1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu nghệ an

133 400 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 11,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v 4.8 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng 4.9 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả Các số liệu

và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất cứ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Thái Thị Vân

Trang 3

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh là người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo,

đóng góp những ý kiến vô cùng quý báu giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tập thể các thấy cô giáo Khoa Nông học, đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Canh tác học – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ động viên khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Thái Thị Vân

Trang 4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii

2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô trên thế giới 4 2.3 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô tại Việt Nam 9 2.4 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho ngô trên thế giới 12 2.5 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho ngô tại Việt Nam 22 2.6 Tình hình cơ bản huyện Diễn Châu trong mối quan hệ với kỹ

2.6.1 Chế độ mưa, lượng bốc hơi, độ ẩm không khí: 29

2.6.3 Tình hình sản xuất và kỹ thuật thâm canh ngô 32

Trang 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv

3.4.1 Phân tích thành phần dinh dưỡng đất trước lúc bố trí thí nghiệm 37

4.2 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các giai

đoạn sinh trưởng của giống ngô C919 và NK6326 45 4.3 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động thái

4.4 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động thái

4.5 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến diện tích

4.6 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến chiều cao

cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô C919 và NK6326 60 4.7 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng

Trang 6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

4.8 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng

4.9 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến hình thái

4.10 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các yếu

4.11 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến năng suất

4.12 Hiệu suất sử dụng đạm của giống ngô C919 và NK6326 84

Trang 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi

DANH MỤC BẢNG

2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mì, lúa nước của thế giới

2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 11 2.4 Lượng dinh dưỡng cây hút đất và phân bón(kg/ha) 13

4.2.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các giai

đoạn sinh trưởng của giống ngô C919 và NK6326 vụ Đông 2013 46 4.2.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các giai

đoạn sinh trưởng của giống ngô C919 và NK6326 vụ Xuân 2014 48 4.3.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động thái

tăng trưởng chiều cao cây ngô C919 và NK6326 vụ Đông 2013 49 4.3.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động thái

tăng trưởng chiều cao cây ngô C919 và NK6326 vụ Xuân 2014 51 4.4.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động thái

ra lá của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Đông 2013 53 4.4.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động thái

ra lá của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Xuân 2014 54 4.5.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến diện tích

lá và chỉ số diện tích lá(LAI) của giống ngô C919 và NK6326 ở

4.5.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC diện tích lá và

chỉ số diện tích lá(LAI) của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ

Trang 8

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii

4.5.c Ảnh hưởng của giống đến chỉ số diện tích lá(LAI) 59 4.5.d Ảnh hưởng khoảng cách bón PVNNC đến chỉ số diện tích lá (LAI )

4.6.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến chiều cao

4.6.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến chiều cao

4.6.c Ảnh hưởng của giống đến chiều cao cây cuối cùng và chiều cao

4.6.d Ảnh hưởng của khoảng cách bón PVNNC đến chiều cao cây cuối

cùng và chiều cao đóng bắp trong vụ Đông 2013 và vụ Xuân 2014 64 4.7.a :Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng

luỹ chất khô của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Đông 2013 65 4.7.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng

tích luỹ chất khô của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Xuân 67 4.7.c Ảnh hưởng của giống đến khả năng tích luỹ chất khô 68 4.7.d Ảnh hưởng của khoảng cách bón PVNNC đến khả năng tích luỹ

4.8.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng

chống chịu của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Đông 2013 70 4.8.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng

chống chịu của giống ngô C919 và NK6326 vụ Xuân 2014 71 4.9.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến hình thái

bắp của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Đông 2013 72 4.9.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến hình thái

bắp của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Xuân 2014 73

Trang 9

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii

4.10.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các yếu

tố cấu thành năng suất của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ

4.10.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các yếu

tố cấu thành năng suất của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ

4.10.c Ảnh hưởng của giống đến các yếu tố cấu thành năng suất 78 4.10.d Ảnh hưởng khoảng cách bón PVNNC đến các yếu tố cấu thành

4.11.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến năng

suất của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Đông 2013 80 4.11.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến năng suất

4.11.d Ảnh hưởng của khoảng cách bón PVNNC đến năng suất của các

Trang 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix

CDBHH : chiều dài bắp hữu hiệu

CIMMYT : Trung tâm cải tạo Ngô và Lúa mì Quốc tế

NSLT : năng suất lý thuyết

NSTT : năng suất thực thu

P1000 hạt : khối lượng 1000 hạt

S lá : diện tích lá

TĐBP : thời điểm bón phân

TGST : thời gian sinh trưởng

TLBHH : tỷ lệ bắp hữu hiệu

TP - PR : tung phấn đến phun râu

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây ngô có tên khoa học là Zea mays L thuộc họ hoà thảo Poaceae Có

nguồn gốc từ Mêhicô

Cây ngô là cây lương thực rất quan trọng, xếp thứ 2 sau cây lúa ở Việt Nam và xếp thứ 3 trên thế giới sau cây lúa mì và lúa nước Cây ngô được sử dụng với ba mục đích chính: làm lương thực cho người, thức ăn gia súc và làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Ngô cũng là cây trồng chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao trong vụ đông, cây ngô thực sự là cây trồng đã

và đang được người sản xuất rất quan tâm

Diễn Châu là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, có truyền thống trồng ngô từ rất lâu đời Năm 2013, diện tích trồng ngô toàn huyện là

là 3.005,84 ha (chiếm 16,8% diện tích đất nông nghiệp), năng suất trung bình đạt 50,7 tạ/ha, cao hơn năng suất trung bình của toàn tỉnh Song, so với tiềm năng năng suất của cây ngô, thì năng suất đạt được vẫn còn ở mức thấp

Trong hệ thống dinh dưỡng của cây ngô, đạm là yếu tố dinh dưỡng thiết yếu

có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh

và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi, từ đó ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất ngô Thực tế sản xuất cho thấy, để tăng năng suất ngô thường phải tăng liều lượng đạm, song khi bón liều lượng đạm cao hoặc bón thừa so với nhu cầu của cây, năng suất không tăng mà có xu hướng giảm ngay cả trong trường hợp bón cân đối đạm với lân và kali Việc bón phân vô cơ theo phương pháp bón vãi tuy có làm tăng năng suất, sản lượng nhưng hiệu quả sử dụng phân

bón thấp: đạm 30 - 45%, lân 15 - 25%, kali 40 - 50% (Achim Dobermann,

2000) Bên cạnh đó còn ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người Việc bón phân theo phương pháp truyền thống thường tốn kém và gây lãng phí do bay hơi hoặc rửa trôi Gần đây trên thế giới, các nước tiên tiến sử dụng các loại phân chậm tan để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón Các loại phân chậm tan ở Việt

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2

Nam ít được sử dụng vì giá thành cao Trong những năm qua trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu và phát triển phân viên nén - là một loại phân chậm tan được sử dụng ở nhiều nơi cho lúa và ngô

Nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phân viên nén, tôi tiến hành

thực hiện đề tài: “ Ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại Diễn Châu - Nghệ An”

Xác định hiệu quả sử dụng phân bón của 2 giống ngô nghiên cứu

Xác định khoảng cách bón PVNNC thích hợp cho 2 giống ngô

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của khoảng cách bón PVNNC đến sinh trưởng và năng suất của ngô, đề xuất khoảng cách bón PVNNC để nâng cao hiệu quả sử dụng PVNNC

Góp phần xây dựng phương pháp sử dụng PVNNC bón cho ngô

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Vai trò của cây ngô

Ngô là cây ngũ cốc lâu đời và phổ biến trên thế giới, có khả năng thích ứng rộng, được trồng từ 550 vĩ Bắc đên 400 vĩ độ Nam, thuộc 69 nước trên thế giới, đồng thời có khả năng thích ứng tốt với các điều kiện sinh thái khác nhau,

độ cao từ 1 - 2m so với mặt nước biển ở vùng Andet - Peru đến gần 4000m (Ngô Hữu Tình, 1997) Chính nhờ đặc tính sinh học và nông học quý báu trên

mà cây ngô được coi là cây trồng có nhiều triển vọng, báo hiệu sự no ấm của thế kỷ 21

Cây ngô là loài cây vừa có giá trị kinh tế cao vừa có khả năng phát triển trong tương lai Trên bình diện cả thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cây ngô chủ yếu được sử dụng cho các mục đích sau: sử dụng làm lương thực cho người, thức ăn cho gia súc và nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến Hơn nữa, thành phần dinh dưỡng của hạt ngô có mặt các axit amin không thay thế quan trọng như: Lơzin, Tryptophan, Methionin…Hằng năm trên thế giới, lượng ngô xuất nhập khẩu khoảng 70 triệu tấn (Ngô Hữu Tình, 1997)

