nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus dhv và thử nghiệm vắc xin nhược độc dh – eg – 2000 trong phòng bệnh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
VÕ QUÝ NGỌC
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA VỊT
MẮC BỆNH VIÊM GAN DO VIRUS DHV VÀ THỬ
NGHIỆM VẮC XIN NHƯỢC ĐỘC DH – EG – 2000
TRONG PHÒNG BỆNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
VÕ QUÝ NGỌC
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA VỊT
MẮC BỆNH VIÊM GAN DO VIRUS DHV VÀ THỬ
NGHIỆM VẮC XIN NHƯỢC ĐỘC DH – EG – 2000
TRONG PHÒNG BỆNH
CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỮU NAM
HÀ NỘI, 2014
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu
và hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều chính xác
và được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Võ Quý Ngọc
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CẢM ƠN
Mở đầu của Luận văn cho tôi được chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo bộ môn Bệnh lý thú y; các thầy, cô Khoa Thú y, Học viện nông nghiệp Việt Nam; cùng toàn thể các thầy, cô giáo đã giảng dậy tôi trong thời gian học Cao học ở nhà trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Hữu Nam, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Đảng ủy- Ban lãnh đạo Chi cục thú y Thái Bình cùng đồng nghiệp trong các phòng, Trạm thú y huyện, thành phố đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Võ Quý Ngọc
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
DANH MỤC BẢNG
4.5 Biến đổi bệnh tích đại thể của vịt mắc Viêm gan vịt do virus 46 4.6 Biến đổi bệnh tích vi thể của vịt mắc Viêm gan vịt do virus 50 4.7 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của vịt 2 tuần tuổi mắc
4.10 Tỷ lệ mắc bệnh ở vịt tại các mô hình (thí nghiệm và đối chứng) 62
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
4.1 Kết quả khảo sát tính hình chăn nuôi và dịch bệnh viêm gan ở
4.2 Kết quả xác định triệu chứng lâm sàng chủ yếu của vịt mắc
4.3 Kết quả nghiên cứu biến đổi bệnh tích đại thể của vịt mắc viêm
4.4 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể trên một số cơ quan của vịt
4.5 Kết quả xác định một số chỉ tiêu huyết học của vịt mắc bệnh
4.5.1 Kết quả xác định một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của vịt bệnh 53 4.5.2 Kết quả xác định một số chỉ tiêu bạch cầu ở vịt bệnh 56 4.6 Kết quả khảo sát hiệu quả trên đàn vịt của tỉnh Thái Bình 60
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Trong những năm gần đây, sản xuất chăn nuôi ngày càng giữ một vị trí quan trọng, được xác định là lĩnh vực còn nhiều tiềm năng để nâng giá trị sản xuất trong cơ cấu ngành nông nghiệp Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt
về địa hình, tập quán canh tác, điều kiện cho việc chăn thả tự nhiên nên vịt là loài thủy cầm được người nông dân nước ta ưa chuộng vì vịt là một trong những loài vật có nhiều đặc điểm quý, đặc biệt là khả năng lớn nhanh, đẻ nhiều trứng, kiếm mồi giỏi Với đặc tính của vịt là thích nghi với cuộc sống sông nước, ao hồ, đầm lầy, đồng lúa nên số lượng đàn vịt phân bố chủ yếu trên các vùng sinh thái có tiềm năng cho vịt tự kiếm mồi, đó là vùng đồng bằng, các vùng triền sông và vùng Duyên hải trong đó có tỉnh Thái Bình Đối với Thái Bình, xuất phát điểm là tỉnh thuần nông, đời sống của đại
bộ phận người dân còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, việc phát triển nông nghiệp nhất là chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng hàng hóa, tập trung phát triển theo chiều sâu, được xác định là một trong ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh; Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đề ra, Thái Bình cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách nhất là diễn biến phức tạp về tình hình dịch bệnh ở động vật
Trong chăn nuôi vịt, thời gian gần đây, dịch bệnh viêm gan siêu vi trùng với tỷ lệ chết nhiều ở vịt nhỏ đã gây thiệt hại khá lớn đến chăn nuôi thuỷ cầm của các hộ chăn nuôi; Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan nhanh, mạnh ở vịt con dưới 6 tuần tuổi Bệnh thường xảy ra ở tuần đầu tiên,
có đặc điểm tỷ lệ ốm rất cao và chết rất nhanh Nơi nhiễm nặng tỷ lệ chết có thể lên tới 95% nếu không can thiệp kịp thời
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
Theo Quyết định 64/2005/QĐ-BNN&PTNT ngày 13 tháng 10 năm
2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Danh mục các bệnh nguy hiểm ở động vật trong đó có bệnh viêm gan vịt do virus
Cho tới nay, ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh Viêm gan vịt do virus nhưng vẫn còn ít công trình nghiên cứu sâu về các biến đổi bệnh lý của vịt bị Viêm gan do virus Hơn nữa cũng còn ít những công trình nghiên cứu về hiệu quả vắc xin ứng dụng trong phòng và chống dịch viêm gan vịt do virus ngoài thực tế Vì vậy, để góp phần phòng chống dịch bệnh viêm gan vịt có hiệu quả thì việc tiếp tục nghiên cứu sâu về các biến đổi bệnh lý của vịt mắc bệnh Viêm gan vịt do virus và hiệu quả của việc sử dụng vắc xin phòng chống dịch bệnh vẫn là những vấn đề cấp thiết hiện nay
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do virus DHV và thử nghiệm vắc xin nhược độc DH – EG – 2000 để phòng bệnh”
Nội dung của đề tài nhằm nghiên cứu triệu chứng lâm sàng và biến đổi bệnh lý đại thể, vi thể của bệnh viêm gan do virus vịt và ứng dụng vắc xin nhược độc viêm gan vịt để phòng bệnh viêm gan ở vịt, làm cơ sở cho công tác phòng chống dịch bệnh, giảm bớt thiệt hại góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu chung
Nghiên cứu các biến đổi bệnh lý của vịt mắc bệnh viêm gan do DHV và đánh giá hiệu quả sử dụng vắc xin DH- EG – 2000 trong phòng bệnh viêm gan vịt do DHV làm cơ sở cho việc chẩn đoán và phòng bệnh trong thực tế
- Mục tiêu cụ thể
+ Xác định các biến đổi bệnh lý của vịt bị mắc bệnh Viêm gan vịt do virus
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng vắc xin trong phòng chống bệnh Viêm gan vịt do virus
