1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế THÀNH PHỐ bắc GIANG

115 441 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 4,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam – đóng vai tròng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa. Sự phát triển làng nghề đã góp phần, nâng cao chất lượng cuộc sống,….. Bên cạnh những lợi ích về mặt kinh tế đem lại thì hoạt động của các làng nghề cũng gây ra sức ép không nhỏ lên môi trường bởi lượng chất thải phát sinh hàng ngày gia tăng, đa dạng về chủng loại, số lượng trong khi việc đầu tư cho xử lý chất thải ở các cơ sở còn hạn chế, gây ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cả nước có 2.790 làng nghề, nhiều làng nghề có bề dày lịch sử khoảng 300 năm. Làng nghề phát triển chủ yếu ở hai bên sông Hồng và khu vực lân cận, thu hút khoảng 20 triệu lao động, trong đó 30% số lao động thường xuyên còn lại là lao động thời vụ. Làng nghề phát triển sẽ giải quyết việc làm cho nông thôn, gìn giữ và phát triển văn hoá truyền thống, đặc biệt tạo ra bộ mặt đô thị mới cho nông thôn. Thu nhập của người lao động hưởng lương ở các làng nghề cao hơn nhiều so với lợi nhuận từ làm nông nghiệp. Ngoài ra ở các làng nghề, đặc biệt là các nghề truyền thống, còn có một ý nghĩa khác là tận dụng được các nguồn lao động từ người già đến trẻ nhỏ, người khuyết tật mà các ngành kinh tế khác không nhận. Tuy nhiên, có rất nhiều làng nghề truyền thống đang hoạt động lay lắt, lụi tàn dần theo năm tháng do không tìm được phương thức sản xuất phù hợp với cơ chế thị trường, sản phẩm không cạnh tranh được với sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng loạt giá rẻ, không đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Đây là một trong nhiều nguyên nhân chủ yếu khiến cho không ít làng nghề đã từng nổi tiếng nhưng hiện nay lại kém

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

[ \

NGUYỄN THANH VÂN

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, do tôi tiến

hành thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng

được ai công bố trong bất ký công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận

văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Vân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc Học viện Nông

nghiệp Việt Nam, Khoa Môi trường – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban giám

hiệu trường Cao đẳng Kỹ thuật công nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong

quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sỹ này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Danh Thìn, Khoa

Môi trường – Học viện Nông nghiệp Việt Nam Người thầy đã tận tình định

hướng chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quả trình thực hiện luận văn Qua đây tôi

xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo đã giảng dạy cung cấp kiến

thức cơ bản trong quá trình học tập

Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới các hộ dân các tổ dân phố Phú

Mỹ, Phú Mỹ 2, Phú Mỹ 3, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc

Giang đã xắp xếp thời gian, cung cấp thông tin trong luận văn này

Với lòng biết ơn chân thành nhất, xin gửi đến gia đình, bạn bè đã luôn động viện giúp đỡ tôi để hoàn thành công trình nghiên cứu này./

Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Vân

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 3

3 YÊU CẦU: 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 KHÁI NIỆM VỀ LÀNG NGHỀ 4

1.1.1 Khái niệm chung về làng nghề 4

1.1.2 Đặc điểm chung của làng nghề 5

1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển của làng nghề Việt Nam 6

1.2 HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÀNG NGHỀ 11

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ 14

1.3.1 Các nhân tố tác động đến môi trường làng nghề 14

1.3.2 Hiện trạng phát thải ô nhiễm môi trường ở các làng nghề 17

1.3.3 Ảnh hưởng của sản xuất làng nghề tới sức khỏe cộng đồng 20

1.4 CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TẠI VIỆT NAM 22

1.4.1 Một số văn bản pháp lý trong lĩnh vực quản lý vệ sinh môi trường làng nghề 22

1.4.2 Một số biện pháp kỹ thuật để bảo vệ môi trường làng nghề 23

Trang 5

1.5 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ

VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA BẮC GIANG 25

1.5.1 Tình hình phát triển làng nghề truyển thống của Bắc Giang 25

1.5.2 Tình hình quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của tỉnh 26

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 29

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 29

2.3.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 29

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu, phân tích: 30

2.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 34

2.3.5 Phương pháp đánh giá 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI PHƯỜNG DĨNH KẾ 36

3.1.1 Vị trí địa lý 36

3.1.2 Địa hình 37

3.1.3 Khí hậu 37

3.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37

3.1.5 Đặc điểm văn hóa – xã hội 39

3.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ PHÁT SINH NGUỒN THẢI 40

3.2.1 Lịch sử làng nghề: 40

3.2.2 Tình hình sản xuất, kinh doanh mỳ Kế 43

3.2.3 Hoạt động đảm bảo chất lượng, phát triển sản xuất nghề mỳ Kế 46

3.2.4 Quy trình sản xuất: 48

3.2.5 Hoạt động tiêu thụ sản phẩm Mỳ Kế 50

3.2.6 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường tại làng nghề mỳ kế 51

3.3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ MỲ KẾ 56

Trang 6

3.3.1 Hiện trạng môi trường không khí 56

3.3.2 Hiện trạng môi trường nước 58

3.3.3 Thực trạng quản lý môi trường của làng nghề 65

3.4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ MỲ KẾ 69

3.4.1 Giải pháp quản lý 69

3.4.2 Giải pháp kỹ thuật 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

KẾT LUẬN 77

KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 81

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Xu thế phát triển làng nghề đến năm 2015 7

Bảng 1.2: Số lượng các ngành nghề phân theo ngành sản xuất chính 9

Bảng 1.3: Thực trạng làng nghề truyền thống tại một số tỉnh 10

Bảng 1.4: Làng nghề vùng nông thôn phân theo địa phương 11

Bảng 1.5: Thu hút lao động và thu nhập bình quân theo vùng và theo lĩnh vực hoạt động 13

Bảng 2.1 Vị trí lấy mẫu không khí 30

Bảng 2.2: Phương pháp phân tích mẫu khí 31

Bảng 2.3 Vị trí lấy mẫu nước 32

Bảng 2.4: Phương pháp phân tích mẫu nước mặt 33

Bảng 2.5: Phương pháp phân tích chất lượng nước ngầm 33

Bảng 2.6: Phương pháp phân tích nước thải 34

Bảng 3.1: Thực trạng sản xuất làng nghề Mỳ Kế 44

Bảng 3.2 : Kết quả phân tích chất lượng không khí xung quanh 56

Bảng 3.3: Kết quả phân tích chất lượng môi trường khu vực sản xuất 57

Bảng 3.4: Kết quả phân tích nước thải 59

Bảng 3.5: Thống kê so sánh các thông số với QCVN 40:2011 (B) 60

Bảng 3.6: Kết quả phân tích nước ngầm 61

Bảng 3.7: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt 64

Bảng 3.8: Tổng hợp kết quả điều tra thực trạng môi trường làng nghề Mỳ Kế 66

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Lao động bình quân trên làng nghề 13

Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về BVMT tỉnh Bắc Giang 26

Hình 3.1: Vị trí địa lý phường Dĩnh Kế 36

Hình 3.2: Quy trình làm mỳ 48

Hình 3.3: Sơ đồ xử lý nước thải làng nghề mỳ kế 74

Trang 9

TCCP : Tiêu chuẩn cho phép

KHCN&MT : Khoa học công nghệ và môi trương

UBND : Ủy ban nhân dân

CN - TTCN : Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp

QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

BVMT : Bảo vệ môi trường

QLTT-GTXD&MT : Quản lý trật tự - giao thông xây dựng và môi trường

VSMT : Vệ sinh môi trường

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Làng nghề - là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam – đóng

vai tròng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Sự phát triển làng

nghề đã góp phần, nâng cao chất lượng cuộc sống,… Bên cạnh những lợi

ích về mặt kinh tế đem lại thì hoạt động của các làng nghề cũng gây ra sức ép

không nhỏ lên môi trường bởi lượng chất thải phát sinh hàng ngày gia tăng,

đa dạng về chủng loại, số lượng trong khi việc đầu tư cho xử lý chất thải ở

các cơ sở còn hạn chế, gây ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi

Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cả nước có 2.790 làng

nghề, nhiều làng nghề có bề dày lịch sử khoảng 300 năm Làng nghề phát

triển chủ yếu ở hai bên sông Hồng và khu vực lân cận, thu hút khoảng 20

triệu lao động, trong đó 30% số lao động thường xuyên còn lại là lao động

thời vụ Làng nghề phát triển sẽ giải quyết việc làm cho nông thôn, gìn giữ và

phát triển văn hoá truyền thống, đặc biệt tạo ra bộ mặt đô thị mới cho nông

thôn Thu nhập của người lao động hưởng lương ở các làng nghề cao hơn

nhiều so với lợi nhuận từ làm nông nghiệp Ngoài ra ở các làng nghề, đặc biệt

là các nghề truyền thống, còn có một ý nghĩa khác là tận dụng được các

nguồn lao động từ người già đến trẻ nhỏ, người khuyết tật mà các ngành kinh

tế khác không nhận Tuy nhiên, có rất nhiều làng nghề truyền thống đang

hoạt động lay lắt, lụi tàn dần theo năm tháng do không tìm được phương thức

sản xuất phù hợp với cơ chế thị trường, sản phẩm không cạnh tranh được với

sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng loạt giá rẻ, không đáp ứng được nhu

cầu, thị hiếu của người tiêu dùng Đây là một trong nhiều nguyên nhân chủ

yếu khiến cho không ít làng nghề đã từng nổi tiếng nhưng hiện nay lại kém

Trang 11

phát triển Rất nhiều hội nghị, hội thảo về làng nghề và văn hóa làng nghề

được tổ chức ở các địa phương nhằm tìm lời giải cho bài toán khôi phục và

phát triển làng nghề truyền thống Làm sao để vừa gìn giữ được tài sản văn

hóa vô giá này, vừa phát huy được hiệu quả kinh tế của các làng nghề là vấn

đề được nhiều địa phương quan tâm

Hiện nay Bắc Giang có 33 làng nghề chủ yếu tập trung lĩnh vực chế

biến nông, lâm sản và sản xuất vật liệu xây dựng Thời gian gần đây, tỉnh đã

mở rộng một số nghề mới như nghề tre chắp sơn mài, thêu ren, sản xuất tăm

lụa, chạm khắc đá, gốm dân gian…Tuy nhiên, để làng nghề phát triển bền

vững, hài hoà giữa kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường còn một số vấn đề bất

cập cần phải quan tâm nhằm tìm ra giải pháp thiết thực, hiệu quả trong phát

triển làng nghề hiện nay

Nghề làm Mỳ gạo của Phường Dĩnh Kế - thành phố Bắc Giang là một

trong những làng nghề lâu năm Năm 2009, theo chủ trương của thành phố

Bắc Giang và hướng dẫn của các cấp, các ngành ở tỉnh giúp phường Dĩnh Kế

xây dựng nhãn hiệu tập thể “Mỳ Kế” đã nhận được Giấy chứng nhận bảo hộ

của Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho Hợp tác xã sản xuất kinh doanh Mỳ gạo Dĩnh

Kế Tuy nhiên, hiện tại việc sản xuất mỳ của người dân Dĩnh Kế vẫn chủ yếu

theo phương pháp thủ công, chưa theo một quy trình thống nhất Điều kiện

sản xuất của người dân cũng chưa được đầu tư cải thiện, không gian sản xuất

chật hẹp, vật dụng làm mỳ còn tạm thời, chưa mang tính chuyên nghiệp; hiện

tượng phơi mỳ cạnh cống rãnh ô nhiễm, đường giao thông, là phổ biến,

điều này sẽ ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm

cho sản phẩm mỳ Hơn nữa việc đầu tư cho xây dựng các hệ thống bảo vệ

môi trường rất ít được quan tâm, các chất thải của làng nghề được thải trực

tiếp ra môi trường không qua xử lý hoặc xử lý sơ bộ chưa đảm bảo quy định,

ý thức bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ sức khỏe cho chính gia đình của

Trang 12

người lao động còn rất hạn chế Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường tại làng

nghề Mỳ Kế đã và đang là vấn đề bức xúc cần được quan tâm và giải quyết

Từ những vấn đề trên, tôi đã lựa chọn đề tài "Đánh giá hiện trạng và đề

xuất các biện pháp bảo vệ môi trường làng nghề Mỳ Kế - phường Dĩnh Kế

- thành phố Bắc Giang”

2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề mỳ Kế phường

Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất một số biện

pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững làng nghề mỳ Kế

3 YÊU CẦU:

- Khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội phường Dĩnh Kế

- Tìm hiểu thực trạng sản xuất và phát sinh chất thải tại làng nghề mỳ Kế

- Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề mỳ Kế

- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

làng nghề

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 KHÁI NIỆM VỀ LÀNG NGHỀ

1.1.1 Khái niệm chung về làng nghề

Làng nghề là danh từ được nhắc tới thường xuyên trên các phương tiện

thông tin đại chúng Tuy nhiên hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về

làng nghề mà “chấp nhận” như một phạm trù trong văn hóa

“Làng” là một phạm trù lịch sử và văn hóa có sự thay đổi từ thời đại này

sang thời đại khác “Nghề” theo quan điểm chung là các hoạt động sản xuất

tiểu thủ công nghiệp ở địa phương tạo ra một khối lượng sản phẩm chiếm

lĩnh thị trường thường xuyên và liên tục, những người sản xuất hoặc hộ sản

xuất lấy nghề đó làm là nguồn chủ yếu

Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 3 điều kiện;

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động làng

nghề nông thôn;

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định:

- Chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước;

Như vậy, không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng

được gọi là làng nghề mà cần phải tuân theo qui định nhất định (Báo cáo môi

trường quốc gia, 2008)

- Nghề tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc;

- Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi

của làng nghề

Trang 14

Làng nghề được công nhận là làng nghề truyền thống khi có đủ điều

kiện là một làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo tiêu chí trên

Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn thứ nhất và thứ hai theo tiêu

chí công nhận làng nghề tại thời điểm 2 năm nhưng có ít nhất một nghề được

công nhận theo quy định của thông tư thì cũng được công nhận là làng nghề

truyền thống (Nghị định 66/NĐ- CP của chính phủ về việc phát triển ngành

nghề nông thôn, 2009)

1.1.1.2 Làng nghề mới

Làng nghề mới là làng nghề không phải là làng nghề truyền thống Các

làng nghề này được hình thành trong thời gian gần đây, chủ yếu xuất phát từ:

- Việc tổ chức gia công cho các xí nghiệp lớn, các tổ chức kinh doanh

xuất nhập khẩu;

- Việc học tập kinh nghiệm của các làng nghề lân cận, của vài hộ nhạy

bén đối với thị trường và có điều kiện đầu tư cho sản xuất;

- Tự hình thành do nhu cầu mới thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị

trường nguyên liệu sẵn có

1.1.2 Đặc điểm chung của làng nghề

Mỗi làng nghề tuy có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công

nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có những đặc điểm chung sau:

- Làng nghề tồn tại ở nông thôn, thường có liên quan hoặc gắn bó chặt

chẽ với nông nghiệp

- Sản phẩm của làng nghề, đặc biệt là làng nghề truyền thống có tính

mỹ thuật cao, mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc

- Phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào

kỹ thuật khéo léo đôi bàn tay tinh xảo, đầu óc thẩm mỹ sáng tạo của người

thợ và nghệ nhân

- Phương pháp truyền nghề theo kiểu “cha truyền con nối”, công nghệ

kỹ thuật sản xuất thô sơ thủ công

Trang 15

- Nguồn nguyên liệu của các làng nghề chủ yếu là khai thác tại chỗ

- Hình thức tổ chức sản xuất là hộ gia đình, một số làng nghề tổ chức

xây dựng các khu công nghiệp nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề chủ yếu mang tính địa

phương, tại chỗ hoặc tiêu thụ ở địa bàn giáp ranh (Báo cáo môi trường làng

nghề, 2008)

