1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ

83 471 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu tổng quát Cung cấp thông tin về đặc điểm và khả năng sản xuất của chim gáy trắng giúp các nhà khoa học và chăn nuôi có thông tin, định hướng sử dụng giống chim này trong sản xu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PSG-TS BÙI HỮU ĐOÀN

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 3

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất cứ một công trình nào

Tôi cũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn đã được cám ơn và mọi thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trần Thị Vân Hà

Trang 4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii

LỜI CẢM ƠN

Sau quá trình học tập, thực tập và hoàn thành bản luận văn này tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi & Nuôi trồng thủy sản- Học vuiện Nông nghiệp Việt Nam đã đào tạo và giúp đỡ tôi trong toàn khóa học

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Bùi Hữu Đoàn – P Trưởng khoa Chăn nuôi

& Nuôi trồng thủy sản, Thày đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn Nông hộ chăn nuôi chim gáy trắng Minh Đức, thôn Kim Xà, xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất để tôi thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập

và hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

Trần Thị Vân Hà

Trang 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC HÌNH ẢNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Nguồn gốc, đặc điểm của chim gáy trắng 3

1.1.1 Nguồn gốc 3

1.1.2 Một số đặc điểm chung của chim gáy trắng 4

1.1.3 Phân loại chim gáy trắng 8

1.2 Cơ sở khoa học của đề tài 9

1.2.1 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản 9

1.2.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng và cho thịt ở gia cầm 20

1.2.3 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn 27

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

Trang 6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

2.2 Nội dung nghiên cứu 29

2.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và tập tính của chim gáy trắng 29

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của đàn chim sinh sản: 29

2.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt trên đàn chim thương phẩm: 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Phương pháp theo dõi theo từng gia đình chim 30

2.3.2 Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng 30

2.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định 32

2.4.1 Khảo sát khả năng sinh sản trên đàn chim bố mẹ 32

2.4.2 Khảo sát khả năng cho thịt trên đàn gáy trắng thương phẩm (từ mới nở đến 28 ngày tuổi) 34

2.5 Hiệu quả kinh tế nuôi chim gáy trắng 36

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 38

3.1 Một số kết quả nghiên cứu trên đàn chim sinh sản 38

3.1.1 Màu sắc lông 38

3.1.2 Một số tập tính của chim gáy trắng 40

3.2 Khả năng sinh sản của chim gáy trắng 45

3.2.1 Khả năng sinh sản 45

3.2.2 Tỷ lệ ấp nở và khả năng nuôi con của chim gáy trắng 48

3.2.3 Khối lượng và chất lượng trứng 49

3.3 Khả năng cho thịt của chim gáy trắng thương phẩm 52

Trang 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

3.3.1 Tỷ lệ nuôi sống 52

3.3.2 Khối lượng cơ thể 54

3.3.3 Khả năng sinh trưởng của chim gáy trắng 57

3.3.4 Năng suất thịt 59

3.3.5 Tiêu tốn thức ăn 61

3.4 Hiệu quả kinh tế nuôi chim gáy trắng 62

KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Đề nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 8

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi

DANH MỤC BẢNG

2.1 Khẩu phần và chế độ dinh dưỡng nuôi chim gáy trắng 31

3.2 Một số tập tính sinh học của chim gáy trắng 40 3.3 Một số chỉ tiêu theo dõi khả năng sinh sản của chim gáy trắng 45 3.4 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của chim gáy trắng 49 3.5 Một số kết quả khảo sát chất lượng trứng chim gáy trắng 50

3.7 Tỷ lệ nuôi sống chim gáy trắng từ 0 - 4 tuần tuổi 53 3.8 Khối lượng của chim non từ mới nở đến 4 tuần tuổi 54 3.9 Khả năng sinh trưởng của chim gáy trắng (n=30) 57 3.10 Kết quả khảo sát thân thịt chim gáy trắng lúc 28 ngày tuổi 59

Trang 9

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH ẢNH

3.3 Sự phát triển của chim gáy trắng từ 1 – 28 ngày tuổi 57 3.4 Một số hình ảnh về mổ khảo sát chim gáy trắng 61

Trang 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện thuận lợi cho các loài động, thực vật phát triển, được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng đa dạng sinh học, là cái nôi thuần hoá gia súc, gia cầm đầu tiên

Đời sống kinh tế xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người càng nâng cao, trong đó có nhu cầu về thực phẩm, những thực phẩm chất lượng cao - đặc sản, bổ dưỡng, an toàn và mới lạ đang dần được ưa chuộng Để đáp ứng nhu cầu đó, trong các năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta bổ sung thêm nhiều đối tượng mới như chim trĩ, đà điểu, chim cút, bồ câu…làm phong phú thêm các sản phẩm chăn nuôi và bước đầu mang lại lợi ích kinh tế cao hơn so với nuôi các giống vật nuôi thông thường

Chim gáy trắng (Eurasian Collared Dove) có nguồn gốc hoang dã, sức

đề kháng cao, ít bị nhiễm bệnh, thích nghi tốt với điều kiện nhiệt đới ẩm, nguồn thức ăn sẵn có, dễ kiếm, thiết kế chuồng nuôi đơn giản Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã phát triển và chăn nuôi giống chim này trên quy mô lớn, sản xuất hàng hóa là thịt chim chất lượng cao và làm cảnh, do chúng có ngoại hình đẹp và tiếng gáy hay Gần đây, trên thị trường nước ta đã xuất hiện giống chim gáy của Pháp, Nhật, Trung Quốc…Việc chăn nuôi giống chim này có nhiều ưu điểm: diện tích nuôi không lớn, hợp với phát triển kinh tế hộ gia đình với qui mô đa dạng, phù hợp với khả năng của từng nông hộ Lợi nhuận từ việc bán chim giống và chim thương phẩm khá cao Tuy nhiên, những hiểu biết cơ bản về loài chim này còn rất hạn chế nên việc chăn nuôi chim gáy trắng trong các nông hộ chủ yếu là tự phát, quảng canh, quy mô nhỏ… kết hợp vừa giải trí vừa cải thiện đời sống, không đáp ứng

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2

được nhu cầu ngày càng cao của thị trường Với thực tiễn như vậy, việc nghiên cứu những đặc điểm và khả năng sản xuất của giống chim này trong điều kiện nước ta là rất cần thiết Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng

tôi tiến hành triển khai nghiên cứu đề tài: “Khả năng sản xuất của chim gáy

trắng (Eurasian Collared Dove) nuôi trong nông hộ”

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Cung cấp thông tin về đặc điểm và khả năng sản xuất của chim gáy trắng giúp các nhà khoa học và chăn nuôi có thông tin, định hướng sử dụng giống chim này trong sản xuất và nghiên cứu

2.2 Mục tiêu cụ thể

Xác định một số đặc điểm ngoại hình và tập tính của chim gáy trắng Xác định một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của đàn chim bố mẹ Xác định một số chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng của đàn chim thương phẩm

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Nguồn gốc, đặc điểm của chim gáy trắng

1.1.1 Nguồn gốc

Chim gáy trắng thuộc nhóm chim bay (Carinatae), Họ: Bồ câu

Columbidae, Bộ bồ câu (Columbiformes) gồm những loài chim đi chậm

nhưng bay rất khoẻ như bồ câu, cu gáy Gốc mỏ mềm, thức ăn chính là quả và

hạt Đặc điểm nổi bật của chim gáy trắng là chim non nở ra chưa có lông, chưa mở mắt và rất yếu

Chim gáy trắng hiện nay đều có nguồn gốc từ thuộc giới (king dom): Animal, ngành (plylum): Chortada, lớp (class): Aves, bộ (order): Columbiormes, họ (Family): Columbidae, giống (Genus): Streptopelia, Loài (species): Streptopelia decaocto Địa bàn phân bố tự nhiên của chim gáy trắng là ở phía bắc và nam sa mạc Sahara, trong một dải rộng từ Senegal, Mauritania và mạn đông của Biển Đỏ ở Sudan và Ethiopia, cho

đến tận phía nam Ai Cập và tây nam Ả Rập Xê-út

Ở VN cho đến nay có 22 loài trong họ Bồ câu đã được ghi nhận gồm:

Bồ câu đá (Columba livia) một loài du nhập, Bồ câu (C pulchricollis), Bồ câu nâu (C punicea), Cu sen (Streptopelia orientalis), Cu ngói (S tranquebarica), Cu gáy (S chinensis), Gầm ghì vằn (Macropygia unchall), Gầm ghì đầu hung (M ruficeps), Cu luồng (Chalcophaps indica), Bồ câu Nicoba (Caloenas nicobarica), Cu xanh đầu xám (Trevon vernans), Cu xanh khoang cổ (T bicinctus), Cu xanh đuôi đen (T pompadora), Cu xanh chân vàng (T phoenicopterus), Cu xanh đuôi nhọn (T apicauda), Cu xanh seimun (T seimundi), Cu xanh mỏ quặp (T curvirostra), Cu xanh sáo (T sphenurus),

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4

Cu xanh bụng trắng (T sieboldii), Gầm ghi lưng xanh (Ducula aenea), Gầm ghì lưng nâu (D badia) và gầm ghì trắng (D bicolor) Loài Cu gáy vằn (Geopelia striata) mới được ghi nhận ở một số tỉnh miền Nam Việt Nam

được xem là loài thứ 23

1.1.2 Một số đặc điểm chung của chim gáy trắng

Toàn thân chim gáy trắng có lông bao phủ, mình chim hình thoi, cổ dài rất linh hoạt giúp chim dễ quan sát từ mọi phía, mổ thức ăn, tấn công hoặc tự vệ… Giống như chim bồ câu, chim gáy trắng có bản năng ấp trứng tốt và nuôi con khéo

Chim gáy trắng là loại gia cầm đơn phối không tạp giao với con thứ ba, chúng sống thành từng đôi (nuôi lồng cũng như sống tự do)

Gáy trắng là loài chim có hai màu lông tự nhiên là màu xám mờ trên lưng, sau gáy là một vệt xám đen hẹp và những con có màu lông trắng tinh

Theo Tô Du, Đào Đức Long (1996) họ chim bồ câu có nhiều biến dị về màu lông: Đen, trắng, nâu… khá đẹp và sặc sỡ Hiện nay chúng có 28 hình thái màu sắc lông khác nhau (Greeword và ctv, 1997), (Pigeon- Rock dove, 2005), (Stefanini, orsi, 1999)

Da của chim mỏng, bao phủ toàn thân và có vai trò quan trọng trong việc trao đổi nhiệt của cơ thể, đặc biệt đối với chim non Da của chim rất mỏng và không có tuyến nhờn chỉ có tuyến ở gần đuôi gọi là tuyến phao câu, tuyến phao câu là tuyến duy nhất có ở biểu mô của chim, nằm ở vùng đốt sống đuôi, chất tiết của chúng là chất nhờn, có tác dụng làm cho bộ lông nhờn, sáng bóng, mềm mại và không thấm nước

Lông vũ của chim chỉ có hai loại là lông ống và lông tơ, lông ống lớn nhất mọc ở cánh và đuôi có vai trò quan trọng trong khi bay lượn, lông tơ mọc sát thân tạo thành một lớp dày có tác dụng điều hòa thân nhiệt cho cơ thể

Khối lượng chim gáy trắng to hay nhỏ phụ thuộc vào giống và giới

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

tính biến động từ 150 - 170 g/con Ở chim gáy trắng đa số trường hợp con trống lớn hơn con mái song sự chênh lệch không nhiều Chim có tính quần cư cao, nuôi riêng hoặc nuôi theo bầy thì hiện tượng ẩu đả ít khi xảy ra, chúng thường cùng ăn, cùng nghỉ Chim có tính đồng loại cao vì vậy trong chăn nuôi thâm canh có thể tiến hành ghép ấp và ghép nuôi con nhằm nâng cao năng suất sinh sản của chim Việc ghép ấp có thể thực hiện với những quả trứng có cùng ngày đẻ hoặc chênh lệch nhau 1- 2 ngày và số trứng ghép tối đa trên một

ổ ấp là 3 quả/ ổ Tương tự như vậy ta cũng có thể ghép nuôi những con có cùng ngày nở hoặc chệnh lệch nhau 1-2 ngày và số con ghép tối đa 3 con/ổ (Warre Nowland và Gerry Bolla, 2005)

Chim ưa thích sống nơi rộng, thoáng đãng, sạch đẹp, yên tĩnh Vì thế, khi chuồng bẩn, ồn ào hoặc có nhiều kiến… chúng thường bỏ chuồng bay đi nơi khác

Thức ăn của chim gáy trắng là các loại hạt quả, quả cây, hạt các cây lương thực như lúa, ngô, đậu xanh, đậu tương, lạc, vừng,… khoai lang, sắn Nhiều khi trong diều và dạ dày của chim còn thấy mối, ấu trùng côn trùng và ruồi nhặn, đặc biệt là khi chim còn trong giai đoạn nuôi con

Chim gáy trắng có thể nhận biết và định hướng đường đi về trên một khoảng cách rất xa một cách chính xác do cảm quan của chim rất phát triển, dựa vào điều này người nuôi chim cho chim hình thành phản xạ có điều kiện giúp trong chăn nuôi thuận tiện và đạt năng suất cao hơn (Trần Công Xuân và Nguyễn Thiện, 1997)

Lượng máu trong cơ thể chim gáy trắng chiếm khoảng 9- 10% khối lượng cơ thể Tim khá lớn và chia thành hai nửa riêng biệt và có vách ngăn tâm thất hoàn chỉnh Chim gáy trắng không có túi mật, dịch mật do gan tiết ra

đổ thẳng vào tá tràng thông qua một ống dẫn nhỏ Bộ xương của chim nhỏ do

đó tỷ lệ cơ thịt khá cao Các cơ phần ngực phát triển nhất sau đó là cơ đùi, cơ

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6

lưng và cơ hông ít phát triển hơn

1.1.2.1 Sự thay lông

Thay lông là sự thay đổi thường kỳ của lông và thành phần cấu trúc biểu bì của da Giống như các loài chim khác, ở chim gáy trắng cũng diễn ra quá trình thay lông thường xuyên, sự thay lông của chim có tính mùa vụ, thông thường bắt đầu vào mùa thu Trong quá trình thay lông ở chim gáy trắng vẫn duy trì khả năng bay, sự thay lông ở thân thường diễn ra nhanh hơn

so với lông cánh, đặc biệt lông đầu thay nhanh nhất (Đào Đức Long, 2000) Trong quá trình thay lông chim vẫn sinh sản bình thường mà không nghỉ đẻ như các loài gia cầm khác, sự thay lông ở chim trống xảy ra mạnh mẽ hơn chim mái, chim non một tháng tuổi thì bắt đầu thay lông Quá trình thay lông ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của chim vì nó làm tiêu hao nhiều chất hữu cơ

để cấu tạo lông mới, làm tăng cường độ trao đổi chất và năng lượng trong cơ thể, tăng tính hấp thu và tiêu hóa thức ăn Vì vậy trong khoảng thời gian này cần chăm sóc tốt và tăng nhu cầu khoáng trong khẩu phần ăn của chim

1.1.2.2 Sự đẻ trứng và ấp trứng

Sau khi bắt cặp, 8-12 ngày sau chim bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên, chim mái thường đẻ 2 trứng/ lứa (ít khi đẻ 1 hoặc 3 quả),cách nhau khoảng 24- 48 giờ Trứng chim có hình bầu dục, vỏ sáng màu trắng Khối lượng trứng 6,5 – 8g

Ấp trứng là bản năng tự nhiên của chim, thông thường chim đẻ 2 trứng xong mới ấp, cả chim trống và chim mái cùng tham gia ấp trứng, con mái ấp đêm và buổi sáng, con trống ấp vào buổi chiều Phôi chim phát triển trong 14-

16 ngày thì nở Các điều kiện ngoại cảnh như: mùa vụ, chế độ nuôi dưỡng chăm sóc, chất lượng thức ăn, hàm lượng vitamin A, E có ảnh hưởng rất lớn