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu chung về cơ sở khoa học của bệnh viêm gan
2.1.1 Tên bệnh
Bệnh viêm gan vịt do virus là một bệnh truyền nhiễm cấp tính xảy ra ở vịt con 1 - 6 tuần tuồi, mẫn cảm nhất là vịt con dưới 3 tuần tuổi Bệnh lây lan rất nhanh do 3 type virus khác nhau gây ra: virus viêm gan vịt Type I, Type II
và Type III, phổ biến hơn cả là virus viêm gan vịt Type I Bệnh có biểu hiện đặc trưng: đầu ngoẹo về một bên, 2 chân duỗi thẳng; mổ khám thấy gan sưng, xuất huyết lốm đốm trên gan
Bệnh viêm gan vịt do virus là một bệnh nguy hiểm và có tính lây lan mạnh ở vịt con Tính chất của bệnh là sự lan rộng một cách nhanh chóng, tỷ lệ
tử vong cao và xuất huyết đặc trưng ở gan Bệnh này xuất hiện lần đầu tiên ở đàn vịt con địa phương ở đảo Long, New York vào năm 1945
2.1.2 Lịch sử và phân bố bệnh
2.1.2.1 Tình hình bệnh viêm gan vịt trên thế giới
Năm 1945 ở Mỹ, Levine và Hofstad quan sát thấy một bệnh lạ xảy ra trên đàn vịt con một tuần tuổi: vịt chết nhanh sau khi có biểu hiện triệu chứng, bệnh tích chủ yếu tập trung ở gan, gan sưng, xuất huyết lốm đốm trên gan Năm 1949 ở đảo Long của Mỹ có tổng số vịt nuôi 750.000 con, Levine
và Fabricant [25] quan sát thấy một bệnh tương tự xảy ra trên các đàn vịt con trắng Bắc Kinh, bệnh xuất hiện đầu tiên ở những vịt 2 - 3 tuần tuổi, bệnh này lây lan nhanh từ trại vịt này sang trại khác, 70 trại bị thiệt hại nghiêm trọng, trại bị bệnh nặng tỷ lệ vịt chết lên đến 95%
Năm 1950, bằng phương pháp nuôi cấy trên phôi gà, Levine và Fabricant đã phân lập được virus viêm gan vịt type I Năm 1953, bệnh chỉ xảy
ra trên các đàn vịt ở các vùng khác của nước Mỹ Năm 1954 bệnh xảy ra ở
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
Anh do Asplin và Lauchlan phát hiện Năm 1958 ở Ai Cập do Chehata và Reuss, sau đó ở Ý, Hà Lan, Nga cũng có những công trình công bố; Theo các báo cáo gần đây nhất, bệnh viêm gan vịt do virus type I xảy ra khắp nơi trên thế giới trong đó có cả Trung Quốc và Triều Tiên (OIE, 2000) [28]
Cho đến nay bệnh viêm gan vịt do virus viêm gan vịt type II chỉ thấy xảy ra
ở nước Anh, chưa có báo cáo nào về tình hình bệnh xảy ra ở các nước khác
Theo Toth (1969) [29] cho biết ở đảo Long của Mỹ, bệnh viêm gan vịt
đã xảy ra trên đàn vịt con đã được dùng vắc xin nhược độc type I Bệnh xảy ra nhẹ hơn so với bênh viêm gan vịt của virus type I, tỷ lệ chết của vịt con hiếm khi vượt quá 30%; Theo Haider và Calnek (1979) [24] đã đặt tên virus này là virus viêm gan vịt type III, cho đến nay virus viêm gan vịt type III mới chỉ được công bố ở Mỹ
2.1.2.2 Tình hình bệnh viêm gan vịt ở Việt Nam
Ở nước ta, năm 1987 Trần Minh Châu và Lê Thu Hồng [3] đã ghi nhận
có bệnh viêm gan vịt, nhưng chưa phân lập được virus;
Năm 1979 - 1983, theo Lê Thanh Hòa và cs, quan sát thấy bệnh xảy ra ở nhiều địa phương làm chết rất nhiều vịt; Năm 1983, Trần Minh Châu và cs đã phân lập được một chủng virus viêm gan vịt cường độc tại một trại vịt ở Hà Sơn Bình; Qua nuôi cấy trên phôi gà, chủng virus này yếu đi, không gây bệnh cho vịt con mà tạo được đề kháng cho vịt con
Tác hại của bệnh viêm gan vịt ở nước ta được mô tả khá kỹ qua một số
ổ dịch ở Phú Khánh (Phạm Thị Thu Lan và Thân Thị Mạnh, 1987), ở Thủ Đức và Đồng Tháp (Lê Hồng Phương và cộng sự, 1988)
Theo Nguyễn Văn Cảm và cs (2001) [2], gần đây nhiều giống vịt cao sản nhập vào nước ta chưa thích nghi với điều kiện môi trường nên bệnh viêm gan vịt càng xảy ra nhiều hơn, đặc biệt ở các địa phương như Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long gây tổn thất lớn
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
Theo thông báo của Cục thú y (2002) [6], tại Nam Định tháng 5 năm 2001
đã xảy ra một ổ dịch lớn ở xã Hồng Quang, huyện Nam Trực , đàn vịt 10000 con mới nở đã mắc bệnh viêm gan vịt và đến 5 ngày tuổi chết 700 con, những ngày sau đó số chết giảm dần nhưng tổng số chết lên đến 80% tổng số đàn
Bệnh viêm gan vịt là một bệnh truyền nhiễm gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi thủy cầm, nhiều công trình nghiên cứu về bệnh viêm gan vịt đã được thực hiện
2.1.3 Loài mắc bệnh
Trong tự nhiên, bệnh chủ yếu có ở vịt con 1- 3 tuần tuổi, cũng có trường hợp thấy xuất hiện ở vịt (5 - 6 tuần tuổi) và vịt con mới nở 12 giờ Virus viêm gan vịt không những gây bệnh cho vịt con mà còn gây bệnh cho một số loại thủy cầm khác như ngan, ngỗng, vịt trời và một số loài chim nước; Khi di cư, chính các loài chim nước là nguyên nhân gây ra dịch ở các quốc gia cách xa nhau hàng ngàn cây số, các loài gia cầm như gà, gà tây, đà điểu và các động vật có vú khác không mẫn cảm với virus viêm gan vịt
Theo các tác giả Trần Minh Châu và các cs [3] cho biết virus viêm gan vịt gây bệnh cho tất cả các giống vịt nuôi ở miền Bắc nước ta; Các giống nhập nội có tỷ lệ mắc cao hơn do chưa phù hợp với khí hậu, sức đề kháng kém nên
dễ nhiễm bệnh hơn, bệnh thường xảy ra ác liệt ở đàn chưa mắc bệnh bao giờ,
tỷ lệ nhiễm bệnh và chết rất cao có khi đến 100%; Nhưng cũng có trường hợp bệnh ít trầm trọng và kéo dài Bệnh cũng có khi đi với một số bệnh kế phát như bệnh phó thương hàn và bệnh dịch tả vịt, nếu nhiễm Salmonella thì tỷ lệ chết thường rất cao và kéo dài
Trong phòng thí nghiệm người ta dùng vịt con làm động vật thí nghiệm Hỗn dịch bệnh phẩm có chứa virus được sử dụng để gây nhiễm bằng cách tiêm cho vịt con, trộn vào thức ăn hay nước uống hay phun sương Thời gian bệnh tương đối ngắn, trong vòng 24 giờ đã có triệu chứng của bệnh, có khi đã
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
có con chết, vịt chết tập trung vào các ngày thứ 2, 3, 4, 5 sau khi gây nhiễm; Người ta còn dùng phôi gà 9 - 10 ngày tuổi hoặc phôi vịt 10 - 12 ngày tuổi để gây bệnh bằng cách tiêm vào xoang niệu mô Khi phôi chết mổ khám thấy những bệnh tích: xuất huyết trên da, phù phôi, phôi còi cọc, gan xuất huyết lấm tấm, hoại tử
Khi cấy truyền liên tiếp qua phôi vịt thì độc lực của virus được củng cố
