LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang” tôi đã nhận đư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
–––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN VIỆT DŨNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
–––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN VIỆT DŨNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ
một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Việt Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh
Bắc Giang” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các
thầy cô giáo Khoa Kinh tế và PTNN, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, một số
cơ quan, ban ngành, các cán bộ, đồng nghiệp và bạn bè
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Tất Thắng người
hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và định hướng tôi trưởng thành trong
công tác nghiên cứu khoa học và hoàn thiện luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới các thầy cô giáo Bộ môn và các thầy cô giáo
trong Khoa, Ban Quản lý đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình
giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Công ty Bảo Việt Bắc Giang đã giúp đỡ tôi
trong việc thu thập tài liệu, số liệu để nghiên cứu
Trân trọng cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn sát cánh, tạo
điều kiện tốt nhất để tôi học tập và hoàn thiện luận án
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Việt Dũng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Câu hỏi nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 3
phÇn 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm, bảo hiểm phi nhân thọ, quản lý và quản lý kinh doanh 4
1.1.2 Vai trò của công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 11
1.1.3 Một số yêu cầu đối với hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 13
1.1.4 Nội dung công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 23
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 27
1.2 Cơ sở thực tiễn nghiên cứu quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang 37
1.2.1 Các kinh nghiệm trong quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của một số nước trên thế giới 37
Trang 61.2.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra về quản lý kinh doanh bảo hiểm
phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang 42
1.2.3 Các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 44
phÇn 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang 47
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên 47
2.2.2 Đặc điểm về dân số và nguồn lao động 47
2.2 Đặc điểm Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 50
2.2.1 Lĩnh vực kinh doanh 50
2.2.2 Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực 51
2.2.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn về quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 52
2.3 Phương pháp nghiên cứu 59
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 59
2.3.2 Chọn đối tượng điều tra 59
2.3.3 Phương pháp thu thập tài liệu 61
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 65
2.3.5 Phương pháp phân tích tài liệu 65
2.3.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 65
phÇn 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG 68
3.1 Kết quả hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 68
3.1.1 Thực trạng việc lập kế hoạch kinh doanh 68
3.1.2 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh 74
3.1.3 Thực trạng hoạt động kiểm tra - giám sát công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 82
Trang 73.1.4 Thực trạng công tác đánh giá - điều chỉnh công tác quản lý hoạt động
kinh doanh 86
3.1.5 Đánh giá hiệu quả quản lý kinh doanh của Công ty Bảo Việt Bắc Giang 90
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 99
3.2.1 Các nhân tố của môi trường kinh doanh 99
3.2.2 Các yếu tố môi trường ngành 100
3.2.3 Nhóm những nhân tố bên trong 104
PhÇn 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ CỦA CÔNG TY BẢO VIỆT BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG 106
4.1 Định hướng nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang 106
4.1.1 Tăng trưởng doanh thu là tiền đề quan trọng nhất cho việc nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 106
4.1.2 Tăng cường quản lý chi tiêu là điều kiện đủ cho việc nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang 107
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 108
4.2.1 Giải pháp mở rộng quy mô và hiệu quả kinh doanh 108
4.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi bồi thường phí bảo hiểm 112
4.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi phí quản lý doanh nghiệp 116
4.2.4 Giải pháp đổi mới hoạt động quản lý doanh nghiệp 118
4.2.5 Trang bị đủ và sử dụng có hiệu quả các phương tiện phục vụ kinh doanh 119 KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 1 Quy trình lập kế hoạch kinh doanh 24
Bảng 2: Số lượng các loại đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp và đại lý bảo hiểm bán thời gian Nhật Bản năm 2011 39
Bảng 3: Biểu đồ đại lý bán bảo hiểm cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm Nhật Bản giai đoạn 2001 – 2011 40
Bảng 4: Bản đồ phân bố mạng lưới đại lý của Bảo Việt Bắc Giang 51
Bảng 5: Tổng hợp số lượng đối tượng điều tra 59
Bảng 6 Thống kê nhóm sản phẩm bảo hiểm, số lượng khách hàng tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang 60
Bảng 7 Nhóm tuổi của những người được khảo sát 63
Bảng 8 Trình độ học vấn của những người được khảo sát 64
Bảng 9: Bảng tổng hợp kế hoạch thu chi và dự tính hiệu quả quy ước 2013 69
Bảng 10: Kết quả kinh doanh của Công ty Bảo Việt Bắc Giangtừ năm 2010 đến năm 2013 75
Bảng 11: So sánh tốc độ tăng doanh thu và hiệu quả theo qui ước của Công ty Bảo Việt Bắc Giang từ năm 2010 – 2013 76
Bảng 12: Chỉ tiêu doanh thu theo nghiệp vụ của Bảo Việt Bắc Giang từ năm 2010-2013 78
Bảng 13: Chi bồi thường bảo hiểm gốc của Bảo Việt Bắc Giang từ năm 2010 - 2013 80
Bảng 14: Chi phí quản lý doanh nghiệp của Bảo Việt Bắc Giang từ năm 2010 đến năm 2013 81
Bảng 15 Kế hoạch trích lập quỹ dự phòng năm 2013 88
Bảng 16: Thị phần doanh thu bảo hiểm gốc theo doanh nghiệp năm 2013 101
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bảo hiểm đóng vai trò quan
trọng đối với sự phát triển ổn định và bền vững của xã hội và từng cá nhân Sự
ra đời của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam là một hệ quả tất yếu trong các
chính sách phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay, trên thị trường bảo hiểm của
nước ta đã hình thành và tồn tại rất nhiều các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm
khác nhau Trong đó, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chiếm một tỷ lệ
khá lớn Tuy nhiên, cùng với việc tăng lên về số lượng các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ thì việc nâng cao hiệu quả quản lý bên trong từng doanh
nghiệp cũng là một đòi hỏi tất yếu
Công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ đóng vai trò đặc biệt
quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp kinh doanh bảo
hiểm Hiệu quả kinh doanh là thước đo tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng
quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Một
doanh nghiệp bảo hiểm có qui mô lớn về vốn kinh doanh, nhân viên, có địa bàn
hoạt động rộng, triển khai nhiều sản phẩm khác nhau nhưng công tác quản lý
kinh doanh không có hiệu quả thì doanh nghiệp đó có nguy cơ mất dần vị thế
cạnh tranh, dẫn tới hậu quả không tồn tại và phát triển được
Công ty Bảo Việt Bắc Giang, là một thành viên trong Tập đoàn Bảo Việt,
có chức năng, nhiệm vụ chính là thực hiện cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho
các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Với tư cách là một doanh
nghiệp, Công ty Bảo Việt Bắc Giang cũng vận hành và chịu sự tác động của cơ
chế thị trường Trong những năm qua, mặc dù hiệu quả kinh doanh vẫn duy trì
ổn định nhưng hoạt động này vẫn đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt
trên thị trường Do vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh được Công ty xác định là
một nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay
Mặc dù, Công ty luôn chủ đọng nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh bảo
hiểm phi nhân thọ trên địa bàn song do quá trình chuyển đổi kinh tế, cùng với
Trang 10việc xoá bỏ độc quyền nhà nước về kinh doanh bảo hiểm, trước xu thế hội nhập
và toàn cầu hoá công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty
đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là sự cạnh tranh ngày càng gay
gắt và quyết liệt trong thị trường bảo hiểm Trong điều kiện đó, Công ty Bảo
Việt Bắc Giang đã buộc phải quan tâm đến việc tìm ra các giải pháp hợp lý trong
việc khai thác tối đa các nguồn lực có hạn của mình nhằm mục tiêu nâng cao
hiệu quả công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Xuất phát từ những
lý do nêu trên, tôi đã chọn vấn đề “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản
lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh
Bắc Giang” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành quản lý kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ cho Công ty trong
thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý kinh
doanh bảo hiểm phi nhân thọ
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang và chỉ ra nguyên nhân của những
thành tựu và hạn chế
- Đề xuất các giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm
phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Phạm vi nội dung: Phạm vi hiệu quả được giới hạn chủ yếu trong phạm
vi hiệu quả kinh tế của Công ty Bảo Việt Bắc Giang
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
- Phạm vi thời gian: Các số liệu và thông tin được sử dụng từ năm 2008
đến năm 2013
4 Câu hỏi nghiên cứu
‐ Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý kinh doanh bảo
hiểm phi nhân thọ bao gồm nội dung gì?
‐ Thực trạng công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty
Bảo Việt Bắc Giang trong những năm qua như thế nào? Còn những vấn đề gì tồn
tại, hạn chế và bất cập cần giải quyết?