đến tỷ lệ trứng có phôi Sự thích ứng của từng cá thể trong giao phối có ý

nghĩa lớn đối với sự thụ tinh Đặc biệt chim gáy trắng là gia cầm đơn phối,

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7

cho nên sự ghép phối có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ trứng có phôi

1.1.2.3 Sữa diều chim

Ở chim gáy trắng, khối lượng và tỷ lệ lòng đỏ trứng thấp, khi nở ra con non còn rất yếu nên hàng ngày chim bố mẹ phải mớm cho chim non bằng “sữa diều” “Sữa” là chất sền sệt rất giàu đạm “Sữa” được cả chim bố và chim mẹ tiết ra từ chính cơ thể của mình dưới tác động của hormone Loại “sữa” này là độc nhất và trong thế giới loài chim, nó chỉ được phát hiện ở các loài thuộc họ chim bồ câu mà thôi

Trong lúc ấp trứng, có nhiều biến đổi xảy ra ở cơ thể chim bố mẹ, giúp chúng sản xuất ra chất dinh dưỡng cho chim non trong những ngày đầu mới nở: dịch diều hay sữa diều Dưới tác động của hormone prolactin, các mạch máu chằng chịt trên thành của bao diều ngày càng dày hơn, tới mức biến thành tuyến ngoại tiết, có thể so sánh với tuyến sữa ở các loài có vú Chiều dày của thành diều có thể tới 1cm và được cấu tạo bởi những mô bào Trong khi đó vào thời điểm bình thường nó chỉ là một màng gần như trong suốt, hormone này cũng ngăn cản sự rụng trứng Do vậy, nếu lấy đi những trứng mới đẻ trước lúc chim

bố mẹ ấp thì sau 7 ngày chim mẹ sẽ lại đẻ Còn ngược lại, nếu lấy trứng muộn hơn, khi chim bố mẹ đã ấp, có nghĩa là có sự xảy ra của chu trình hormone thì 10 ngày sau khi lấy trứng đi chim mẹ mới đẻ trở lại

Đến ngày thứ 12- 15 trở đi thì chim bố mẹ mớm mồi cho chim non hoàn toàn là hạt Hạt cùng với nước ợ từ diều chim bố mẹ mớm vào hốc miệng cho chim non Sau khi nuôi con được 15- 20 ngày, chim mái bắt đầu đẻ lại và tiếp tục ấp những quả trứng mới đẻ Điều này cho thấy cường độ làm việc của chim trống và chim mái rất cao, chúng vừa ấp trứng vừa nuôi con đang lớn Cả chim trống và chim mái rất cần mẫn, khéo léo phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng trong việc ấp trứng và nuôi con

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8

Sữa chim gáy trắng chứa 14- 16% protein và 8- 10% chất béo, ngoài ra còn chất khoáng, vitamin, nhưng không có hoặc rất ít đường

Thành phần dinh dưỡng sữa chim

Trong những ngày đầu mới nở, “ sữa” là thức ăn duy nhất của chim non Từ ngày thứ 4- 5 chim bố mẹ chuyển thêm vào sữa cả thức ăn để đến ngày thứ 12- 15 thì chim non hoàn toàn ăn và tiêu hóa được thức ăn bình thường Ở 12 ngày tuổi là thời điểm quyết định đối với chim non vì nó tương ứng với thời điểm cai sữa của chim bố mẹ Tuy vậy, cũng có khi sự tiết sữa kéo dài tới tận ngày thứ 20- 25, nhưng với một lượng sữa rất ít

1.1.3 Phân loại chim gáy trắng

Người ta phân loại chim gáy trắng làm hai loại chính: chim gáy trắng nuôi thịt và chim gáy trắng cảnh

1.1.3.1 Chim gáy trắng nuôi thịt

Tùy vào tập quán từng vùng khí hậu sinh thái, người ta nuôi nhiều gáy trắng có kích thước và màu sắc khác nhau Đặc điểm của chim gáy trắng nuôi thịt thường có thể trọng lớn hơn, dài thân hơn Chim có cơ ngực phát triển và

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9

chóng đạt đến độ trưởng thành Khối lượng chim lúc ra ràng (28 ngày tuổi) đạt 150 - 170g/con

1.1.3.2 Chim gáy trắng cảnh

Chim gáy trắng thường được nuôi làm cảnh Chim gáy trắng là loài được nhiều nhà điểu học quan tâm nghiên cứu lai tạo giống Bởi lợi thế của loài này là đẻ đều và nuôi con giỏi, lại dễ bắt cặp nên dễ lai tạo nhiều màu sắc Màu trắng và màu kem nhạt là những màu được ưa chuộng

Ngoài nuôi chim cảnh, chim còn được ưa chuộng sử dụng trong các tiết mục ảo thuật nhờ vóc dáng nhỏ, tính lành hiền nên khi được luyện tập rồi thì rất chịu đứng yên một chỗ, dễ đem giấu dưới các lớp vải, khăn hoặc trong các

khe, hộp nhỏ đồ nghề của nhà ảo thuật

1.2 Cơ sở khoa học của đề tài

1.2.1 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản

1.2.1.1 Sinh lý sinh sản ở loài chim

Gia cầm là loài đẻ trứng Bộ máy sinh dục cái có buồng trứng nằm ở phía trái của khoang bụng, về phía trước và hơi thấp hơn thận trái, được đỡ bằng các nếp gấp của màng bụng từ trên xuống Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào trạng thái chức năng và tuổi của gia cầm Trong buồng trứng của gia cầm số lượng tế bào trứng khá nhiều nhưng chỉ có một số

ít phát triển đến giai đoạn trứng chín

Trứng chín đi vào phễu và các phần của ống dẫn trứng, nhưng ở gia cầm không hình thành hoàng thể và đó là sự khác biệt so với các loài động vật có vú

và điều này có liên quan đến khả năng kéo dài thời kỳ đẻ trứng của gia cầm

Sự rụng trứng ở gia cầm xảy ra một lần trong ngày Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng trệ sự rụng trứng tiếp theo Nếu lấy trứng ra khỏi tử cung, thì cũng không làm tăng nhanh sự rụng trứng được Tính chu kỳ của sự rụng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện nuôi dưỡng và chăm

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm việc nuôi dưỡng kém, không

đủ ánh sáng và nhiệt độ không khí trong chuồng cao cũng làm chậm sự rụng trứng và đẻ trứng

Sự rụng trứng ở chim chịu sự điều khiển của các nhân tố hocmon Các hocmon FSH và LH kích thích sự sinh trưởng và sự chín của các tế bào sinh dục trong buồng trứng

Bộ máy sinh dục gia cầm trống bao gồm tinh hoàn và phần phụ Ở chim gáy trắng, sự phát triển của cơ quan sinh dục đực xảy ra chủ yếu vào tuổi từ 3,5 tới 5 tháng tuỳ theo giống và mùa Các cơ quan sinh dục bắt đầu hoạt động và có thể nhận biết rõ từ lúc 4,5 đến 5 tháng Cơ quan sinh dục chim gáy trắng trống và mái giảm về kích cỡ và giảm sự hoạt động trong thời

kỳ ấp trứng và sản sinh “sữa” diều để nuôi con Và vào mùa sinh sản, cơ quan sinh dục phát triển trở lại

1.2.1.2 Năng suất trứng

Năng suất trứng là một chỉ tiêu quan trọng nhất đối với con mái và là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật nhằm đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm sinh sản

Ở chim gáy trắng do đặc trưng của giống vẫn giữ nguyên bản năng

ấp trứng và nuôi con quanh năm, do đó sức đẻ trứng phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố di truyền Ở các giống chim được chọn lọc cho năng suất trứng cao thì khoảng cách giữa các lứa đẻ ngắn, chim bố mẹ cùng nhau vừa ấp trứng vừa nuôi con

Sức đẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau: di truyền cá thể, tuổi, giống, dòng gia cầm, chế độ dinh dưỡng và điều kiện ngoại cảnh

- Các yếu tố di truyền cá thể

Có 5 yếu tố di truyền ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của chim là tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11

trứng sinh học và tính ấp bóng

+ Tuổi thành thục sinh dục

Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Thành thục sớm là một tính trạng mong muốn Tuy nhiên cần phải chú ý đến khối lượng cơ thể Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gia cầm và tăng tuổi thành thục sinh dục