Cây ngô không chỉ biết đến bởi giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao

mà còn là một cây trồng quan trọng, có khả năng khai thác tốt trên các loại đất khó khăn, trên các vùng đồi núi, vùng khô hạn, cho nên giai đoạn 2000 - 2002 diện tích trồng ngô trên thế giới đạt 138,4 triệu ha; với năng suất bình quân đạt 4,93 tấn/ha; sản lượng đạt 614,95 triệu tấn (Javier Erro, Oscar Urrutia, Sara San Francisco, Jose M, 2007) Nhu cầu của loài người càng tăng lên, việc tăng năng suất và sản lượng ngô là việc làm vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết Muốn vậy trong sản xuất ngô phải có sự đầu tư vốn, có sự tập trung nghiên cứu chọn tạo những giống ngô mới cho năng suất cao, thích nghi với từng điều kiện sinh thái và chịu được trong điều kiện thâm canh cao Một lĩnh vực không thể thiếu đó là phải tiếp thu, áp dụng nhanh chóng những tiến

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4

bộ khoa học tiên tiến, trong đó tiến bộ về phân bón cũng như tìm hiểu những giống mới đạt năng suất cao thích ứng rộng đang là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu

2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô trên thế giới

Ngô là cây ngũ cốc lâu đời và phổ biến nhất trên thế giới, không cây nào có thể sánh kịp với cây ngô về tiềm năng năng suất hạt, về quy mô, hiệu quả ưu thế lai (Ngô Hữu Tình và cs,1997)

Ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học về các lĩnh vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, điện khí hóa, tin học vào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình,1997) Do vậy diện tích và năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mì, lúa nước của thế

giới giai đoạn 2000 - 2010

Đơn vị: Diện tích (triệu ha); Năng suất (tấn/ha); Sản lượng (triệu tấn)

Sản lượng

Diện tích

Năng suất

Sản lượng

Diện tích

Năng suất

Sản lượng

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

Trước đây gần 1/3 dân số trên thế giới đã được nuôi sống bởi sản phẩm ngô Tính chung trong giai đoạn 1995 - 1997 con người đã sử dụng lượng ngô chiếm khoảng 17% (CIMMYT, 2001)

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA,2010) tổng diện tích ngô trên toàn thế giới năm 2010 là 162,3 triệu ha, năng suất bình quân đạt 5,06 tấn/ha và cho tổng sản lượng 820,6 triệu tấn Những thành tựu mà ngành ngô thế giới đạt được trong những năm gần đây có thể nói là đã vượt ngoài mọi dự đoán lạc quan nhất Năm 2000 do điều kiện khí hậu khó khăn sản lượng ngô thế giới đạt 591.5 triệu tấn, vậy mà vào năm 2007 đã đạt tới 791.6 triệu tấn Riêng 7 năm gần đây đã tăng thêm gần 300 triệu tấn và giá ngô thế giới vẫn ở mức cao Trong khi đó, vào năm 2003, Viện Nghiên cứu Chương trình lương thực thế giới (IFPRI) dự báo nhu cầu ngô trên thế giới vào năm 2020 chỉ lên đến 852 triệu tấn (IFPRI, 2003)

Như vậy, từ năm 2000 đến năm 2010 nhìn chung diện tích trồng ngô thế giới luôn thấp hơn so với diện tích trồng lúa mì và lúa nước, tuy nhiên năm

2001 sản lượng ngô thế giới đã vượt qua sản lượng lúa mì và lúa nước vươn lên dẫn đầu và tiếp tục giữ vị trí ổn định trong các năm tiếp theo

Kết quả trên có được, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác Đặc biệt từ hơn 10 năm trở lại đây, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong kỹ thuật canh tác, phân bón cho cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô trên thế giới vượt lên trên lúa

mì và lúa nước

So với năm 2000 thì tỷ lệ tăng trưởng diện tích qua mỗi năm là 1,17%, tăng trưởng năng suất/năm đạt 2,06% và tăng trưởng sản lượng/năm là 3,67% Trong đó, Mỹ là nước có diện tích ngô lớn nhất thế giới (32,2 triệu ha), chiếm 20,7 % diện tích ngô thế giới và cho sản lượng là 333 triệu tấn (chiếm 41,2 % sản lượng ngô thế giới), đặc biệt có năng suất cao nhất thế giới 10,34 tấn/ha

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6

(cao gấp 1,99 lần so với năng suất ngô thế giới) Tiếp theo Mỹ là Trung Quốc với 30,4 triệu ha, năng suất đạt 5,1 tấn/ha và sản lượng đạt 155 triệu tấn, Brazil là nước đứng thứ 3 về diện tích ngô trên thế giới với 13 triệu ha, cho năng suất bình quân đạt 4,08 tấn/ha và cho sản lượng đạt 53 triệu tấn

Các nước Đông Nam Á có diện tích ngô là 8,64 triệu ha, năng suất bình quân đạt 3,12 tấn/ha và cho sản lượng đạt 26,977 triệu tấn Trong đó nước Inđônêxia có 3,13 triệu ha, năng suất đạt 2,65 tấn/ha và sản lượng đạt 8,3 triệu tấn; Philippin có diện tích 2,5 triệu ha, năng suất đạt 2,48 tấn/ha, cho sản lượng 6,2 triệu tấn; Thái Lan có diện tích trồng ngô đạt 1 triệu ha, năng suất 4,1 tấn/ha, cho sản lượng 4,1 triệu tấn

Hiện nay sản lượng ngô sản xuất ra ngày càng tăng và châu Á chiếm sản lượng ngô sản xuất ra lớn nhất thế giới Đi đầu là Trung Quốc với diện tích đứng thứ hai trên thế giới chiếm 20% tổng sản lượng ngô trên thế giới và Đông Nam Á đạt 27 triệu tấn Năm 2000 Trung Quốc đạt diện tích trồng ngô

là 23,1 triệu ha Năng suất 4,6 tấn/ha và sản lượng đạt 106,0 triệu tấn (Corn production in Asian, December 2001) Đến năm 2009, diện tích đã lên tới 30,4 triệu ha, trong đó hơn 90% diện tích trồng ngô là ngô lai và năng suất bình quân đạt 5,1 tấn/ha

Trong những năm gần đây, cây trồng biến đổi gen đặc biệt là cây ngô

đã mang lại lợi ích ổn định về kinh tế, môi trường, làm tăng sản lượng nông nghiệp, cải thiện đời sống người nông dân cho nên ngày càng được nhiều quốc gia ủng hộ và phát triển Diện tích trồng cây biến đổi gen trên toàn thế giới năm 2009 là 134 triệu ha trên tổng số 25 quốc gia, trong đó cây ngô biến đổi gen chiếm 42.0 triệu ha trên tổng số 16 quốc gia Từ năm 1996 đến năm

2009 diện tích trồng ngô biến đổi gen trên toàn thế giới liên tục tăng và đạt 26.4% năm 2009 (Jame, 2010)

Toàn thế giới những năm 2007 - 2009 sử dụng khoảng 20% sản lượng ngô làm lương thực, trong đó các nước đang phát triển là 30%, các nước phát

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7

triển là 4% còn các nước Trung Mỹ, Nam Á, châu Phi sử dụng ngô làm lương thực chính

Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới (IFPRI, 2003), nhu cầu ngô trên thế giới vào năm 2020 lên tới 852 triệu tấn (sản lượng năm 2005 chỉ mới đạt 705,3 triệu tấn), tăng 45% so với năm 1997, chủ yếu ở các nước đang phát triển (72%), riêng Đông Nam Á tăng 70% so với năm 1997 Xét về nhu cầu địa lý thì nhu cầu tăng trưởng nhanh nhất ở Châu Á, chủ yếu là Trung Quốc, sau đó đến Châu Mỹ La Tinh (Chiến lược quốc gia sau thu hoạch lúa, ngô, đậu tương và lạc đến 2020, 2006)

Nhu cầu ngô tăng do dân số phát triển nhanh, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện nên việc tiêu thụ thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh, dẫn đến lượng ngô dùng cho chăn nuôi tăng Thách thức đặt ra là 80% nhu cầu ngô trên thế giới tăng (266 triệu tấn) lại tập trung ở các nước đang phát triển, trong khi đó chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất sang các nước này Vì vậy, các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu của mình trên diện tích ngô hầu như không tăng (IFPRI, 2003)

Bảng 2.2: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020

Như vậy, nhu cầu về ngô trên thế giới ngày càng tăng từ năm 1997 đến

2020 nhu cầu cần tăng thêm 45%, trong đó số lượng tăng nhiều ở các nước đang phát triển (năm 1997 nhu cầu 295 triệu tấn lên 508 triệu tấn vào năm

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8

2020), sự thay đổi lớn nhất thuộc về các nước Đông Á với sự tăng thêm 85% vào năm 2020

Ngô là cây dùng làm thức ăn chăn nuôi quan trọng nhất hiện nay Theo

số liệu thống kê của CIMMYT năm 2008, thế giới dùng ngô làm thức ăn chăn nuôi khoảng 72% chiếm khoảng 600 triệu tấn/năm (CYMMYT, 2008)