‐ Những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm
phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang?
‐ Cần có những giải pháp gì, như thế nào để nâng cao hiệu quả công tác
quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang trong
thời gian tới?
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ
Chương 2 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Chương 4 Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý
kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Trang 12PHÇN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KINH
DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm, bảo hiểm phi nhân thọ, quản lý và quản lý kinh
doanh
- Khái niệm bảo hiểm
Trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, bảo hiểm là một cách thức trong
quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với
những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng Bảo hiểm là
những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng
các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố
Về khái niệm, mặc dù các hình thức bảo hiểm đầu tiên xuất hiện rất sớm
song cho đến nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về bảo hiểm
- Theo quan điểm đơn giản, bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự
bất hạnh của số ít Từ góc nhìn kinh tế, bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một
bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm
thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho một người thứ 3 trong trường
hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một
bên khác: đó là người bảo hiểm
- Từ góc nhìn của quản trị rủi ro, có thể hiểu bảo hiểm là một phương
sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng
để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được
- Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa
Kỳ thì Bảo hiểm là sự tập trung các tổn thất bất ngờ bằng việc chuyển giao
những rủi ro gây ra chúng cho những người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường
những tổn thất này, cung cấp các quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thất xảy ra
hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro
- Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì Bảo hiểm là sự thoả thuận qua
Trang 13đó một bên (người bảo hiểm) hứa thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm
hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài
chỉnh cho người được bảo hiểm Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này,
người bảo hiểm đòi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phỉ bảo hiểm
- Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động
dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất không mong đợi
- Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp, các tập đoàn
thương mại trên thế giới lại đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ
chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức, chuyển nhượng rủi ro
cho DNBH, doanh nghiệp đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn
thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những
người được bảo hiểm
- Từ góc nhìn kinh tế - xã hội – kỹ thuật có thể hiểu Bảo hiểm là một hoạt
động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng
góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ
cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi
ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê
- Bảo hiểm phi nhân thọ
Theo Điều 3, Luật Kinh doanh bảo hiểm xác định “Bảo hiểm phi nhân
thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo
hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ”[15]
Bảo hiểm phi nhân thọ là một loại hình bảo hiểm thương mại hay hoạt động
kinh doanh bảo hiểm được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thị
trường bảo hiểm thương mại Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ những hoạt động mà ở đó
các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro thì người được bảo hiểm đóng một
khoản tiển gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền
bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên hợp đồng
Trang 14- Quản lý
Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người Quản
lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi,
phát triển Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm
khác nhau
F.W Taylor (1856-1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra
khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”, tiếp
cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành
công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã
hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
H.Fayol (1841-1925) là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và
là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận -
hiện đại tới nay, quan niệm rằng: Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch,
tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra
H.Simon (1916) cho rằng ra quyết định là cốt lõi của quản lý Mọi công
việc của tổ chức chỉ diễn ra sau khi có quyết định của chủ thể quản lý Ra quyết
định quản lý là chức năng cơ bản của mọi cấp trong tổ chức
J.H Donnelly, James Gibson và J.M Ivancevich trong khi nhấn mạnh tới
hiệu quả sự phối hợp hoạt động của nhiều người đã cho rằng: Quản lý là một quá
trình do một người hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của
những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không
thể nào đạt được
Những tiếp cận và quan niệm khác nhau đã tạo ra bức tranh đa dạng và
phong phú về quản lý, góp phần cho việc nhận thức ngày càng đầy đủ và đúng
đắn hơn về quản lý
Trên cơ sở các quan niệm nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có
chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức,
liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết
quả tốt nhất
Trang 15Hoạt động quản lý được thực hiện thông qua một loạt các chức năng của
nhà quản lý Mặc dù, các chức năng của quản lý là phần nội dung quan trọng
trong công tác quản lý nhưng hiện nay, còn tồn tại nhiều quan niệm và phân loại
khác nhau về các chức năng quản lý Sự khác nhau đó thể hiện ở số lượng và tên
gọi các chức năng:
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, H.Fayol đưa ra năm chức năng: Dự đoán
và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp và Kiểm tra
Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, Gulick và Urwich nêu lên 7 chức năng
quản lý (POSDCORB): Hoạch định, Tổ chức, Điều khiển, Quản lý nhân sự, Phối
hợp, Kiểm tra và Tài chính
Ở thập niên 60 của thế kỷ XX, H.Koontz và các đồng sự chỉ ra năm chức
năng: Hoạch định, Tổ chức, Định biên, Lãnh đạo và Kiểm tra
Cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các giáo sư đại học Mỹ
đã có sự thống nhất về sự phân chia các chức năng quản lý James Stoner,
Stephan Robbins chia thành 4 chức năng: Hoạch định, Tổ chức, Lãnh đạo và
Kiểm tra
Như vậy, xét về mặt bản chất, có thể cho rằng bốn chức năng của quy
trình quản lý là: Lập kế hoạch, Tổ chức, Lãnh đạo và Kiểm tra
- Kinh doanh:
Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền
kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện
mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao
gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên cơ sở vận
dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời
cao nhất Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:
+ Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh
doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp
+ Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan
hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu
Trang 16vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với nhà nước Các mối quan hệ này
giúp cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp
của mình này càng phát triển
+ Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định
cho công việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh
Chủ thể kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao
động
+ Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận
- Quản lý kinh doanh:
Bản chất của quản lý kinh doanh chính là tạo ra hệ thống, quy trình và tối
đa hóa mục tiêu bằng quá trình tư duy và ra quyết định của nhà quản lý Chức