+ Cường độ đẻ trứng

Cường độ đẻ trứng là năng suất trứng của gia cầm trong một thời gian ngắn Cường độ đẻ trứng tương quan chặt chẽ với năng suất trứng một năm, nhất là cường độ đẻ trứng của 3 - 4 tháng đẻ đầu Vì vậy để đánh giá năng suất trứng của gia cầm người ta thường kiểm tra cường độ đẻ trứng của 3 - 4 tháng đẻ đầu để có những phán đoán sớm, kịp thời trong công tác chọn giống + Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học

Chu kỳ đẻ trứng của gia cầm được tính từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ để thay lông Ở gà, chu kỳ này thường kéo dài 1 năm; gà tây, vịt và ngỗng chu kỳ thường ngắn hơn và theo mùa Chu kỳ đẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ

đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng Giữa sự thành thục và thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học có tương quan nghịch rõ rệt

Giữa thời gian kéo dài đẻ trứng và sức sản xuất trứng có hệ số tương quan dương rất cao Lerner và Taylor (1943) cho rằng, thời gian kéo dài chu

kỳ đẻ trứng là yếu tố quyết định năng suất trứng

Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng sinh học gia cầm thường nghỉ đẻ và thay lông Trong điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là đặc điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu Những gia cầm thay lông sớm thường đẻ kém và thời gian thay lông kéo dài 4 tháng Ngược lại, nhiều gia cầm thay

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12

lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng

bỏ đặc tính sinh học này của chúng

- Tuổi gia cầm:

Tuổi gia cầm cũng có liên quan đến sản lượng trứng, năng suất trứng giảm dần theo tuổi Ở chim cút, sản lượng trứng năm thứ hai giảm 15 -20% nên người ta chỉ nuôi đẻ 1 năm Chim gáy trắng đẻ theo lứa và tương đối ổn định trong 4-5 năm đầu, sau đó thì bắt đầu giảm xuống

Trần Đình Miên và cộng sự (1995) cho biết, quy luật đẻ trứng của gia cầm thay đổi theo tuổi và có sự khác nhau giữa các loài

- Thức ăn và dinh dưỡng

Nếu khẩu phần không đảm bảo nhu cầu về protein, năng suất trứng và khối lượng trứng sẽ giảm Khẩu phần không đảm bảo nhu cầu về vitamin và khoáng không những làm giảm năng suất trứng mà còn ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả ấp nở Tỷ lệ trứng không có phôi sẽ tăng cao hơn Khẩu phần thừa năng lượng làm cho gia cầm tĩch luỹ nhiều mỡ trong cơ thể cũng ảnh hưởng tới quá trình tạo trứng thông qua hoạt động của các hocmon sinh dục không bình thường

Thức ăn chất lượng kém sẽ không thể cho năng suất cao, thậm chí còn gây bệnh cho gia cầm Các loại thức ăn bảo quản không tốt bị nhiễm nấm mốc, các loại thức ăn bị nhiễm độc các kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13

v.v Bảo quản thức ăn không tốt cũng sẽ không phát huy được tác dụng trong chăn nuôi gia cầm

- Điều kiện ngoại cảnh

Các điều kiện ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng… của chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm Trong các yếu tố này thì nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất Nhiệt độ thấp quá hay cao quá đều không có lợi cho gia cầm và làm giảm sức đẻ trứng Nhiệt độ môi trường cao không những làm giảm năng suất trứng mà còn giảm chất lượng trứng: vỏ trứng mỏng hơn bình thường, nhiều trứng đẻ ra không có vỏ đá vôi

Độ ẩm của không khí trong chuồng nuôi tốt nhất là 65 - 70%, về mùa đông, độ ẩm không nên vượt quá 80% Sự thông thoáng tốt không chỉ giúp đảm bảo độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi mà còn đẩy các khí độc ra ngoài, đảm bảo một môi trường sống phù hợp

Ánh sáng không những chỉ ảnh hưởng đến thời gian rụng trứng, mà còn ảnh hưởng đến sự thành thục và hoạt tính chung của các cơ quan tạo trứng

Chim gáy trắng rất nhạy cảm với ánh sáng Sự đẻ trứng chỉ phụ thuộc vào một phần ánh sáng nhưng sự ấp trứng lại phụ thuộc chặt chẽ vào yếu tố ánh sáng Bản năng ấp trứng của chim gáy trắng phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng ban ngày tối thiểu là 13 giờ Do đó chuồng trại thiết kế thoáng đảm bảo cung cấp đủ ánh sáng cho chim Tuy nhiên, ở miền Bắc, ban ngày mùa đông ánh sáng ngắn, có thể lắp bóng đèn 40W chiếu sáng thêm vào ban đêm (nếu nuôi theo quy mô lớn) với cường độ 4-5W/m2 nền chuồng với thời gian 3-4h ngày Trong thời kỳ hậu bị, cần hạn chế thời gian chiếu sáng để chim không bị thành thục quá sớm

Tình trạng sức khoẻ chung của cả đàn có ảnh hưởng tới sản lượng trứng Chim mắc bệnh truyền nhiễm và nhiều loại ký sinh trùng sẽ làm giảm

số lượng cũng như chất lượng trứng

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14

1.2.1.3 Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên

Đây là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục của gia cầm Theo Brandsch.A and Biilchel.H (1978) thì hệ số di truyền tính trạng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà từ 0,15-0,14 Giữa tuổi thành thục sinh dục và khối lượng cơ thể có mối tương quan nghịch

Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài yếu tố di truyền đó là chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng trong giai đoạn hậu bị

Byerly và Knox dùng các thí nghiệm chứng minh rằng, thời gian bắt đầu thành thục sinh dục ở gà mái tơ vào lúc đẻ quả trứng đầu tiên, phần lớn tuỳ thuộc vào ngày dài hay ngắn Mái tơ nở ra sau ngày 18 tháng tư bắt đầu

đẻ trứng chậm hơn những mái nở vào quãng 21 tháng ba độ ba tuần, vì ở những gà đẻ muộn phần lớn thời gian sinh trưởng nằm vào thời gian ngày ngắn trong năm

Muốn gia cầm có sức đẻ bền, đẻ trứng tốt để đạt sản lượng trứng cao thì tuổi thành thục phải phù hợp với khối lượng chuẩn của giống, do vậy người ta phải khống chế khối lượng gia cầm bằng phương pháp cho ăn hạn chế về dinh dưỡng theo quy trình chăn nuôi của từng dòng, giống Ở chim gáy trắng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên vào lúc 5 tháng tuổi

1.2.1.4 Cường độ đẻ trứng

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng của gia cầm trong thời gian nhất định Cường độ đẻ trứng có thể tính theo tỷ lệ phần trăm đẻ bình quân trong một giai đoạn là một tuần hoặc một tháng Cường độ đẻ trứng có tương quan dương (+) và rất chặt chẽ với sản lượng trứng Sản lượng trứng còn phụ thuộc vào đặc điểm của cá thể và tuổi đẻ Trong một điều kiện nuôi dưỡng như nhau, năng suất đẻ trứng của các cá thể khác nhau có thể sai khác từ 30 - 50%

so với chỉ tiêu trung bình của toàn đàn Khả năng đẻ trứng cao nhất của gia cầm là vịt, sau đó là gà và ngan, thấp nhất là chim bồ câu Chim gáy trắng tùy

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15

thuộc vào giống, một năm chỉ đẻ từ 12 - 20 quả (tương ứng với 6 - 10 lứa đẻ trong năm) Sức đẻ trứng còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: Tuổi đẻ, mùa vụ, chế độ dinh dưỡng và điều kiện chăm sóc

1.2.1.5 Tỷ lệ thụ tinh và ấp nở

* Tỷ lệ thụ tinh

Tỷ lệ thụ tinh là tỷ lệ phần trăm giữa số trứng có phôi với số trứng đẻ ra hay số trứng đem ấp Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về khả năng sinh sản của con gia cầm

- Những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh:

+ Yếu tố di truyền

Loài, giống và các cá thể khác nhau thì tỷ lệ thụ tinh cũng khác nhau

Kỹ thuật nhân giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh Nếu cho giao phối đồng huyết sẽ làm giảm tỷ lệ thụ tinh