Từ đầu thế kỷ 20 trở lại đây, bắp ngô bao tử còn được sử dụng làm một loại rau cao cấp Với đầy đủ giá trị dinh dưỡng thiết yếu của một loại rau thông thường thì ngô bao tử còn là một loại thức ăn có khẩu vị khá là hấp dẫn như bất kỳ loại thực phẩm giàu đạm nào Ở một số nước Mỹ Latinh, châu Phi

và Trung Quốc ngô đường còn được sử dụng dưới dạng huyền phù của bột ngô làm thức uống hàng ngày Bên cạnh đó, ngô không chỉ là nguyên liệu chính cho các nhà máy thức ăn chăn nuôi gia súc tổng hợp mà còn là nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất bánh kẹo, cồn tinh bột dầu…Người ta đã sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các nghành công nghiệp lương thực thực phẩm và công nghiệp nhẹ

Trong những năm gần đây nghành công nghiệp chế biến nhiên liệu ethanol đang phát triển mạnh và ngô hạt được coi là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất ethanol Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp Mỹ, nhu cầu

sử dụng ngô cho công nghiệp chế biến ethanol năm 2005 - 2006 là 40,6 triệu tấn, năm 2008 - 2009 là 50,5 triệu tấn, đến năm 2010 - 2011 là gần 100 triệu tấn và năm 2012 là khoảng 190,3 triệu tấn cho công nghiệp chế biến ethanol (USDA, 2010)

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9

2.3 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô tại Việt Nam

Ở Việt Nam, cây ngô là cây lương thực đứng thứ 2 sau lúa nước Ngô được đưa vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm (Viện nghiên cứu ngô, 1996) Do có vai trò quan trọng đối với kinh tế xã hội cộng với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nên ngô đã nhanh chóng được mở rộng, trồng khắp các vùng miền cả nước

Năm 1975 đất nước mới được giải phóng những khó khăn chồng chất lên nhau nên cây ngô chưa được chú trọng phát triển, diện tích trồng ngô chỉ đạt 267 nghìn ha, năng suất 1,05 tấn/ ha, với tổng sản lượng 280,6 nghìn tấn Bên cạnh đó, chúng ta gặp không ít khó khăn về vật liệu khởi đầu, cùng với việc cơ sở vật chất chưa đáp ứng tốt trong các khâu sản xuất ngô Ở Việt Nam, ngô tuy chỉ chiếm 12,9% diện tích cây trồng có hạt, nhưng có ý nghĩa quan trọng thứ hai sau cây lúa Gần 30 năm qua, nhất là từ những năm 1990 trở lại đây, sản xuất ngô nước ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Năm 2008 là năm đạt diện tích (1.125,9 nghìn ha), năng suất (4,02 tấn/ha) và sản lượng (4,5 triệu tấn) cao nhất từ trước đến nay So với năm 1990, diện tích và năng suất tăng 2,6 lần, còn sản lượng tăng 7 lần ( Tổng cục Trồng trọt, 2009) Cho đến năm 1990 diện tích trồng ngô tăng lên 432 nghìn ha, tổng sản lượng đạt 671 nghìn tấn tăng gấp 3 lần so với năm 1975 Đến năm 2004 diện tích trồng ngô của Việt Nam là 990,4 nghìn ha, năng suất 3,49 tấn/ha và sản lượng đạt 3453,6 nghìn tấn (Tổng cục thống kê, 2004) Năm 2006 diện tích trồng ngô của Việt Nam là 1033,1 nghìn ha, năng suất 3,7 tấn/ha và sản lượng đạt 3,9 triệu tấn Trong quá trình phát triển cây ngô lai ở giai đoạn này phải

kể đến hai sự kiện tạo sự chuyển biến quan trọng, đó là: “Cây Ngô Đông trên đất hai lúa ở Đồng bằng Bắc Bộ” và “Sự bùng nổ ngô lai ở các vùng trồng ngô trong cả nước” (Ngô Hữu Tình , 1997)

Cùng với sự phát triển ngô trên thế giới và các nước trong khu vực, ngô lai ở Việt Nam trong những năm gần đây đã không ngừng phát triển Giai

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

đọan 1990 diện tích ban đầu 5 ha ngô lai, sau đó diện tích đã mở rộng nhanh chóng Năm 1991 diện tích đạt 500 ha, đến năm 1996 diện tích ngô lai là 230 nghìn ha, chiếm 40% diện tích và 74% sản lượng (Quách Ngọc Ân, 1997) Đến năm 2000 diện tích ngô lai đạt 500 nghìn ha, chiếm 65% diện tích trồng ngô cả nước Năm 2006 diện tích ngô lai đạt 1033 nghìn ha, chiếm 83% Tốc độ phát triển của cây ngô lai ở nước ta được đánh giá là khá nhanh

và có tính chất bền vững rất cao Năm 2000 cả nước trồng khoảng 730,2 nghìn ha, năm 2005 đạt 1052 nghìn ha và năm 2009 đạt 1200 nghìn ha Các giống ngô lai có tiềm năng năng suất cao đã và đang được phát triển ở những vùng ngô trọng điểm, vùng thâm canh, tưới tiêu chủ động, những vùng đất phì nhiêu như: Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long

Ở Việt Nam, những năm gần đây cây ngô chuyển gen cũng được quan tâm và nghiên cứu, tập trung chủ yếu vào gen kháng sâu đục thân và kháng thuốc trừ cỏ Năm 2010, Việt Nam đã chính thức cho phép công ty TNHH Syngenta Việt Nam và công ty Mosanto Thái Lan được khảo nghiệm hạn chế, đánh giá rủi ro về đa dạng sinh học và môi trường của cây ngô chuyển gen (Bộ nông nghiệp và PTNT, 2010)

Tuy sản lượng ngô hàng năm của nước ta tăng nhưng vẫn không đáp ứng đủ nguyên liệu phục vụ cho nghành chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ

Do đó 9 tháng đầu năm 2009 Việt Nam đã nhập hơn 0,8 triệu tấn ngô (Cục trồng trọt, 2009)

Theo dự báo của Viện khoa học Nông Nghiệp Việt Nam, diện tích ngô của cả nước phấn đấu đạt 1300 nghìn ha vào năm 2015 (với năng suất bình quân 5,5 tấn/ha, tổng sản lượng là 7150 nghìn tấn), nhằm đảm bảo cung cấp

đủ nguyên liệu cho chế biến thức ăn cho chăn nuôi và đẩy mạnh các ngành khác phát triển như công nghiệp chế biến, sản suất rượu cho công nghiệp…Quan trọng hơn nữa là Việt Nam phải đẩy mạnh sản xuất để từng

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11

bước tham gia vào thị trường xuất khẩu nhằm thu nguồn ngoại tệ về cho đất nước Vào năm 2009, Việt Nam đạt 1200 nghìn ha, năng suất đạt 4,4 tấn/ha

và tổng sản lượng là 5,3 triệu tấn (USDA, 2010) Vậy hiện nay, sản xuất ngô của nước ta mới đạt 75% so với mục tiêu vào năm 2015 và 60% so với mục tiêu vào năm 2020

Bảng 2.3: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010

(Nghìn ha)

Năng suất (Tấn/ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

Diện tích Ngô lai (%)

Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy rằng, với những thành tựu đã đạt được

có thể nói đây là một bước tiến vượt bậc của nền nông nghiệp Việt Nam Kết quả trên đã được CYMMYT và nhiều nước trên thế giới đánh giá cao Bên cạnh những thành tựu về giống, các tiến bộ kỹ thuật về canh tác cũng đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển của cây ngô trong những năm gần đây

Trong hệ thống cây trồng nước ta, cây ngô giữ vị trí rất quan trọng, nó đã

có mặt trên mọi vùng đất, phù hợp với mọi điều kiện canh tác, tham gia vào các công thức luân canh xen canh, gối vụ đã dần góp phần xóa hết thế động canh của cây lúa đa dạng hóa cây trồng và cải thiện hệ sinh thái nông nghiệp Như vậy, ở nước ta năng suất ngô còn thấp so với các nước có nghề trồng ngô phát triển Để đạt được năng suất ngô cao hơn nữa trong thời gian

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12

tới, ngoài công tác giống còn phải đầu tư đồng bộ hơn trong thâm canh, đặc biệt là bón phân để phát huy tiềm năng của giống

Mặc dù đã đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng sản xuất ngô nước ta vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra:

- Thứ nhất: Năng suất vẫn thấp hơn so với trung bình thế giới (đạt khoảng 82%) và rất thấp so với năng suất thí nghiệm

- Thứ 2: Giá thành sản xuất còn cao

- Thứ 3: Sản lượng chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước đang tăng lên rất nhanh và những năm gần đây phải nhập từ 500 - 700 nghìn tấn ngô hạt để làm thức ăn chăn nuôi (Theo số liệu của Cục trồng trọt, năm 2004 theo con đường chính thức nhập 564,488 tấn ngô, năm 2007 là 585,221 tấn)