năng quản lý kinh doanh là việc thực hiện các hành vi kiểm soát quá trình kinh
doanh để duy trì, phát triển công việc kinh doanh của một đơn vị
Quản lý kinh doanh là việc thực hiện các chức năng quản lý trong quá
trình kinh doanh để duy trì, phát triển công việc kinh doanh của một hoặc một
số doanh nghiệp trong một ngành nào đó
Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000) xác định: Kinh doanh
bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo
đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ
sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo
hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm Thông qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì bản chất của
bảo hiểm mới được thể hiện đầy đủ hơn đó là sự việc phân chia tổn thất của một
hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu thông
qua công ty bảo hiểm
Để đạt được các mục tiêu kinh doanh, nhà quản lý phải thực hiện các chức
năng quản lý cơ bản như: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện công việc, phối hợp,
kiểm tra và đánh giá Đây là các chức năng quản lý cơ bản mà nhà quản lý ở mọi
cấp đều phải thực hiện
Trang 17Chức năng quản lý kinh doanh là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ
đích của doanh nghiệp lên khách thể kinh doanh, là tập hợp những nhiệm vụ
khác nhau mà chủ doanh nghiệp phải tiến hành trong quá trình kinh doanh Như
vậy, thực chất của các chức năng quản trị kinh doanh chính là lý do của sự tồn
tại các hoạt động quản trị kinh doanh Việc nghiên cứu và phân loại chức năng
quản lý kinh doanh có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn Trước hết, việc
xác định đúng đắn các chức năng quản lý kinh doanh là tiền đề cần thiết và
khách quan để có thể quản lý doanh nghiệp có hiệu quả hơn Hơn nữa muốn tổ
chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng chuyên, tinh, gọn, nhẹ và có hiệu
lực thì không thể không phân tích sự phù hợp giữa cơ cấu bộ máy quản lý với
chức năng quản lý
Chức năng lập kế hoạch: Là quá trình ấn định những nhiệm vụ, mục tiêu
và các phương pháp tốt nhất để thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu đó Có
thể nói, lập kế hoạch là tổng thể các hoạt động liên quan tới đánh giá, dự đoán -
dự báo và huy động các nguồn lực để xây dựng chương trình hành động tương
lai cho tổ chức
Lập kế hoạch kinh doanh chức năng đặc biệt quan trọng của quy trình
quản lý Nó có ý nghĩa tiên quyết đối với hiệu quả của hoạt động quản lý kinh
doanh Tất cả các nhà quản lý (cấp cao - trung - thấp) và tất cả các lĩnh vực quản
lý đều phải thực hiện việc lập kế hoạch Lập kế hoạch là một quy trình gồm
nhiều bước (đánh giá, dự đoán - dự báo và huy động các nguồn lực) Trọng tâm
của lập kế hoạch chính là hướng vào tương lai: Xác định những gì doanh nghiệp
cần phải hoàn thành và hoàn thành như thế nào Về cơ bản, chức năng lập kế
hoạch bao gồm các hoạt động quản lý nhằm xác định mục tiêu trong tương lai
những phương tiện thích hợp để doanh nghiệp đạt tới những mục tiêu đó
Thông qua chức năng lập kế hoạch để nhà quản lý thiết lập một môi
trường tốt nhất để các cá nhân đang làm việc với nhau trong doanh nghiệp thực
hiện nhiệm vụ có hiệu quả Lập kế hoạch là quá trình lựa chọn một trong những
phương án hành động tương lai cho doanh nghiệp và những bộ phận trong doanh
Trang 18nghiệp Lập kế hoạch bao gồm sự lựa chọn và các mục tiêu của doanh nghiệp và
của từng bộ phận xác định các phương thức để đạt được các mục tiêu
Chức năng tổ chức thực hiện: Để đạt được một mục đích nào đó trong sản
xuất kinh doanh khi có nhiều người cùng làm việc với nhau trong một nhóm thì
mỗi thành viên trong nhóm phải đóng những vai trò nhất định Mỗi một vai trò
cho biết công việc mà mỗi người đang thực hiện đều có mục đích và mục tiêu
nhất định Sự hoạt động của họ nằm trong một phạm vi mà ở đó họ biết rõ mục
tiêu công việc của họ ăn khớp như thế nào với hoạt động nỗ lực của nhóm, tại đó
họ có nhiệm vụ quyền hạn cần thiết và có những công cụ thông tin cần thiết để
hoàn thành nhiệm vụ Chính thông qua các hoạt động riêng biệt đó đã nảy sinh
sự cần thiết phải tổ chức và phối hợp các hoạt động của từng cá nhân lại với
nhau qua đó hình thành nên một cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phù hợp và một
quy chế làm việc có hiệu qủa thích nghi với mọi biến động của môi trường cạnh
tranh bên ngoài
Chức năng lãnh đạo: Điều khiển là một trong các chức năng quản lý, đó là
quá trình tác động lên con nguời trong doanh nghiệp một cách có chủ định để họ
tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu đạt được những mục tiêu đã đề ra của doanh
nghiệp Trong quá trình thực hiện chức năng điều khiển thì chủ doanh nghiệp phải
đưa ra được các quyết định quản lý và tổ chức thực hiện nó một cách tốt nhất
Chức năng kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh: Là một chức năng cơ bản
trong chức trách của chủ doanh nghiệp Kiểm tra là đo lường chấn chỉnh việc
thực hiện nhằm đảm bảo các mục tiêu của doanh nghiệp và các kế hoạch vạch ra
để đạt tốt mục tiêu này đã và đang được hoàn thành Thực chất của việc kiểm tra
trong các doanh nghiệp là nhằm sửa chữa những sai lầm đã phát sinh trong quá
trình quản lý
Cùng với kiểm tra là việc điều chỉnh nhằm đảm bảo các mục tiêu kinh
doanh được đảm bảo thực hiện đúng Điều chỉnh là thường xuyên theo dõi sự
vận động của hệ thống để kịp thời phát hiện mọi sự rối loạn trong tổ chức và
luôn luôn cố gắng duy trì các mối quan hệ bình thường giữa các bộ phận điều
Trang 19khiển và bộ phận chấp hành Muốn sự điều chỉnh đạt hiệu quả thì phải thường
xuyên thu thập tài liệu về sự chênh lệch của hệ thống và những thông số đã cho
thông qua sự kiểm tra
1.1.2 Vai trò của công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ có các vai trò
chính như sau:
Thứ nhất: Công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ giúp các
doanh nghiệp bảo hiểm định hướng rõ tầm nhìn chiến lược, sứ mạng (nhiệm vụ)
và mục tiêu kinh doanh của mình Thật vậy, muốn công tác kinh doanh bảo hiểm
phi nhân thọ có hiệu quả, các DNBH phải tổ chức, quản lý hệ thống thông tin
môi trường kinh doanh một cách chính xác Căn cứ vào đó, các nhà quản trị có
thể dự báo được các xu hướng biến động của môi trường kinh doanh và xác định
nơi nào mà doanh nghiệp cần đi đến trong tương lai, những gì cần phải làm để
đạt được những thành quả lâu dài Việc nhận thức kết quả mong muốn và mục
đích trong tương lai giúp cho nhà quản trị cũng như nhân viên nắm vững được
việc gì cần làm để đạt được thành công, tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nhà
quản trị và các nhân viên và cùng nỗ lực để đạt được các mong muốn Như vậy
sẽ khuyến khích cả hai đối tượng trên đạt được những thành tích ngắn hạn, nhằm
cải thiện tốt hơn lợi ích lâu dài của các DNBH
Thứ hai: Công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm giúp DNBH luôn có các
chiến lược tốt, thích nghi với môi trường kinh doanh
Chiến lược là những giải pháp tổng quát, mang tính định hướng giúp
DNBH đạt được các mục tiêu dài hạn Chiến lược được hình thành dựa vào các
thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp và được lựa chọn theo một tiến
trình mang tính khoa học Đồng thời, trong quá trình quản trị chiến lược, các nhà
quản trị luôn luôn giám sát những biến động của môi trường kinh doanh và điều
chỉnh chiến lược khi cần thiết Vì vậy, công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ sẽ giúp DNBH luôn có chiến lược tốt, thích nghi với môi trường Điều
Trang 20này rất quan trọng trong bối cảnh môi trường ngày càng phức tạp, thay đổi liên
tục và cạnh tranh diễn ra trên phạm vi toàn cầu
Thứ ba: công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ giúp DNBH
chủ động trong việc ra quyết định nhằm khai thác kịp thời các cơ hội và ngăn
chặn hoặc hạn chế các rủi ro trong môi trường bên ngoài, phát huy các điểm
mạnh và giảm các điểm yếu trong nội bộ doanh nghiệp
Điều kiện môi trường mà các DNBH gặp phải luôn biến đổi Những biến
đổi nhanh thường tạo ra các cơ hội và nguy cơ bất ngờ Quá trình quản lý kinh
doanh bảo hiểm phi nhân thọ buộc nhà quản trị phải phân tích và dự báo các điều
kiện môi trường trong tương lai gần cũng như tương lai xa Nhờ thấy rõ điều
kiện môi trường tương lai mà nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốt hơn các cơ