+ Yếu tố dinh dưỡng

Dinh dưỡng của đàn bố mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ tinh Nếu khẩu phần thiếu protein, phẩm chất tinh dịch sẽ kém vì đây là nguyên liệu cơ bản để hình thành tinh trùng Nếu thiếu các vitamin, đặc biệt là vitamin A, E sẽ làm cho cơ quan sinh dục phát triển không bình thường, ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh tinh và các hoạt động sinh dục, làm giảm tỷ lệ thụ tinh

Khẩu phần cần phải cân bằng các chất dinh dưỡng, nhất là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng giữa các axit amin, cân bằng giữa các nhóm chất dinh dưỡng khác nhau

+ Điều kiện ngoại cảnh

Điều kiện ngoại cảnh mà cụ thể là tiểu khí hậu chuồng nuôi (nhiệt độ, độ

ẩm, sự thông thoáng và chế độ chiếu sáng) là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ tinh Nhiệt độ và độ ẩm cao hay thấp hơn so với quy định

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16

đều ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh ở các mức khác nhau thông qua quá trình trao đổi chất của cơ thể gia cầm Chuồng thông thoáng kém, hàm lượng khí độc trong chuồng nuôi tăng lên, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và làm giảm tỷ

lệ thụ tinh

+ Tỷ lệ trống /mái

Để có tỷ lệ thụ tinh cao, cần có tỷ lệ trống/ mái thích hợp Tỷ lệ này cao hay thấp quá đều làm giảm tỷ lệ thụ tinh Các loài, giống gia cầm khác nhau thì tỷ lệ trống và mái cũng khác nhau (đà điểu 1/1- 1/2;

bồ câu 1/1; chim cút 1/2- 2,5)

* Tỷ lệ ấp nở

Tỷ lệ ấp nở của gia cầm được xác định bằng tỷ lệ (%) số con nở ra so với số trứng có phôi, đây là tính trạng đầu tiên biểu hiện sức sống của đàn con Nguyễn Quý Khiêm và cộng sự (1999) cho rằng, khối lượng trứng, sự cân đối giữa thành phần cấu tạo và cấu trúc của vỏ trứng ảnh hưởng đến tỷ lệ

ấp nở Những quả trứng quá to hay quá nhỏ đều có khả năng nở kém hơn quả trứng có kích thước trung bình Điều này có liên quan tỷ lệ thành phần cấu tạo của trứng

Tỷ lệ ấp nở là chỉ tiêu đánh giá khả năng phát triển của phôi và sức sống của gia cầm con Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nở như: di truyền, giống, tuổi, trạng thái sức khỏe, tỷ lệ trống mái, nuôi dưỡng chăm sóc, khối lượng trứng và chất lượng trứng, vệ sinh thú y, bảo quản, vận chuyển trứng, quy trình ấp trứng (nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng, đảo trứng có ý nghĩa quyết định đến tỷ lệ nở) Ở chim gáy trắng vẫn duy trì bản năng ấp trứng và nuôi con do đó

tỷ lệ nở phụ thuộc nhiều vào bản năng ấp trứng của chim bố và chim mẹ

1.2.1.6 Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng

Để đánh giá chất lượng trứng, người ta thường dùng các chỉ tiêu bên ngoài như màu sắc vỏ, khối lượng trứng, chỉ số hình thái trứng và các chỉ tiêu bên trong như chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng, đơn vị Haugh Riêng chất lượng

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17

vỏ trứng vừa là chỉ tiêu bên ngoài (độ chịu lực), vừa là chỉ tiêu bên trong (độ dày

Kết quả nghiên cứu của các tác giả: Pingel và cộng sự (1996), Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tào (1985) thì khối lượng trứng có tương quan âm (-) với sản lượng trứng và tương quan r nằm trong khoảng -0,33 đến -0,36 trong khi đó khối lượng và tuổi đẻ quả trứng đầu tiên và khối lượng cơ thể có tương quan dương (+) và hệ số tương quan r tương ứng là + 0,35: + 0,31

Ngoài các yếu tố di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiếu yếu tố ngoại cảnh khác như: thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến khối lượng trứng của gia cầm cũng rất rõ rệt: khi thiếu protein có ảnh hưởng đáng kể đến khối lượng trứng Các nghiên cứu trên khẩu phần ăn của gà mái đẻ cho thấy khi thiếu lysine hoặc methionine hoặc thiếu cả hai loại axit amin thiết yếu này thì đều ảnh hưởng tỷ lệ lòng đỏ trong khi thiếu methionine lại ảnh hưởng chủ yếu đến lòng trắng Trong cùng một giống, một dòng nhóm trứng có khối lượng lớn nhất hoặc bé nhất đều cho tỷ lệ nở thấp

• Hình dạng trứng

Hình dạng trứng của các loài, giống chim khác nhau thì khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm di truyền, cấu tạo của ống dẫn trứng và đặc điểm co bóp

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18

của ống dẫn trứng trong quá trình tạo trứng

Hình dạng trứng còn là căn cứ để đánh giá chất lượng trứng dựa theo chỉ số hình dạng Chỉ số này ở gà dao động trong khoảng 1,33 - 1,67 và trung bình là 1,32; ở trứng vịt trung bình là 1,30 dao động từ 1,20 - 1,58; trứng chim có “hình trứng”, một đầu tù và một đầu nhọn và nó có chỉ số hình dạng

biến thiên trong khoảng 1,10 - 1,45, trung bình là 1,30

Theo Vũ Quang Ninh(2002) cho rằng, chỉ số hình dạng của trứng là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tỷ lệ ấp nở và độ bền vững của vỏ trứng, nếu trứng đồng đều thì quá trình phát triển của phôi sẽ đồng đều, số gia cầm nở ra cùng một thời điểm nhiều, nếu kích thước trứng không đều thì những trứng nhỏ phôi phát triển nhanh hơn những trứng có kích thước lớn

Ngô Giản Luyện (1994) cho biết, chỉ số hình dạng ảnh hưởng đến vị trí của đĩa phôi khi ấp và là căn cứ để đánh giá chất lượng bên trong của trứng Trong khâu lựa chọn trứng ấp cần phải loại bỏ những trứng có hình dạng không bình thường (trứng dị hình) như: trứng vỏ mềm, trứng hai lòng

đỏ, trứng trong trứng, trứng biến dạng (quá dài, quá tròn, thắt eo, vàng đai…)

• Chất lượng vỏ trứng

Chất lượng vỏ trứng được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như: độ dày

vỏ, độ chịu lực hay độ bền và mật độ lỗ khí Độ dày cần thiết của vỏ trứng có vai trò lớn trong khi ấp trứng và tránh khỏi bị dập vỡ khi thao tác đóng gói, vận chuyển, ấp trứng Nếu vỏ quá mỏng thì trứng vừa dễ vỡ, vừa không đáp ứng được các chất khoáng để phôi phát triển Nếu vỏ quá dầy thì làm cho quá trình hô hấp của phôi bị cản trở và khó nở

Độ dày vỏ trứng biến động trong khoảng 0,1 - 0,6 mm và phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng quan trọng nhất là hàm lượng canxi, phôtpho và vitamin D trong khẩu phần cũng như mùa vụ trong năm Độ dày vỏ trứng ở chim bồ câu là 0,10 - 0,15mm, chim cút là 0,32 - 0,35 mm, ở trứng gà là 2,0 - 2,5 mm

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19

Mật độ lỗ khí có ý nghĩa quan trọng khi ấp trứng Trong thời kỳ phôi phát triển, sự trao đổi khí giữa phôi và môi trường qua những lỗ khí này Khi