và tăng cường; Khi cấy truyền liên tiếp qua phôi gà thì độc lực gây bệnh của virus giảm, đây là cơ sở để sản xuất vắc xin nhược độc viêm gan vịt
2.1.4 Phương thức truyền lây và cơ chế sinh bệnh
- Phương thức truyền lây
Virus được bài xuất ra môi trường từ vịt bị bệnh và vịt mang trùng theo phân, lẫn vào thức ăn nước uống, dụng cụ chăn nuôi và phân tán vào không khí Rồi từ đó theo con đường tiêu hóa, hô hấp xâm nhập vào cơ thể vịt lành bệnh Trong điều kiện tự nhiên vịt con mắc bệnh chủ yếu qua đường miệng Năm 1959, bằng hàng loạt các thí nghiệm quan sát của mình Reuss đã chứng minh sự lây truyền bệnh qua không khí của bệnh viêm gan vịt Theo ông, đường lây qua không khí của bệnh viêm gan vịt cũng có ý nghĩa như bệnh dịch tả vịt và viêm phế quản truyền nhiễm ở gà con
Virus có thể truyền cho đời sau qua bào thai trứng, đây là một trong những nguyên nhân gây ra dịch bệnh ở vịt con mới nở Năm 1962, Vinden và Aycacdi đã phân lập được virus trong lòng đỏ trứng của vịt mang trùng Hiện nay đã xác nhận được rằng vịt khỏi bệnh và vịt tiếp xúc với chúng mang virus trong vòng 8 - 10 tuần (Nguyễn Thát, 1975) [15]
- Cơ chế sinh bệnh
Virus xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc đường tiêu hóa, hô hấp hoặc vết thương rồi vào máu Theo máu virus đến các cơ quan phủ tạng đặc biệt là gan - cơ quan đích của virus
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
Dưới tác động của virus, quá trình trao đổi chất ở gan bị rối loạn, lượng glucogen trong gan giảm thấp, lượng lipit tăng cao do quá trình trao đổi cholesterol bị đình trệ, do đó vịt con thiếu năng lượng, sức đề kháng giảm sút
Ở giai đoạn sau virus trực tiếp phá hủy tế bào gan, tế bào nội mô huyết quản gây hoại tử gan và xuất huyết đặc hiệu Do tổ chức gan bị phá hủy, công năng gan suy yếu, không còn chức năng giải độc làm chất độc trong quá trình trao đổi chất tích tụ lại, con vật chết do ngộ độc
2.1.5 Virus viêm gan vịt (Duck Hepatitis Virus = DHV)
- Hình thái và phân loại virus
Virus gây bệnh viêm gan ở vịt con là một ARN virus rất nhỏ, xuyên qua màng lọc Besrkefld, Seitz EK Sau khi lọc bệnh phẩm chứa virus qua những màng này nó vẫn có tác dụng gây bệnh cho vịt con (Levine và Fabricant, 1950; Aspline và Lauchlan, 1954; Reuss, 1959)
Dưới kính hiển vi điện tử virus là những hạt tròn có bề mặt xù xì, kích thước 20 - 40nm (Nguyễn Thát, 1975) [15], không có vỏ bọc ngoài, có 32 capxome
Trong quá trình nghiên cứu virus viêm gan vịt các nhà khoa học đã xác định được 3 type gây bệnh khác nhau gây ra bệnh (OIE, 2000) [28]
- DHV type I (Picornavirus)
- DHV type II (Astrovirus)
- DHV type III ( Picornavirus)
Các type II và III được công nhận tồn tại riêng biệt và nó gây bệnh cho vịt con đã miễn dịch với type I (Nguyễn Đức Lưu, 2002) [11]
* DHV type I (hay còn gọi là type cổ điển)
Type I phổ biến hơn và phân bố rộng rãi khắp thế giới, lần đầu tiên được Levine và Fabricant phát hiện vào năm 1949 - 1950, phần lớn gây chết cho vịt con 7 - 21 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao 80 - 95%
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
* DHV type II (type hiện đại)
Được Asplin xác định năm 1965 [17], đây là một Astrovirus, có đường kính 28 - 30nm khi quan sát bằng kính hiển vị điện tử; Type II thường gây bệnh cho vịt lớn hơn từ 2 - 3 tuần tuổi và gây tỷ lệ chết không đáng kể Nó gây chết cấp tính ở vịt, triệu chứng và bệnh tích giống so với type I
* DHV type III
Do Toth (Mỹ) phát hiện năm 1969 [29], virus là một Picorna virus, có tính kháng nguyên không quan hệ với virus viêm gan vịt type I, quan sát dưới kính hiển vi điện tử trên tế bào thận vịt nhiễm virus cho thấy virus là loại ARN có đường kính 30nm trong tế bào chất Tổn thất của nó lên tới 20% với vịt đã miễn dịch với type I Type III là nguyên nhân gây nhiễm cấp tính ở vịt con với dấu hiệu lâm sàng tương tự so với type I, nhưng khả năng gây nhiễm type III kém hơn so với type I
Sau đó người ta cũng phát hiện thêm một số type khác như: Ở Hà Lan, Eipens phát hiện được một type cường độc hoàn toàn kí hiệu là H, Asplin ghi nhận được một chủng cường độc kí hiệu là TN Từ 1953 - 1963 ở Anh lại xuất hiện 2 type khác nhau đó là: Type gây bệnh kí hiệu là MTWDP (DT) WDP và Type không gây bệnh kí hiệu là MTCRD và M(DT)CRP
Trong chuồng trại virus có thể sống đến 70 ngày, còn trong đất ao hồ có thể sống 100 ngày Thức ăn với nhiệt độ 12,5oC virus có thể sống đến 155 ngày
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
Các chất sát trùng dễ dàng tiêu diệt virus nhanh chóng: NaOH 5% giết chết virus trong vòng 6 giờ, phoóc - môn 1% diệt virus ít nhất trong vòng 3 giờ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [13] Virus viêm gan vịt tương đối ổn định ở nhiệt độ dưới 40 - 45oC nhưng bị vô hoạt một cách nhanh chóng ở nhiệt độ cao hơn Các dung dịch muối NaCl, Na2SO4, MgCl2, MgSO4 có thể bảo quản virus chống lại sự tác động của nhiệt độ ở 50oC Virus cũng có thể sống ở pH
từ 3 - 9 trong vòng 48 giờ Những thuộc tính này phù hợp với nhóm entero virus (D Davis, 1987) [19]
2.1.7 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích
2.1.7.1 Triệu chứng lâm sàng
Thời kỳ nung bệnh từ 2 - 4 ngày nhưng nói chung biến động từ 1 - 5 ngày Thời gian kéo dài của nó phụ thuộc vào độc lực của virus, vào liều lượng tiêm và phương pháp gây bệnh cũng như tình trạng cơ thể
Đối với bệnh do virus viêm gan vịt type I gây ra, bệnh xảy ra đột ngột, thời gian nung bệnh ngắn chỉ trong vòng 24 giờ, bệnh lây lan nhanh, vịt chết tập trung vào ngày thứ 2, 3, 4 sau khi mắc bệnh, tỷ lệ chết rất cao có khi lên tới 100%
Vịt bệnh không theo kịp bầy đàn, thường bị rớt lại ở đằng sau, ít vận động, mệt mỏi, mắt nhắm, ngã vật ra, hai chân co giật rồi chết, vịt chết nằm ở
tư thế ngoẹo đầu ra đằng sau; Vịt chết nhanh chóng trong vòng 1 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng, trong thời gian dịch bệnh, vịt chết nhanh với số lượng nhiều làm cho người chăn nuôi thấy ngỡ ngàng Hình thái ngoẹo đầu ra đằng sau, chân duỗi thẳng lúc chết thường được coi là một dấu hiệu đặc biệt của bệnh viêm gan vịt do virus Farmer gọi bệnh viêm gan vịt là hội chứng thoái hóa mỡ và hoại tử tuyến tụy
