các cồn cát Nằm ở các đảo bãi triều, ba bề là sông, một bề là biển, thuỷ triều lên xuống hàng ngày, nước mặn Muốn xây dựng điểm quần cư phải đắp đê bao quanh và đê phải kiên cố vì ảnh hưởng của biển mạnh, đặc biệt là vào mùa mưa bão Các làng nằm rải rác, nhưng do mạng lưới kênh rạch chằng chịt mà làng nào cũng ở ven dòng nước Làng không to, nhưng nhà cửa thì chắc chắn, thường là xây gạch kiên cố đối với miền Bắc và đơn giản, kết cấu xây dựng nhẹ đối với miền Nam
Qua các kiểu quần cư vùng nông thôn nói trên ta thấy quan hệ giữa môi trường tự nhiên và cấu trúc làng xã thể hiện rõ rệt Tại những nơi địa hình thấp, làng nhỏ và rải khá đều, còn tại những nơi cao thấp không đều thì làng tập trung
ở chỗ cao như trên các sống đất, các dải cồn, nhiều làng có quy mô lớn Nơi đất tốt, mật độ điểm quần cư cao có tới 1,5 - 2 điểm/km2 vì dễ thâm canh tăng vụ, còn nơi đất xấu, bạc màu mật độ điểm quần cư thấp 0,3 - 0,5 điểm/km2
1.3.1.3 Một số hình thức bố cục của các điểm dân cư truyền thống
- Điểm dân cư dạng phân tán: Các điểm dân cư dạng này thường có quy
mô nhỏ thường gặp ở các vùng núi nơi có mật độ dân số thưa, điều kiện trồng
cấy ít thuận tiện, mang đậm nét của hình thức sản xuất tự cung tự cấp
- Điểm dân cư theo tuyến: Tiền thân là những điểm dân cư nhỏ bám dọc
Trang 36theo 2 bên đường hoặc bên sông sau đó do quá trình phát triển của dân cư, các điểm dân cư lấn dần ra nối tiếp thành tuyến dài
- Điểm dân cư dạng phân nhánh: Tại giao điểm của các con sông hoặc
đường giao thông, các điểm dân cư phát triển theo dạng tuyến gặp nhau hình thành nên dạng phân nhánh
- Điểm dân cư theo dạng mảng: Ở những vùng đất trù phú, thuận lợi cho
phát triển nông nghiệp, trải qua quá trình phát triển lâu dài nhiều điểm dân cư nhỏ quy tụ lại thành điểm dân cư theo dạng mảng lớn Hình thức này khá phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007)
1.3.2 Tổng quan về xây dựng nông thôn mới
1.3.2.1 Lý luận về nông thôn
a Khái niệm: Nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng đồng xã hội có
những đặc trưng riêng biệt như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội Nông thôn được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau
b Đặc trưng cơ bản của nông thôn
Hệ thống xã hội nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau:
- Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội: Ở nông thôn, đặc trưng chủ yếu ở
đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, v.v
- Về lĩnh vực sản xuất: Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất
nông nghiệp; ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch
vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
- Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: Nông thôn thường rất đặc
trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã Đặc trưng này bao gồm rất nhiều khía cạnh như từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong
Trang 37tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi, đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế, ngay cả đến hệ thống đường xá, năng lượng, nhà ở,
Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện nông thôn Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hệ thống
xã hội nông thôn
1.3.2.2 Xây dựng nông thôn mới
a Khái niệm về nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TƯ của Trung ương, nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ
Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng
đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí
b Nội dung quy hoạch nông thôn mới
- Quy hoạch định hướng phát triển không gian: Nghiên cứu các phương án
cơ cấu tổ chức không gian, lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng của xã Quy hoạch không gian tổng thể toàn xã là căn
cứ để triển khai các quy hoạch sản xuất, quy hoạch xây dựng và quy hoạch sử dụng đất
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ: Xác định nhu cầu
Trang 38sử dụng đất cho bố trí vùng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu phục vụ sản xuất hàng hoá nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; bố trí
hệ thống thuỷ lợi, thuỷ lợi kết hợp giao thông theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hoá tốt đẹp theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới, bao gồm: bố trí mạng lưới giao thông, điện, trường học các cấp, trạm xá, trung tâm văn hoá, thể thao xã, nhà văn hoá và khu thể thao thôn, bưu điện và hệ thống thông tin liên lạc, chợ, nghĩa trang, bãi xử lý rác, hệ thống cấp nước sạch,
hệ thống thoát nước thải, công viên cây xanh, hồ nước sinh thái… theo hướng dẫn cụ thể của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
c Tiêu chí về nông thôn mới