ấp trứng, phôi có thể bị chết nếu số lỗ khí/ 1 cm2 ít hoặc các lỗ khí quá hẹp,

vỏ quá dày Vào cuối thời kỳ ấp, sự giảm khối lượng trứng do bốc hơi nước

có vai trò quan trọng Nếu vỏ trứng có quá nhiều lỗ khí và độ ẩm không khí trong máy ấp thấp thì sẽ có ảnh hưởng bất lợi đối với phôi do mất nước quá nhiều Ở đầu nhọn của trứng, mật độ lỗ hơi ít hơn, còn ở đầu tù thì nhiều hơn

so với phần giữa của trứng Trung bình có 100-150 lỗ khí/1cm2

• Chất lượng lòng trắng

Lòng trắng của trứng bao gồm lòng trắng loãng và lòng trắng đặc, được cấu tạo chủ yếu là Albumin, một số khoáng chất và nước Nhìn bằng mắt thường trứng tươi sẽ có màu trắng lòng hơi vàng, trong khi đó những quả trứng để lâu thì màu lòng trắng sáng hơn, chiều cao lòng trắng đặc cũng là một chỉ tiêu bên trong để đánh giá chất lượng trứng

Chỉ số Haugh là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng trứng,

nó phụ thuộc vào chiều cao của lòng trắng đặc Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng cao Đơn vị Haugh thay đổi theo thời gian và nhiệt độ bảo quản trứng Đơn vị Haugh dao động từ 20 - 100, trứng tốt 74 -89

Bạch Thanh Dân (1995) cho biết, chất lượng trứng nếu rất tốt có chỉ số Haugh từ 80 -100, tốt từ 65 - 79, trung bình từ 55 - 64 và xấu < 55

Lòng đỏ trứng gồm nước, protit, lipit, gluxit, các axit amin không thay thế và

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20

các vitamin nhóm B, A, D, E làm nhiệm vụ cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi phát triển

1.2.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng và cho thịt ở gia cầm

1.2.2.1 Khái niệm sinh trưởng

Sinh trưởng được định nghĩa một cách đơn giản là sự tăng trưởng về kích thước tế bào (hypertrophy), số lượng tế bào (hyperplasia) và dịch thể tế bào (trích dẫn theo Chamber, 1990

Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) cho biết, sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa là sự tăng chiều dài, chiều rộng, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên

cơ sở tính chất di truyền của đời trước Do vậy trong chăn nuôi gia cầm giai đoạn sinh trưởng cần cung cấp đầy đủ protein, năng lượng khoáng và các loại vitamin để hệ thống các cơ quan chức năng, xương và cơ bắp phát triển tốt tạo bộ khung để giai đoạn sau nhanh béo, giai đoạn cuối cần cung cấp thức ăn giàu năng lượng để gia cầm tích mỡ

Sinh trưởng là một quá trình động, quá trình này luôn luôn diễn ra theo thời gian Điều khiển quá trình sinh trưởng bình thường của cơ thể là hoạt động của các hormone

Gia cầm khi mới nở có hai trường hợp: sớm hình thành và muộn hình thành Sớm hình thành là loài vừa ra khỏi vỏ trứng đã phát triển ngay, toàn thân có lông tơ bao phủ, mở mắt ngay, chân có thể đi được, vừa khô lông có thể tìm thấy thức ăn ví dụ như : Gà, vịt, ngan, ngỗng…Muộn hình thành là loài sau khi ra khỏi vỏ trứng vẫn chưa phát triển đầy đủ, mắt chưa mở ra được ngay và thân thể chưa có lông tơ, không tự kiếm mồi và phải được mớm Chim gáy trắng thuộc loại muộn hình thành Chim non khi mới nở, mình trần trụi mắt nhắm yếu ớt nhưng phát triển khá nhanh Giai đoạn này phụ thuộc hoàn toàn vào việc nuôi dưỡng của chim bố mẹ Sau khi sinh, chim non đều

Trang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21

được chim bố mẹ mớm mồi bằng chất sữa có trong diều Sau đó từ 7 - 8 ngày thì chim bố mẹ mớm mồi cho chim non hoàn toàn là hạt Hạt cùng với nước được ợ từ chim diều chim bố mẹ vào hốc miệng chim non Sự sinh trưởng của chim gáy trắng chia làm hai thời kỳ Thời kỳ thứ nhất là từ 0 - 14 ngày tuổi Thời kỳ này chim có tốc độ lớn nhanh khối lượng cơ thể tăng khoảng 14 lần

so với khi mới nở Thời kỳ hai từ 14 - 28 ngày, thời kỳ này tốc độ lớn của chim chậm lại Đến ngày thứ 28 chim non có bộ lông đầy đủ và ít thua kém

bố mẹ về trọng luợng, chỉ khác ở chỗ trọng lượng cơ bắp ở ngực của chim non nhỏ hơn Phần cơ bắp ở ngực chim non sẽ phát triển nhanh khi chim non tập bay Giữa chim gáy trắng trống và mái không có sự sai khác nhiều về khối lượng cơ thể Bùi Hữu Đoàn (2010) cho biết, khối lượng chim bồ câu nội đạt

từ 300 - 400g/con, còn chim bồ câu Pháp đạt từ 600 - 700g/con

Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục Phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể Phát dục của cơ thể con vật hình thành từ khi trứng thụ tinh, trải qua nhiều giai đoạn phức tạp cho đến khi trưởng thành

Sinh trưởng và phát dục là hai quá trình diễn ra trên cùng một cơ thể gia súc gia cầm Sinh trưởng được coi là quá trình thay đổi cấu tạo chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận Phát dục diễn ra từ khi trứng thụ tinh, qua các giai đoạn khác nhau đến khi trưởng thành

1.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

* Ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến khả năng sinh trưởng

Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng Theo quan điểm di truyền học, hầu hết các tính trạng sản xuất của gia cầm đều là các tính trạng số lượng, bao gồm: sinh trưởng, sản xuất thịt, sản xuất trứng, Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng là do các gen nằm trên

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22

nhiễm sắc thể quy định và do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ quy định

Nguyễn Ân và cộng sự (1983) cho biết các tính trạng năng suất trong đó

có tốc độ sinh trưởng là các tính trạng số lượng hay còn gọi là tính trạng đo lường được như khối lượng cơ thể, kích thước, chiều đo Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) cho biết, các tính trạng số lượng chi phối bởi nhiều gen hay còn gọi đa gen

* Ảnh hưởng của dòng, giống đến quá trình sinh trưởng

Giống, dòng là yếu tố về mặt di truyền quan trọng ảnh hưởng đến tốc

độ tăng khối lượng cơ thể của gia cầm Các giống gia cầm khác nhau có tốc độ tăng khối lượng cơ thể khác nhau Các giống gia cầm hướng thịt có tốc độ tăng khối lượng cơ thể nhanh hơn các giống gia cầm kiêm dụng và hướng trứng Trần Công Xuân và cộng sự (1998) cho biết, tốc độ sinh trưởng của chim bồ câu Pháp lúc 28 ngày tuổi dòng TiTan (650g) cao hơn 95g so với

dòng VN1(555g) và cao hơn rất nhiều so với chim gáy trắng

Godfrey E.F và Joap R.G (1952) cho rằng, sự di truyền các tính trạng

về khối lượng cơ thể do 15 cặp gen tham gia trong đó ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X), vì vậy có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái

* Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông đến sinh trưởng

Các loại gia cầm khác nhau về giới tính thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái

Kushner K.F (1974) cho rằng tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn

* Ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng

Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến toàn bộ các giai đoạn sinh trưởng phát dục và năng suất của gia súc, gia cầm

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23

Theo tài liệu của Trần Đình Miên và cộng sự (1995) thì việc nuôi dưỡng mà chủ yếu là thức ăn có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của gia súc, gia cầm Cho ăn khẩu phần đầy đủ chất dinh dưỡng theo giai đoạn này sẽ thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục, ngược lại nếu thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng thì quá trình sinh trưởng sẽ chậm lại

Trần Công Xuân và cộng sự (1998) cho biết, khả năng sinh sản của chim bồ câu Pháp có khuynh hướng tỷ lệ thuận với mức protein có trong khẩu phần thức ăn Tác giả cũng xác định ảnh hưởng của các mức protein và năng lượng trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng của bồ câu Pháp giai đoạn từ 0 - 4 tuần tuổi

Bùi Đức Lũng (1992) để phát huy khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và các axit amin với năng lượng Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cần được bổ sung hàng loạt các chế phẩm sinh học không mang theo ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (1994) đã kết luận: việc sử dụng mức năng lượng và protein thích hợp trong khẩu phần sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Broiler Nguyễn Thị Mai (2001) cho biết, hiệu quả sử dụng thức ăn có liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng của

gà Trong cùng một chế độ dinh dưỡng, cùng một giống, tại một thời điểm, những lô gà có tốc độ sinh trưởng cao hơn thì hiệu quả sử dụng thức ăn cũng tốt hơn

* Ảnh hưởng của ẩm độ không khí

Ẩm độ cũng là một tác nhân ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm Trong mọi điều kiện của thời tiết, nếu ẩm độ không khí cao đều bất lợi cho gia súc, gia cầm Nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao làm tăng khả năng dẫn nhiệt, gia cầm con dễ mất nhiệt gây cảm lạnh và ngược lại nhiệt độ nhiệt độ cao, ẩm

độ cao làm quá trình thải nhiệt khó khăn dẫn đến cảm nóng

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24

Ẩm độ không khí cùng với nhiệt độ môi trường luôn là những tác nhân chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến tiểu khí hậu chuồng nuôi, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sống hàng ngày của cơ thể gia cầm qua các giai đoạn

* Ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng

Gia cầm rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và giai đoạn sinh sản cho nên chế độ chiếu sáng là vấn đề cần quan tâm Thời gian và cường độ chiếu sáng phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho gia cầm ăn, uống, vận động ảnh hưởng tốt tới khả năng sinh trưởng

Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) cho biết, gà broiler cần được chiếu sáng 23giờ/ngày khi nuôi trong nhà kín (môi trường nhân tạo) Kết quả thí nghiệm 1 - 2 giờ chiếu sáng sau đó 2 - 4 giờ không chiếu sáng cho kết quả tốt, gà lớn nhanh, chi phí thức ăn giảm

* Ảnh hưởng của kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc

Trong chăn nuôi gia cầm nếu điều kiện khí hậu không thuận lợi, nhất là đối với các giống nhập nội có nguồn gốc ôn đới Khí hậu nước ta thuộc loại nhiệt đới gió mùa, trong quá trình chăn nuôi, có rất nhiều tác nhân khí hậu ảnh hưởng xấu đến hiệu quả chăn nuôi như nhiệt độ, ẩm độ không khí, ánh sáng Vì vậy cần phải tạo ra tiểu khí hậu chuồng nuôi tối ưu nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của môi trường.Khi tiểu khí hậu chuồng nuôi không đảm bảo sẽ làm giảm sự thu nhận thức ăn của gia cầm

Mật độ nuôi cũng là một vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng tới hiệu quả và năng suất chăn nuôi gia cầm Mật độ nuôi thưa gây lãng phí lao động, lãng phí chuồng trại và hiệu quả sản xuất thấp Mật độ nuôi cao không hợp lý ảnh hưởng tới tiểu khí hậu chuồng nuôi

1.2.2.3 Cách đánh giá khả năng sinh trưởng

Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng thường được đánh giá qua khối lượng và các kích thước của chúng Các thông số này thường được biểu thị dưới dạng Sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối và sinh

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25

trưởng tương đối

Sinh trưởng tích lũy (khối lượng cơ thể) là khối lượng hoặc kích thước

cơ thể ở một giai đoạn tuổi nhất định nào đó Sinh trưởng tích lũy thường được dùng để đánh giá sự sinh trưởng vì nó đơn giản và dễ thực hiện Đồ thị sinh trưởng tích lũy có dạng chữ S

Trong chăn nuôi gia cầm, người ta thường xác định khối lượng cơ thể theo từng tuần tuổi, từ đó vẽ được đồ thị sinh trưởng tích luỹ, đó chính là đường cong sinh trưởng

Theo tài liệu của Chambers (1990) đường cong sinh trưởng gồm 4 pha:

- Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc độ nhanh sau khi nở

- Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất

- Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn

- Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành

Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích cơ

thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát, sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parapol, giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì có hiệu quả kinh tế lớn

Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích

thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (TCVN2.40.1997) Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol

1.2.2.4 Khả năng cho thịt của gia cầm

Sức sản xuất thịt của gia cầm là chỉ tiêu và yếu tố quan trọng nhất đối với gia cầm nuôi thịt Khả năng cho thịt của gia cầm là khả năng tạo nên khối lượng cơ thể đến tuổi giết thịt Khả năng này của từng giống, dòng là khác nhau Và phụ thuộc vào nhiều yếu tố đó là đặc điểm ngoại hình, khối lượng

cơ thể, tốc độ tăng khối lượng, chế độ dinh dưỡng, khả năng hấp thụ thức ăn Khả năng sản xuất thịt được biểu hiện thông qua 2 chỉ tiêu đó là năng suất thịt

và chất lượng thân thịt

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26

- Năng suất thịt

Năng suất thịt được biểu thị thông qua các chỉ tiêu như khối lượng sống, khối lượng và tỷ lệ phần ăn được, khối lượng và tỷ lệ thân thịt, khối lượng và tỷ lệ thịt đùi, khối lượng và tỷ lệ thịt ngực

Ở gia cầm, khối lượng thân thịt chiếm khoảng 64% (trong đó có 52% là thịt và 12% là xương), phủ tạng chiếm 6%, máu, lông, đầu, chân chiếm 17%

và tỷ lệ hao hụt chiếm khoảng 13% (Trần Thị Mai Phương, 2004)

Trần Công Xuân và cộng sự (1995) cho biết, năng suất thịt còn liên quan đến chế độ dinh dưỡng, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và quy trình vệ sinh thú y Theo Chambers (1990) cho biết, các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau Giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần thịt như thịt ngực, thịt đùi và từng phần thịt còn lại

- Chất lượng thịt:

Thịt gia cầm nói chung và thịt chim gáy trắng nói riêng được mọi người

ưa thích vì chúng thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao So với các loại gia cầm khác, thịt chim gáy trắng mềm hơn do những sợi cơ của chim rất mỏng, các tổ chức liên kết giữa chúng nhỏ hơn Tuy vậy không chỉ đánh giá chất lượng thịt thông qua cảm quan mà chất lượng thịt phải được phản ánh thông qua các thành phần hóa học, sinh học và một số chỉ tiêu sinh hóa, hóa học của thịt Các chỉ tiêu đánh giá thường là hàm lượng vật chất khô, hàm lượng protein, tỷ lệ mỡ, tỷ lệ chất khoáng, Ngoài ra có thể nhận biết chất lượng thịt thông qua cảm quan như màu sắc, độ đàn hồi, độ mịn, độ dai chắc của sợi

cơ Có thể cải thiện chất lượng thịt bằng nhiều biện pháp khác nhau từ việc chọn lọc, lai tạo đến việc áp dụng các phương thức chăn nuôi khác nhau, chế

độ dinh dưỡng, chăm sóc và kể cả việc phương pháp giết mổ, bảo quản thịt Trần Công Xuân và cộng sự (1998) cho biết, thành phần hóa học của

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27

thịt các dòng chim thuộc họ bồ câu tương đương nhau

1.2.3 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn

Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn để đạt được tốc độ tăng trọng Đây là chỉ tiêu hết sức quan trọng trong chăn nuôi, vì chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ tới hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gia cầm nói riêng và chăn nuôi nói chung

Chi phí thức ăn trong chăn nuôi gia cầm thường chiếm 60 - 70% giá thành sản phẩm, vì vậy tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

Chambers và cộng sự (1984) cho biết, hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn thường rất cao (r = 0,5-0,9) Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn là âm và thấp từ (r = -0,2 đến -0,8)

Đối với gia cầm nuôi thịt thì tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng, độ tuổi Giai đoạn đầu tiên tiêu tốn thức ăn thấp, càng về sau thì tiêu tốn thức ăn càng cao hơn Đối với chim gáy trắng tiêu tốn thức ăn tính trên cặp/ ngày hoặc tiêu tốn thức ăn/đôi chim ra ràng Đối với gia cầm sinh sản, thường tính tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng hoặc cho 1kg trứng Tiêu tốn thức ăn là chỉ tiêu quan trọng do đó nó chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố mà trước hết là giống, dòng, tính biệt, phương thức nuôi, chăm sóc nuôi dưỡng, tình trạng sức khỏe,