Triệu chứng ở đàn vịt bệnh do virus type II gây ra, quan sát thấy: Vịt chết ở thể trạng còn tốt, chết trong vòng 1 - 2 giờ sau khi có biểu hiện triệu
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
chứng, vịt khát nước, chảy nước mắt, tăng tiết urat, vịt chết do co giật cấp tính Vịt bị nhiễm bệnh thường chết, tỷ lệ chết từ 10 - 50% Vịt trưởng thành không mắc bệnh
Bệnh do virus viêm gan vịt type III gây ra chỉ xảy ra ở vịt con, triệu chứng giống như ở type I Tỷ lệ mắc và tỷ lệ nhiễm hiếm khi vượt quá 30%
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
2.1.7.2 Bệnh tích
Bệnh tích đại thể
Bệnh do virus viêm gan vịt type I gây ra thường thấy ở gan, gan vịt bệnh sưng to, nhũn, dễ bị nát khi ấn nhẹ Trong một số trường hợp gan bị nhũn có hình thái như gelatin Bề mặt loang lổ do có nhiều xuất huyết, kích thước và hình dạng khác nhau Xuất huyết lan rộng không có ranh giới Sự xuất huyết gan không phải có ở tất cả vịt chết do bệnh Viêm gan virus Sự xuất huyết ở gan rõ rệt nhất khi nhỏ bệnh phẩm vào niêm mạc mũi Khi tiêm vào xoang phúc mạc, các cơ quan khác ít bị tổn thương và càng ít hơn khi gây
ra bệnh qua đường miệng Trong gan có thể gặp các ổ hoại tử do bệnh Viêm gan bị biến chứng sang bệnh Phó thương hàn Lách có thể sưng, thận tụ máu Nguyễn Văn Cảm và cộng sự đã mổ khám 751 cá thể vịt chết trong các
ổ dịch tự nhiên thấy bệnh tích của gan biểu hiện ở 691 con (92,01%), ở thận vịt 141 con (18,77%), ở lách 97 con (12,91%) (Nguyễn Đức Lưu, 2002)
Bệnh tích vi thể
Những biến đổi bệnh lý trong viêm gan virut ở vịt chủ yếu thấy ở gan Trong gan có những đám tế bào bị hoại tử, tăng sinh ống mật và xung quanh mạch, lúc đầu là những bạch cầu hạt sau đó là tế bào lympho và các tương bào Các tác giả Fabricant, J., C.G Rikard và P.P Levine (1957) cho biết: Các biến đổi vi thể rất phức tạp, những biến đổi nguyên thủy trong thể cấp tính bao gồm thay đổi đầu tiên là hoại tử tế bào gan, tăng sinh ống mật cùng với tăng sinh các tế bào viêm và xuất huyết ở các mức độ khác nhau Ở vịt con không chết có sự tái sinh của các tế bào nhu mô gan (Fabricant, 1957) Phôi vịt 10 – 14 ngày tuổi được tiêm virus viêm gan vịt type I vào xoang niệu mô, phôi chết trong khoảng 24 – 72 giờ sau khi tiêm và có biểu hiện xuất huyết dưới da, gan xuất huyết có nhiều điểm hoại tử
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
Nguyễn Văn Cảm và cộng sự (2001) khi nghiên cứu bệnh tích vi thể của 180 cá thể phát hiện thấy tất cả gan của vịt có bệnh đều bị viêm, xuất huyết hoại tử (100%) ở các mức độ khác nhau Gan thoái hóa mỡ 84 con (46,66%), tăng sinh các tế bào biểu mô ống mật Gặp nhiều bạch cầu đơn nhân ở quanh ống mật hoặc tập trung từng đám trong nhu mô gan, hồng cầu thoát ra ngoài mạch quản lan tràn, tỷ lệ đến 100%
Bệnh tích siêu vi thể
Gây nhiễm virus viêm gan vịt type I cho vịt 6 ngày tuổi bằng cách nhỏ mũi hay tiêm bắp Kết quả là sau 1 giờ có hiện tượng vỡ glycogen trong tế bào gan và quan sát thấy những hạt hình cầu đường kính 100 – 300 nm, các tế bào hoại tử sau 12 giờ nhiễm Các hạt virus được tìm thấy sau 1 giờ và 18 đến
24 giờ gây bệnh (Adamiker,1969)
Sau khi gây nhiễm virus, quan sát thấy: Lách bị biến đổi sau 6 giờ, bị hoại tử sau 24 giờ, thoái hóa nhân, tương bào, không tìm thấy tiểu thể virus,
có những biến đổi nhẹ trong cơ (Woolcock và Fabricant, 1997)
Không tìm thấy thể bao hàm trong tế bào gan bị bệnh, đây là điểm khác đối với bệnh Dịch tả vịt
Vịt bị nhiễm virus viêm gan vịt type II bệnh tích vi thể đặc trưng ở gan: Các tế bào gan bị hoại tử lan tràn, tế bào ống dẫn mật tăng sinh trên một phạm
vi rộng
2.1.8 Chẩn đoán bệnh viêm gan vịt
2.1.8.1 Dựa vào triệu chứng bệnh tích điển hình:
Chẩn đoán bệnh viêm gan vịt do virus ở vịt con có một số khó khăn vì bệnh xuất hiện đột ngột và chết rất nhanh nên bệnh thường bị giải thích sai lầm là do thức ăn và do chuồng trại kém Khi chẩn đoán bệnh viêm gan vịt do virus cần lưu ý những điểm sau:
- Bệnh xuất hiện đột ngột và diễn ra cấp tính
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
- Chỉ gây tổn thương cho vịt trước 2 tháng tuổi, đặc biệt ở vịt con 1 - 6 tuần tuổi
- Gan có nhiều điểm xuất huyết
2.1.8.2 Phân lập virus
Phương pháp chẩn đoán bệnh bằng kỹ thuật phân lập virus, cho kết quả hữu hiệu và có thể biết được type của virus gây bệnh; Bệnh phẩm dùng chẩn đoán là gan của vịt mắc bệnh, nghiền bệnh phẩm với dung dịch PBS (Phosphate Buffer Saline) tỷ lệ 1/5 xử lý chloroform trong thời gian 10 - 15 phút ở nhiệt độ phòng để diệt tạp khuẩn
2.1.8.3 Chẩn đoán phân biệt
Trong chẩn đoán bệnh viêm gan vịt do virus cần phân biệt với một số bệnh khác:
- Chẩn đoán phân biệt với bệnh dịch tả vịt (Duck plague): Bệnh dịch tả
vịt xảy ra ở mọi lứa tuổi Vịt có triệu chứng sưng đầu, đau mắt, liệt cánh, liệt chân, tiêu chảy phân xanh, tốc độ vịt chết chậm hơn, vịt có bệnh tích viêm kết mạc mắt, xuất huyết dưới da, loét đường tiêu hóa như: Niêm mạc dạ dày, ruột Virus dịch tả vịt rất mẫn cảm với chloroform và có thể tìm thấy thể bao hàm trong chẩn đoán tổ chức học
- Chẩn đoán phân biệt với bệnh Salmonellosis ở vịt: Bệnh xảy ra ở cả
vịt con, vịt giống Vịt con ỉa chảy, phân trắng, gan có điểm hoại tử Vịt giống
bị viêm buồng trứng, trứng non teo, dị hình, vịt giảm đẻ, vỏ trứng mỏng, dễ vỡ; Vịt con chưa tiêu hết lòng đỏ; gan, lách, thận sưng, xung huyết bệnh có thể chữa khỏi bằng kháng sinh (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [13] Trong phòng thí nghiệm, vi khuẩn dễ dàng phân lập được bằng một số môi trường thông thường: Môi trường thạch máu, thạch thường
- Chẩn đoán phân biệt với bệnh nhiễm độc Aflatoxin (Aflatoxicosis):
Bệnh có triệu chứng gần giống bệnh viêm gan vịt, biểu hiện bệnh tích là gan
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