hội, tận dụng hết các cơ hội đó và giảm bớt nguy cơ liên quan đến điều kiện môi
trường kinh doanh và từ đó đưa ra các quyết định mang tính chủ động Điều đó
có nghĩa là khi dự báo các cơ hội có khả năng xuất hiện, các nhà quản trị chuẩn
bị kế hoạch để nắm bắt khi tình huống cho phép, hoặc khi gặp nguy cơ, các nhà
quản trị có thể chủ động tác động vào môi trường để giảm bớt rủi ro hoặc chủ
động né tránh Mặt khác, điểm mạnh và điểm yếu luôn tồn tại trong tổ chức do
đó nếu không quản lý kinh doanh tốt, DNBH dễ bằng lòng với những gì hiện có,
khi môi trường thay đổi điểm mạnh sẽ nhanh chóng trở thành điểm yếu và có
nguy cơ bị đối thủ cạnh tranh khai thác Ngược lại nếu công tác quản lý kinh
doanh hiệu quả, hệ thống thông tin của DNBH luôn rà soát điểm mạnh, điểm yếu
để nhà quản trị có cơ sở tận dụng các điểm mạnh nhằm tăng khả năng cạnh
tranh, đồng thời có kế hoạch làm giảm các điểm yếu để hạn chế rủi ro
Thứ tư: công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ giúp DNBH
đạt được hiệu quả cao hơn so với không quản lý Các công trình nghiên cứu cho
thấy DNBH nào thực hiện tốt công tác quản lý thì sẽ đạt được các kết quả tốt
hơn nhiều so với các doanh nghiệp có hệ thống quản lý yếu kém Điều đó không
có nghĩa là các DNBH thực hiện tốt công tác quản lý kinh doanh thì sẽ không
gặp phải các vấn đề, thậm chí có thể bị phá sản, mà nó chỉ có nghĩa là việc kinh
Trang 21doanh của DNBH sẽ giảm bớt rủi ro gặp phải và làm tăng khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp trong trong môi trường đầy biến động và rủi ro
1.1.3 Một số yêu cầu đối với hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ
Một trong những yêu cầu cơ bản của công tác kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ là phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả quản lý
kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng
Hiệu quả kinh doanh nói chung là một phạm trù kinh tế thường được
xem xét trong phạm vi hiệu quả kinh tế - xã hội Theo nghĩa chung nhất, hiệu
quả kinh tế - xã hội là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình sản
xuất, kinh doanh Hiệu quả kinh tế - xã hội bao gồm hiệu quả quản lý kinh
doanh và hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội phản ánh những kết quả về mặt xã hội đạt được từ quá
trình sản xuất, kinh doanh Hiệu quả xã hội thường biểu hiện thông qua mức
độ đáp ứng và thỏa mãn một cách hài hòa những nhu cầu xã hội như: tạo công
ăn việc làm, bảo vệ và cải thiện môi trường, an toàn xã hội, điều kiện lao
động và phát triển con người, v.v
Hiệu quả quản lý kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả cao nhất với
chi phí thấp nhất Hiệu quả quản lý kinh doanh chính là sự so sánh giữa chi
phí đầu vào với kết quả đầu ra Hiệu quả quản lý kinh doanh biểu hiện dưới
một hình thức quan trọng nhất là lợi nhuận
Từ những phân tích như trên có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là một
phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã
đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí
bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn
thì hiệu quả càng cao Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận
của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối
với nhu cầu của thị trường
Trang 22Hiệu quả kinh doanh có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bởi lẽ, để tiến hành bất kỳ hoạt động
sản xuất kinh doanh nào con người cũng cần phải kết hợp yếu tố con người và
yếu tố vật chất nhằm thực hiện công việc phù hợp với ý đồ trong chiến lược
và kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình trên cơ sở nguồn lực sẵn có Để
thực hiện điều đó bộ phận quản trị doanh nghiệp sử dụng rất nhiều công cụ
trong đó có công cụ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Việc xem xét và
tính toán hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không những chỉ cho biết
việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị tìm ra
các nhân tố để đưa ra những các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện
tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng và hoạt
động kinh doanh nói chung, yêu cầu phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh bắt nguồn từ những yếu tố sau:
Thứ nhất, do sự khan hiếm của các nguồn lực
Mọi nguồn tài nguyên trên trái đất đều là hữu hạn và ngày càng cạn
kiệt, khan hiếm do hoạt động khai thác, sử dụng hầu như không có kế hoạch
của con người Trong khi đó mật độ dân số của từng vùng, từng quốc gia ngày
càng tăng và nhu cầu sử dụng sản phẩm hàng hoá dịch vụ là phạm trù không
có giới hạn- càng nhiều,càng đa dạng, càng chất lượng càng tốt Sự khan hiếm
đòi hỏi con người phải có sự lựa chọn kinh tế, nhưng đó mới chỉ là điều kiện
cần, khi đó con người phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng kết quả
sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất Điều kiện đủ là cùng với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều phương pháp khác nhau
để tạo ra sản phẩm dịch vụ, cho phép cùng những nguồn lực đầu vào nhất
định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, sự phát triển
kinh tế theo chiều dọc nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế theo chiều sâu: sự
tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu
tố sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ
Trang 23mới, hoàn thiện công tác quản trị và cơ cấu kinh tế Nói một cách khái quát là
nhờ vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ hai, do đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế sản xuất cái
gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào được quyết định theo quan hệ cung
cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác, doanh nghiệp phải tự đưa ra
chiến lược kinh doanh và chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh của mình,
lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọng mang tính chất
quyết định Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực thì việc nâng cao hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh là tất yếu đối với mọi doanh nghiệp Mặt
khác doanh nghiệp còn chịu sự cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại và phát triển
được, phương châm của các doanh nghiệp luôn phải là không ngừng nâng cao
chất lượng và năng suất lao động, dẫn đến việc tăng năng suất là điều tất yếu
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là một hoạt động kinh
doanh đặc thù Do vậy, hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
cũng có những nét khác biệt so với các hoạt động khác
Trên góc độ kinh tế, chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh hiệu quả kinh
doanh của các DNBH là cũng là lợi nhuận Lợi nhuận là một chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Lợi
nhuận trong hoạt động kinh doanh của DNBH bao gồm: lợi nhuận hoạt động
kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động
khác Lợi nhuận trước thuế trong hoạt động kinh doanh của DNBH được xác
định bằng chênh lệch giữa tổng doanh thu trừ tổng chi phí
Để xác định được tổng doanh thu cũng như tổng chi phí trong hoạt
động kinh doanh của DNBH, ta đi vào xem xét nội dung doanh thu và chi phí
của DNBH:
- Doanh thu của DNBH:
Trong hoạt động kinh doanh của DNBH, doanh thu là số tiền phải thu
phát sinh trong kỳ bao gồm: 1) Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm; 2)
Hoạt động đầu tư tài chính; 3) Thu nhập từ hoạt động khác
Trang 241) Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bao gồm: Doanh thu
phí bảo hiểm gốc (Tiền thu phí bảo hiểm từ các hợp đồng được ký kết với
người đóng bảo hiểm); Doanh thu nhận tái bảo hiểm (Tiền thu phí nhận tái
bảo hiểm và các khoản thu khác từ công ty nhượng tái bảo hiểm); Doanh thu
hoa hồng nhượng tái bảo hiểm (Tiền thu từ hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và
các khoản thu khác từ công ty nhận tái bảo hiểm); Doanh thu từ các hoạt động
khác ngoài hoạt động kinh doanh bảo hiểm như doanh thu về dịch vụ giám
định, đại lý, đòi bồi thường, v.v
2) Doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính: Là số tiền lãi thu được từ
các hoạt động đầu tư tài chính như: Mua bán chứng khoán; Góp vốn liên
doanh; Lãi tiền ký quỹ; Cho thuê tài sản; Hoàn nhập dự phòng giảm giá
chứng khoán; thu khác theo quy định của pháp luật
3) Thu nhập từ hoạt động bất thường là khoản thu nhập không tính đến