- Thứ 4: Sản phẩm từ ngô còn đơn điệu

- Thứ 5: Công nghệ sau thu hoạch chưa được chú ý đúng mức

Hiện nay, nhiều vấn đề đặt ra cho ngành sản xuất ngô thế giới nói chung và nước ta nói riêng như: khí hậu toàn cầu đang biến đổi phức tạp, đặc biệt là hạn hán, lũ lụt ngày càng nặng nề hơn, nhiều đối tượng sâu, bệnh hại mới xuất hiện, sản xuất ngô ở nhiều nơi đang gây nên tình trạng xói mòn đất, rửa trôi dinh dưỡng, giá nhân công ngày càng cao, cạnh tranh gay gắt giữa ngô và các cây trồng khác

Với công tác tạo giống, bộ giống ngô thực sự chịu hạn và các điều kiện bất thuận khác như đất xấu, chua phèn, kháng sâu bệnh, có thời gian sinh trưởng ngắn đồng thời cho năng suất cao ổn định, nhằm nâng cao năng suất

và hiệu quả cho người sản xuất vẫn chưa nhiều Đặc biệt các biện pháp kỹ thuật canh tác, mặc dù đã được cải thiện nhiều song vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của giống mới Trong đó, một số vấn đề đáng chú ý như khoảng cách, mật độ, phân bón, thời vụ, phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại, bảo quản sau thu hoạch chưa được quan tâm đúng mức

2.4 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho ngô trên thế giới

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13

Cây ngô là cây có tiềm năng năng suất to lớn Trong các biện pháp thâm canh năng suất ngô phân bón giữ vai trò quan trọng nhất Theo Berzenyi Z, Gyorffy B.(Berenyi và cs,1996) thì phân bón ảnh hưởng tới 30,7 % năng suất ngô còn các yếu tố khác như mật độ cây, phòng trừ cỏ dại, đất trồng có ảnh hưởng ít hơn Theo kết quả của viện Lân, Kali (Mỹ) cho thấy để tạo ra 10 tấn ngô hạt/ha, cây ngô lấy đi một lượng dinh dưỡng như sau(kg/ha)

Bảng 2.4 Lượng dinh dưỡng cây hút đất và phân bón(kg/ha)

Chỉ tiêu N P2O5 K2O Mg S Năng suất

chất khô %

Nguồn: Ngô Hữu Tình, 1997

Phân đạm (N) được coi là yếu tố tăng năng suất cây trồng quan trọng

và có hiệu quả cao nhất Đạm là yếu tố phân bón đầu tiên cần chú ý bón cho cây trồng vì: Cây cần với lượng nhiều mà đất không cung cấp đủ, nhất

là đạm dễ tiêu Trong các cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng đạm tham gia vào các thành phần axit amin, protein, các enzim, các chất kích thích sinh trưởng, chất diệp lục - chất quyết định khâu chính của quá trình quang hợp,… Cây trồng được cung cấp đủ đạm sinh trưởng nhanh, lá phát triển mạnh, nâng cao khả năng tổng hợp các chất để tạo nên sinh khối lớn

và sản phẩm nông nghiệp Vì vậy, đạm là yếu tố quyết định năng suất cây trồng, đặc biệt là cây ngô

Theo Chudry G.A., và cộng sự (CS) ( Chudry G.A.) đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng của ngô, nó tham gia vào thành phần cấu tạo tất cả các chất Protein, các axit Nucleotid - là chất giữ vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp Protein và trao đổi các chất trong cơ thể Phân đạm thúc đẩy quá trình

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14

sinh trưởng phát triển của cây, nâng cao hàm lượng protein trong sảm phẩm, khi thiếu đạm lá kém xanh Tất cả các loại đất trồng trọt cần phải bón thêm đạm đặc biệt trên các loại đất tưới

Theo Smith (De.Geus,1973), trong trường hợp không bón đạm năng suất ngô chỉ đạt 1.192 kg/ha, khi bón đạm (N) năng suất tăng 7.338kg/ha Theo Velly và CS (De.Geus,1973) khi bón cho ngô với liều lượng 40kg N/ha năng suất thu được 12,11tạ/ha

80kg N/ha năng suất thu được 16,61tạ/ha

120kg N/ha năng suất thu được 32,12 tạ/ha

160kg N/ha năng suất thu được 41,47 tạ/ha

200kg N/ha năng suất thu được 52,18 tạ/ha

Qua các số liệu trên cho thấy đạm (N) đóng vai trò quyết định trong việc tăng năng suất ngô và trong một khoảng liều lượng nhất định năng suất ngô tỷ

lệ thuận với liều lượng đạm bón Tuy nhiên, cần phân biệt năng suất tối đa và năng suất kinh tế tối đa

Theo Ramirez và Laird ( De.Geus,1973) ở Toluca valley - Mehicô cho rằng với mật độ 5 vạn cây/ha bón đạm với mức 120 kg/ha đem lại hiệu quả kinh tế nhất

Theo Sinclair and Muchow, (1995), hàng thập kỷ gần đây năng suất ngô tăng lên có liên quan chặt chẽ với mức cung cấp N cho ngô Đạm được cây ngô hút với một lượng lớn và đạm có ảnh hưởng khác nhau rõ rệt đến sự cân bằng cation và anion ở trong cây Khi cây hút N - NH4+ sự hút các cation khác chẳng hạn như K+, Ca2+, Mg2+ sẽ giảm trong khi sự hút anion đặc biệt là Phosphorus sẽ thuận lợi xảy ra chiều hướng ngược lại, khi cây hút N nitrat (Mengel, 1968)(dẫn theo Arnon, 1974) Tùy thuộc vào tuổi của cây với các cây ngô non sự hút amonium-N nhanh hơn sự hút đạm nitrat, trái lại các cây ngô già dạng đạm hút chủ yếu là đạm nitrat và có thể chiếm tới hơn 90% tổng

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15

lượng đạm cây hút (Coic, 1964)(dẫn theo Arnon, 1974) Đạm cũng là thành phần cấu trúc của vách tế bào (Schrader, 1984), William Bennet, (1993) Đạm

là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây và là thành phần của tất cả các Prôtêin Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất để xác định năng suất ngô Khi thiếu N chồi lá mầm sẽ không phát triển đầy đủ hoàn toàn, sự phân chia

tế bào ở đỉnh sinh trưởng bị kìm hãm và kết quả làm giảm diện tích lá, kích thước của cây và năng suất giảm Phân đạm có thể tạo ra sự tăng diện tích lá hiệu quả ngay từ đầu vụ và duy trì một diện tích lá xanh lớn vào cuối vụ để quá trình đồng hóa quang hợp đạt cực đại (dẫn theo Patrick Loo, 2001), ( Wolfe và cộng sự, 1988)

Mức đạm thấp làm giảm số hạt và năng suất hạt (Barbieri và cộng sự 2000), điều mà ai cũng biết là các giống ngô lai khác nhau có thể sử dụng phân đạm ở mức độ khác nhau, năng suất cây trồng cao cần phải cung cấp một lượng lớn phân bón, đặc biệt là đạm (Debreczen, 2000)

Đất càng màu mỡ thì đất càng có tác dụng lớn trong việc cung cấp đạm cho cây, cây trồng sử dụng được rất ít đạm amôn liên kết do một phần đạm này bị khoáng sét của đất giữ chặt, số lượng đạm amôn bị giữ chặt này từ 134

- 344 kg/ha ( Moxolov, 1979) (Peterburgxki và CTV,1965,1966)

Năng suất ngô Nhiệt đới thường thấp hơn năng suất ngô vùng Ôn đới bởi số hạt/diện tích đất và chỉ số thu hoạch (HI) của ngô nhiệt đới thấp hơn ngô vùng Ôn đới (Goldsworthy và cộng sự, 1974; Fisher and Palmer, 1983 (dẫn theo Mitsuru Osaki, 1994; 1995), đã chỉ ra rằng sức chứa có thể hạn chế năng suất ngô Nhiệt đới Nhìn chung, cây ngô quang hợp theo chu trình C4 và phù hợp với nhiệt độ cao, người ta công nhận ngô có thể đạt năng suất chất khô cao ở vùng Nhiệt đới (Evan, 1985) Mitsuru Osaki (1994)

Để đạt được năng suất cao một lượng đạm hữu hiệu phải được cây hút (Osaki và cộng sự 1991a; 1992; 1994, dẫn theo Mitsuru Osaki (1994) 50 - 60% đạm trong hạt đã được lấy từ đạm đồng hóa ở trong lá và thân, trước thời

kỳ ra hoa (Crowford và cộng sự 1982; Osaki và cộng sự 1991b, dẫn theo

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16

Mitsuru Osaki (1995)

Poss and Saragoni (1992) nhận thấy rằng có tới 13 - 36 kg N/ha đã bị rửa trôi bên dưới vùng rễ ngô trong thời kỳ sinh trưởng Mayers (1988) thông báo rằng cây ngô chỉ hấp thu 20 - 40% lượng đạm trong suốt thời gian sinh trưởng, (dẫn theo Sing và cộng sự 2004) Đạm cũng dễ bị mất bởi một phần các hợp chất đạm khoáng bị rửa trôi khỏi lớp đất cày (Misuxtin and Peterburgxki, 1975)