sưng, có màu nhợt nhạt; thận và lách xuất huyết, bao tim và xoang bụng tích nước Vịt chết nhanh ở mọi lứa tuổi, gan sưng, rắn, nhu mô gan và thận bị phá hủy nghiêm trọng nhưng không có tế bào viêm Không có sự lây lan bệnh sang các đàn vịt khác khi không dùng cùng một loại thức ăn
2.1.8.4 Chẩn đoán huyết thanh học
Ngay từ khi virus được phát hiện, người ta đã dùng phản ứng trung hòa virus với mục đích: định type virus, đánh giá phản ứng miễn dịch của cơ thể đối với vắc xin và dùng trong điều tra dịch tễ
- Phản ứng trung hòa được sử dụng để định type viêm gan vịt type I, (Woolcock, 1998): dùng vịt con 1 - 7 ngày tuổi, mỗi con tiêm 1 - 2ml huyết thanh miễn dịch hoặc kháng thể đặc hiệu chế từ lòng đỏ vào dưới da, sau 24 giờ tiến nhành tiêm virus cường độc với liều 103LD50; Kết quả 80 - 100 % vịt đối chứng chết, 80 - 100% vịt thí nghiệm sống sót
- Dùng phản ứng bảo hộ chéo để phân biệt virus viêm gan vịt type I, type II, type III: tiêm huyết thanh miễn dịch viêm gan vịt type I, type II cho vịt 2 - 4 ngày tuổi; Sau 3 ngày tiến hành công cường độc virus phân lập được (Gough, 1985) [23]
2.1.9 Phòng và chống bệnh viêm gan vịt
2.1.9.1 Phòng bệnh
Trong phòng bệnh thì biện pháp hiệu quả nhất đó là phòng bệnh bằng
vệ sinh thú y kết hợp với sử dụng vắc xin:
+ Phòng bệnh bằng vệ sinh thú y trước hết phải áp dụng biện pháp vệ sinh thú y với các cơ sở chăn nuôi vịt Cách ly nghiêm ngặt đối với vịt con, nhất là trong 4 - 5 tuần đầu
+ Tiêu độc chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi trước khi thả vịt bằng nước vôi 20%
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
+ Thức ăn và nước uống phải đảm bảo tốt Thức ăn đầy đủ vitamin tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi, không bị nấm mốc, nước uống vệ sinh và thường xuyên thay nước
+ Tiêu diệt chuột: chuột cũng là vật mang trùng, chuột ăn vào thức ăn
và đào thải mầm bệnh ra môi trường xung quanh
+ Thường xuyên tẩy ký sinh trùng cho vịt
- Phòng bệnh bằng vắc xin
Sử dụng vắc xin viêm gan vịt để phòng bệnh nhằm mục đích tạo cho vịt con ở lứa tuổi cảm thụ với bệnh có miễn dịch và đề kháng được với bệnh Phương pháp tạo miễn dịch cho bệnh có nhiều cách:
+ Với vịt giống: vắc xin virus viêm gan vịt nhược độc type I được tiêm
3 lần vào các thời điểm 12, 8 và 4 tuần trước khi đẻ; Sau đó nên tái chủng vắc xin 3 tháng/lần nhằm duy trì khả năng bảo vệ thích hợp đối với vịt con Khi
đó miễn dịch đối với vịt con thường kéo dài từ 2 - 3 tuần tuổi
+ Với vịt con mà vịt mẹ chưa được tiêm phòng thì nên tiêm vắc xin lúc
1 - 2 ngày tuổi
Để tạo miễn dịch cho đàn vịt con với bệnh viêm gan vịt, ngoài việc sử dụng vắc xin, còn có thể dùng kháng thể viêm gan vịt chế từ lòng đỏ trứng; Vịt con mẫn cảm với virus viêm gan vịt type I có thể được phòng bệnh bằng cách tiêm kháng thể viêm gan vịt type I chế từ lòng đỏ trứng gà; Tuy nhiên miễn dịch này cho thời gian miễn dịch với bệnh ngắn (OIE, 2000) [28]
Theo Gough và Spackman (1981) [22] có thể tạo được miễn dịch cao cho đàn vịt con nếu sử dụng 3 lần vắc xin vô hoạt nhũ dầu cho vịt mẹ;
Các tác giả còn cho biết: dùng vắc xin nhược độc type I tiêm cho vịt con lúc 2 - 3 ngày tuổi, đến 22 tuần tuổi sau tiêm nhắc lại bằng vắc xin vô hoạt sẽ tạo được lượng kháng thể trung hòa cao hơn khi sử dụng 3 lần vắc xin
vô hoạt
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
+ Tiêm thẳng vắc xin vào ổ dịch;
+ Ngăn không cho mầm bệnh lây lan: không bán chạy vịt, không mua vịt ở nơi có dịch, xử lý xác chết, dụng cụ chăn nuôi
2.1.10 Một số hiểu biết về vắc xin phòng bệnh viêm gan vịt
2.1.10.1 Vắc xin nhược độc
Virus cường độc dưới tác động của các yếu tố sinh học, tiêm truyền nhiều lần qua động vật ít cảm thụ hoặc qua phôi, độc lực của virus giảm đi, virus vẫn có khả năng nhân lên trong cơ thể vật chủ nhưng không gây bệnh Virus này được dùng làm vắc xin
Nghiên cứu virus viêm gan vịt; Asplin (1958) [17], Reuss (1959) [34] cho biết: virus viêm gan vịt cường độc sau khi truyền đời qua phôi gà, khả năng gây bệnh cho vịt con giảm
Theo Hwang (1956) [25] các chủng virus viêm gan vịt cường độc sau khi đ2 cấy truyền qua phôi gà không còn khả năng gây bệnh cho vịt con nhưng virus vẫn nhân lên trong tế bào các mô, so với chủng virus viêm gan vịt cường độc thì mức độ nhân lên của virus này là thấp hơn
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
Trên cơ sở nghiên cứu này nhiều chủng virus viêm gan vịt nhược độc ra đời bằng phương pháp giảm độc trên phôi: Asplin tạo ra chủng TN sau khi đã giảm độc virus qua cấy truyền trên phôi gà Theo ông, virus viêm gan vịt giảm độc sau khi cấy truyền trên phôi gà từ đời thứ 23 (Asplin, 1958) [17] Hiện nay vắc xin viêm gan vịt nhược độc type I loại dùng chủ yếu ở châu
Âu được giảm độc sau 53-55 lần truyền đời qua phôi gà, ở Mỹ loại giảm độc sau 84- 89 lần cấy truyền Vắc xin nhược độc viêm gan vịt type I được sản xuất trên phôi gà 8-10 ngày tuổi, vị trí tiêm xoang niệu mô, nuôi cấy ở nhiệt
độ 370C Sau khi tiêm phần lớn phôi chết trong vòng 2-3 ngày với bệnh tích gây ra trên phôi: phôi còi cọc, phù phôi, xuất huyết trên da, gan sưng, xuất huyết Sau 3-5 ngày thu vắc xin, thời điểm này lượng virus đạt số lượng cao nhất Phôi chết trước thời điểm 24 giờ loại bỏ Vắc xin bảo quản ở nhiệt độ -
700C trong vài năm
Quy trình sản xuất văc xin viêm gan vịt nhược độc type III giống như virus nhược độc viêm gan vịt type I, loại vắc xin này không dùng trong sản xuất, chỉ sử dụng cho vịt con trong điều kiện phòng thí nghiệm
Vắc xin viêm gan vịt nhược độc type III được giảm độc khi cấy truyền
30 lần trên màng nhung liệu của phôi vịt Vắc xin được sản xuất trên phôi vịt
10 ngày tuổi, vị trí tiêm màng nhung niệu, nuôi cấy ở nhiệt độ 370C Sau khi tiêm phôi chết trong vòng từ 6-10 ngày với bệnh tích của virus gây ra trên phôi Thu nước và màng nhung liệu, bảo quản ở nhiệt độ - 700C trong vài năm
Nghiên cứu đường đưa vắc xin vào cơ thể, Asplin (1961) [18] cho biết phương pháp cho uống, tiêm dưới da, tiêm bắp với vắc xin nhược độc viêm gan vịt type I đều tạo được miễn dịch tốt