trong khi lập kế hoạch tài chính nhưng phát sinh trong kỳ như thu về nhượng
bán, thanh lý tài sản cố định, thu tiền phạt vi phạm hợp đồng…
- Đối với chi phí:
Chi phí của DNBH bao gồm: 1) Chi phí hoạt động kinh doanh bảo
hiểm; 2) Chi phí hoạt động tài chính; 3) Chi phí hoạt động khác
1) Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
+ Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm: Đó là các chi phí trực tiếp tạo
ra dịch vụ bảo hiểm như: Chi bồi thường, Chi giám định, Chi hoa hồng, Trích
lập dự phòng, Chi đòi người thứ ba, Chi xử lý hàng hoá bồi thường 100%, Chi
phí nhượng tái bảo hiểm, v.v Đây là những khoản chi phí kinh doanh cơ bản
trong DNBH
Các khoản chi dự phòng nghiệp vụ được trích lập từ phí bảo hiểm của
từng nghiệp vụ bảo hiểm đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp Cụ
thể, dự phòng nghiệp vụ bao gồm :
+ Dự phòng phí bảo hiểm: Do hợp đồng bảo hiểm có thể được ký kết
vào những thời điểm khác nhau trong năm nghiệp vụ, một số hợp đồng có
Trang 25thời hạn kéo dài sang năm sau Vì vậy DNBH phải trích một phần phí đã thu
được trong năm tài chính để thanh toán cho các trách nhiệm sẽ phát sinh trong
thời gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trong năm tiếp theo
+ Dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết: Do thực tế việc
giải quyết bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm cho các trách nhiệm phát sinh
không phải bao giờ cũng được thực hiện ngay trong năm Vì thế DNBH phải
trích một phần phí để lập dự phòng bồi thường để bồi thường cho tổn thất đã
phát sinh thuộc trách nhiệm bảo hiểm chưa khiếu nại hoặc đã khiếu nại nhưng
đến cuối năm tài chính chưa được giải quyết;
+ Dự phòng dao động lớn: Dự phòng này dùng để bồi thường khi có
dao động lớn về tổn thất hoặc tổn thất lớn đã xảy ra mà tổng phí bảo hiểm giữ
lại trong năm tài chính sau khi đã trích lập dự phòng phí chưa được hưởng và
dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết không đủ để chi trả tiền
bồi thường đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm
2) Chi hoa hồng bảo hiểm
Là khoản tiền mà DNBH trả cho các trung gian bảo hiểm hoặc công ty
nhượng tái bảo hiểm
+ Chi giám định tổn thất: Là khoản chi phí mà DNBH phải chi ra để
thực hiện giám định tổn thất
+ Chi đòi người thứ ba: Là khoản chi để đòi người thứ ba có trách
nhiệm về các thiệt hại xảy ra đối với người được bảo hiểm, DNBH được thế
quyền người được bảo hiểm để đòi người thứ ba
+ Chi xử lý hàng bồi thường 100%: Là khoản chi để xử lý các đối
tượng bảo hiểm đã được DNBH bồi thường tồn thất toàn bộ
+ Chi phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết
bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn
3) Chi khác: Chi quản lý đại lý bảo hiểm; Chi đề phòng, hạn chế rủi ro,
tổn thất; Chi đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm
Trang 26+ Chi phí bán hàng: Là những khoản chi phí chi ra trong trong quá
trình bán dịch vụ bảo hiểm, chi quảng cáo, giao dịch, tiếp thị, chi phí nhân
viên, chi khấu hao
+ Chi quản lý doanh nghiệp: là những chi phí cho việc quản lý kinh
doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến hoạt động của
doanh nghiệp
+ Chi phí hoạt động tài chính là chi phí cho các hoạt động đầu tư tài
chính như: Chi phí liên doanh; Chi phí môi giới; Thông tin khi mua bán
chứng khoán
+ Chi phí bất thường là khoản chi phí do chủ quan hay khách quan gây
ra, không tính đến trong khi lập kế hoạch tài chính nhưng thực tế phát sinh như
chi về nhượng bán, thanh lý tài sản cố định
- Tính toán lợi nhuận:
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNBH
Để đánh giá một cách đầy đủ, chính xác hiệu quả kinh doanh bảo hiểm, ngoài
chỉ tiêu tuyệt đối là lợi nhuận, trên góc độ kinh tế, hiệu quả kinh doanh của
DNBH còn được đo bằng tỷ số giữa doanh thu và lợi nhuận với tổng chi phí chi
ra trong kỳ của doanh nghiệp
Trong đó: Hd, He là hiệu quả kinh doanh của DNBH tính theo doanh
thu và lợi nhuận
D: là doanh thu trong kỳ của công ty
L: là lợi nhuận thu được trong kỳ
C: tổng chi phí chi ra trong kỳ
Trang 27Chỉ tiêu (1) nói lên cứ 1 đồng chi phí chi ra trong kỳ, tạo ra bao nhiêu
đồng doanh thu, còn chỉ tiêu (2) phản ánh cứ 1 đồng chi phí chi ra trong kỳ
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho DNBH
Ngoài ra, khi xem xét hiệu quả quản lý kinh doanh của các DNBH, có
thể kết hợp xem xét đến các chỉ tiêu như:
- Chi quản lý doanh nghiệp trên doanh thu phí bảo hiểm và trên lợi
nhuận Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh theo chỉ tiêu lợi nhuận đã trình bày
ở trên đã cho biết cứ 1 đồng chi phí chi ra trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng hiệu
quả của DNBH Tuy vậy, việc xem xét hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm
cũng cần xem đến việc sử dụng có hiệu quả hay không các khoản mục chi phí
quản lý doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu chi phí cho một đồng doanh thu phí
bảo hiểm và một đồng lợi nhuận, qua đó có thể so sánh mức sinh lợi của vốn bỏ
vào kinh doanh và đề ra các biện pháp quản lý nhằm tiết kiệm chi phí
- Tỷ lệ chi bồi thường Đây là chỉ tiêu quan trọng bởi lẽ chi bồi thường
là khoản chi phí cơ bản trong kinh doanh bảo hiểm, khoản chi này chiếm từ
65- 70% trong cơ cấu của phí bảo hiểm Như vậy những nghiệp vụ bảo hiểm
có tỷ lệ chi bồi thường trên phí bảo hiểm thực thu trên 70% có thể xem như
không có hiệu quả quản lý kinh doanh Trong thực tế, không thể coi chênh
lệch giữa số phí thu được trong năm và số chi bồi thường của doanh nghiệp
trong năm là lợi nhuận của doanh nghiệp vì ngoài các khoản chi phí kinh
doanh như chi bồi thường hay trả tiền bảo hiểm, DNBH còn phải bỏ ra các
khoản chi phí khác như: hoa hồng khai thác, chi phí đề phòng và hạn chế tổn
thất, chi phí quản lý doanh nghiệp ra và đặc biệt còn phải trích lập các quỹ dự
phòng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm của từng nghiệp vụ bảo hiểm tương ứng với
phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp Thông qua tỷ lệ chi bồi thường
DNBH có thể cảm nhận ngay được việc kinh doanh của doanh nghiệp hay của
từng nghiệp vụ trong một khoảng thời gian nhất định có hiệu quả hay không,
qua đó có các định hướng cũng như các giải pháp trong triển khai các hoạt
động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả
Trang 28Nếu xem xét ở từng mặt, từng khâu và từng nghiệp vụ bảo hiểm có thể
xây dựng được nhiều chỉ tiêu hiệu quả khác nhau để phục vụ cho quá trình
đánh giá và phân tích hoạt động quản lý kinh doanh của doanh nghiệp Điều
đó có nghĩa là mỗi chỉ tiêu phản ánh được trình độ sử dụng một loại chi phí
nào đó trong việc tạo ra những kết quả nhất định
Để đo lường chính xác mức độ đảm bảo yêu cầu trong hoạt động quản
lý kinh doanh các DNBH cần có hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản
lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Muốn vậy, hệ thống chỉ tiêu đó phải
được xây dựng trên các nguyên tắc sau:
- Số lượng và nội dung các chỉ tiêu phải xuất phát từ nhu cầu về những
thông tin phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Có như
vậy, mới tránh được việc thu thập và cung cấp thông tin chồng chéo, tùy tiện
- Chỉ tiêu hiệu quả phải được tính toán và xác định theo một phương
pháp khoa học, đảm bảo tính so sánh giữa kết quả và chi phí
- Hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả quản lý kinh doanh phải vừa đảm bảo
tính đặc thù của ngành vừa phải thống nhất và gắn liền với các chỉ tiêu hiệu
quả của các ngành, lĩnh vực khác
- Các chỉ tiêu phải đảm bảo tính khả thi, đồng bộ để việc sử dụng trong
đánh giá, phân tích được chính xác và thống nhất
- Các chỉ tiêu phải phù hợp với thông lệ quốc tế để có tính thống nhất
và so sánh được với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài
Thứ hai, hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý kinh doanh bảo
hiểm phi nhân thọ
Trong hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, chưa có một
phương pháp luận chung để đánh giá hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ nói riêng và DNBH, ngành bảo hiểm nói chung Do vậy, để đánh giá
hiệu quả hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, luận văn lựa chọn
một số tiêu chí theo hệ thống CARAMELS như sau:
- Tiêu chí về hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa của dịch vụ
Trang 29cung cấp
Hệ thống kênh phân phối là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của
các DNBH Hệ thống phân phối của DNBH thể hiện ở số lượng các chi nhánh và
các đại lý Việc triển khai các công nghệ hiện đại đang làm rút ngắn khoảng cách
về không gian và làm giảm tác động của một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đối
với năng lực cạnh tranh của một DNBH Tuy nhiên, vai trò của mạng lưới đại lý
rộng khắp vẫn rất có ý nghĩa, đặc biệt là trong điều kiện hình thức phân phối
truyền thống vẫn còn phát triển Hiệu quả của mạng lưới đại lý cũng là một chỉ
tiêu quan trọng
Một doanh nghiệp có nhiều loại hình dịch vụ cung cấp phù hợp với nhu
cầu của thị trường và năng lực quản lý của doanh nghiệp sẽ là có lợi thế cạnh
tranh Sự đa dạng hóa dịch vụ một mặt tạo cho doanh nghiệp phát triển ổn định
hơn, mặt khác cho phép doanh nghiệp phát huy được lợi thế quy mô
- Tiêu chí về tổng tài sản của doanh nghiệp
Tổng tài sản của doanh nghiệp là tổng tài sản có của các đơn vị trong
doanh nghiệp Tiêu chí này phản ánh “sức khỏe” của các doanh nghiệp cũng như
toàn ngành Tổng tài sản như là tấm đệm để đảm bảo cho mỗi doanh nghiệp có
khả năng chống đỡ trước những rủi ro trong hoạt động bảo hiểm cũng như rủi ro
từ môi trường kinh doanh và môi trường tự nhiên Tổng tài sản càng lớn thì doanh
nghiệp càng có khả năng chống đỡ cao hơn với những thay đổi của môi trường
kinh doanh Điều này ngày càng trở nên quan trọng trong điều kiện môi trường
kinh doanh tiềm ẩn nhiều biến động khôn lường Tổng tài sản còn ảnh hưởng đến
mức đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh
nghiệp Do vậy, tổng tài sản nhỏ sẽ là một bất lợi lớn trong lĩnh vực bảo hiểm
- Tiêu chí năng lực công nghệ
Trong lĩnh vực bảo hiểm, công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng
như một nguồn lực giúp hoạt động của các doanh nghiệp và toàn ngành trở nên
hiệu quả hơn Công nghệ không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác
nghiệp như hệ thống cấp đơn bảo hiểm, bán hàng qua Internet Công nghệ trong
Trang 30lĩnh vực bảo hiểm còn bao gồm hệ thống quản lý thông tin khách hàng, cảnh báo
rủi ro từ các sự việc có dấu hiệu trục lợi bảo hiểm trong nội bộ các DNBH Như
vậy, công nghệ thông tin kết nối trực tiếp đến hầu hết các nhân tố tác động tới
hoạt động của DNBH, bao gồm bảo hiểm tự động, quản lý dữ liệu, phản ứng và
giải quyết thảm họa; kiểm soát doanh nghiệp tự động; tích hợp và thay thế các
hệ thống cũ; an ninh, bảo mật Và trong môi trường cạnh tranh ngày nay, việc
nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng là một trong những đòi hỏi cấp bách
nhằm hoàn thiện các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm, mà trong đó, ứng dụng công
nghệ thông tin là yếu tố quan trọng
- Tiêu chí về nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp
Đặc biệt, đối với ngành bảo hiểm, nhân sự luôn là then chốt bởi chính con người
tạo nên sự kết nối giữa khách hàng với các sản phẩm bảo hiểm Bên cạnh đó,
nhân sự của một DNBH kết nối các nguồn lực của DNBH và đây gốc của mọi
cải tiến hay đổi mới Tiêu chí này được thể hiện ở những yếu tố như: trình độ
đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn
bó với doanh nghiệp
Như vậy, thực chất khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm
phi nhân thọ là biểu hiện mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn lực (nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, lao động và
đồng vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp là mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Kết quả của hoạt động kinh
doanh bảo hiểm phi nhân thọ là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá
trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả là mục tiêu cần thiết của mỗi doanh
nghiệp Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có thể là những đại lượng cụ thể
có thể định lượng cân đong đo đếm được cũng có thể là những đại lượng chỉ
phản ánh được mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như thương hiệu,
uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng về chất lượng sản phẩm Và, trong khái niệm
Trang 31hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ đã sử dụng cả hai chỉ tiêu
là kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó
1.1.4 Nội dung công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Từ khái niệm và bản chất của quản lý nói chung và quản lý hoạt động
kinh doanh tại doanh nghiệp, nội dung nghiên cứu công tác quản lý kinh doanh
bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: Lập kế hoạch , tổ chức thực hiện hoạt động,
kiểm tra - giám sát và điều chỉnh hoạt động
Thứ nhất: Lập kế hoạch kinh doanh
Lập kế hoạch là khâu đầu tiên và có vị trí quan trọng trong quản lý doanh
nghiệp, đó là quá trình xác định các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch cụ thể và đề xuất
giải pháp áp dụng thực hiện mục tiêu đó Kết quả của lập kế hoạch là một bản kế
hoạch và nó là cơ sở cho việc tổ chức thực hiện và kiểm tra - giám sát
Bản kế hoạch của doanh nghiệp là hệ thống các phương hướng, nhiệm vụ
và các chỉ tiêu nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính cần thiết cho việc thực
hiện mục tiêu phát triển của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch Kế hoạch của
doanh nghiệp chính là thể hiện ý đồ phát triển của các nhà quản lý đối với hoạt
động của doanh nghiệp và các giải pháp khả thi
Tại các DNBH, công tác lập kế hoạch cũng chính là khâu đầu tiên và rất
quan trọng đối với quản lý kinh doanh
Lập kế hoạch kinh doanh bao gồm: Kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn
và kế hoạch ngắn hạn Các doanh nghiệp hiện nay thường chú trọng kế hoạch
ngắn hạn - kế hoạch năm
Để kế hoạch lập ra có tính khả thi và đem lại kết quả tốt trong quá trình
thực hiện, khi lập kế hoạch cần tính đến các nhân tố ảnh hưởngđến lập kế hoạch
- Kết quả của lập kế hoạch phải là một bản kế hoạch mang tính thúc đẩy
sự nổ lựccố gắng Lập kế hoạch là việc đưa ra mục tiêu theo hướng phát triển
trên cơ sở phát huy lợi thế và hạn chế các tác động không thuận lợi của các yếu
tố ảnh hưởng Nói cách khác đó là việc đưa ra các chỉ tiêu theo hướng tốt nhất
Trang 32trên cơ sở phải có chương trình nổ lực lớn để tận dụng tối đa các thuận lợi, các
lợi thế và có những kế hoạch đối phó tốt nhất với những yếu tố ảnh hưởng
Trình tự lập kế hoạch:
Lập kế hoạch phải được thực hiện trên cơ sở chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp, đây là bước quan trọng trong quy trình quản lý Nó đòi hỏi nhà
quản lý phải xác định mục tiêu kinh doanh bảo hiểm một cách có ý thức, có căn
cứ và đưa ra các quyết định trên cơ sở mục tiêu, sự hiểu biết và những đánh giá
thận trọng Lập kế hoạch phải tuân thủ một quy trình với các bước cụ thể như sơ
đồ dưới:
Bảng 1 Quy trình lập kế hoạch kinh doanh
- Bước 1: Dự báo thị trường Nhận thức cơ hội trên cơ sở xem xét đánh
giá thị trường DNBH, thu thập và phân tích thông tin về thị trường; Tìm hiểu các
cơ hội có thể có trong tương lai và xem xét một cách toàn diện, rõ ràng để doanh
nghiệp có cơ sở đưa ra các mục tiêu phù hợpường
- Bước 2: Thiết lập nhiệm vụ, mục tiêu kinh doanh Trên cơ sở dự báo thị
trường, phân tích tình hình thực tế tại doanh nghiệp, các DNBH đưa ra mục tiêu
theo giai đoạn và đến các thị trường, đồng thời thiết lập các nhiệm vụ để thực
hiện mục tiêu đề ra
- Bước 3: Xây dựng kế hoạch tổng thể Doanh nghiệp so sánh các nhiệm
vụ, mục tiêu với kết quả phân tích từ nhân tố ảnh hưởng, thuận lợi và khó khăn,
các cơ hội Lập kế hoạch tổng thể phác thảo về tình hình kinh doanh trong tương
lai của doanh nghiệp và các năng lực có thể khai thác Bước này gồm: (1) Xác
Thiết lập nhiệm vụ, mục tiêu
Trang 33định các phương án kế hoạch Xác định các phương án hợp lý, tìm ra phương án
tốt nhất và có nhiều triển vọng nhất (2) Đánh giá các phương án lựa chọn Sau
khi xác định được các phương án, các phương án có triển vọng cần tiến hành
đánh giá và xem xét điểm mạnh, điểm yếu của từng phương án trên cơ sở định
lượng các chỉ tiêu của từng phương án Có phương án mang lại lợi nhuận ít hơn
nhưng cũng ít rủi ro hơn; một phương án khác lại có thể phù hợp hơn với mục
tiêu phát triển lâu dài của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ,…