Tốc độ quang hợp có liên quan mật thiết đến thành phần đạm trong lá (Makino và cộng sự 1988) Năng suất ngô cao chỉ có thể đạt được khi thời gian diện tích lá xanh kéo dài và tỷ lệ đồng hóa đạm cao sau thời kỳ ra hoa (Osaki và cộng sự 1994)

Một số báo cáo về khả năng hút N cũng đã chỉ ra rằng tốc độ đồng hóa cực đại xảy ra gần giai đoạn phun râu (Hay và cộng sự 1953, Hanway, 1962; Mengel and Barber, 1974; Bigeriego và cộng sự 1979), kết thúc vào cuối giai đoạn tung phấn Cây ngô đã có sự đồng hóa ở rễ và thân một lượng lớn NO3-N (Hay và CS 1953; Chevalier and Schreder, 1977) Mitsuru Osaki, (1995)

Theo Moxolov, (1979), nếu mức dinh dưỡng nitơ đủ thì kali sẽ xâm nhập vào cây nhiều hơn và sự hút kali mạnh hơn là nguyên nhân thúc đẩy nhanh chu trình chuyển hóa các hợp chất phốt pho trong cây

Theo Uhart and Andrade, (1995) thiếu đạm làm chậm sinh trưởng của

cả hai giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, giảm tốc độ

ra lá, hạn chế mạnh đến sự phát triển diện tích lá Thiếu đạm hạn chế đến hiệu quả sử dụng bức xạ, nhất là thời kỳ ra hoa, ảnh hưởng đến năng suất bắp tổng

số Cũng theo hai tác giả trên việc cung cấp và tích lũy N ở thời kỳ ra hoa có tính quyết định số lượng hạt ngô, thiếu N trong thời kỳ này làm giảm khả năng đồng hóa Cacbon của cây, nhất là giai đoạn ra hoa sẽ giảm năng suất hạt Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây ngô, nghiên cứu vai trò của đạm đối với cây ngô ở Việt Nam mới chỉ được đề cập về liều lượng dùng và tỷ lệ giữa nó với các yếu tố dinh dưỡng khác

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17

Dự trữ đạm ở cây ngô có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển lá, sự tích lũy sinh khối và sự tăng trưởng của hạt (Muchow, 1988b, 1994), (dẫn theo Thomas và cộng sự 1995), ảnh hưởng về sau của đạm là quan trọng khi đánh giá phản ứng của cây trồng đối với phân N Số liệu trích dẫn của Viets (1965); Rhoads, (1984) ở một thí nghiệm ngô tưới nước theo rãnh cho thấy: Năng suất ngô 1.200kg/ha khi không bón phân đạm và 6.300kg/ha khi bón 224kg/ha N trên đất chưa bao giờ trồng ngô và năm trước

đó không bón đạm Ở năm tiếp theo năng suất ngô là 4.400kg/ha khi không bón đạm và 7.000kg/ha khi bón đạm ở mức 224kg/ha

Trong nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng vai trò của phân đạm và lưu huỳnh đến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống ngô lai (Cargill 707), tác giả Hussain và cộng sự (1999), cho rằng sự cung cấp phân bón ở các mức 150N + 30S và 150N + 20S (kg/ha) làm tăng một cách tương ứng khối lượng chất khô/cây, số hạt/bắp và khối lượng hạt/bắp so với các xử lý khác Năng suất ngô đạt cao nhất (8,59 tấn/ha) ở công thức bón 150N + 30S (kg/ha)

Nhưng đạm (N) cũng có những nhược điểm đáng kể; Nếu bón quá nhiều đạm thì thân lá mềm, chống đổ kém, sâu bệnh nhiều, thời gian sinh trưởng bị kéo dài, chất lượng sản phẩm giảm

Kết quả nghiên cứu cho thấy để phân đạm phát huy hiệu lực phải bón cân đối với các nguyên tố lân (P2O5) và kali (K2O), kali là nguyên tố được xếp thứ hai sau đạm (N) Kali cần thiết cho hoạt động của nguyên sinh chất, điều khiển đóng mở khí khổng, năng cao khả năng chống chịu sâu bệnh, khô hạn

và nhiệt độ thấp Kali xúc tiến quá trình quang hợp, vận chuyển các sản phẩm quang hợp tích luỹ về hạt Khi thiếu kali bắp ngô sẽ nhỏ, cây dễ đổ, mép và phần cuối của cuốn lá có màu vàng hoặc vàng thẩm Ngoài ra hiệu lực của kali thường cao và ổn định trên một loại đất

Theo các tác giả Afendulop K.P., 1972 và Nguyễn Văn Bào,1996 kali

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18

có trong đất được chia làm 4 loại: Kali hoà tan, kali trao đổi, kali không trao đổi (kali hữu hiệu chậm) và kaili cấu trúc tinh thể, trong đó kali hoà tan và kali trao đổi được gọi là kali hữu hiệu, căn cứ vào hàm lượng kali trao đổi trong đất (mg/100g) người ta phân ra các loại đất sau:

Lân là nguyên tố quan trọng thứ ba đứng sau đạm và kali Lân tham gia vào các hợp chất Nucleotit, AND, ARN, các hợp chất cao năng ATP, ADP… Lân làm tăng sức sống và phẩm chất của hạt Lân có tác dụng giúp cho ngô tăng khả năng chống chịu với ngoại cảnh Thiếu Lân quá trình hình thành bộ

rễ kém, phân hoá các cơ quan của ngô bị ảnh hưởng, làm cho bắp bé, bông cờ nhỏ, ít hoa Để đánh giá khả năng cung cấp lân cho cây trồng của các loại đất người ta dựa vào hàm lượng lân dễ tiêu có trong đất Theo Matrenkop P.P., Potasop A.I., Trenlavin A.S., 1964: Agi D 1959 (Nguyễn Văn Bào, 1996) đất được phân theo hàm lượng lân đễ tiêu như sau (mg/100gđất):

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19

Theo Johnson và CS (1959) (de Geus,1973) năng suất trung bình của các giống ngô lai là 6.838kg/ha, với liều lượng phân bón: 95N - 67P2O5 -67K2O kg/ha Theo Cook G.W ( Cook.G W.,1975) ở Indonexia đã khuyến cáo bón phân cho ngô với lượng : 90N - 60P2O5 - 20K2O kg/ha

cơ sở cho việc bón phân cân đối cần thiết phải biết được khả năng cung cấp dinh dưỡng của mỗi loại đất, nhu cầu dinh dưỡng cuả mỗi loại cây trồng và sự phụ thuộc của mỗi yếu tố vào từng điều kiện thời tiết cũng như chế độ canh tác cụ thể Do vậy, giải quyết vấn đề này sẽ cho phép tăng năng suất cây trồng

và tiết kiệm phân bón

Kết quả nghiên cứu bón phân viên nén trên thế giới

Qua nhiều nghiên cứu, phương pháp bón phân đạm sâu cho lúa đã được nhiều nước trên thế công nhận và đem lại hiệu quả cao Cho đến năm 1930, phương pháp bón phân sâu cho lúa được thực hiện ở Nhật Bản và đến những năm 1950, phương pháp này đã được phát triển và áp dụng ở nhiều vùng trồng lúa khác nhau trên thế giới ( Nguyễn Tất Cảnh, 2003)

Khi áp dụng phương pháp bón phân viên nén cho cây lúa theo điểm đã

Trang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20

mang lại hiệu quả cao, khắc phục được những nhược điểm do bón rời như khắc phục rửa trôi, tiết kiệm phân bón và kéo dài độ xanh của lá

Phân bón viên nén có được sử dụng hiệu quả nhất khi bón cho cây trồng ở các vùng lạnh, đất ẩm ướt vào đầu mùa xuân hoặc cuối mùa thu do vào thời điểm này cây sinh trưởng kém và dinh dưỡng khó di động Sử dụng phân viên nén đặc biệt quan trọng trong các hệ thống đất canh tác cần được bảo vệ Người ta thường bón phân bón viên nén ngay khi gieo hạt để có thể đáp ứng ngay nhu cầu dinh dưỡng khi hệ thống rễ cây bắt đầu phát triển, nhờ đó làm tăng cường khả năng bật mầm của cây con lên khỏi mặt đất Ngoài sự phát triển nhanh, cây non thường có khả năng chống sâu bệnh và dịch bệnh tấn công và có thể cạnh tranh với cỏ dại hiệu quả hơn Có sẵn các chất dinh dưỡng gần cây non giúp đảm bảo tăng trưởng nhanh chóng diện tích lá (College of Agricultural Sciences, Agricultural Research and Cooperative Extension, 2003)

Trên thế giới việc sử dụng phân bón viên nén cho ngô được xem như là một bước tiến mới trong việc cải thiện năng suất và tăng lợi nhuận Hiện nay, đang có các nghiên cứu trong việc cải tiến các kỹ thuật sản xuất phân bón viên nén, thành phần viên nén để bón cho ngô bao gồm vật liệu bọc, tỷ lệ các loại phân và khoảng cách bón Về tỷ lệ và thành phần trong một viên phân nén, một

số tỷ lệ N:P:K được đưa ra (Ví dụ, 1 : 2 :1, 1 : 3 : 1, 1 : 4 : 2, hay 1 : 5 : 0) Trong