Theo OIE (2000) [30], có thể đưa vắc xin nhược độc viêm gan vịt type II vào cơ thể bằng đường cho uống, tiêm dưới da, tiêm bắp Còn virus viêm gan
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
vịt type III nên đưa vào cơ thể bằng đường tiêm dưới da sẽ tạo được đáp ứng miễn dịch cao cho đàn vịt
Vắc xin viêm gan vịt được giảm độc trên phôi gà khi sử dụng cho vịt rất
an toàn, độc lực của chủng virus vắc xin ổn định và không trở lại độc lực với vịt mẫn cảm
Nghiên cứu hiệu lực của vắc xin viêm gan vịt nhược độc trên phôi, các tác giả cho biết vắc xin có khả năng tạo miễn dịch tốt Vịt con mới nở được tiêm vắc xin viêm gan vịt type I, sau 48 đến 72 giờ có miễn dịch, miễn dịch kéo dài trong suốt thời gian vịt mẫn cảm với bệnh (Crighton, 1978) [20]
Chưa có tài liệu nào nói về dùng vắc xin viêm gan vịt nhược độc type III cho vịt con một ngày tuổi
Vắc xin viêm gan vịt nhược độc có khả năng tạo miễn dịch cao cho đàn vịt khi sử dụng phương pháp tiêm nhắc lại Theo Reuss (1959) [34]; OIE (2000) [30] muốn tạo được miễn dịch cao cho đàn vịt giống để truyền kháng thể bị động cho vịt con phải tiêm vắc xin nhắc lại Với vắc xin type I: tiêm 2 đến 3 lần vào các thời điểm 12-8-4 tuần trước khi đẻ Sau khi đẻ, 3 tháng một lần tiêm nhắc lại.Với vacxin type III: tiêm 2 lần vào các thời điểm 12- 4 tuần trước khi đẻ, sau khi đẻ 6 tháng tiêm nhắc lại 1 lần
Sử dụng vacxin viêm gan vịt nhược độc kết hợp với vacxin vô hoạt cũng tạo được miễn dịch cao ở đàn vịt giống Tiêm vacxin viêm gan vịt nhược độc type I, sau đó tiêm bắp một lần vacxin vô hoạt cho vịt sẽ tạo miễn dịch thụ động tốt ở đàn vịt con trong suốt chu kỳ đẻ trứng của vịt mẹ
2.1.10.2 Vacxin vô hoạt
Trong quá trình nghiên cứu vacxin phòng bệnh viêm gan vịt, ngoài vacxin nhược độc còn có vacxin vô hoạt Theo Woolcock (1991) [40], vacxin viêm gan vịt vô hoạt được sản xuất từ virus viêm gan vịt type I Virus được nuôi cấy trên phôi gà, thu hoạch dịch phôi, vô hoạt virus bằng BEL (Binary
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
Ethylenmine), dùng bổ trợ dạng nhũ dầu LE- STM (Lipid Emulsion Salmonella typhimurium) và có lympho B phân bào Bảo quản ở 40C trong thời gian 20 tháng vẫn giữ được hiệu lực của vacxin
System-Nghiên cứu hiệu lực của vacxin viêm gan vịt vô hoạt, các tác giả đều cho biết vacxin có khả năng tạo miễn dịch cao cho đàn vịt Theo Gough (1981) [24] sử dụng 3 lần vacxin viêm gan vịt type I vô hoạt nhũ dầu chế từ virus nuôi cấy trên phôi gà cho đàn vịt giống sẽ tạo được miễn dịch thụ động cho đàn vịt con Theo tác giả dùng vacxin viêm gan vịt nhược độc cho vịt lúc
2 đến 3 ngày tuổi và vào thời điểm 22 tuần tuổi tiêm lại bằng vacxin vô hoạt
sẽ tạo được lwợng kháng thể trung hoà cao hơn khi sử dụng 3 lần vacxin vô hoạt
2.1.10.3 Vacxin viêm gan vịt ở Việt Nam
Năm 1983, Trần Minh Châu và cộng sự đã phân lập được chủng virus viêm gan vịt cường độc ở trại vịt Phú Xuyên – Hà Sơn Bình (chủng TT) Các tác giả làm giảm độc virus bằng cách cấy truyền 39 đời trên phôi gà và tạo được chủng virus nhược độc (chủng VN) có lg ELD50/0,2ml l_ 4 – 5 (Trần Minh Châu và Lê Thu Hồng, 1985) [5]
Năm 1985, các tác giả Trần Minh Châu, Lê Thị Nồng, Nguyễn Đức Tạo
đã xây dựng quy trình sản xuất vacxin từ 3 chủng virus vacxin viêm gan vịt nhược độc: TN (Hungari), E52 (Pháp) và VN (Việt Nam) Các tác giả cho biết
cả 3 chủng virus vacxin đều an toàn và có hiệu lực khi sử dụng Khi tạo miễn dịch cho vịt con rồi thử thách với cường độc thì bảo hộ được 70% – 100% vịt con (Trần Minh Châu và cộng sự, 1985) [6]
Nghiên cứu đặc tính sinh học của virus vacxin viêm gan vịt nhược độc chủng TN của Asplin và ứng dụng quy trình sản xuất vacxin của Hungari vào điều kiện Việt Nam, Lê Thanh Hoà, Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên (1984) [9] cho biết vacxin đạt chỉ tiêu an toàn và hiệu lực khi sử dụng
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
Hiện nay, bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm - Bệnh lý (Khoa Thú y Học viên Nông nghiệp Việt Nam) đang sở hữu giống virus vacxin nhược độc viêm gan vịt DH-EG-2000 thích nghi trên phôi gà có xuất xứ từ nước ngoài Những nghiên cứu khảo sát ban đầu về đặc tính sinh học và hiệu lực của vacxin cho kết quả tốt, đáp ứng được yêu cầu phòng chống bệnh viêm gan vịt
ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, chưa có nhiều các nghiên cứu về phòng, bệnh viêm gan vịt ở trong nước, các công bố chủ yếu tập trung ở một số các công ty, xí nghiệp có sản xuất và tại các Trường đại học Nông nghiệp, cụ thể như sau:
Năm 2003, tác giả Nguyễn Bá Hiên đã công bố đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về "Xác định một số đặc tính sinh học của chủng virus viêm gan vịt DH -EG- 2000 và nghiên cứu quy trình sản xuất phòng bệnh", trong đó xác định được:
- Giống virus viêm gan vịt DH- EG - 2000 thích ứng và nhân lên tốt trên phôi gà, có các chỉ số ELD50 = 10-3.7/0,2ml EID50 = 10-4.5/0,2ml
- Trên phôi gà virus gây ra các bệnh tích:
- Xuất huyết trên da, phù phôi, xuất huyết và hoại tử gan, trong đó tỷ lệ xuất huyết gan khá cao 71.11%
- Trên gan virus gây những biến đổi bệnh tích vi thể đặc trưng: Biến đổi cấu trúc gan, tăng sinh tế bào Lympho, các tế bào gan bị thoái hóa mỡ và thoái hóa không bào, xuất huyết lan tràn trong nhu mô gan
- nhược độc viêm gan vịt DH- EG - 2000 chế trên phôi gà ấp 9 - 10 ngày tuổi thuần khiết và rất an toàn khi sử dụng
- gây đáp ứng miễn dịch tốt, sử dụng phòng bệnh cho vịt con giúp vịt tránh được sự tấn công của mầm bệnh cường độc
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
- Tiêm thẳng vào ổ dịch có thể dập tắt dịch nhanh chóng, hiệu quả càng cao nếu dùng sớm
Về sử dụng trong nước hiện nay để phòng, chống bệnh viêm gan có 2 loại viêm gan vịt được sử dụng: sống sử dụng cho vịt con và chết dùng cho vịt đẻ để truyền kháng thể thụ động giúp vịt con bảo hộ 2-3 tuần đầu tiên sau khi ấp nở
Xí nghiệp thuốc thú y trung ương, cũng đã sản xuất được nhược độc, đông khô, mỗi liều chứa ít nhất 103,5EID50 virus nhược độc Viêm gan vịt với chất bổ trợ đông khô, khuyến cáo sử dụng phòng bệnh viêm gan vịt với lịch
sử dụng như sau:
+ Vịt sinh từ mẹ chưa được tiêm phòng ở vùng có tỷ lệ nhiệm bệnh cao được tiêm phòng từ 01 ngày tuổi (tránh vận chuyển tạo stress cho vịt con trước khi tiêm)
+ Vịt con sinh từ mẹ đã tiêm phòng ở vùng có tỷ lệ nhiễm bệnh cao được tiêm phòng ở 7-10 ngày tuổi;
+ Vịt con sinh từ mẹ chưa được tiêm phòng được sử dụng 1 liều ngay sau khi nở
Ngoài ra một số công ty thuốc như Công ty thuốc thú y Hanvet, Công
ty TNHH một thành viên thuốc thú y trung ương (Navetco) đã sản xuất ra kháng thể phòng, chống bệnh viêm gan vịt
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Bệnh viêm gan vịt là một bệnh truyền nhiễm cấp tính của vịt con, xảy
ra nhanh, lây lan mạnh, gây chết rất cao, có khi tới 100% Biểu hiện bệnh tích
ở vịt con trước tiên là gan bị viêm sưng, có những nốt xuất huyết hoại tử Bệnh được ghi nhận đầu tiên vào năm 1945 bởi Levin và Fabricant ở Long island - New York - Mĩ Năm 1953 tại bang Michigan và các vùng khác
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
của Mĩ cũng phát hiện ra bệnh (Brand, 1984) Năm 1954 bệnh được Asplin và Lauchlan phát hiện ở Anh; Năm 1957 ở Canada do Macpherson và Avery Năm 1958 ở Ai Cập do Chehata và Reuss, sau đó ở Ý, Hà Lan, Nga cũng đã
có những công trình công bố về bệnh Năm 1968, Tempel và Beer thông báo bệnh đã lan tràn khắp thế giới
Nhằm khống chế bệnh, các nhà khoa học đã nghiên cứu bệnh trên quy
mô rộng Năm 1950 Levine và Fabricant, Asplin và Lauchlan (1954) Choop
và Stanb (1958), Dangherry ( 1953), Reuss (1959) đã nghiên cứu dùng huyết thanh miễn dịch đề phòng và chữa bệnh;
Bằng cách tiếp đời nhiều lần trên phôi gà, Asplin (1956), Dispen (1962), Dorosco và Ranikar(1971) đã tạo được các chủng virut nhược độc dùng làm để phòng bệnh (Asphin, 1965 [17])
Công trình nghiên cứu của các tác giả đều cho thấy: Có thể dùng phòng cho vịt đẻ để kháng thể thụ động từ vịt mẹ truyền cho vịt con qua trứng
có thể bảo vệ vịt con tránh được sự tấn công của mầm bệnh cường độc trong
tự nhiên trong vòng 3- 4 tuần lễ đầu sau nở
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam năm 1978 Trần Minh Châu và cộng sự đó ghi nhận bệnh ở Đông Anh (Trần Minh Châu, 1985) [3] Năm 1984, Nguyễn Như Thanh và cộng sự đã phát hiện bệnh ở Gia Lâm - Hà Nội
Năm 1983, bệnh nổ ra ở nhiều địa phương như Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên, các hợp tác xã có nghề chăn nuôi vịt phát triển của tỉnh Hà Sơn Bình (cũ) Từ 1983 đến 1987, bệnh lan tràn ở Hà Tây, Hoà Bình và đồng bằng Sông Cửu Long
Theo Nguyễn Văn Cảm (2001) [2] bệnh đã xảy ra ở các địa phương như: Hà Tây, Hưng Yên, Hà Nam, Hà Nội, Tuyên Quang với tỷ lệ nhiễm trong đàn tới 100% Tỷ lệ chết của vịt trong ổ dịch có thể biến động từ 49 -
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
90% (Nguyễn Đức Lưu - Vũ Như Quán, 2002) [11]; Theo thống kê của Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2001) [11], 6 tháng đầu năm 2001 số vịt
và ngan con chết vì bệnh này lên đến vài chục ngàn con
Tại Nam Định, bệnh xuất hiện vào tháng 5/2001: Một ổ dịch lớn đã xảy
ra ở xã Hồng Quang - Nam Trực, đàn vịt có 10.000 con đó mắc bệnh ngay từ khi mới nở và đến 5 ngày tuổi đã chết tới 7000 con Những ngày sau số con chết giảm dần nhưng tổng tỷ lệ chết lên tới 80% tổng đàn (Lê Minh Đạo - KHKT Thú y, tập 9/2001)
Ở Hà Nam, bệnh xảy ra tại các huyện Duy Tiên, Thanh Liêm làm các đàn vịt con dưới 4 tuần tuổi mắc bệnh ồ ạt, tỷ lệ chết có đàn lên tới 100%; Bệnh cũng xảy ra ở Huyện Nông Cống - Thanh Hoá với tỷ lệ chết cao và xoá sổ nhiều đàn vịt Có đàn chỉ trong vòng 5 ngày sau đó không còn con nào sống
Ngoài ra, tại các tỉnh đồng bằng Nam Bộ, bệnh xảy ra khắp nơi, gây thiệt hại nặng nề nhưng đến năm 2001 vẫn không có những thông báo chính thức (Lê Văn Tạo -2001, Hội Thú y Việt Nam, KHKT Thú y tập 8 - số 4) Gần đây nhiều giống ngan vịt cao sản nhập ngoại chưa thích ghi được với các điều kiện môi trường nên bệnh càng xảy ra nhiều hơn đặc biệt ở một
số địa phương thuộc miền Bắc như : Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang và các huyện thuộc ngoại thành
Hà Nội, vịt con từ 2 -5 ngày tuổi, vịt và ngan con dưới ba tuần tuổi chết do viêm gan vịt với tỷ lệ rất cao, gây tổn thất vô cùng nghiêm trọng
Tuy vậy, ở nước ta những nghiên cứu về bệnh cũng chưa nhiều, phần lớn các nghiên cứu đều tập trung vào việc điều tra, nghiên cứu về dịch tễ học; việc tìm tòi những phương pháp phòng trị bệnh còn rất ít; Nhóm tác giả Trần Minh Châu và cộng sự (1985) [4], Lê Thanh Hoà và cộng sự (1985) [8] đã nghiên cứu các chủng virus và xây dựng quy trình sản xuất từ 3 chủng virus nhược
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
độc TN (Hungari), E32 (Pháp) và VN (phân lập tại Việt Nam); Nhận định chung là chế tạo ra từ các virus nhược độc viêm gan vịt có nguồn gốc từ trong
và ngoài nước có độ an toàn và hiệu quả chưa cao
Những năm gần đây đã có những nghiên cứu sâu về bệnh viêm gan do virus ở vịt: Nhóm các tác giả Nguyễn Văn Cảm và cộng sự (2001) [2] đã nghiên cứu biến đổi bệnh lý bệnh viêm gan vịt nhằm đưa ra một phương pháp chẩn đoán nhanh và chính xác; Nhóm nghiên cứu Nguyễn Hữu Vũ và cộng sự
đã chế tạo kháng thể viêm gan vịt do virus để phòng, trị bệnh (2001) [11]
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh viêm gan ở vịt;
- Viêm gan vịt nhược độc DH –EG - 2000
3.1.1 Quy mô và địa điểm nghiên cứu
+ Điều tra tình hình dịch bệnh viêm gan ở đàn vịt nuôi trên địa bàn tỉnh Thái Bình với số hộ điều tra bảo đảm tính đại diện là 350 hộ
+ Địa điểm nghiên cứu các bệnh tích vi thể và chỉ tiêu huyết học: phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh lý – Khoa Thú Y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam + Địa điểm nghiên cứu các chỉ tiêu huyết học: Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam
+ Địa điểm lấy mẫu: một số hộ gia đình chăn nuôi có vịt nghi nhiễm bệnh viêm gan vịt do virus