(3) Lựa chọn phương án cho kế hoạch Đây là khâu mang tính quyết định đến
việc cho ra đời một bản kế hoạch Việc quyết định một trong số các phương án
phụ thuộc vào những ưu tiên về mục tiêu cần thực hiện trong kỳ kế hoạch
Doanh nghiệp cũng nên lựa chọn phương án dự phòng và phương án phụ trong
những trường hợp cần thiết
- Bước 4: Xác định các chương trình Xác định các bước tiến hành, các
nguồn lực cần sử dụng và các yếu tố khác cần thiết để tiến hành chương trình
hành động, những yêu cầu về ngân sách cần thiết, các tiến độ thực hiện, tổ chức
huy động, sử dụng nguồn lực,…
- Bước 5: Lập các kế hoạch chức năng (kế hoạch bộ phận) Mục tiêu của
quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ thường hướng tới là: Đáp ứng đòi hỏi
của thị trường, nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động kinh doanh, đảm bảo chiến
lược đã chọn,… Để thực hiện được những mục tiêu đó, kế hoạch tổng thể phải
được cụ thể hóa bằng các kế hoạch chức năng như: kế hoạch khai thác thị
trường, tìm kiếm đối tác, kế hoạch tuyển chọn, kế hoạch đào tạo - giáo dục định
hướng, kế hoạch kiểm tra - giám sát,…
- Bước 6: Đánh giá, hiệu chỉnh các pha của kế hoạch Đây có thể coi là
bước thẩm định cuối cùng trước khi cho ra một bản kế hoạch Các nhà quản lý
hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, bộ phận chuyên môn, bộ phận liên
quan khác kiểm tra lại các mục tiêu, chỉ tiêu, các kế hoạch chức năng, ngân
sách,… trên cơ sở đó tiến hành phê duyệt để đưa ra bản kế hoạch cuối cùng
(Theo Phạm Thị Thúy Vân, 2007)
Trang 34Thứ hai: Tổ chức thực hiện kế hoạch
Tổ chức thực hiện là phân công, sắp xếp và bố trí nguồn lực để nhân viên
trong công ty thực hiện từng phần mục tiêu của kế hoạch kinh doanh
Tổ chức thực hiện chính là quá trình chuyển hóa mục tiêu trên “giấy” trở
thành kết quả thực tế Việc tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh phải tuân thủ
các yêu cầu cơ bản đó là:
- Sắp xếp nhân sự phù hợp với yêu cầu, mục tiêu của công việc và năng
lực chuyên môn của từng cá nhân
- Trao quyền và các nguồn lực tương ứng với đòi hỏi của công việc
- Tạo lập các cơ chế quản lý để thực hiện công việc được hiệu quả nhất
Thứ ba: Kiểm tra - giám sát
Nội dung của kiểm tra - giám sát bao gồm:
- Giám sát thực hiện các hoạt động kinh doanh như: mục tiêu, bán hàng,
chi trả, v.v
- Phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật
và những quy định của doanh nghiệp
- Kiểm tra đánh giá sức mạnh của hệ thống tổ chức quản lý hoạt động
kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại doanh nghiệp cũng như năng lực đội ngũ
cán bộ quản lý hoạt động kinh doanh
Việc kiểm tra - giám sát hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân
thọ có vai trò:
- Tác động tới hành vi của người thực hiện bao gồm cả cán bộ quản lý và
thực thi
- Thúc đẩy thực hiện kịp thời và có trình tự các nhiệm vụ đã vạch ra
Phòng và tránh các sai phạm, tiêu cực trong hoạt động của cán bộ, các sai phạm
của cán bộ, các phát sinh do quá trình kinh doanh tạo ra
- Giúp phát hiện những bất hợp lý giữa điều kiện thực hiện trong kế hoạch
và điều kiện thực tế, phát hiện những cơ hội mà khi lập kế hoạch chưa có để từ
đó có những kế hoạch điều chỉnh giúp cho thực hiện tốt hơn
Trang 35Thứ 4: Điều chỉnh
Từ kết quả kiểm tra - giám sát, các doanh nghiệp tổ chức đánh giá mặt
được, hạn chế vàphân tích nguyên nhân, đặc biệt là các nguyên nhân của các hạn
chế Từ đó sửa đổi, điều chỉnh kịp thời Như vậy, quá trình điều chỉnh một mặt
được thực hiện ngay trong quá trình tổ chức thực hiện, mặt khác là thực hiện vào
cuối kỳ để rút ra các kinh nghiệm, các ứng phó cho kỳ tiếp theo Chất lượng của
quá trình đánh giá - điều chỉnh là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới kết quả
của cả quá trình quản lý tiếp theo Nếu đánh giá sai sẽ dẫn tới điều chỉnh sai và
hệ thống sẽ không đạt mục tiêu đề ra
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ
Trong công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ bị, hiệu quả
quản lý kinh doanh bị ảnh hưởng bởi 3 nhóm yếu tố chính:
Thứ nhất, nhóm các yếu tố của môi trường kinh doanh
Chính sách, pháp luật về bảo hiểm thương mại nói chung và bảo hiểm
phi nhân thọ nói riêng sẽ là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tới hiệu quả
công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Bởi lẽ, cũng như ở các
lĩnh vực kinh doanh khác, kinh doanh bảo hiểm phải chịu sự quản lý của Nhà
nước nhằm đảm bảo mọi hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm cũng như của
thị trường bảo hiểm tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Chính
sách, pháp luật của Nhà nước buộc các doanh nghiệp phải tính toán tới trong
quá trình quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: Các biện pháp
bảo vệ người tham gia bảo hiểm; tuân thủ quy định về đảm bảo sự công bằng
và cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp; bảo đảm sự ổn định và phát
triển của ngành bảo hiểm nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung,v.v
Đặc biệt, hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ còn phải
thực hiện các quy định về: Đăng ký kinh doanh và điều kiện kinh doanh, đảm
bảo chất lượng sản phẩm bảo hiểm cung cấp trên thị trường, chế độ quản lý
Trang 36tài chính, vốn và các khoản ký quỹ, nghiệp vụ tài chính – kế toán, quản trị nội
bộ và công tác thanh tra – kiểm tra, v.v
Ngoài các nhân tố chính trị - pháp lý nói trên, hiệu quả kinh doanh bảo
hiểm phi nhân thọ còn chịu sự tác động của điều kiện kinh tế - xã hội Trong
điều kiện kinh tế phát triển, tức là các ngành sản xuất, dịch vụ phát triển, đời
sống của người dân tăng lên, dẫn đến các nhu cầu về bảo hiểm cũng tăng lên
Lúc này, hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm cũng sẽ trở nên thuận lợi và
hiệu quả cao hơn
Bên cạnh yếu tố kinh tế thì yếu tố văn hóa cũng có tác động đáng kể
đến hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Bởi lẽ, văn hóa ảnh hưởng
tới hành vi tiêu dùng của con người Thực tế cho thấy, các công ty bảo hiểm ở
Việt Nam đã rất khó khăn khi bán các sản phẩm bảo hiểm con người phi nhân
thọ vì lý do không ai muốn nghĩ đến là rủi ro xảy ra với tính mạng và sức
khỏe của mình
Dân số, trình độ dân trí và thói quen mua bảo hiểm của người dân là
các yếu tố xã hội ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ Các chỉ tiêu về quy mô, cơ cấu và trình độ dân số sẽ quyết định quy
mô khách hàng và loại hình sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ tương ứng
Xu hướng toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay có sự
ảnh hưởng lớn lao đến hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Trước hết, nó buộc các doanh nghiệp phải tạo thêm nhiều dịch vụ bảo hiểm
cho các nghiệp vụ bảo hiểm như: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo
hiểm khách du lịch nước ngoài, v.v Chẳng hạn, trong giai đoạn từ 2003 đến
2008, khi mà kim ngạch nhập khẩu tăng từ 695.000 tỷ đồng lên 2.222.700 tỷ
đồng (tăng 3,2 lần) thì mức tăng tương ứng kim ngạch nhập khẩu tham gia
bảo hiểm trong nước cũng tăng 3,6 lần từ 110.500 tỷ đồng (năm 2003) lên tới
395.260 tỷ đồng (2008) Ngoài ra, việc mở cửa và hội nhập còn tạo nhiều cơ
hội khác cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân
thọ khi được tiếp cận công nghệ bảo hiểm tiên tiến, tiếp cận thị trường nước
Trang 37ngoài Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng tạo nhiều thách thức đối với hoạt
động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ như sự cạnh tranh khốc liệt
hơn từ thị trường nước ngoài, mất sự bảo trợ của nhà nước, v.v
Thứ hai, nhóm các yếu tố thuộc môi trường ngành
Một DNBH phi nhân thọ cần “định vị” được mình trong ngành bảo hiểm,
hiểu biết rõ đối thủ cạnh tranh để hạn chế phần nào tính gay gắt của cạnh tranh,
tạo nên chiến thắng từ những điểm yếu của đối thủ và điểm mạnh của mình Vì
vậy cần nghiên cứu kỹ các yếu tố của ngành:
- Dung lượng thị trường và những phân khúc thị trường còn bỏ ngỏ hoặc
ít áp lực cạnh tranh (theo ngành kinh tế, theo thành phần kinh tế, theo địa lý
vùng miền, theo tầng lớp dân cư, theo độ tuổi.)
- Số lượng các DNBH tham gia thị trường trong đó có số lượng các
DNBH là đối thủ cạnh tranh, họ đang làm gì và họ sẽ làm gì trong trung và ngắn
hạn, uy tín thương hiệu, lợi thế của họ, điểm yếu của họ (về sản phẩm, kênh
phân phối, quản lý điều hành.)