đó người ta đặc biệt quan tâm đến khả năng hòa tan lân trong nước Amoni sulfat

và amoni nitrat là những vật liệu tốt nhất để sử dụng cho phân viên nén Phân viên nén sử dụng Diammonium phosphat (DAP) và đặc biệt là urê phải sử dụng các loại bọc phù hợp, vì một số tổn thương cho cây ngô có thể xảy ra nếu tỷ lệ các loại phân trên quá cao hoặc nếu nó được đặt quá gần hạt giống, cả hai loại phân trên đều có thể phân hủy thành NH3 gây tổn hại cho hạt khi nảy mầm và cây giống bằng cách làm cháy mô và gây ức chế tăng trưởng gốc Ở tỷ lệ thấp hơn và với vị trí thích hợp, các loại phân trên có thể được sử dụng (College of Agricultural Sciences, Agricultural Research and Cooperative Extension, 2003) Tại Pennsylvania, các nghiên cứu chỉ ra rằng, ở các trang trại chăn nuôi gia

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21

súc và gia cầm hàm lượng lân trong đất rất cao do đó không nhất thiết phải bổ sung lân vào trong phân viên nén Người ta có thể thay thế bằng việc bón phân viên nén đạm dưới dạng ammonium sulfate hoặc ammonium nitrate Gần đây có một xu hướng bổ sung thêm trung lượng và vi lượng vào phân bón viên nén (College of Agricultural Sciences, Agricultural Research and Cooperative Extension, 2003)

Tuy nhiên, ở Pennsylvania rất ít vùng đất thiếu trung hoặc vi lượng vì đất ở đây thường có kết cấu nặng hơn, hàm lượng mùn trong đất cao giúp duy trì đầy đủ và ổn định vi chất dinh dưỡng, đồng thời tính chất đất thường có tính axit vì vậy giúp tăng khả năng hòa tan vi chất dinh dưỡng

và ở Pennsylvania sản xuất nông nghiệp phần lớn là các trạng trại chăn nuôi gia súc gia cầm do đó đất trồng trọt được cung cấp một lượng phân bón thường xuyên (College of Agricultural Sciences, Agricultural Research and Cooperative Extension, 2003)

Việc bổ sung các chất trung và vi lượng vào phân viên nén là cần thiết và cho hiệu quả cao trong trồng trọt, đặc biệt là đối với các vùng đất thiếu các chất này Phân viên nén có hàm lượng P cao thường làm giảm hiệu lực của kẽm (Zn) và với loại phân có hàm lượng Kali cao có thể dẫn đến thiếu magie (Mg) Vì vậy, thêm Zn hoặc Mg vào phân viên nén có chứa hàm lượng P và

K cao thường không cho hiệu quả cao như mong muốn Ngoài ra, không nên

bổ sung Bo (B) vào phân viên nén

Vị trí bón phân rất quan trọng để cây trồng có thể hút các chất dinh dưỡng một cách thuận lợi nhất Đối với ngô, khoảng cách bón thích hợp là cách hạt 5 cm theo chiều ngang và ở độ sâu 5 cm Điều này cho phép rễ ngô hút thu dinh dưỡng thuận lợi nhất Hoặc có thể đặt viên phân cách hạt khoảng

5 cm và ở độ sâu giống như hạt giống (Javier Erro, Oscar Urrutia, Sara San Francisco, Jose M, 2007)

Các nhà khoa học đang nghiên cứu sản xuất phân viên nén có cơ chế đặc biệt

để phân bón có thể cung cấp dinh dưỡng theo nhu cầu từng giai đoạn của cây

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22

trồng thông qua các tín hiệu hóa học của vùng rễ để thể hiện tình trạng sinh lý của cây trồng hay những cơ chế liên quan đến các hoạt động cụ thể của rễ ảnh hưởng đến môi trường sinh học quanh vùng rễ

Nghiên cứu cho thấy các chất dinh dưỡng trong viên phân làm chậm quá trình cung cấp dinh dưỡng, chủ yếu đối với N và P Về nguyên tắc, đây là một cách hiệu quả để kiểm soát thất thoát chất dinh dưỡng, cung cấp kịp thời theo nhu cầu của cây trồng qua các giai đoạn sinh trưởng

2.5 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho ngô tại Việt Nam

Ngoài vai trò của giống mới, trong mấy thập niên vừa qua năng suất cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng không ngừng tăng lên còn do tác dụng của phân bón Giống mới chỉ phát huy tiềm năng của mình, cho năng suất cao khi được bón phân đầy đủ và hợp lý

Theo Nguyễn Thị Quý Mùi (1995) thì dinh dưỡng quyết định 50 - 60% năng suất của ngô Các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam cũng cho thấy đạm (N) là nguyên tố quan trọng nhất để tăng năng suất ngô

Theo các tác giả Nguyễn Văn Soàn và Lê Văn Căn (1970) nghiên cứu trong 10 năm giai đoạn những năm 60 cho thấy: Hiệu suất phân đạm đối với ngô là 15 - 20kg ngô hạt/kg N, liều lượng N bón để đạt hiệu quả kinh tế cao đối với Bông > Ngô > Lúa (60 kg N/ha); Loại phân đạm Nitrat > Sunphát > Clo

Theo Vũ Hữu Yêm (1995) ảnh hưởng của bón phân đạm như sau:

Không bón năng suất đạt 40,0 tạ/ha

Bón 40 kg N năng suất đạt 56,5 tạ/ha

Bón 80 kg N năng suất đạt 70,8 tạ/ha

Bón 120 kg N năng suất đạt 76,2 tạ/ha

Bón 162 kg N năng suất đạt 79,9 tạ/ha

Khi nghiên cứu về phân bón cho ngô trên đất bạc màu, Nguyễn Thế Hùng (1996) đã chỉ ra rằng phân N có tác dụng rất rõ đối với ngô trên đất bạc

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23

màu, song lượng bón tối đa là 225 kg/ha, ngưỡng bón N kinh tế là :150kg/ha trên nền cân đối PK

Nguyên tố được đánh giá là quan trọng thứ hai sau N là Kali (K2O) và thứ ba là Lân (P2O5)

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Thi và Nguyễn Văn Bộ (1999) [35], trên đất bạc màu bón kali đạt hiệu lực với ngô rất cao Hiệu quả

sử dụng kali đạt trung bình 15 - 20kg ngô hạt/kg K2O Cũng theo tác giả trên, trên đất bạc màu nghèo kali, trên nền không bón phân chuồng, nếu chỉ bón

NP trồng ngô hoàn toàn không cho thu hoạch Liều lượng thích hợp bón cho ngô đông trên nền đất phù sa sông Hồng khoảng 60 - 90 kg K2O/ha và trên đất bạc màu vào khoảng 90 - 10kg K2O/ha

Bón kali ở mức 30 - 210 kg K2O/ha không làm gia tăng năng suất ở vùng Tây Sông Hậu

Theo Tạ Văn Sơn (1995), trên đất phù sa sông Hồng bón phân kali đã làm tăng năng suất ngô rõ rệt và đặc biệt trên nền N cao Phân lân có hiệu lực

rõ rệt đối với ngô trên đất phù sa sông Hồng trên nền đầu tư: 180 N - 120 K2O

có thể bón tới 150 P2O5

Theo Trần Văn Minh (1995) bón lân có khả năng rút ngắn thời gian sinh trưởng của ngô, làm tăng năng suất một cách rõ rệt Lân Supe có hiệu trên hầu hết các loại đất, lân nung chảy có hiệu lực cao hơn trên đất đồi núi

Theo Phạm Kim Môn (1991) với ngô Đông trên đất phù sa sông Hồng liều lượng phân bón thích hợp là: 150 - 180kg N; 90 kg P2O5; 50 - 60 kg

K2O/ha

Theo Trần Hữu Miện (1987) thì trên đất phù sa sông Hồng lượng phân bón phù hợp là:

120 N - 90 P2O5 - 60K2O kg/ha cho năng suất 40 - 45 tạ/ ha

150 N - 90 P2O5 - 100K2O kg/ha cho năng suất 50 - 55 tạ/ha

180 N - 90 P2O5 - 150K2O Kg/ha cho năng suất 65 - 75 tạ/ha

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24

Theo Viện Nghiên Cứu Ngô (Cây màu,1997) đối với giống thụ phấn tự

do (TPTD) nên bón với lượng: 80 - 100kg P2O5; 80kg K2O Còn đối với các giống ngô lai thì liều lượng bón cao hơn: 160 kg N - 100kg P2O5 - 80kg

K2O/ha Ngoài ra còn bón thêm phân chuồng với liều lượng từ 7 - 10 tấn/ha

Ở phía Nam, theo các tác giả Trương Công Tín và CS (Cây màu, 1997) lượng phân bón phù hợp cho ngô lai DK - 888 đạt năng suất cao là: 100kg N - 40kg P2O5 - 30kg K2O/ha

Theo Nguyễn Văn Bộ, (1999) thì lượng phân bón cho ngô tuỳ thuộc vào đất và giống ngô:

+ Đối với giống chín sớm lượng phân bón cho một ha là (kg/ha):

• Trên đất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150kg N; 70 - 90 kg

Trên các loại đất khác nhau thì liều lượng và tỷ lệ phân bón cho ngô cũng khác nhau Theo Vũ Cao Thái: Trên đất phù sa, tỷ lệ N: P2O5: K2O là 1: 0,5: 0,75 ( 120 N - 60 P2O5 - 90K2O) Trên đất xám bạc màu, tỷ lệ N:

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25

P2O5: K2O là 1: 1: 1,5 (100 N - 100 P2O5 - 150 K2O)( Nguyễn Thị Quý Mùi,1995)

Theo Nguyễn Thế Hùng(1997) trên đất bạc màu vùng Đông Anh - Hà Nội, giống ngô lai LVN - 10 có phản ứng rất rõ với phân bón ở công thức bón

120 kg N - 120 kg P2O5 - 120kg K2O/ha và cho năng suất hạt gấp hai lần so với công thức đối chứng không bón phân Cũng theo tác giả trên thì trên đất bạc màu, hiệu suất của 1 kg NPK là 8,7 kg; 1 kg N là 11,3 kg; 1kg P2O5 là 4,9 kg; 1 kg K2O là 8,5 kg

Phân bón ngoài việc tăng năng suất cây ngô còn làm ảnh hưởng đến chất lượng hạt Theo Trần Hữu Miện nếu liều lượng phân bón tăng từ 120 kg N - 60

kg P2O5 - 60 kg K2O/ha lên 240 kg N - 120 kg P2O5 - 120kg K2O/ha thì hàm lượng đạm trong hạt tăng từ 1,89 % lên 2,16 % (Trần Hữu Miện,1987)

Ngoài các nguyên tố đa lượng khi sử dụng phân bón có chứa lưu huỳnh (S) thì năng suất và hàm lượng protein cao hơn đối chứng (Ngô Xuân Hiền, 1998)

Theo Vũ Kim Bảng (1991) xử lý NAA; 2,4 D; ZnSO4 không chỉ ảnh hưởng đến năng suất hạt mà còn làm thay đổi chất lượng dinh dưỡng của hạt ngô, hàm lượng các axit amin không thay thế như Lysine, Triptophan ở các công thức có xử lý đều cao hơn đối chứng không xử lý

Theo Hoàng Hà (1996) khi xử lý Zn và Mn cho ngô bằng cách ngâm hạt

và phun bổ sung dung dịch lên lá đều đạt hiệu quả cao, hàm lượng diệp lục tổng số tăng 10 - 16%, chỉ số diện tích lá (LAI) tăng từ 10 - 32%, năng suất ngô tăng từ 6 - 13 % so với đối chứng không xử lý

Theo Vũ Kim Bảng (1997) phun dung dịch ZnSO4 lên lá đã làm tăng diện tích là và chỉ số diện tích lá (LAI) ở thời kỳ chín sữa, hàm lượng Potein

ở các công thức xử lý đều cao hơn đối chứng tăng từ 3,6 -8,9 %, hàm lượng đường tăng từ 2,54 - 4,89%

Theo Lê Thành Ý (2000) những thành tựu mà ngô lai đem lại đã là cơ

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26

sở đánh giá tốc độ phát triển ngô lai Việt Nam so với thế giới Mười năm trở lại đây tăng trưởng ngô bình quân hàng năm đạt 3,7% diện tích, 5,5% năng suất, 9,2% sản lượng trong khi tỷ lệ tương ứng trên thế giới là 0,7% diện tích, 2,4% năng suất, 3,1% sản lượng

Theo Võ Thị Gương, Trịnh Thị Thu Trang, Karl H Diekmann cung cấp phân N, P, K giúp thời gian sinh trưởng của ngô ngắn hơn khoảng 10 ngày so với trồng ngô trong độ phì tự nhiên (96 ngày so với 106 ngày) Kết quả cho thấy N là yếu tố giúp tăng năng suất quan trọng nhất so vớ P và K, cũng là yếu tố giới hạn năng suất ngô về mặt dinh dưỡng Hiệu quả của phân P và K chỉ thể hiện khi cung cấp đầy đủ N Trong cùng lượng N, khi bón P và K tăng cao 120 kg P2O5 năng suất ngô thu được không khác biệt có ý nghĩa so với bón lượng thấp hơn là 90 kg P2O5 và 60 kg K2O Tổ hợp phân bón đạt năng suất cao trong vụ đông xuân là 250 - 90 - 60 và vụ xuân hè là 200 - 90 - 60 Sau mỗi vụ canh tác cây trồng đã lấy đi một lượng dưỡng chất từ phân bón và trong đất để sinh trưởng và phát triển Sự hấp thu dưỡng chất NPK trong hạt ngô biến thiên theo mức gia tăng lượng phân bón Dưỡng chất được tích lũy trong hạt với năng suất 5,9 tấn/ha là 82,3 kg N, 39,5 kg P2O5 và 36,1 kg K2O Trên tất cả các loại đất của các vùng trồng ngô phân đạm, lân và kali đều có tác động đến sinh trưởng phát triển và năng suất ngô Tuy nhiên hiệu quả bón phân cho ngô của ta còn thấp so với thế giới Ở Đồng bằng sông Hồng để được 01 tấn hạt ngô ta cần bón 33,9 kg N, 14.5kg P2O5 và 17,2kg

K2O Hiệu lực của các loại phân thay đổi theo từng vùng sinh thái

Tỷ lệ bón phân hiệu quả ở Đồng bằng sông Hồng 50N - 20P2O5 - 30K2O

và liều lượng cho năng suất cao là: 180N - 60P2O5 và 120K2O; ở Duyên hải miền Trung là: 120N - 90P2O5 - 60K2O; ở miền Đông Nam Bộ là: 90N - 90P2O5 - 30K2O và ở Đồng bằng sông Cửu Long mức bón phân có hiệu quả cao là: 150N - 50P2O5 - 0K2O (Ngô Hữu Tình, 1991 - 1995)

Thời gian sinh trưởng của cây ngô chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27

ngoại cảnh, trong đó nhiệt độ không khí giữ vai trò quan trọng trong việc rút ngắn hay kéo dài thời gian sinh trưởng của hầu hết các giai đoạn trong đời sống cây ngô Nhu cầu về nhiệt được thể hiện bằng nhiệt độ tối thấp sinh vật học và tổng nhiệt độ hữu hiệu Các yếu tố khí tượng: Nhiệt độ, độ ẩm, số giờ nắng gây ảnh hưởng thuận chiều với quá trình sinh trưởng chiều cao cây, diện tích lá, tích luỹ chất khô Nhiệt độ trung bình ngày và số giờ nắng có tương quan thuận và chặt chẽ với năng suất ngô (Văn Tất Tuyên 1991 - 1995)

Những nghiên cứu về bón phân viên nén ở Việt Nam

Phương pháp bón đạm sâu cho lúa được thực hiện ở Nhật từ những năm

1930 và ở Ấn Độ từ những năm 1950 Sau đó, phương pháp này đã được phát triển và áp dụng ở nhiều vùng trồng lúa khác nhau trên thế giới Trong những năm 70 của thế kỷ XX, Việt Nam cũng đã áp dụng phương pháp này bằng cách hòa phân đạm và nước tưới lên đất sét để vo viên bón cho lúa, nhưng phương pháp này không được nông dân chấp nhận vì tốn nhiều công, hiệu quả kinh tế không cao ( Nguyễn Tất Cảnh, 2003)

Từ năm 2000, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội phối hợp với tổ chức Phát triển quốc tế IDE và Tổ chức Phát triển phân bón quốc tế IFDC đã nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm và kỹ thuật phân viên nén dúi sâu ở các tỉnh miền Trung bao gồm Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và từ năm 2003 đã mở rộng ra các tỉnh Lào Cai, Hà Tây, Hà Giang Kỹ thuật bón phân viên nén cho lúa đã được nông dân chấp nhận và đánh giá cao Tháng 2 năm 2005, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã công nhận biện pháp bón phân viên nén là một tiến bộ kỹ thuật và 3 sản phẩm phân viên

là ure viên nén, phân NK viên nén và NPK viên nén được phép sản xuất và sử dụng trong sản xuất lúa Các loại phân viên nén (urê nén, NK và NPK viên nén) được ép lại từ các loại phân đạm, phân lân, phân kali có dạng hình quả bàng, trọng lượng viên phân biến động từ 1,8g đến 4,1g tuỳ loại phân và chất phụ gia trộn và viên phân Viên phân cứng, dễ dàng vận chuyển và bao gói

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28

(Nguyễn Tất Cảnh, 2005 ) Tác giả đã tiến hành thí nghiệm về phân viên nén tại một số địa phương ở phía Bắc đã thu được kết quả tốt Lúa là cây trồng được các nhà khoa học nghiên cứu ứng dụng phân viên nén đầu tiên và trên phạm vi rộng Các thí nghiệm được tiến hành ở 4 tỉnh Thanh Hoá, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, ngoài còn ở Sa Pa - Lào Cai cho thấy mức tăng năng suất ở Sa Pa do bón phân viên nén đã tăng từ 30 - 40% so với phương pháp bón truyền thống Ở các địa phương còn lại mức tăng trung bình 15 - 19% ( Nguyễn Tất Cảnh, 2005 ) Khi bón phân viên nén với lượng đạm từ 30