Theo Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Bộ tiêu chí gồm có:
- Tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch
- Tiêu chí giao thông
- Tiêu chí thủy lợi
- Tiêu chí điện nông thôn
- Tiêu chí trường học
- Tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa
- Tiêu chí chợ nông thôn
- Tiêu chí bưu điện
- Tiêu chí nhà ở dân cư
- Tiêu chí thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh
- Tiêu chí hộ nghèo
- Tiêu chí cơ cấu lao động
Trang 39- Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất
- Tiêu chí giáo dục
- Tiêu chí y tế
- Tiêu chí văn hóa
- Tiêu chí môi trường
- Tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh
- Tiêu chí an ninh, trật tự xã hội được giữ vững
1.3.3 Một số công trình nghiên cứu về quy hoạch dân cư ở Việt Nam
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển khu dân cư và những quy định của Nhà nước về quản lý, quy hoạch xây dựng phát triển hệ thống điểm dân cư, nhiều nhà khoa học đã có những nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực này
Ngay từ những năm 70, việc quy hoạch đô thị và nông thôn Bộ Xây dựng đã
có nhiều đồ án quy hoạch cải tạo phát triển các điểm dân cư trên địa bàn vùng huyện trong xu hướng cải tạo từng bước các điểm dân cư nông thôn, các chòm xóm nhỏ được gộp lại tạo thành các điểm dân cư tương đối lớn, tập trung, thuận tiện cho việc xây dựng các công trình công cộng phúc lợi (khoảng 600 dân ứng với 200 hộ)
Mô hình “nhà ở và lô đất gia đình vùng nội đồng” đã triển khai ở xã Đại Áng - huyện Thanh Trì - Hà Nội, mô hình giải quyết 2 vấn đề: Tiết kiệm và tận dụng đất đai có hiệu quả, cải thiện điều kiện vệ sinh ở gia đình và thôn xóm
Bên cạnh đó còn một số dự án về quy hoạch dân cư nông thôn nước ta là:
- Quy hoạch huyện Đông Hưng - Thái Bình: Trong phương án quy hoạch này, từ 1400 điểm dân cư trên toàn huyện được tổ chức lại còn khoảng 100 điểm, tổ chức thành 7 cụm xã, ở đó xây dựng trạm trại kho tàng, xây dựng các công trình hạ tầng… kiến trúc không gian ở được xây dựng hợp lý phù hợp tạo điều kiện cho phát triển dân cư trên địa bàn (Viện Quy hoạch xây dựng hỗn hợp, 1997)
- Quy hoạch sản xuất và xây dựng huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An (1997): Theo đồ án này, toàn bộ 360 điểm dân cư sẽ được bố trí gọn lại còn 54 điểm có quy mô từ 1000 - 5000 người, cứ 2 đến 3 điểm dân cư đủ dân số để xây dựng một trung tâm các công trình văn hoá phục vụ công cộng như: nhà trẻ, trường học, thư viện, nhà văn hoá… nhằm phục vụ tốt nhất cho đời sống nhân dân (Viện Quy
Trang 40hoạch thiết kế Nghệ Tĩnh, 1997)
- Quy hoạch xã Hải Đường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hoá của Bộ xây dựng - Viện kiến trúc quy hoạch đô thị và nông thôn
- Năm 2006 có đề tài luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Hải Yến-Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội nghiên cứu trên địa bàn huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc Nội dung chính của đề tài là định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Mê Linh và xây dựng 2 mô hình quy hoạch chi tiết trong khu dân cư (Nguyễn Thị Hải Yến, 2006)
- Năm 2007 có luận văn thạc sỹ của Nguyễn Đình Trung thực hiện trên địa bàn huyện Chí Linh - tỉnh Hải Dương Đề tài đã xây mạng lưới dân cư huyện Chí Linh đồng thời xây dựng 1 mô hình quy hoạch chi tiết trung tâm xã Theo đồ
án này, toàn huyện Chí Linh có 159 điểm dân cư được quy hoạch lại thành 155 điểm dân cư (Nguyễn Đình Trung, 2007)
- Năm 2008 có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Vũ Thị Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội thực hiện tại huyện Chí Linh - tỉnh Hải Dương Đề tài đã xây mạng lưới dân cư huyện Chí Linh đồng thời xây dựng 2
Bình-mô hình quy hoạch chi tiết trung tâm xã (Vũ Thị Bình, 2008)
- Năm 2012 có luận án tiến sỹ của Lê Ngọc Cẩn thực hiện trên vùng ngập
lũ Đồng bằng sông Cửu Long Đề tài đã nghiên cứu quy hoạch quản lý điểm dân cư nông thôn vùng ngập lụt Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 theo hướng phát triển bền vững Và đề ra một số giái pháp quản lý quy hoạch điểm dân cư nông thôn vùng ngập lũ theo hướng phát triển bền vững (Lê Ngọc Cẩn, 2012)
Nhìn chung, những nghiên cứu ứng dụng này đã có ý nghĩa rất lớn trong quy hoạch mạng lưới dân cư của mỗi địa phương Tuy nhiên tính khả thi của các đồ
án này còn chưa cao, quy hoạch vẫn ở tầm khái quát, phần lớn chưa có quy hoạch chi tiết cho từng điểm dân cư Do vậy các điểm dân cư được bố trí vẫn manh mún, phân tán, chưa hợp lý, chưa đồng bộ, công tác xây dựng kiến trúc cảnh quan khu dân cư phát triển một cách tự phát có thể theo quy hoạch hoặc không theo quy hoạch gây khó khăn cho việc bố trí các công trình công cộng phục vụ cho các khu dân cư