- Khả năng mở rộng thị trường và các cơ hội cần nắm bắt như sự ủng hộ
của môi giới bảo hiểm, phát triển hệ thống đại lý bảo hiểm mới, đưa ra sản phẩm
bảo hiểm mới (theo chính sách mới hoặc theo phân khúc thị trường mới), cải tiến
sản phẩm hiện có cho phù hợp với nhu cầu thị hiếu của khách hàng tiềm năng
- Học tập các yếu tố thành công và tránh xa những thất bại của đối thủ
cạnh tranh: tại sao họ chiếm lĩnh vị trí số 1 của nghiệp vụ bảo hiểm này, có cách
làm tương tự hoặc tốt hơn họ không; họ đang yếu thế về những mặt nào, tại sao,
đây có phải là cơ hội để thắng thế họ không
Có thể nói, những yếu tố môi trường bên ngoài và môi trường ngành tác
động quyết định tới tổng cầu của ngành bảo hiểm và của từng DNBH cũng như
chi phối tới các giải pháp, cách thức tiếp cận thị trường, đáp ứng cầu bảo hiểm
của từng doanh nghiệp
Thứ ba, nhóm các yếu tố thuộc môi trường bên trong
Trang 38Hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ luôn gắn liền với
năng lực của doanh nghiệp Năng lực của doanh nghiệp được thể hiện trên các
phương diện chủ yếu: Năng lực tài chính, năng lực marketing, năng lực tổ
chức – điều hành và chất lượng của nguồn nhân lực
Là sản phẩm dịch vụ tài chính đặc biệt, bảo hiểm phi nhân thọ thu phí
bảo hiểm trước, trả tiền bồi hoàn sau Vì vậy, măc dù hiệu quả quản lý kinh
doanh bảo hiểm phi nhân thọ không cần nhiều tiền để đầu tư vào nhà xưởng,
máy móc, thiết bị như các doanh nghiệp sản xuất nhưng lại cần có năng lực
tài chính đủ mạnh để đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng khi có rủi ro
xảy ra Năng lực tài chính thể hiện ở tổng giá trị tài sản, vốn chủ sở hữu và dự
phòng nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ của doanh nghiệp Năng lực tài chính
mạnh trước hết để doanh nghiệp đảm bảo các quy định về vốn pháp định, biên
khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật và sau đó là để tăng lòng tin
của khách hàng đối với sản phẩm và dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Trong điều kiện kinh tế thị trường, năng lực marketing đối với sản
phẩm dịch vụ cũng là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả quản lý
kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Năng lực marketing thể hiện trên các mặt:
sản phẩm, giá cả sản phẩm, chất lượng bán hàng và phục vụ, công tác truyền
thông, v.v
Sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ là hàng hóa mà doanh nghiệp cung
cấp cho người mua trên cơ sở nhu cầu của họ Vì vậy, để tăng hiệu quả quản
lý kinh doanh, các sản phẩm phải có tính đa dạng và phù hợp với nhu cầu, đòi
hỏi của thị trường Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn cần phải thiết kế mức phí
bảo hiểm cho phù hợp với khách hàng, nhằm tăng tính cạnh tranh Thông
thường, với cùng sản phẩm bảo hiểm, doanh nghiệp phải đưa ra nhiều mức
phí khác nhau cho khách hàng lựa chọn Tất nhiên, mức phí sẽ quyết định đến
phạm vi bảo hiểm rộng hay hẹp mà khách hàng được hưởng
Chất lượng bán hàng và chất lượng phục vụ cũng là một yếu tố đặc biệt
quan trọng, là một thước đo chính xác hiệu quả quản lý hoạt động kinh doanh
Trang 39bảo hiểm phi nhân thọ Do đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm là vô hình và dễ
bắt chước nên chất lượng dịch vụ đóng vai trò là một lợi thế cạnh tranh Do
vậy, kênh phân phối, thái độ phục vụ và nhân tố con người cần phải đặc biệt
coi trọng Xây dựng văn hóa kinh doanh mang tính đặc thù trở thành một
nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định tới hiệu quả quản lý kinh doanh bảo
hiểm phi nhân thọ trong giai đoạn hiện nay
Bảo hiểm phi nhân thọ là một sản phẩm không mong đợi vì không ai
muốn rủi ro Do đó, để nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ cần phải coi trọng công tác truyền thông Bởi vì, thông qua truyền
thông, khách hàng sẽ có nhận thức sâu hơn, đầy đủ hơn về bảo hiểm phi nhân
thọ Từ đó, thấy được sự cần thiết phải tham gia Qua đó, doanh nghiệp sẽ mở
rộng được thị trường và hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ còn bị
ảnh hưởng trực tiếp bởi yếu tố trình độ tổ chức, điều hành và chất lượng
nguồn nhân lực Mỗi doanh nghiệp cần tổ chức tốt, phù hợp với môi trường
và các điều kiện nội tại của doanh nghiệp Nguồn nhân lực phải được đào tạo,
có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng để thực hiện các hoạt động
chuyên môn của mình
Quản lý DNBH đòi hỏi phải khai thác triệt để nguồn nhân lực hiện có, huy
động thêm những nguồn lực mới với việc tổ chức xếp sắp lại hoặc đổi mới
nguồn lực đi liền với chế độ kiểm tra giám sát chỉ đạo điều hành chặt chẽ để mỗi
một nguồn lực đều được sử dụng một cách hiệu quả nhất trong khai thác Các
tiềm năng của thị trường (tổng cầu) mang lại doanh thu lợi nhuận ngày một tốt
hơn cho DNBH Sản phẩm bảo hiểm là một trong yếu tố quan trọng để khách
hàng đánh giá, lựa chọn và đi đến tôn vinh tạo nên thương hiệu doanh nghiệp
bảo hiểm, tạo ra sự khác biệt doanh nghiệp bảo hiểm này với doanh nghiệp bảo
hiểm khác, là giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp bảo hiểm Nghiên cứu phát
triển sản phẩm bảo hiểm phải gắn liền đặc tính sản phẩm (khác biệt với sản
Trang 40phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác) với giá cả sản phẩm và giá trị thực của
sản phẩm
Chính sự khác biệt nổi trội trong giải quyết bồi thường và dịch vụ gia tăng
kết hợp với thương hiệu tạo cho khách hàng có cảm giác mua được sản phẩm
bảo hiểm có giá trị thực lớn hơn giá cả của nó Điều này có thể giải thích tại sao
ở nước ngoài khách hàng không lựa chọn sản phẩm nói chung, sản phẩm bảo
hiểm nói riêng theo giá cả hoặc phí bảo hiểm thấp nhất Sự khác biệt thể hiện ở
khâu giám định bằng đội ngũ giám định viên của doanh nghiệp hoặc thuê ngoài
có tính chuyên nghiệp, khách quan, uy tín, trung thực, hồ sơ bồi thường đơn
giản, thuận lợi, thời gian giải quyết bồi thường nhanh hơn, số tiền bồi thường
chính xác thỏa đáng đảm bảo ít hoặc không có xảy ra tranh chấp Các dịch vụ gia
tăng tạo thuận lợi cho khách hàng trong đàm phán ký kết hợp đồng, xử lý tai
nạn, khắc phục hậu quả và chăm sóc khách hàng sau bán hàng hơn hẳn đối thủ
cạnh tranh
Ngoài những sản phẩm truyền thống mang lại doanh thu chủ yếu, DNBH
cần chú trọng phát triển thêm các sản phẩm bảo hiểm tuy có lợi nhuận thấp hoặc
không có lợi nhuận để tận dụng thêm nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp bảo
hiểm cũng như đóng góp cho an sinh xã hội, tạo thương hiệu, hình ảnh cho
DNBH (bảo hiểm vi mô, bảo hiểm ca sỹ, bảo hiểm cầu thủ, bảo hiểm golf )
Sản phẩm bảo hiểm cũng có những chu kỳ vòng đời nhất định Vì vậy
hàng năm, DNBH cần đánh giá lại cung và cầu, doanh thu và lợi nhuận của từng
sản phẩm để có chiến lược phát triển mới trên cơ sở cải tiến sản phẩm giữ được
cốt lõi của sản phẩm, thay đổi thêm những đặc tính và dịch vụ gia tăng đáp ứng
nhu cầu thị hiếu của khách hàng
DNBH cần hiểu biết rõ khách hàng mong muốn gì về bảo hiểm trước đầy
rẫy những rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ, trách nhiệm pháp lý nhưng bị hạn chế
bởi nguồn lực tài chính (đóng phí bảo hiểm) Một sản phẩm bảo hiểm cần có
nhiều điều kiện được bảo hiểm để khách hàng lựa chọn, người ít tiền chọn rủi ro
cơ bản hay nguy hại hoặc nếu xảy ra gây thiệt hại lớn, người nhiều tiền sẽ chọn