- 40% so với bón vãi trên mặt vẫn cho năng suất cao hơn Lượng đạm tiết kiệm trung bình trong các thí nghiệm đã tiến hành thử nghiệm là 34% Ở các ruộng bậc thang trồng lúa, lượng phân bón tiết kiệm được có thể lên đến 50% ( Nguyễn Tất Cảnh, 2005 )

Hiện nay, các cách bón cho ngô có nhược điểm rất lớn là dễ bị mất phân vì xảy ra hiện tượng bay hơi và rửa trôi do bón trên bề mặt, nhất là ở những vùng đất dốc dẫn đến chi phí đầu tư trên một đơn vị diện tích tăng, hiệu quả kinh tế đem lại thấp Đồng thời, bón nông, bón bề mặt thì quá trình hấp thu dinh dưỡng của rễ ngô

bị ảnh hưởng rất lớn trong các trường hợp thiếu nước khi lớp đất mặt không đủ độ

ẩm hoặc không được tưới đầy đủ Đặc biệt, trong điều kiện canh tác nhờ nước trời thì bón phân bề mặt, bón nông phân không phát huy được tác dụng do thường xuyên xảy ra hiện tượng khô hạn, trong khi đó việc cung cấp nước rất khó khăn Bên cạnh đó, việc sử dụng nhiều phân vô cơ tuy có làm tăng năng suất, sản lượng ngô nhưng lại gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ của cộng đồng Bón phân viên nén giúp cây ngô sinh trưởng tốt, dinh dưỡng được cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cho ngô cho đến khi hạt ngô vào chín, dẫn tới năng suất cao Việc sử dụng phân bón viên nén tăng cường phát triển cây trồng bởi vì

nó đặt một nguồn cung cấp sẵn các chất dinh dưỡng cho cây trồng (đặc biệt là dinh dưỡng phốt pho) ở một vị trí mà hệ thống rễ của cây trồng dễ dàng hút nhất Phân bón viên nén được bón ngay từ khi gieo trồng do đó giúp cây ngô sinh trưởng và phát triển nhanh chóng đặc biệt quan trọng khi sử dụng các giống ngô

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29

trung và ngắn ngày Các thí nghiệm được tiến hành ở nhiều địa phương ở khu vực Tây bắc của nước ta (Sơn La, Hoà Bình, Yên Bái, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang) Ở các địa phương này sản xuất ngô gặp rất nhiều khó khăn do việc canh tác trên đất dốc, đất nghèo dinh dưỡng, quá trình rửa trôi và xói mòn diễn ra mạnh Trong điều kiện như vậy với phương pháp bón phân hiện nay, bón nông trên mặt, hiệu quả phân bón thấp do phải chờ nước trời thì việc nghiên cứu và ứng dụng phân viên nén trong sản xuất ngô đã cho ưu điểm rất lớn của loại phân này Do phân viên nén có chứa các chất dinh dưỡng cân đối, cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng nhất là giai đoạn sinh trưởng sau nên những ruộng ngô được bón phân viên nén, cây sinh trưởng, phát triển khỏe hơn, thân cây dài, lá xanh đến tận khi thu hoạch, bắp ngô to, đều, hạt ngô mẩy và căng Do đó, ruộng ngô được bón phân viên nén cả hai vụ đều cho năng suất cao hơn so với đối chứng từ 20 - 25% (năng suất ruộng ngô đối chứng đạt 4,25 tấn/ha) ( Nguyễn Tất Cảnh, 2005 )

2.6 Tình hình cơ bản huyện Diễn Châu trong mối quan hệ với kỹ thuật bón phân cho ngô

Diễn Châu là huyện đồng bằng ven biển, nằm ở phía Đông bắc của tỉnh Nghệ An, có 39 xã và 1 thị trấn, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 30.504,67ha, trong đó đất sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp là 22.806,56 ha, chiếm 75,01 % tổng diện tích đất tự nhiên; dân số 266.686 người, trong đó số lao động làm nông nghiệp là 181.350 người, chiếm 68% dân số

2.6.1 Chế độ mưa, lượng bốc hơi, độ ẩm không khí:

+ Diễn Châu có lượng mưa bình quân 1.690mm/năm nhưng phân bố không đồng đều: Thời kỳ mưa ít nhất từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chiếm khoảng 11% lượng mưa cả năm Đây là thời kỳ gây khô hạn trên những chân đất cao Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 lượng mưa chiếm tới 89% cả năm, tập trung vào các tháng 8,9,10 để gây ngập úng ở những khu vực trũng thấp

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30

+ Lượng mưa bốc hơi bình quân của vùng 986mm/năm Các tháng 12,1,2 và lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa từ 1,9 - 2 lần gây khô hạn trong

vụ đông xuân Các tháng 4,5,6 lượng bốc hơi tuy không lớn nhưng là thời kỳ

có nhiệt độ cao và gió tây nam khô nóng, gây hạn trong vụ hè thu

+ Độ ẩm không khí bình quân cả năm 86%, thời kỳ độ ẩm không khí thấp tập trung vào mùa khô và những ngày có gió Tây Nam khô nóng (độ ẩm không khí có thể xuống tới 56%) hạn chế khả năng sinh trưởng của cây trồng

+ Chế độ gió, bão: Hứng chịu tác động của 02 hướng gió chủ đạo: Gió mùa đông bắc và gió tây nam Gió mùa đông bắc thịnh hành từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau kèm theo nền nhiệt độ thấp gây rét lạnh Gió Tây Nam xuất hiện từ trung tuần tháng 4 tới đầu tháng 9 với tần suất 85% số năm, kèm theo khô nóng, độ ẩm không khí thấp, mỗi đợt kéo dài 10 - 15 ngày

+ Diễn Châu là địa bàn thường chịu tác động đáng kể của bão (bình

quân mỗi năm có 1 - 8 cơn bão độ bộ vào đất liền ở Nghệ An)

2.6.2 Đặc điểm đất đai

- Tình hình sử dụng đất: tổng diện tích đất sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp năm 2013 của huyện là 22.806,56 ha Trong đó: đất sản xuất nông nghiệp là 18.130,2 ha, chiếm 79,5 % diện tích (đất trồng lúa 10.914,26 ha, chiếm 60,2% diện tích đất nông nghiệp, đất trồng ngô 3.045,84 ha, chiếm 16,8% diện tích đất nông nghiệp); đất lâm nghiệp: 1.450,3 ha, chiếm 8% diện tích; đất nuôi trồng thủy sản: 2.266,25 ha, chiếm 12,5% diện tích

- Về đặc điểm đất đai:

Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất huyện Diễn Châu tỷ lệ 1:25000, không tính diện tích đất chuyên dùng, đất ở, sông suối, mặt nước chuyên dùng và núi đá, toàn huyện có 9 nhóm đất chính, được chia ra 14 đơn

vị đất như sau:

+ Cồn cát trắng (Cc): Diện tích 1345 ha(chiếm 4,41% diện tích tự nhiên của huyện) Được phân bố tập trung ở các xã Diễn Hùng, Diễn Trung

Ngày đăng: 11/09/2015, 14:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mì, lúa nước của thế - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mì, lúa nước của thế (Trang 14)
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 (Trang 21)
SƠ ĐỒ THÍ NGHIỆM VỤ ĐÔNG 2013 - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
2013 (Trang 49)
Bảng 4.1. Tính chất nông hóa đất thí nghiệm  Thứ tự  Chỉ tiêu  Đơn vị tính  Giá trị - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 4.1. Tính chất nông hóa đất thí nghiệm Thứ tự Chỉ tiêu Đơn vị tính Giá trị (Trang 55)
Bảng 4.3.b : Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động  thái tăng trưởng chiều cao cây ngô C919 và NK6326 vụ Xuân 2014 - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 4.3.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động thái tăng trưởng chiều cao cây ngô C919 và NK6326 vụ Xuân 2014 (Trang 61)
Bảng 4.4.b.: Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 4.4.b. Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động (Trang 64)
Bảng 4.5.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC diện tích - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 4.5.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC diện tích (Trang 67)
Bảng 4.7.c : Ảnh hưởng của giống đến khả năng tích luỹ chất khô. - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 4.7.c Ảnh hưởng của giống đến khả năng tích luỹ chất khô (Trang 78)
Bảng 4.8.a : Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 4.8.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả (Trang 80)
Bảng 4.10.a : Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 4.10.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các (Trang 84)
Bảng 4.10.b : Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 4.10.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các (Trang 86)
Bảng 4.10.c : Ảnh hưởng của giống đến các yếu tố cấu thành năng suất. - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 4.10.c Ảnh hưởng của giống đến các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 88)
Bảng 4.11.a :  Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến  năng suất của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Đông 2013 - ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu   nghệ an
Bảng 4.11.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến năng suất của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Đông 2013 (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm