Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Sông Đà 12-2
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất độc lập, có chức năng tái sản xuất tài
sản cố định cho các ngành trong nền kinh tế Chính vì vị trí quan trọng đó nên được
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong những năm vừa qua ngành xây dựng cơ
bản của nhà nước ta đã có những bước phát triển đáng kể
Hiện nay trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phương pháp đấu
thầu, chỉ có một phần nhỏ là định thầu hoặc giao thầu Vì vậy đối với bất kỳ một
doanh nghiệp nào để có thể trúng thầu xây dựng một công trình, một hạng mục
công trình thì doanh nghiệp đó phải xây dựng, một đơn giá thầu hợp lý dựa trên cơ
sở giá cả thị trường, khả năng thực tế của doanh nghiệp và định mức tiêu hao, đơn
giá xây dựng cơ bản do Nhà nước ban hành Mặt khác cũng như các doanh nghiệp
khác mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp xây lắp là lợi nhuận, do vậy vấn đề
quản lý chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm để tăng lợi nhuận luôn là vấn đề
được các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm
Hạch toán kế toán có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình quản lý, nó
cung cấp các thông tin tài chính cho người quản lý, đánh giá hiệu quả cho người
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho lãnh đạo ra những quyết định hợp
lý và đồng thời kiểm tra sự đúng đắn của các quyết định đó sao cho doanh nghiệp
làm ăn có lãi và đững vững trong điều kiện cạnh tranh của thị trường
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một phần hành cơ
bản của công tác hạch toán kế toán và có ý nghĩa quan trọng đối với Xí nghiệp xây
lắp Thông qua công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, những
thông tin và nhận định chính xác sẽ giúp cho các nhà quản lý phân tích đánh giá
được tình hình thực hiện định mức chi phí, tình hình sử dụng tài sản, vật tư , máy
móc, tiền vốn…là tiết kiệm hay lãng phí Từ đó, đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm
hạ thấp chi phí sản xuất, là cơ sở để hạ giá thành sản phẩm và đưa ra các quyết định
Trang 2quản lý thích hợp cho sự phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị cho các
doanh nghiệp
Qua qúa trình thực tập tại Xí nghiệp Sông Đà 12-2 em càng nhận thức rõ
ràng hơn về tầm quan trọng của công tác kế toán nói chung và đặc biệt là tầm quan
trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng
Nhận thức được tầm quan trọng cuả công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm và để vận dụng kiến thức đã học một cách thiết thực vào công
tác quản lý sản xuất kinh doanh của từng đơn vị, nhằm giúp cho công tác tổ chức
hạch toán ngày càng hoàn thiện hơn em đã đi sâu nghiên cứu và viết khoá luận tốt
nghiệp: “Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Xí nghiệp Sông Đà 12-2”
Nội dung chuyên đề gồm 3 phần:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về hạch toán kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong đơn vị kinh doanh xây dựng cơ bản
Chương II: Thực trạng công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp tại Xí nghiệp Sông Đà 12-2
Chương III: Phương hướng hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Xí nghiệp Sông Đà 12-2
Trang 3CHƯƠNG I: Những vấn đề lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp
xây lắp
I Đặc điểm của ngành xây lắp và đặc điểm của các sản phẩm xây lắp
1 Đặc điểm của ngành xây lắp
Trong các ngành trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, XDCB là
ngành sản xuất vật chất độc lập, mang tính chất công nghiệp, có chức năng tái sản
xuất TSCĐ, tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, tăng tiềm lực
quốc phòng của đất nước
Ngành XDCB có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật chung giống các ngành
khác như: sản phẩm xây lắp (SPXL) được tiến hành một cách liên tục, từ khâu
thăm dò, điều tra khảo sát cho đến khâu thiết kế, thi công và quyết toán, bàn giao
công trình (CT) Sản xuất xây lắp có tính dây chuyền giữa các khâu của hoạt động
sản xuất, các khâu này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, ngành XDCB
có những nét riêng biệt so với các ngành sản xuất khác Sự khác biệt đó đã tác động
rất nhiều đến công tác quản lý và hạch toán trong các DNXL
- Hoạt động xây lắp tiến hành ngoài trời, chịu ảnh hưởng rất nhiều của các
điều kiện tự nhiên, chi phí (CP) trong XDCB cũng thường lớn và đặc biệt bao giờ
cũng phải tính đến một lượng hao hụt nhất định
- Thời gian thi công các CT thường dài
- Việc tiến hành thi công các CT, HMCT của một DN thường tổ chức phân
tán, không cùng một địa điểm nên rất khó cho việc quản lý
2 Đặc điểm của các sản phẩm xây lắp
Quy trình XDCB cho kết quả là các SPXL
SPXL là những CT, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian
sản xuất và sử dụng lâu dài Quá trình từ khi khởi công CT cho tới khi hoàn thành
bàn giao, đưa vào sử dụng thường dài, độ dài của nó phụ thuộc vào quy mô, tính
Trang 4chất phức tạp về kỹ thuật của từng CT Quá trình thi công xây lắp chia thành nhiều
giai đoạn, mỗi giai đoạn gồm nhiều công việc khác nhau, các sai lầm trong xây
dựng lại khó sửa chữa và đem lại hậu quả rất lớn Do đó, SPXL nhất thiết phải
được thiết kế và lập dự toán riêng
Mặt khác, SPXL thường được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận
với chủ đầu tư từ trước (giá trúng thầu hoặc giá chỉ định thầu) nên tính chất hàng
hoá của SPXL thể hiện không rõ DN không phải thực hiện việc định giá bán SP
như các DN sản xuất SP thông thường khác Tuy nhiên, điều này đòi hỏi phải lập
dự toán, xác định đối tượng tập hợp CP và tính giá thành một cách chính xác, đảm
bảo CP phải được tính toán đầy đủ và chi tiết
II Những vấn đề lý luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp xây lắp
1 Những lý luận chung về chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp
1.1 Khái niệm, bản chất chi phí sản xuất
Quá trình sản xuất kinh doanh của các DNXL là một quá trình tác động có
mục đích vào các yếu tố đầu vào để tạo thành các SP là các CT, HMCT nhất
định.Trong quá trình đó các DNXL phải huy động và sử dụng các nguồn tài lực, vật
lực
Như vậy: CPSX trong các DNXL là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí
về lao động sống, lao động vật hoá và các CP cần thiết khác mà DN phải bỏ ra để
tiến hành hoạt động sản xuất thi công trong một thời kỳ nhất định
Theo dõi chế độ kế toán hiện hành áp dụng cho các DNXL theo Quyết định
số1864/1998/QĐ/BTC ngày 16/12/1998 thì việc tổ chức kế toán ở các DNXL, đơn
vị nhận thầu phải đảm bảo yêu cầu của kế toán nói chung áp dụng cho các cơ sở
sản xuất Cho nên CPSX của DNXL bao gồm:
+ CPSX xây lắp: là toàn bộ CPSX sản phẩm trong lĩnh vực hoạt động xây
lắp, nó là bộ phận cơ bản để tính thành giá thành SPXL
Trang 5+ CPSX ngoài xây lắp: là toàn bộ CP sản phẩm trong lĩnh vực sản xuất ngoài
xây lắp như hoạt động sản xuất công nghiệp phụ trợ, các hoạt động sản xuất nông
nghiệp phụ trợ…
1.2 Phân loại chi phí sản xuất
1.2.1 Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này các CP có cùng nội dung và tính chất kinh tế được
xếp chung vào cùng một yếu tố, không kể CP đó phát sinh ở đâu, dùng vào mục
đích gì trong sản xuất SP, phục vụ quản lý hay sản xuất trực tiếp Toàn bộ CPSX
được chia thành các loại sau:
- CPNVL: NVL chính, phụ, CCDC, thiết bị xây dựng, phụ tùng thay thế
- CP nhiên liệu động lực: xăng, dầu, khí ga…
- CP BHXH, BHYT, KPCĐ
- CP khấu hao TSCĐ
- CP dịch vụ mua ngoài
- CP khác bằng tiền
Việc phân loại CP theo các yếu tố trên giúp ta biết những CP nào đã dùng
vào sản xuất và kết cấu tỷ trọng của chúng Từ đó, xây dựng định mức, dự toán
CPSX và phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch dự toán CP trong DN
1.2.2 Phân loại theo mục đích và công dụng của chi phí
CP có cùng mục đích và công dụng không phân biệt nội dung kinh tế của
chúng có khác nhau hay không Có các loại CP sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- CP sử dụng máy thi công (MTC): là các CP liên quan đến sử dụng MTC
theo phương thức thi công hỗn hợp vừa bằng máy và vừa bằng thủ công Bao gồm
các CP sau: CP vật liệu, CPNC, CP dụng cụ sản xuất, CP khấu hao MTC, CP dịch
vụ mua ngoài, CP khác bằng tiền
Trang 6- CPSXC: là các khoản CP dùng vào việc quản lý phục vụ sản xuất chung ở
tổ, đội sản xuất trong DNXL Bao gồm các CP sau: CP vật liệu, CP NC, CP dụng cụ
sản xuất, CP khấu hao TSCĐ, CP dịch vụ mua ngoài, CP khác bằng tiền
Đây là cách phân loại CP được áp dụng phổ biến trong các DNXL
2 Những lý luận chung về giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
2.1 Khái niệm, bản chất giá thành sản phẩm
Giá thành SPXL là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động
sống, lao động vật hoá và các CP cần thiết khác mà DN đã chi ra để hoàn thành
khối lượng SPXL theo quy định
Giá thành HMCT hay giá thành CT hoàn thành toàn bộ là giá thành cuối
cùng của SPXL Giá thành có 2 chức năng:
- Chức năng thước đo bù đắp CP: toàn bộ CP mà DN đã bỏ ra để hoàn thành
một khối lượng công tác xây lắp phải được bù đắp bằng chính số tiền thu được do
tiêu thụ sản phẩm Với giá bán được thị trường chấp nhận hoặc đơn giá bán theo
đơn giá đấu thầu và căn cứ vào giá thành đơn vị sản phẩm ta sẽ biết được DN có bù
đắp được CP đã bỏ ra hay không Nếu đơn giá bán lớn hơn giá thành đơn vị sản
phẩm thì DN sẽ bù đắp được CP và ngược lại
- Chức năng lập giá: trong hoạt động xây lắp, giá bán sản phẩm (giá nhận
thầu) thường được xác định trước khi tiến hành thi công xây dựng CT Do đó, giá
thành thực tế của CT không có chức năng này Nhưng hiện nay, để đa dạng hoá
các hoạt động kinh doanh và đáp ứng nhu cầu của thị trường, một số DNXL đã chủ
động xây dựng một số CT, sau đó bán lại cho các đối tượng có nhu cầu với giá hợp
lý Khi đó giá thành thực tế của SPXL lại là căn cứ quan trọng để xác định giá bán
2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
2.2.1 Căn cứ theo số liệu để tính toán giá thành sản phẩm xây lắp
* Giá thành dự toán: là tổng các CP dự toán để hoàn thành khối lượng công
tác xây lắp Giá thành dự toán được hình thành trên cơ sở khối lượng công tác xây
Trang 7lắp theo thiết kế được duyệt, các định mức dự toán, đơn giá XDCB hiện hành và
các chính sách chế độ có liên quan của Nhà nước
Thuế GTGT
Trong đó:
Giá trị dự toán của
từng CT, HMCT =
Khối lượng dự toán xây lắp từng
Như vậy, giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán ở phần thu nhập chịu thuế
tính trước và thuế GTGT
* Giá thành kế hoạch: là giá thành xác định trên cơ sở các định mức
CP và đơn giá nhất định của từng DN
Giá thành kế hoạch
của CT, HMCT =
Giá thành dự toán của CT, HMCT -
Mức hạ giá thành kế hoạch
* Giá thành thực tế: Phản ánh toàn bộ các CP thực tế mà DN đã bỏ ra để thực
hiện khối lượng công tác xây lắp Giá thành thực tế không chỉ bao gồm các CP định
mức mà còn bao gồm các khoản CP vượt định mức và không định mức như: mất
mát, hao hụt , lãng phí về vật tư tiền vốn trong quá trình sản xuất
Trong điều kiện đảm bảo tính thống nhất về thời điểm, cách tính và thực hiện
trên cùng một đối tượng thì giữa 3 loại giá thành trên có mối quan hệ về mặt lượng
như sau:
Giá thành dự toán ≥ giá thành kế hoạch ≥ giá thành thực tế
2.2.2 Căn cứ theo phạm vi tính toán giá thành
Trang 8* Giá thành sản xuất: bao gồm các khoản mục CP, CPNVLTT, CPNCTT, CP
sử dụng MTC, CPSXC tính cho CT, HMCT hoặc lao vụ đã hoàn thành Nó cũng là
căn cứ để tính toán giá vốn của hàng bán
* Giá thành toàn bộ SPXL tiêu thụ: gồm giá thành sản xuất, CP quản lý DN
tính cho SP hoặc lao vụ được tiêu thụ Giá thành này là căn cứ để xác định lợi
nhuận trước thuế Giá thành công tác xây lắp còn được theo dõi trên 2 chỉ tiêu là:
+ Giá thành khối lượng xây lắp (KLXL) hoàn chỉnh: là giá thành của những
CT, HMCT đã hoàn thành, đảm bảo kỹ thuật đúng thiết kế, đúng hợp đồng, bàn giao
và được bên chủ đầu tư (bên A) nghiệm thu và chấp nhận thanh toán
+ Giá thành KLXL hoàn thành theo quy ước: là toàn bộ các CP tính cho
một KLXL đã hoàn thành đến giai đoạn quy ước
3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây lắp
Thông qua bản chất CP và giá thành, ta có thể thấy được CPSX và giá thành
có mối quan hệ rất mật thiết với nhau Chúng đều là hao phí lao động sống, lao
động vật hoá… được biểu hiện bằng tiền Tuy nhiên CPSX và giá thành sản phẩm
cũng có sự khác biệt về giới hạn và phạm vi
+ CPSX trong các DN nói chung và DNXL nói riêng luôn gắn với một thời
kỳ nhất định (tháng, quý, năm…) còn giá thành SP lại là giới hạn CP tính cho một
CT, HMCT, khối lượng công tác xây lắp hoàn thành nhất định
+ CPSX chỉ gồm những CP phát sinh của kỳ đó còn giá thành SP có thể bao
gồm một phần CP phát sinh ở kỳ trước(CP trả trước) và một phần CP phát sinh của
kỳ sau nhưng được ghi nhận ở kỳ này (CP phải trả)
+ Về mặt lượng CP và giá thành không thống nhất với nhau, điều này thể
hiện ở công thức sau:
Giá thành SP xây lắp = Giá trị SP dở
dang đầu kỳ +
CPSX phát sinh trong kỳ -
Giá trị SP dở dang cuối kỳ
Trang 9Trong trường hợp đặc biệt nếu không có CP dở dang đầu kỳ và cuối kỳ hoặc
CP dở dang đầu kỳ = CP dở dang cuối kỳ thì CPSX = giá thành sản phẩm
4 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp:
4.1 Vai trò
Ngày nay, muốn tồn tại trong một môi trường cạnh tranh gay gắt buộc các
DN phải kinh doanh có lãi Khi đó họ phải quan tâm tới vấn đề quản lý CP và tính
giá thành SP đúng mức; bởi tiết kiệm CP, hạ giá thành trong điều kiện đảm bảo về
chất lượng sản phẩm là một trong những vũ khí cạnh tranh sắc bén nhất
Công việc kinh doanh của các DNXL thường được thực hiện theo phương
thức đấu thầu, SP được tiêu thụ theo giá thoả thuận trước Khi đó, tiết kiệm CP và
hạ giá thành, tạo khoản chênh lệch lớn giữa đấu thầu và giá thành thực tế là điều
kiện quyết định tới khả năng tích luỹ của DN và cải thiện đời sống cho người lao
động Vì vậy, công tác hạch toán CPSX và tính giá thành SP đóng vai trò hết sức
quan trọng Nó đảm bảo cung cấp thông tin cần thiết, kịp thời cho các nhà quản trị
DN về CPSX cũng như giá thành của SP, giúp các nhà quản trị phân tích, đánh giá
tình hình thực hiện các dự toán CPSX và kế hoạch giá thành SP Từ đó, đề ra các
giải pháp thích hợp, phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tiêu cực, đảm bảo
điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất
Trong điều kiện hình thức đấu thầu trong xây lắp được áp dụng phổ biến thì
kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành càng giữ vai trò quan trọng và cần thiết
trong việc xây dựng giá đấu thầu hợp lý
4.2 Nhiệm vụ của công tác kế toán
+ Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, của tổ chức sản xuất SP của
DNXL để xác định đối tượng tập hợp CPSX và phương pháp tính giá thành phù
hợp
+ Tập hợp kịp thời và phân bổ từng loại CPSX theo đúng đối tượng tập hợp
CP đã xác định
Trang 10+ Vận dụng phương pháp tính giá thành phù hợp để tính giá thành và giá
thành đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng các khoản mục quy định và
theo đúng kỳ tính giá thành
+ Vận dụng các TK kế toán để hạch toán CPSX và giá thành sản phẩm phù
hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho mà DN đã lựa chọn
+ Thường xuyên đối chiếu kiểm tra và định kỳ cung cấp các báo cáo về
CPSX và giá thành SP cho Ban lãnh đạo DN, đề xuất các biện pháp tăng cường
quản lý, tiết kiệm CPSXKD và hạ giá thành
III Nội dung kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp xây lắp
Theo Quyết định số 1864/1998/QĐ/BTC ngày 16/12/1998 ban hành quyết
định các DNXL chỉ áp dụng trình tự kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên mà không áp dụng phương pháp kểm kê định kỳ Do vậy, trong phạm
vi đề tài này, em xin trình bày nội dung kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản
phẩm trong các DNXL theo phương pháp kê khai thường xuyên
1 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp
1.1 Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng tập hợp CPSX trong DNXL là phạm vi, giới hạn để tập hợp các
CP nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát CP và tính giá thành SPXL Giới hạn, phạm vi
tập hợp CPSX có thể là nơi phát sinh CP cũng có thể là nơi gánh chịu CP
Để xác định được đối tượng tập hợp CP cần căn cứ vào các yếu tố sau:
+ Tính chất, đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất SP, đặc điểm, cơ cấu tổ
chức của DNXL, đặc điểm của SPXL
+ Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát CP, yêu cầu hạch toán kế toán nội bộ đơn vị
+ Yêu cầu tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành
+ Khả năng trình độ quản lý và trình độ hạch toán của DN
+ Đơn vị tính giá thành sản phẩm trong DN
Trang 111.2 Xác định phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp trực tiếp:
Phương pháp này áp dụng đối với CP có liên quan trực tiếp đến từng CT,
HMCT cụ thể Kế toán cần xác định đâu là CP trực tiếp, đâu là CP gián tiếp
Phương pháp phân bổ gián tiếp:
Đối với các loại CP có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp CP (CT,
HMCT), không thể tập hợp trực tiếp mà phải tiến hành phân bổ gián tiếp cho từng
đối tượng tập hợp CP theo các tiêu thức thích hợp (dùng cho CPSXC, CPMTC)
1.3 Chứng từ kế toán sử dụng trong tập hợp chi phí sản xuất
Chứng từ kế toán ở đây là hệ thống chứng từ gốc và chứng từ tổng hợp liên
quan đến CP phát sinh như:
- Phiếu xuất kho vật liệu, CCCD; biên bản giao nhận vật tư, CCDC; bảng
phân bổ vật liệu, CCDC xuất dùng
- Bảng chấm công, bảng tính lương, bảng tính toán lương và các khoản trích
theo lương
- Bảng tính khấu hao TSCĐ
- Phiếu chi tiền mặt, giấy báo Có của ngân hàng
Hệ thống chứng từ sử dụng trong các DNXL được xây dựng trên cơ sở chế
độ quy định của Nhà nước (kể cả chứng từ bắt buộc và chứng từ hướng dẫn)
1.4 Tài khoản sử dụng
TK 621 – CPNVLTT: phản ánh CPNVL phát sinh thực tế sản xuất thi
công các sản phẩm xây dựng, lắp đặt các CT (mở chi tiết cho từng SP xây lắp)
TK 622 – CPNCTT: dùng để tập hợp và kết chuyển CPNCTT, nhưng
không bao gồm các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp xây lắp
(mở chi tiết cho từng CT, HMCT)
TK 623 – CPMTC: TK này chỉ được sử dụng để hạch toán CP sử dụng
xe, MTC trong trường hợp DNXL thực hiện xây lắp CT theo phương thức hỗn hợp,