Trần Công Xuân và cộng sự (1998) cho biết, tiêu tốn thức ăn cho 1 đôi chim bồ câu trong 1 ngày là 119g/con/ngày; tiêu tốn thức ăn/đôi/lứa là 4,89kg Tiêu tốn thức ăn/cặp/năm là 43,2kg (Trần Công Xuân và cộng sự (1996)

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Hiện nay, các kết quả nghiên cứu về chim gáy trắng còn rất ít

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28

Những thông tin không chính thức cho biết, loài chim này có khả năng thích nghi cao với nhiều vùng sinh thái ở châu Âu và châu Mĩ, khả năng sinh sản tốt Một trong những lý do khiến con người thích nuôi vì chúng rất thân thiện với con người Chim gáy trắng là loài chim đang được nhiều nhà điểu học quan tâm nghiên cứu lai tạo giống bởi chúng có lợi thế đẻ đều

và nuôi con giỏi, lại dễ bắt cặp nên dễ lai tạo nhiều màu sắc Đến nay người ta đã ghi nhận loài chim này có hàng chục màu chuẩn (standart colour) khác nhau để người nuôi sưu tập loài chim này

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt nam, chăn nuôi chim gáy trắng mới phát triển và chủ yếu là nuôi nhốt quy mô nhỏ, quảng canh trong nông hộ với mục đích là ăn thịt và làm cảnh Quá trình chăn nuôi cho thấy, chúng có sức sống cao, khả năng chống chịu và sinh sản tốt, thể trọng nhỏ Chim gáy trắng trước đây được nuôi chủ yếu để làm cảnh Hiện nay do nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao, nó trở thành đặc sản vì thịt rất thơm ngon, giá trị dinh dưỡng cao

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là chim gáy trắng (Eurasian Collared Dove) sinh sản và thương phẩm (mới ra ràng, 28 ngày tuổi)

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: tại trang trại Minh Đức, thôn Kim Xà, xã Đông Tảo,

huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

- Thời gian tiến hành: từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014 2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và tập tính của chim gáy trắng

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của đàn chim sinh sản:

- Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên (ngày)

- Năng suất trứng/năm (quả)

- Tổng số trứng/năm/đôi (quả)

- Tỷ lệ nở (%)

- Khối lượng và chất lượng trứng

- Khoảng cách lứa đẻ (ngày)

- Số chim non tách mẹ/cặp/năm (con)

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30

- Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt con non lúc ra ràng (28 ngày tuổi)

- Thức ăn/đôi/ ngày(g)

- Thức ăn/1 đôi hậu bị (cho đến khi vào đẻ) (kg)

- Tiêu tốn thức ăn/1 đôi chim ra ràng (kg)

- Tiêu tốn thức ăn/1 lứa đẻ (kg)

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp theo dõi theo từng gia đình chim

2.3.1.1 Trên đàn chim sinh sản

* Đàn chim nuôi theo phương thức nuôi nhốt Chim được ghép cặp với nhau đánh dấu các ô chuồng, theo dõi ổn định từng đôi

Theo dõi đặc điểm ngoại hình và một số tập tính bằng phương pháp quan sát trực tiếp, thống kê mô tả và chụp ảnh

Theo dõi khả năng sinh sản:

Theo dõi các chỉ tiêu tuổi để quả trứng đầu tiên, năng suất trứng, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ, tỷ lệ nở, số lượng chim non/năm…

Đánh giá chất lượng trứng: khảo sát trứng ngay sau khi đẻ, khối lượng trứng cân bằng cân điện tử của Nhật Bản độ chính xác ± 0,01 g, thước Panme

độ chính xác ± 0,01 mm, quạt Rhode đo màu sắc lòng đỏ, với số lượng 10 quả với các chỉ tiêu

2.3.1.2 Trên đàn chim thương phẩm

* Khối lượng cơ thể:

Khối lượng chim gáy trắng được cân đo tại các thời điểm nhất định: mới nở, 1, 2, 3, 4 tuần tuổi bằng cân điện hiện số, có độ chính xác ± 0,01 g

Từ tuần tuổi thứ 2 trở đi cân bằng cân đồng hồ 1 kg có độ chính xác ± 2 g

* Xác định năng suất thịt của chim gáy trắng ở 28 ngày tuổi, tiến hành mổ khảo sát theo phương pháp của Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm tại Hội nghị thế giới lần thứ V(WPSA, 1984)

2.3.2 Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 31

Chim gáy trắng được chăm sóc theo quy trình tham khảo nuôi chim bồ

câu của Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương, Viện Chăn nuôi, giá trị dinh dưỡng được trình bày ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Khẩu phần và chế độ dinh dưỡng nuôi chim gáy trắng

*Lượng cho ăn:

- Chim gáy trắng sinh sản được ăn tự do theo nhu cầu

Khoáng đa lượng, vi lượng, NaCl, sỏi được bổ sung liên tục vào máng theo nhu cầu Công thức bổ sung khoáng như sau:

Hỗn hợp premix khoáng 85%

Sỏi 10%

Muối ăn (NaCl) 5%

* Chuồng nuôi: mỗi ô chuồng nuôi 1 đôi chim sinh sản Ô chuồng là một đơn vị sản xuất trên đó đặt 1 hoặc 2 ổ đẻ

Kích thước ô chuồng: 40x60x30 cm

* Ổ đẻ: ổ dùng để cho chim đẻ, ấp trứng và nuôi con Mỗi ô chuồng để

2 ổ đẻ Ổ làm bằng gỗ, bằng lốp cao su hoặc bằng các rổ nhựa có kích thước thích hợp luôn khô ráo, sạch sẽ, tiện cho việc vệ sinh Dùng rơm,cỏ mềm khô

để lót ổ

Ngày đăng: 11/09/2015, 14:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Khẩu phần và chế độ dinh dưỡng nuôi chim gáy trắng  Thành phần nguyên liệu (%)  Giá trị dinh dưỡng - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Bảng 2.1. Khẩu phần và chế độ dinh dưỡng nuôi chim gáy trắng Thành phần nguyên liệu (%) Giá trị dinh dưỡng (Trang 40)
Bảng 3.1. Tỷ lệ màu lông của chim gáy trắng - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Bảng 3.1. Tỷ lệ màu lông của chim gáy trắng (Trang 47)
Bảng 3.2. Một số tập tính sinh học của chim gáy trắng (n=10) - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Bảng 3.2. Một số tập tính sinh học của chim gáy trắng (n=10) (Trang 49)
Bảng 3.3. Một số chỉ tiêu theo dõi khả năng sinh sản của chim gáy trắng - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Bảng 3.3. Một số chỉ tiêu theo dõi khả năng sinh sản của chim gáy trắng (Trang 54)
Bảng 3.5. Một số kết quả khảo sát chất lượng  trứng chim gáy trắng - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Bảng 3.5. Một số kết quả khảo sát chất lượng trứng chim gáy trắng (Trang 59)
Bảng 3.6. Chất lượng trứng chim gáy trắng - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Bảng 3.6. Chất lượng trứng chim gáy trắng (Trang 60)
Hình 3.3. Sự phát triển của chim gáy trắng từ 1 – 28 ngày tuổi - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Hình 3.3. Sự phát triển của chim gáy trắng từ 1 – 28 ngày tuổi (Trang 66)
Bảng 3.9. Khả năng sinh trưởng của chim gáy trắng (n=30) - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Bảng 3.9. Khả năng sinh trưởng của chim gáy trắng (n=30) (Trang 66)
Bảng 3.10. Kết quả khảo sát thân thịt chim gáy trắng lúc 28 ngày tuổi - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Bảng 3.10. Kết quả khảo sát thân thịt chim gáy trắng lúc 28 ngày tuổi (Trang 68)
Bảng 3.11. Tiêu tốn và chi phí thức ăn - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Bảng 3.11. Tiêu tốn và chi phí thức ăn (Trang 70)
Bảng 3.12. Kết quả nuôi chim gáy trắng - khả năng sản xuất của chim gáy trắng (eurasian collared dove) nuôi trong nông hộ
Bảng 3.12. Kết quả nuôi chim gáy trắng (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w