1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển của làng nghề Việt Nam

1.1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của làng nghề ở Việt Nam

Việt Nam được đánh giá là cái nôi của nền văn minh lúa nước Khi sản

xuất nông nghiệp phát triển, nhu cầu giao thương hàng hóa, mà trước tiên là

sản phẩm nông cụ, vật liệu sản xuất và trao đổi lương thực, thực phẩm đã hình

thành lên sự phát triển của hoạt động sản xuất làng nghề Đa số các làng nghề,

nhất là các làng nghề truyền thống đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm

năm, song song với quá trình phát triển kinh tế xã hội, văn hóa và nông

nghiệp của đất nước

Thông qua quá trình sinh hoạt và phát triển của xã hội mà yêu cầu cần

sản xuất ra các vật dụng thiết yếu, từ đó mà nghề được hình thành và dần dần

phát triển cho tới ngày nay Có thể nói làng nghề là một trong các đặc thù của

nông thôn Việt Nam

Nhiều sản phẩm sản xuất tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm

trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng lao động dư thừa

lúc nông nhàn

Đa số các làng nghề trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song

song với quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất

nước, ví dụ: Làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển,

làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) đã có gần 500 năm tồn tại, làng nghề trạm

bạc Đồng Xâm (Thái Bình) đã hình thành cách đây hơn 400 năm…

Trang 16

Trước đây, làng nghề sản xuất ra các vật dụng để phục vụ nhu cầu sản

xuất, sinh hoạt của con người trong vùng Những năm gần đây, trong cơ chế

thị trường làng nghề đang thay đổi nhanh chóng Hoạt động của làng nghề

hiện nay không chỉ phục vụ cho nhu cầu của con người trong và ngoài vùng

mà còn phục vụ cho hoạt động xuất khẩu và phát triển hoạt động du lịch

Hiện nay, quá trình phát triển kinh tế của đất nước, nhu cầu tiêu thụ sản

phẩm của thị trường trong và ngoài nước thay đổi do đó mà những làng nghề

phù hợp với thị trường có xu thế phát triển mạnh, còn những làng nghề không

thích ứng có khả năng bị suy thoái hoặc không phát triển được nữa

Bảng 1.1: Xu thế phát triển làng nghề đến năm 2015

Vùng kinh tế

Dệt nhuộm, ươm tơ thuộc da

Chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ

Tái chế phế liệu

Thủ công

mỹ nghệ

Sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá

Ghi chú: -1: suy thoái; 0: duy trì, không phát triển;

1: phát triển vừa; 2: phát triển mạnh

Quá trình phát triển làng nghề được phân làm 3 giai đoạn trong 50 năm

gần đây, gồm:

Giai đoạn 1954-1978:

Hàng hóa chủ chủ yếu là thủ công, mỹ nghệ …xuất khẩu đi các nước

trong khối xã hội chủ nghĩa Hàng hóa phụ thuộc vào chủng loại, số lượng và

Trang 17

giá trị hàng hóa được quyết định bởi đường lối chính sách của nhà nước theo

kế hoạch hóa tập trung

Giai đoạn 1978-1985:

Đây là giai đoạn khó khăn, các nước xã hội chủ nghĩa và Việt Nam rơi

vào thời kỳ khủng hoảng về chính trị và kinh tế Các hộ nông dân và tiểu thủ

công nghiệp gặp khó khăn làm cho các làng nghề phải thu hẹp sản xuất và

nhiều làng nghề đã bị mai một và suy thoái dần

Giai đoạn 1986-1992:

Giai đoạn này đánh dấu bước ngoặt chuyển đổi cơ chế bao cấp sang cơ

chế thị trường Giai đoạn này nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và

phát triển, trong mỗi làng nghề quy mô được mở rộng, đầu tư về vốn, kỹ thuật

được tăng cường Ở nhiều địa phương phát triển làng nghề đã thu hút và giải

quyết được việc làm cho nhiều lao động, đồng thời tăng nhanh sản phẩm phục

vụ tiêu dùng và xuất khẩu

Giai đoạn 1993 đến nay:

Nhiều nghành nghề và làng nghề truyền thống khôi phục và phát triển

Cũng trong giai đoạn này, trước nhu cầu của thị trường và giải quyết việc làm

trong nông thôn nhiều làng nghề mới xuất hiện Những làng nghề này nhanh

chóng trở thành tụ điểm kinh tế, nơi giao lưu hàng hóa giữa các vùng nông

thôn, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ phát triển Trong vài năm gần đây, làng

nghề thay đổi nhanh chóng trở thành tụ điểm kinh tế xã hội, nơi giao lưu hàng

hóa giữa các vùng nông thôn, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ phát triển

Trong vài năm gần đây, làng nghề thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị

trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục vụ tiêu dùng cả nước và

xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển

1.1.3.2 Sự phát triển của các loại hình làng nghề ở Việt Nam

Các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, dựa trên các tiêu trí khác

nhau, có thể phân loại thành 6 nhóm ngành sản xuất chính như sau:

Trang 18

• Nhóm 1: Ươm tơ, dệt vải và may đồ da;

• Nhóm 2: Chế biến lương thực, thực phẩm, dược liệu;

• Nhóm 3: Tái chế phế liệu (kim loại, giấy, nhựa…);

• Nhóm 4: Thủ công mỹ nghệ, thêu ren;

• Nhóm 5: Vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá;

(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005)

Làng nghề có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế,

xã hội Ở Việt Nam, nông nghiệp đang là nguồn sinh kế của hơn 60% dân số

cả nước, với 44% số hộ nông thôn thuộc diện khó khăn vì thu nhập thấp Làng

nghề tạo ra một số khối lượng công việc lớn thu hút người nông dân tham gia

để tăng thêm thu nhập cho gia đình, giúp cuộc sống ổn định hơn Bên cạnh

đó, làng nghề đã thu hút lao động thời kỳ nông nhàn, giảm áp lực cho các đô

thị về giao thông và tệ nạn xã hội

Làng nghề thu hút vốn khu vực nông thôn, tận dụng thời gian hoạt động

của vốn để sản xuất kinh doanh Các hộ gia đình trong làng nghề thường sử

dụng đất đai rộng rãi vốn có để sản xuất, giảm chi phí thuê đất trong kinh

Trang 19

doanh Vì nâng cao hiệu quả sử dụng đất nên đời sống vật chất và văn hóa ở

nông thôn ngày một tăng lên

Thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, làng nghề là một hình thức sản xuất sôi nổi, đắc lực trong việc

áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra hàng hóa cho vùng nông thôn, làm

tăng tỷ trọng GDP của khu vực nông nghiệp góp phần làm tăng tổng giá trị

thu nhập quốc dân

Đối với các làng nghề truyền thống thu nhập của người dân thường cao

hơn những nơi thuần nông, thị trường tấp nập, kinh tế phát triển hơn các địa

phương không có làng nghề

Theo thống kê của viên khoa học công nghệ và môi trường và trường

Đại học Bách khoa Hà Nội (2005), cả nước có 1450 làng nghề, trong đó có

trên 300 làng nghề truyền thống phân bố trên cả 3 miền đất nước, làng nghề

tại khu vực phía Bắc chiếm đến 70% Đa số các cơ sở sản xuất trong làng

nghề có quy mô hộ gia đình (chiếm 80,1%) Hàng hóa các làng nghề đóng

góp cho xuất khẩu trung bình mỗi năm đạt gần 600 triệu USD

Bảng 1.3: Thực trạng làng nghề truyền thống tại một số tỉnh

TT Tỉnh

Làng nghề Lao động

Nghề chủ yếu Tổng

số

Hoạt Động

Tổng Số (người)

Nữ (người)

1 Bắc Ninh 64 56

(87,5%) 42.758 6.524

Chạm khảm, mây tre đan, tái chế kim loại…

Trang 20

Làng nghề phát triển rất phong phú, đa dạng và tồn tại với quy mô gia

đình là chính, có tính chất liên kết các hộ Các làng nghề sản xuất phổ biến là

hàng mỹ nghệ, mây tre đan, dệt may, chế biến thực phẩm và vật liệu xây dựng

Làng nghề có số lao động vài nghìn người, phát triển sau thời kỳ đổi mới vì vậy

lao động chỉ có thâm niên dưới 10 năm, có 4% thâm niên trên 30 năm

Lịch sử phát triển nền văn hóa Việt Nam luôn gắn với sự phát triển của

các làng nghề Các hình vẽ trên sản phẩm thủ công mỹ nghệ diễn đạt phong

cảnh sinh hoạt của con người ,cảnh quan thiên nhiên, lễ hội truyền thống

1.2 HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÀNG NGHỀ

Theo kết quả tổng điều tra nông thôn năm 2010 nước ta có hơn 2000

làng nghề, trong đó làng nghề truyền thống chiếm 88,3% (915 làng nghề)

Trong đó vùng Đồng bằng Sông Hồng là vùng có số lượng làng nghề cao nhất

cả nước với 19,67% số xã có làng nghề với 629 làng nghề

Bảng 1.4: Làng nghề vùng nông thôn phân theo địa phương

Trang 21

- Kết quả phân loại hoạt động sản xuất của làng nghề cho thấy, làng

nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren chiếm 41,23 %, làng nghề chế biến lương

thực, thực phẩm chiếm 13,99%, ươm tơ dệt vải và đồ da chiếm 12,86%

Cơ cấu loại ngành làng nghề của cả nước

- Hoạt động làng nghề đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế,

xã hội nông thôn đặc biệt là trong việc tạo công ăn việc làm lúc nông nhàn

Diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp và phải cạnh tranh khốc liệt với

ngành công nghiệp, đô thị hoá, do vậy việc tạo công ăn việc làm cho nông

thôn được đánh giá rất quan trọng Vùng Đồng bằng sông Hồng vốn là vùng

có mật độ dân số đông, lao động thường xuyên của vùng chiếm tới 74,77%

của cả nước, tạo công ăn việc làm cho 647 ngàn người có việc làm ổn định,

kết quả này cho thấy hoạt động sản xuất làng nghề vùng Đồng bằng sông

Hồng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm

- Theo lĩnh vực hoạt động, hoạt động thủ công mỹ nghệ, thêu ren là loại

hoạt động làng nghề thu hút nhiều hộ vào lao động tham gia nhất trên 104

ngàn hộ (chiếm 42% tổng số hộ) và 331,9 ngàn lao động chiếm 48,8% tổng số

lao động Kết quả này cho hoạt động thủ công, mỹ nghệ và thêu ren có vai trò

quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn Qua

khảo sát thực tế tại Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội cho

thấy nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren hoạt động theo hình thức tận dụng thời

gian nông nhàn nên thu hút được nhiều đối tượng tham gia

- Về thu nhập, thu nhập bình quân khoảng 33,4 nghìn đồng/tháng/lao

động Vùng Đông Nam Bộ mặc dù có ít hộ và lao động tham gia nhưng thu

nhập bình quân lao động từ hoạt động sản xuất làng nghề cao nhất với 743

nghìn/tháng/lao động Thu nhập theo các lĩnh vực, mặc dù hoạt động thủ công

mỹ nghệ, thêu ren thu hút nhiều lao động nhưng lại không phải nghề có thu

nhập cao nhất

Trang 22

Bảng 1.5: Thu hút lao động và thu nhập bình quân theo vùng và theo lĩnh

tháng)

Số lượng (hộ)

Tỷ lệ

%

Lao động (người)

8 ĐBSông Cửu Long 4,530 2.02 11,092.0 1.71 106.0

II Phân theo linh vực 224,499.0 100.0 647,132.0 100.0 354.7

1 Ươm tơ, dệt vải 4,530.0 2.0 11,092.0 1.7 152.0

(Nguồn: Tổng điều tra nông thôn,2011)

Hình 1.1: Lao động bình quân trên làng nghề

(Nguồn: Đề tài KC 08-09,2008)

Trang 23

- Kết quả trên biểu đồ cho thấy mặc dù có số lượng làng nghề lớn

nhưng Thái Bình và Hà Nội không phải là vùng có số lao động bình quân làng

nghề cao Cụ thể, trung bình làng nghề tại Hà Nội có dưới 650 lao động Thái

Bình có dưới 600 lao động trong khi tại Bắc Ninh có gần 1200 lao động, Ninh

Bình có gần 1000 lao động, Nam Định có trên 800 lao động/làng

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

1.3.1 Các nhân tố tác động đến môi trường làng nghề

a Quy mô sản xuất

Phần lớn các làng nghề ở nước ta ở quy mô hộ gia đình, sản xuất tự phát,

không theo một quy hoạch nhất định Số liệu điều tra ngành nghề của Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làng nghề nông thôn đồng bằng sông

Hồng năm 2004 cho thấy, đa số các hộ sản xuất kinh doanh ngay trên diện

tích đất ở, nhà ở; mặt bằng sản xuất chật hẹp Diện tích ở bình quân mỗi hộ

chỉ khoảng 150 - 200 m2.Gần 80% số hộ có nhà xưởng sản xuất thô sơ, nhà

tạm và bán kiên cố Ở những làng nghề phát triển như Mẫn Xá, Đa Hội (Bắc

Ninh), Vân Chàng (Nam Định), Vũ Hội, Nguyên Xá (Thái Bình) gần như

100% số hộ ngành nghề sử dụng nhà ở, sân, vườn làm nơi sản xuất hoặc chứa

vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu, sản phẩm, thậm chí cả chất thải (Lê Huy Bá,

2005)

Việc tận dụng triệt để đất ở của các hộ và đất đai trong khu dân cư để

làm nhà xưởng sản xuất, bãi chứa vật tư nguyên liệu…cũng làm suy thoái môi

trường đất, môi trường cảnh quan và điều kiện vệ sinh của các hộ cũng như

của các khu dân cư nói chung trong làng Sự thiếu hụt, yếu kém của hệ thống

thoát nước thải của các hộ và khu dân cư làm cho tình trạng ô nhiễm, suy

thoái này trở nên trầm trọng hơn

b Công nghệ sản xuất và thiết bị

Các loại công nghệ và các thiết bị được sử dụng tại các làng nghề hiện

nay phần lớn ở trình độ thủ công, lạc hậu, chắp vá, tay nghề thấp Theo điều

Trang 24

tra của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường thì hiện nay hầu hết các thiết

bị để sản xuất của các làng nghề đều được chế tạo từ những năm 1950-1960

và chủ yếu đều được mua lại từ các doanh nghiệp đã thanh lý Ví dụ, tại làng

nghề Vạn Phúc, gần 100% là máy sản xuất và chế tạo tại Việt Nam từ những

năm 1950 vẫn còn tồn tại đến ngày nay (Lê Huy Bá, 2005)

Công nghệ sản xuất nêu trên không chỉ làm hạn chế năng suất chất lượng

sản phẩm của các cơ sở ngành nghề mà còn trực tiếp gây ra các hệ quả xấu về

môi trường Hiệu suất sử dụng nhiên liệu không cao, trung bình khoảng 60%

(50% đối với ngành nghề chế biến NSTP, 60% đối với ngành tái chế chất thải,

80% đối với ngành dệt nhuộm và may mặc, 90% đối với ngành thủ công mỹ

nghệ xuất khẩu) Các loại vật liệu không được tận dụng, điển hình là ở các

làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, bã thải rắn sau sản xuất vẫn chứa

một lượng lớn tinh bột, vừa gây lãng phí vật liệu, vừa gây ô nhiễm môi trường

nghiêm trọng do thải ra một lượng lớn các chất hữu cơ (Cục kiểm soát ô

nhiễm, 12/2010)

c Vốn đầu tư

Một mặt, do sản xuất tự phát nên không có kế hoạch lâu dài khó khăn

trong việc huy động tài chính và vốn đầu tư từ các nguồn lớn (Quỹ tín dụng,

Ngân hàng.Mặt khác, tình trạng thiếu vốn đầu tư vẫn còn tồn tại khá phổ

biến.Số hộ thiếu vốn hoặc có nhu cầu vay vốn ở nhiều xã nghề, làng nghề

chiếm tới 60-70%.Tuy nhiên, khả năng, nhu cầu và điều kiện về tài chính, vốn

đầu tư của các hộ là rất khác nhau giữa các loại hình ngành nghề giữa các xã

nghề, làng nghề.Ở các làng nghề phát triển nhu cầu vốn đầu tư cho sản xuất

kinh doanh của các hộ ngành nghề kiêm nông nghiệp thường khoảng 25-30

triệu đồng.Còn ở các làng nghề làm đồ mây tre, đan lát, chế biến nhỏ thực

phẩm, thêu ren, dệt chiếu cói…nhu cầu về vốn đầu tư là 5 triệu đồng/hộ Do

vậy, không chủ động sản xuất và đầu ra sản phẩm nên khó thay đổi công nghệ

mới và đặc biệt là không muốn và không thể đầu tư cho bảo vệ môi trường

(Lê Huy Bá, 2005)

Trang 25

d Trình độ người lao dộng

Đa số lao động trong các hộ gia đình, hộ ngành nghề ở nông thôn nói

chung cũng như ở các làng nghề, trình độ hợc vấn và chuyên môn, kỹ thuật

thấp, học nghề theo kinh nghiệm, kiến thức nghề nghiệp không toàn diện, lao

động ở nông thôn khoảng 83,3% không qua đào tạo các lớp chuyên môn, trình

độ văn hoá hết cấp 2 khoảng 85% Các số liệu thống kê cho thấy 6,75% thợ

giỏi và 54,81% lao động không có chuyên môn kỹ thuật ở những hộ chuyên

sản xuất và 78,76% ở lao động không chuyên ở các hộ kiêm ngành nghề (sản

xuất theo thời vụ) (Cục kiểm soát ô nhiễm, 12/2010)

e Trình độ của chủ hộ

Các chủ hộ sản xuất lựa chọn quy trình sản xuất đơn giản, thủ công để có

điều kiện thuê lao động có trình độ thấp, để trả công lao động nên dẫn tới tốn

nguyên vật liệu trong sản xuất và phát sinh nhiều chất thải Trình độ quản lý của

chủ hộ ảnh hưởng tới việc sắp xếp, bố trí mặt bằng sản xuất, sao cho phù hợp và

đảm bảo vệ sinh môi trường.Thông thường các hộ gia đình thường không quan

tâm tới vấn đề này, họ chú trọng nhiều hơn đến việc làm sao để thuận lợi cho sản

xuất, mà ít quan tâm đến vấn đề môi trường (Lê Huy Bá, 2005)

f Tồn tại về cơ chế, chính sách trong quản lý môi trường làng nghề

Các chính sách, quy định vĩ mô hiện hành của Nhà nước không hoặc chỉ

gián tiếp liên quan tới môi trường làng nghề Bên cạnh sự thiếu hụt về chính

sách quản lý vĩ mô chuyên biệt về bảo vệ môi trường đối với làng nghề là sự

thiếu hụt các quy định cụ thể về bảo vệ môi trường làng nghề trong các chính

sách quản lý hiện hành đối với nghề phi nông nghiệp ở nông thôn

Bộ máy quản lý môi trường làng nghề với nhân lực còn mỏng, trình độ

quản lý chuyên môn của cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất,

trang thiết bị còn thiếu, sự phối hợp và trao đổi thông tin không kịp thời, công

tác thanh tra kiểm tra chưa triệt để, do vậy hiệu quả thực thi công tác quản lý

chưa cao (Lê Huy Bá, 2005)

Trang 26

g Cộng đồng dân cư tại các làng nghề

Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề đang diễn ra ngày một gia tăng đã

ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt hàng ngày và sức khoẻ của cộng đồng dân

cư tại các làng nghề Nhiều người đã nhận thức rõ điều này và đã có những

hoạt động cụ thể nhằm ngăn ngừa ô nhiễm môi trường làng nghề nhưng còn

gặp nhiều khó khăn cụ thể là:

+ Thiếu những bằng chứng để chứng minh sự ô nhiễm môi trường làng

nghề, do họ không có phương tiện, kinh phí để thu thập các tài liệu minh chứng

cho sự phát thải không đảm bảo tiêu chuẩn cho phép của các cơ sở sản xuất;

+ Có sự nể nang về các mối quan hệ họ hàng, làng xã…;

+ Một số người có trình độ thấp chưa cảm nhận được sự nguy hại của ô

nhiễm môi trường, nên họ xem việc ô nhiễm môi trường là chuyện bình

thường và không có phản ứng gì;

+ Mức thu nhập thấp của các hộ gia đình tại các làng nghề, nên hàng

ngày họ phải lo làm ăn kiếm sống, không có thời gian đêt tố cáo các hành vi

vi phạm về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất;

1.3.2 Hiện trạng phát thải ô nhiễm môi trường ở các làng nghề

Trong những năm qua, nhờ có chính sách mở cửa của Đảng và Nhà

nước, các làng nghề Việt Nam từng bước khôi phục và phát triển mạnh, góp

phần thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn Việt Nam Tuy nhiên môi trường làng

nghề cũng đã trở thành vấn đề bức xúc và tập trung sự chú ý nghiên cứu của

nhiều nhà khoa học và quản lý môi trường Theo kết quả nghiên cứu cho thấy

tình hình ô nhiễm tại các làng nghề diễn ra khá nghiêm trọng, các chỉ tiêu

phân tích nước thải như COD, BOD, SS , hàm lượng các chất khí thải CO2,

SO2, bụi, tiếng ồn đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép Tuy nhiên mức độ ô

nhiễm các môi trường nước, không khí, đất do sản xuất ngành nghề gây ra là

không giống nhau giữa các phân ngành Mức độ ô nhiễm diễn ra phụ thuộc

Trang 27

vào đặc điểm sản xuất, tính chất sản phẩm và thành phần chất thải, thải ra

môi trường (Đặng Kim Chi, 2005)

Do đó, để tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, trước

tiên ta phải biết về tải lượng và thành phần chất thải của mỗi ngành sản xuất Kết

quả tính toán tải lượng các chất ô nhiễm do hoạt động sản xuất làng nghề

Ô nhiễm môi trường có những ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống con

người và thực tế ô nhiễm môi trường luôn phát triển cùng chiều với các hoạt

động sản xuất

Ở các làng nghề do quá trình hình thành và phát triển mang tính tự phát,

thiết bị đơn giản thủ công, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên nhiên

liệu thấp, mặt bằng sản xuất hạn chế, việc đầu tư cho xây dựng các hệ thống

sử lý nước, khí thải hầu như không được quan tâm ý thức bảo vệ môi trường

sinh thái và bảo vệ sức khỏe cho chính gia đình của người lao động còn rất

hạn chế Do đó vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề nước ta trở nên bức xúc

nhất hiện nay

Tìm hiểu vấn đề ô nhiễm môi trường do sản xuất làng nghề một cách

đầy đủ hơn cả là tìm hiểu theo các nhóm nghề Theo cách này hiện trạng ô

nhiễm ở các làng nghề được xét theo các nhóm sau:

Ngành chế biến nông sản là ngành có nhu cầu nước rất lớn và thải ra

một lượng nước không nhỏ giàu chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường Tùy

theo quy trình chế biến, nước thải chế biến nông sản thực phẩm có BOD5 lên

Trang 28

tới 5000 - 125000mg/l, COD 13300 - 20000mg/l (nước tách bột đen trong sản

xuất tinh bột sắn) Nước thải cống chung của các làng nghề này đều vượt quy

chuẩn cho phép từ 5 - 32 lần

Chất thải trong nghề chế biến lương thực thực phẩm rất đa dạng Nhìn

chung chất thải trong nghề chế biến lương thực thực phẩm là những chất hữu

cơ dễ bị phân hủy Trong khu vực các làng nghề này thường có thêm ngành

nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi thuỷ sản để tận thu các nguồn nguyên

liệu còn thừa ra Chất thải của ngành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm chất thải

chủ yếu là chất hữu cơ, định mức chất thải rắn đối với gia súc, gia cầm (lợn

thải ra 1,5 kg/con/ngày, gà, vịt, ngan thải ra 0,1 kg/con/ngày, trâu, bò thải ra 3

kg /con/ngày) Chất thải ngành chăn nuôi là những chất hữu cơ dễ bị phân hủy,

gây ô nhiễm môi trường, tạo mùi khó chịu, nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô

nhiễm cả 3 môi trường: đất, nước và không khí (Đặng Kim Chi, 2005)

Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí đặc trưng nhất của các làng

nghề chế biến NSTP là mùi hôi do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ dạng

rắn và chất hữu cơ tồn đọng trong nước thải sinh ra Các khí ô nhiễm gồm

H2S, CH4, NH3 đặc biệt là làng nghề sản xuất nước mắm do phơi cá ngoài

trời nên mùi hôi tanh bốc lên rất khó chịu làm giảm chất lượng môi trường

không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân làng nghề, giảm hiệu suất

lao động Mặt khác tại các làng nghề chế biến NSTP sử dụng than và củi làm

chất đốt đã thải vào không khí bụi và các chất khí CO2, SO2, NO, NO2 tuy

nhiên do được phát tán nên các chỉ tiêu về bụi và các chất khí này trong khu

vực sản xuất đều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép Tại 16 làng nghề chế biến

NSTP được khảo sát thuộc đề tài KC 08-09 đều có hàm lượng H2S vượt

TCCP, trong đó, tại làng nghề tinh bột, rượu sắn Tân Độ, miến Yên Ninh

nồng độ H2S trong không khí gấp từ 25 - 33 lần TCCP (Cục kiểm soát ô

nhiễm, 12/2010)

Cho đến nay, phần lớn nước thải tại các làng nghề đều thải thẳng ta

Trang 29

ngoài không qua bất kỳ khâu xử lý nào gây ô nhiễm không khí, suy giảm chất

lượng nước mặt và nước ngầm Chất lượng nước ngầm tại các làng nghề chế

biến NSTP phần lớn đều có dấu hiệu ô nhiễm với hàm lượng COD, TS, NH4+

trong nước giếng cao Nước giếng của làng Tân Độ và Ninh Vân còn nhiễm

vi khuẩn coliform, đặc biệt nước giếng của làng nghề sản xuất nước mắm Hải

Thanh (Thanh Hoá) đã bị ô nhiễm nghiêm trọng (COD = 186mg/l); người dân

trong làng phải mua nước ngọt ở nơi khác để sử dụng (Đặng Kim Chi, 2005)

Hiện trạng môi trường đất và chất thải rắn tại các làng nghề chế biến

nông sản có sự khác nhau giữa các làng nghề Làng nghề chế biến tinh bột

sắn, dong thải ra lượng chất thải rắn như vỏ, sơ Hiện nay bã thải sắn được

tận dụng làm thức ăn cho cá và chăn nuôi Bã dong chứa hàm lượng sơ cao,

một phần được đem phơi khô làm nhiên liệu, phần lớn được đổ xuống cống

rãnh gây tắc nghẽn, khi bị phân hủy gây mùi xú uế Nguồn thải này góp phần

chính làm ô nhiễm môi trường đất và trực tiếp gây ô nhiễm môi trường không

khí cũng như ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt, nước ngầm ở làng nghề

Các làng nghề nấu rượu, làm tương, đậu phụ và nước mắm có nguồn

chất thải rắn chủ yếu là bỗng rượu, bã đậu, bã cá là những thức ăn giàu dinh

dưỡng cho gia súc, gia cầm Vì vậy, tại các làng này thường phát triển chăn

nuôi để tận dụng nguồn bã thải đó và chất thải chăn nuôi cũng góp phần làm

tăng mức độ ô nhiễm làng nghề Còn tại các làng nghề sản xuất bún, bánh

lượng chất thải rắn không đáng kể, chủ yếu chỉ có xỉ than

1.3.3 Ảnh hưởng của sản xuất làng nghề tới sức khỏe cộng đồng

Các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất ở các làng nghề đã và đang

gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, làm suy thoái môi trường và tác

động trực tiếp đến sức khoẻ của người nhân dân

Có thể tóm tắt một số bệnh tật điển hình đối với dân cư làng nghề như sau :

+ Bệnh điếc nghề nghiệp;

+ Bệnh tai, mũi, họng nghề nghiệp;

Trang 30

+ Bệnh hô hấp nghề nghiệp;

+ Bệnh ngoài da nghề nghiệp;

+ Bệnh mắt nghề nghiệp;

+ Bệnh thần kinh nghề nghiệp

Các làng nghề khác nhau, các triệu chứng bệnh và tỷ lệ số người mắc

bệnh nghề nghiệp rất khác nhau Ở các làng nghề cơ khí, đúc, sản xuất

nguyên, vật liệu… do sử dụng lượng than lớn nên tỷ lệ người mắc các bệnh

phổi, phế quản cao; làng nghề tẩy nhuộm vải sợi, mạ kim loại sử dụng nhiều

hoá chất độc hại, kim loại nặng thì tỷ lệ người bị bệnh ung thư cao, tuổi thọ

giảm; làng nghề gây ô nhiễm nguồn nước như chế biến lương thực, mây tre

đan, chế biến gỗ thì tỷ lệ người mắc các bệnh ngoài da, bệnh mắt hột, bệnh

phụ khoa tăng; làng nghề gây tiếng ồn lớn thì tỷ lệ người mắc bệnh thần kinh,

bệnh não cao, tuổi thọ giảm (Nguyễn Quang Trung, Hoàng Thu Thuỷ,

11/2004)

Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế năm 2003, tại 30 cơ sở làng nghề

thuộc 3 tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định phổ biến là mỹ nghệ, mây tre

đan, dệt may, chế biến LTTP và VLXD, bệnh tật trong các hộ gia đình làng

nghề là đau lưng, đau cột sống, đau bụng, hội chứng dạ dày, viêm phế quản,

viêm phổi, viêm da, dị ứng, đau mắt… Các nguy cơ mà người lao động tiếp

xúc tại làng nghề ở Bắc Ninh: 95% tíêp xúc với bụi, 85,9% với nóng, 59,65%

với hoá chất, 58,9% tai nạn Tại làng nghề đúc nhôm, chì, kẽm Văn Môn,

bệnh hô hấp (44,4%), bệnh da liễu (13,45%) trong tổng số người điều tra

(Thái Hà, Báo đầu tư, thứ 2, ngày 17/02/2003)

Theo số liệu của Trạm Y tế xã Chỉ Đạo (Văn Lâm – Hưng Yên), nơi có

làng nghề tái chế chì Đông Mai, thỉ tỷ lệ người dân mắc bệnh về thần kinh

chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và chứng

hồng cầu giảm chiếm 19,4% Trong số 7.523 nhân khẩu toàn xã có 537 ca

Trang 31

bệnh, hầu hết ở độ tuổi 15-49, trong đó có 249 ca bệnh phải gửi lên tuyên

trên, tử vong 3 người (Lê Hồng Anh, Nguyễn Hồng Hạnh, 2009)

Qua số liệu khảo sát sức khoẻ người dân Bát Tràng, trong 223 người dân

Bát Tràng thì có tới 76 người mắc bệnh về đường hô hấp, 23 người bị bệnh lao

Năm 1995, có 23 người làng này chết vì bệnh ung thư Cư dân làng gốm này

chiếm 70% số bệnh nhân bị bênh ung thư của các viện ở Hà Nội năm 1996

1.4 CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TẠI

VIỆT NAM

1.4.1 Một số văn bản pháp lý trong lĩnh vực quản lý vệ sinh môi trường

làng nghề

Để làng nghề phát triển đồng thời đảm bảo các vấn đề xã hội chính phủ

ta đã ban hành một số chính sách về môi trường, nhằm tạo khuôn khổ pháp lý

bình đẳng cho các thành viên hoạt động Cụ thể:

Luật bảo vệ môi trường 52/2005/QH11 văn bản có hiệu lực thi hành kể

từ ngày 1/07/2006 Luật bảo vệ môi trường ra đời đáp ứng yêu cầu thực tế,

góp phần đáng kể vào việc bảo vệ môi trường của đất nước Các hoạt động

bảo vệ môi trường được xúc tiến nhanh, các cơ sở sản xuất kinh doanh và

cộng đồng nhận thức cao hơn, có trách nhiệm hơn đối với công tác bảo vệ

môi trường chung;

- Điều 24 Luật BVMT 2005 quy định: đối với những cơ sở sản xuất kinh

doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình và những đối tượng không phải lập báo

cáo đánh giá môi trường chiến lược và báo cáo đánh giá tác động môi trường

thì phải có bản cam kết bảo vệ môi trường Những đối tượng này chỉ được

triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sau khi đã đăng ký bản cam

kết bảo vệ môi trường

- Điều 37 Bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

- Điều 38 Bảo vệ môi trường đối với làng nghề: Việc quy hoạch, xây

dựng, cải tạo và phát triển làng nghề phải gắn với bảo vệ môi trường Nhà

Trang 32

nước khuyến khích phát triển khu, cụm công nghiệp làng nghề có chung hệ

thống kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường

- Điều 46 Bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp

- Điều 53 Yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình

- Điều 63 Bảo vệ môi trường nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch

- Điều 80 Quy hoạch về thu gom, tái chế, tiêu huỷ, chôn lấp chất thải

rắn thông thường

- Điều 81 Thu gom, xử lý nước thải

Ngoài ra còn một số văn bản là khác liên quan đến việc cải thiện môi

trường ở các làng nghề như:

-Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về việc

bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn

- Nghị định số 04/1999/NĐ-CP ngày 30/01/1999 của chính phủ về quy

định chi tiết thi hành luật Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số

03/1998/QH10 ngày 20/05/1998 về thuế tài nguyên theo quy định của pháp

luật thuế tài nguyên;

- Quyết định số 132/2001/QĐ-TTg ngày 07/09/2001 của thủ tướng chính

phủ về cơ chế tài chính thực hiện chương trình phát triển đường giao thông cơ

sở hạ tầng thuỷ sản, cơ sở hạ tầng làng nghề nông thôn

1.4.2 Một số biện pháp kỹ thuật để bảo vệ môi trường làng nghề

Trong những năm vừa qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề ra

biện pháp xử lý ô nhiễm Hiện nay, các nhà khoa học đã tìm ra một số giải

pháp công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường các làng nghề để đưa vào ứng dụng

trong thực tế như xử lý nước thải các làng nghề (làng nghề chế biến NSTP,

làng nghề dệt nhuộm, làng nghề thủ công mỹ nghệ, làng nghề tái chế giấy,

làng nghề tái chế kim loại) (Đặng Kim Chi, 2005)

+ Xử lý nước thải làng nghề chế biến NSTP: Trước tiên là xử lý nước

thải chế biến NSTP kết hợp với nước thải chăn nuôi bằng hầm Biogas tại các

Trang 33

hộ gia đình Nước thải từ các hộ sản xuất sau khi xử lý sơ bộ tách các tạp chất

thô và nước thải sau xử lý sẽ đi ra cống thải chung Trên hệ thống cống chung

có bố trí các hố gas để tiếp tục lắng, tách tạp chất sau đó nước thải được đưa

vào hệ thống xử lý nước thải chung cho cả làng;

+ Xử lý nước thải làng nghề thủ công mỹ nghệ: Với những làng nghề

chế biến gỗ, hệ thống tách bụi bằng xycol (ở máy cưa) và lọc kết hợp bụi túi

vải (ở máy chà gỗ), đối với mặt hàng sơn mài, chọn hệ thống xử lý hơi dung

môi hữu cơ bằng hấp phụ than hoạt tính;

+ Xử lý nước thải làng nghề tái chế giấy: Thu hồi xơ sợi bằng bể lắng kết

hợp lọc túi hoặc kết hợp tuyển nổi và lắng, nước thải làng nghề tái chế giấy

còn có thể xử lý bằng hồ sinh học hiếu khí kết hợp làm thoáng khí nhân tạo,

phương pháp hấp thụ bằng bentonite, phương pháp xử lý hiếu khí bằng bể

Aeroten

+ Xử lý ô nhiễm làng nghề tái chế kim loại: Dùng xyclo khử mùi áp

dụng ở làng nghề tái chế sắt thép, đối với làng nghề tái chế nhôm kết hợp

thêm tháp hấp phụ bằng nước vôi xử lý khí thải…

Hiện nay trên cả nước đã áp dụng thí điểm một số loại công nghệ thí

điểm: Hệ thống kênh oxy hoá hồi lưu áp dụng ở Minh Khai – Hà Tây, hệ

thống cống rãnh thu gom nước thải tập trung xử lý trong các hố phân huỷ lớn

ở Cát Quế - Hà Tây…Nhìn chung, các công nghệ xử lý này khá đắt tiền, quy

trình vận hành phức tạp, trong thời gian tới cần đánh giá lại tính hiệu quả và

khả năng giảm giá thành, đồng thời nghiên cứu các biện pháp mới hữu hiệu,

tích cực áp dụng các biện pháp để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường ở

các làng nghề

Trang 34

1.5 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ VẤN

ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA BẮC GIANG

1.5.1.Tình hình phát triển làng nghề truyển thống của Bắc Giang

Với lịch sử hình thành lâu đời, là nơi quần cư của nhiều dân tộc anh em,

Bắc Giang đã hình thành nên những làng nghề cổ truyền vừa mang nét tiêu

biểu của văn hóa Kinh Bắc, văn hóa vùng đồng bằng Sông Hồng vừa mang

nét văn hóa của các dân tộc vùng trung du, miền núi Bắc Bộ Thời gian qua,

nhằm đa dạng hóa ngành nghề, chính quyền các cấp tỉnh Bắc Giang đã chú

trọng đầu tư phát triển Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn, thu

được kết quả tích cực Tính đến hết năm 2010, toàn tỉnh có gần 15 ngàn hộ

sản xuất tiểu thủ công nghiệp, khôi phục và phát triển gần 500 làng nghề,

trong đó có 33 làng nghề đạt tiêu chí làng nghề theo quy định; hỗ trợ xây

dựng hạ tầng làng nghề Vân Hà, Tăng Tiến, Đông Thượng, Nam Dương…

(Hoàng Trọng Đông, 2010)

Hàng năm, các làng nghề đã tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn lao

động tại chỗ và nộp ngân sách hàng trăm tỷ đồng Nhiều mặt hàng thủ công,

mỹ nghệ của địa phương được thị trường Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc và

EU ưa chuộng…

Trên cơ sở đánh giá cao vai trò, vị trí, tầm quan trọng của làng nghề,

những năm qua, tỉnh Bắc Giang đã xây dựng nhiều chương trình, kế hoạch

nhằm tạo mọi điều kiện để làng nghề phát triển, đồng thời chú trọng đẩy

mạnh cải cách thủ tục hành chính tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp

dẫn; hỗ trợ công tác đào tạo nghề, thực hiện chương trình khuyến công, đào

tạo nâng cao trình độ quản trị hợp tác xã; hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho

các sản phẩm làng nghề truyền thống Hàng năm, tổ chức bình xét, công

nhận và vinh danh những làng nghề tiêu biểu, những thợ giỏi, người có công

đưa nghề vào phát triển nông thôn và đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ

cộng đồng (Hoàng Trọng Đông, 2010)

Trang 35

1.5.2 Tình hình quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của tỉnh

1.5.2.1 Khái quát sơ bộ về bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về BVMT tỉnh

Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về BVMT tỉnh Bắc Giang

(nguồn: bacgiang.gov.vn)

1.5.2.2 Sự phân công nhiệm vụ

- Sở Tài nguyên và Môi trường: Là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban

nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các lĩnh vực môi

trường, đất đai, tài nguyên khoáng sản trên địa bàn toàn tỉnh

- Ban Quản lý các khu công nghiệp: Là cơ quan quản lý Nhà nước, có

chức năng tham mưu, giúp cơ quan quản lý môi trường cấp trên thực hiện

nhiệm vụ quản lý môi trường tại các khu công nghiệp tập trung

- Chi cục Bảo vệ môi trường: Là cơ quan quản lý Nhà nước trực thuộc

Sở Tài nguyên và Môi trường, có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Sở

Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực

DN trong KCN tập trung

UBND tỉnh

UBND cấp huyện

UBND cấp xã

Phòng tài nguyên môi trường huyện

Doanh nghiệp

Trang 36

bảo vệ môi trường

- Phòng Tài nguyên môi trường cấp huyện: Là cơ quan tham mưu, giúp

Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh

vực môi trường trên địa bàn

- UBND cấp xã: Chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ

môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn, khu dân cư thuộc phạm

vi quản lý của mình; kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của

các hộ gia đình, cá nhân; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm

pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc báo cáo với cơ quan quản lý cấp trên

trực tiếp; xác nhận Bản đăng ký cam kết bảo vệ môi trường theo sự uỷ quyền của

cơ quan cấp trên

1.5.2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về bảo

vệ môi trường

a Thuận lợi

- Nhận thức của người dân, chủ các doanh nghiệp về bảo vệ môi trường

có những chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả ban đâu

- Công tác quản lý môi trường đang từng bước đi vào hoạt động có nề

nếp và ngày càng hiệu quả

- Sự phối kết hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan ngày càng chặt

chẽ và đạt hiệu quả

- Hoạt động thanh tra, kiểm tra ngày càng được tăng cường và có chiều sâu

b Khó khăn

- Ý thức chấp hành Luật bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp còn

nhiều hạn chế, không đầu tư xây dựng các hệ thống xử lý chất thải đạt quy

chuẩn môi trường Việt Nam, hầu hết các cơ sở đều không tổ chức thực hiện

chương trình quan trắc chất lượng môi trường hàng năm

- Việc thanh tra, kiểm tra, xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường

nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng chưa được sự ủng hộ của các ngành,

Trang 37

chức năng có liên quan nên chưa phát huy được hiệu lực quản lý Nhà nước

về môi trường

- Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật để tiến hành kiểm soát chất lượng môi

trường của Sở TN&MT còn thiếu, đặc biệt là thiết bị quan trắc môi trường

không khí chưa được đầu tư nên phụ thuộc rất nhiều vào các Trung tâm quan

trắc và phân tích môi trường của trung ương Đây là một trong những trở

ngại lớn cho công tác chủ động quản lý môi trường ở địa phương

- Tình trạng ô nhiễm môi trường đang có chiều hướng gia tăng cả về

mức độ và phạm vi Đặt biệt là các làng nghề truyền thống, ảnh hưởng trực

tiếp đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư

- Cơ sở hạ tầng về BVMT tại các làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề

chưa được đầu tư tương xứng, không đồng bộ; đa phần các cụm công nghiệp

làng nghề đều không có cơ sở hạ tầng

- Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực môi trường đối với các doanh

nghiệp thuộc các cụm công nghiệp và làng nghề chưa phát huy được hiệu lực

Trang 38

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Làng nghề Mỳ Kế, phường Dĩnh Kế, thành phố

Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

Phạm vi nghiên cứu: trong khu vực làng nghề và khu vực lân cận

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2013 đến tháng 6/2014

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội phường Dĩnh Kế

- Tình hình sản xuất và phát sinh các nguồn phát thải của làng nghề Mỳ Kế

- Hiện trạng môi trường làng nghề Mỳ Kế:

+ Kết quả khảo sát hiện trạng môi trường nước

+ Kết quả khảo sát hiện trạng môi trường không khí

- Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường cho làng nghề Mỳ Kế

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập số liệu, số liệu thông tin có sẵn từ các cơ quan, phòng ban chức

năng, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang, Trung Tâm Quan trắc

Môi trường Bắc Giang, phòng TN&MT thành phố Bắc Giang, UBND

phường Dĩnh Kế

+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực phường Dĩnh Kế

+ Tình hình sản xuất, phát triển làng nghề, tình trạng ô nhiễm môi

trường của làng nghề

2.3.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn

Sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn dân cư khu vực sản xuất của làng

nghề với 60 phiếu điều tra ngẫu nhiên về: tình hình sản xuất, quy trình sản

xuất, nguyên liệu sản xuất, đầu ra của sản phẩm, hiện trạng môi trường tại

địa phương

Trang 39

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu, phân tích:

Các mẫu không khí, mẫu nước được lấy và được phân tích tại phòng

hóa nghiệm của Trung tâm Quan trắc môi trường Bắc Giang

* Đối với mẫu không khí

Phương pháp lấy mẫu theo các tiêu chuẩn: TCVN 5067: 1995, TCVN

Trời không mưa, có gió nhẹ

KK2 Lấy trên đường giao thông của tổ

dân phố Phú Mỹ 2

KK3 Lấy trên đường giao thông của tổ

dân phố Phú Mỹ 3

KK4 Lấy tại khu vực sản xuất mỳ của hộ

gia đình ông Ngô Văn Tuấn – tổ

dân phố Phú Mỹ

KK5 Lấy tại khu vực sản xuất mỳ của hộ

gia đình ông Nguyễn Văn Tình – tổ

dân phố Phú Mỹ 2

KK6 Lấy khu vực sản xuất mý của hộ

gia đình ông Nguyễn Văn Thiều –

Trang 40

Bảng 2.2: Phương pháp phân tích mẫu khí

TT Thông số Phương pháp phân tích

Đối với môi trường nước

- Phương pháp lấy mẫu nước:

+ Môi trường nước thải: Phương pháp lấy mẫu nước thải: TCVN 5992:

Ngày đăng: 11/09/2015, 13:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Xu thế phát triển làng nghề đến năm 2015 - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 1.1 Xu thế phát triển làng nghề đến năm 2015 (Trang 16)
Bảng 1.4: Làng nghề vùng nông thôn phân theo địa phương - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 1.4 Làng nghề vùng nông thôn phân theo địa phương (Trang 20)
Bảng 1.5: Thu hút lao động và thu nhập bình quân theo vùng và theo lĩnh - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 1.5 Thu hút lao động và thu nhập bình quân theo vùng và theo lĩnh (Trang 22)
Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về BVMT tỉnh Bắc Giang - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Hình 1.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về BVMT tỉnh Bắc Giang (Trang 35)
Bảng 2.1. Vị trí lấy mẫu không khí - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 2.1. Vị trí lấy mẫu không khí (Trang 39)
Bảng 2.2: Phương pháp phân tích mẫu khí - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 2.2 Phương pháp phân tích mẫu khí (Trang 40)
Bảng 2.3. Vị trí lấy mẫu nước - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 2.3. Vị trí lấy mẫu nước (Trang 41)
Bảng 2.5: Phương pháp phân tích chất lượng nước ngầm - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 2.5 Phương pháp phân tích chất lượng nước ngầm (Trang 42)
Hình 3.1: Vị trí địa lý phường Dĩnh Kế - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Hình 3.1 Vị trí địa lý phường Dĩnh Kế (Trang 45)
Hình 3.2: Quy trình làm mỳ - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Hình 3.2 Quy trình làm mỳ (Trang 57)
Bảng 3.4: Kết quả phân tích nước thải - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 3.4 Kết quả phân tích nước thải (Trang 68)
Bảng 3.5: Thống kê so sánh các thông số với QCVN 40:2011 (B) - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 3.5 Thống kê so sánh các thông số với QCVN 40:2011 (B) (Trang 69)
Bảng 3.6:  Kết quả phân tích nước ngầm - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 3.6 Kết quả phân tích nước ngầm (Trang 70)
Bảng 3.7: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 3.7 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt (Trang 73)
Bảng 3.8: Tổng hợp kết quả điều tra thực trạng môi trường làng nghề Mỳ Kế - ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và đề XUẤT các BIỆN PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ mỳ kế PHƯỜNG DĨNH kế   THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả điều tra thực trạng môi trường làng nghề Mỳ Kế (Trang 75)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w