+ Đánh giá hiệu viêm gan: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở 35 hộ chăn nuôi vịt của một số xã trên địa bàn 03 huyện: huyện Thái Thuỵ; huyện Quỳnh Phụ và huyện Kiến Xương; Với quy mô 86 đàn, số lượng vịt, ngan nghiên cứu: 44.010 con
3.1.2 Nguyên liệu nghiên cứu
- Máu của vịt nghi nhiễm DHV và vịt khỏe
- Mẫu bệnh phẩm: Gồm các loại mẫu lấy từ cơ thể vịt nhiễm hoặc nghi nhiễm Viêm gan vịt do virus (DHV) bao gồm: gan, thận, lách
- Dụng cụ, hóa chất:
+ Dụng cụ: Tủ lạnh, tủ sấy, tủ ấm 370C, máy đúc Block, khuôn đúc, máy cắt mảnh Microtom, kính hiển vi quang học, đũa thủy tinh, ống nghiệm,
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
máy li tâm, vòng vớt, lam kính, la men, dao, pank, kẹp, cốc đựng hóa chất, đèn cồn, xylanh, kim lấy máu, buồng đếm Mc.Master
+ Hóa chất: Nước cất, Formol 10%, thuốc nhuộm Hematoxylin – Eosin (HE), cồn, xylen, paraffil đã nấu với sáp ong…
+ nhược độc DH –EG -2000
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát tình hình chăn nuôi, tình hình dịch bệnh Viêm gan vịt do virus trên đàn vịt nuôi tại Thái Bình
- Xác định một số triệu chứng lâm sàng chủ yếu của vịt nghi mắc DHV
- Xác định một số bệnh tích đại thể của vịt nghi mắc DHV
- Nghiên cứu bệnh tích vi thể của một số cơ quan của vịt mắc DHV
- Xác định một số chỉ tiêu huyết học của vịt bị bệnh do DHV gây ra
- Đánh giá hiệu quả nhược độc viêm gan vịt DH – EG -2000 ứng dụng trong phòng bệnh tại Thái Bình
3.3 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp điều tra và xác định bệnh:
- Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin, tư liệu liên quan đến bệnh viêm gan vịt; quá trình sinh bệnh; đáp ứng miễn dịch; các công trình nghiên cứu có liên quan, trên mạng Internet; ý kiến chuyên gia, để có những thông tin bổ ích để phục vụ cho triển khai, thực hiện đề tài
* Phương pháp điều tra
Điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng tình hình bệnh viêm gan vịt trên địa bàn nghiên cứu theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi vịt, cán
bộ thú y cơ sở thông qua phiếu điều tra, tổng hợp số liệu dịch bệnh được lưu trữ tại Trạm Thú y các huyện, Chi cục Thú y
b) Nghiên cứu các chỉ tiêu huyết học:
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
Chúng tôi tiến hành lấy máu ở tim của vịt nghi mắc DHV vào lúc sáng sớm, trước khi cho vịt ăn
Máu lấy xong đưa nhanh vào ống EDTA, lắc nhẹ, bảo quản trong bình lạnh từ 2 - 80C
Các chỉ tiêu huyết học được đo trong vòng 24 giờ sau khi lấy mẫu và được chạy bằng máy Cell – Dyn 3700 (hãng Abbort-Hoa kỳ) tại phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Nguyên lý: Máy sẽ tách riêng các dòng tế bào theo kích thước tế bào,
có nhân hay không có nhân, theo hình dạng nhân Đếm trên toàn bộ ống mẫu máu xét nghiệm mà không cần tách hay pha loãng mẫu
- Chúng tôi tiến hành nghiên cứu một số chỉ tiêu huyết học như sau: + Số lượng hồng cầu (RBC, triệu/µl), (1mm3 = 1µl)
+ Hàm lượng huyết sắc tố (HGB, g/l)
+ Tỷ khối huyết cầu (HCT, %)
+ Thể tích trung bình hồng cầu (MCV, fl)
+ Lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH, pg)
+ Số lượng bạch cầu (WBC, nghìn/µl) và công thức bạch cầu (%)
c) Phương pháp mổ khám:
Vịt bệnh được cố định trên bàn mổ hoặc khay mổ, mổ khám theo trình
tự từ trên xuống dưới, bộc lộ tất cả các khí quan để quan sát, tìm ra những biến đổi bệnh tích đại thể và lấy mẫu: Gan, lách, thận,… sau đó tiến hành ngâm bảo quản ở formol 10% để làm tiêu bản vi thể
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
Mỗi vịt bệnh chúng tôi tiến hành lấy mẫu ở mỗi cơ quan hai miếng bệnh phẩm rồi đúc thành hai block Mỗi block chúng tôi tiến hành cắt, nhuộm tiêu bản, sau đó tiến hành soi dưới kính hiển vi để đọc kết quả bệnh tích vi thể Nếu block nào có 2 tiêu bản có bệnh tích trở lên thì chúng tôi coi là dương tính
Quy trình làm tiêu bản: Các bước tiến hành
Chuẩn bị dụng cụ và hóa chất: Lọ chứa formol 10%, dao, kéo, pank kẹp, cốc đựng hóa chất, phiến kính, máy đúc block, khuôn đúc, tủ ấm 37ºC, máy cắt mảnh microtom, nước ấm 48 – 52ºC, xylen, paraffin, thuốc nhuộm Hematoxylin – Eosin,…
từ 12 – 24 giờ để rửa sạch formol
+ Khử nước: Cho qua hệ thống gồm 4 lọ cồn
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
Xylen III: 12 giờ
Parafin I: 6 giờ trong tủ ấm 56ºC
Parafin II: 6 giờ trong tủ ấm 56ºC
Parafin III: 12 giờ trong tủ ấm 56ºC
Mục đích để khử hết xylen trong tổ chức Trong tổ chức chỉ còn paraffin thấm đều trong các kẽ mô bào
Nếu nhiệt độ trên 56ºC thì miếng tổ chức sẽ giòn và dễ vỡ, khó cắt
- Cắt tãi mảnh:
+ Chuẩn bị: Máy cắt, dao cắt, nước ấm 48 - 52ºC, phiến kính, pank kẹp… + Cắt mảnh: Cắt bằng máy microtom với độ dày khoảng 2 - 5µm, sao cho mảnh cắt không rách, nát phần tổ chức
+ Tãi mảnh: Dùng pank kẹp mảnh cắt đặt vào nước lạnh, dàn nhẹ sao cho mặt dưới của mảnh cắt ướt đều, lấy phiến kính hớt mảnh cắt cho sang
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 31
nước ấm 48 - 52ºC rồi vớt mảnh cắt sao cho vị trí mảnh cắt ở 1/3 phiến kính Sau đó để ở tủ ấm 37ºC đến khi bệnh phẩm khô, nhuộm tiêu bản bằng phương pháp nhuộm HE
- Nhuộm tiêu bản: Bao gồm các bước sau:
+ Khử parafin: Cho tiêu bản qua hệ thống xylen gồm 3 cốc
+ Khử cồn: Cho dưới vòi nước chảy 5 - 10 phút
+ Nhuộm Hematoxylin (nhuộm nhân): Lau khô nước ở tiêu bản, nhỏ Hematoxylin ngập tiêu bản Để trong khoảng 5 - 10 phút sau đó đổ thuốc nhuộm đi, rửa sạch qua nước Lau sạch nước quanh tiêu bản Kiểm tra màu sắc, nếu thấy tiêu bản xanh tím là được
Nếu nhạt màu nhúng tiêu bản qua NaHCO3 1% (30 giây)
Nếu đậm nhúng qua lọ cồn axit (cồn 960ºC + HCl 1%) trong 30 giây + Rửa sạch tiêu bản bằng nước cất
+ Nhuộm Eosin (nhuộm bào tương)
Nhỏ Eosin ngập tiêu bản khoảng 5 - 10 phút, tùy theo thực tế màu Eosin Sau đó rửa nước chảy 5 - 10 phút cho hết Eosin thừa
+Tẩy nước: Cho tiêu bản hai lọ cồn tuyệt đối, mỗi lọ 1 phút
+ Tẩy cồn, làm trong tiêu bản: Cho tiêu bản đi qua hệ thống xylen I, xylen
II sau đó cho vào xylen đã làm nóng trong tủ ấm 37ºC trong vòng 2 phút