vừa thủ
Trang 12công vừa bằng máy Trường hợp DN thực hiện xây lắp công trình
hoàn toàn theo phương thức bằng máy thì kế toán không sử dụng TK 623 mà hạch
toán trực tiếp các CP xây lắp vào TK 621, 622, 627 Kế toán cũng không hạch toán
vào TK 623 các khoản trích về BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân điều khiển
máy thi công
TK 154 - CP sản xuất kinh doanh dở dang: TK này dùng để tập hợp
các khoản CPSX trong kỳ kể trên, phục vụ cho công tác tính toán giá thành SPXL
(mở chi tiết cho từng đối tượng) TK 154 có 4 TK cấp hai :
+ TK 1541 – Xây, lắp: để tập hợp CP, tính giá thành của SP xây, lắp, phản
ánh giá trị SP xây lắp dở dang cuối kỳ
+ TK 1542 – SP khác: để tập hợp CP và tính giá thành SP và phản ánh giá
trị SP khác dở dang cuối kỳ
Trang 13+ TK 1543 – Dịch vụ: để tập hợp CP và tính giá thành dịch vụ và phản ánh
dịch vụ dở dang cuối kỳ
+ TK 1544 – CP bảo hành xây lắp: để tập hợp CP bảo hành CT xây dựng,
lắp đặt thực tế phát sinh trong kỳ và giá trị CT bảo hành xây, lắp dở dang cuối kỳ
TK 141 – Tạm ứng: Tài khoản này dùng trong trường hợp áp dụng
phương thức khoán mà đơn vị nhận khoán không tổ chức kế toán riêng để theo dõi
các khoản tiền tạm ứng cho đơn vị nhận khoán tổ chức cung ứng các yếu tố đầu
vào phục vụ cho quá trình thi công
TK 136 – Phải thu nội bộ và TK 336 – phải trả nội bộ: được sử dụng
trong trường hợp đơn vị nhận khoán có tổ chức kế toán riêng và coi như có quan hệ
nội bộ với DN
1.5 Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.5.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CP về NVLTT là những CP về nguyên vật liệu chính, vật kết cấu, nửa thành
phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, vật liệu khác sử dụng trong quá trình thi công xây
lắp từng CT, HMCT Nguyên, vật liệu sử dụng cho CT, HMCT nào thì tính trực
tiếp cho CT đó Trường hợp không tính riêng được thì phải phân bổ cho từng CT,
HMCT theo định mức tiêu hao
Trình tự hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :
Trang 14Sơ đồ 1a: Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại doanh nghiệp tổ
chức kế toán theo phơng thức quản lý tập trung
Trong đó:
(1a), (1b): Mua nguyên vật liệu chuyển thẳng đến dùng cho công trình và ghi nhận
phần thuế GTGT được khấu trừ nếu có
(2a): Xuất kho nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất thi công trực tiếp
(3a): Cuối kỳ điều chỉnh số nguyên vật liệu xuất dùng cho hoạt động xây lắp trực
tiếp nhưng không dùng hết mà không nhập lại kho (ghi bút toán đỏ)
(4): Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành
TK 154
TK 152
TK 1331 (1b)
(4) (2)
(3b)
Trang 15Sơ đồ 1b: Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại đơn vị giao khoán
* Trờng hợp đơn vị không tổ chức kế toán riêng:
Trong đó:
(1a, 1b): Tạm ứng tiền hoặc vật tư cho đơn vị nhận khoán
(2): Mua vật tư hoặc xuất vật tư nhận đợc chi thi công công trình và phần thuế
(3): Số thừa phải thu hồi khi số tạm ứng lớn hơn giá trị giao khoán nội bộ
(4): Cuối kỳ kết chuyển sang TK 154 để tính giá thành
Trang 16* Trờng hợp đơn vị có tổ chức kế toán riêng
Trong đó: (1a, 1b): Tạm ứng bằng tiền, vật tư cho đơn vị dưới để thực hiện khối
l-ợng xây lắp nhận khoán
(2): Giá trị khối lợng xây lắp khoán nội bộ và phần thuế GTGT đầu vào tương ứng
(3): Khi số đã tạm ứng lớn hơn số phải trả, phần chênh lệch khi thu hồi
Trang 17Sơ đồ 1c: Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại đơn vị nhận khoán:
* Trờng hợp đơn vị có tổ chức kế toán riêng:
Trong đó:
(1a, 2a): Nhận tạm ứng bằng NVL và xuất dùng cho Công ty
(1b, 2b): Nhận tạm ứng bằng tiền và mua NVL xuất dùng cho Công ty
(3): Cuối kỳ kết chuyển sang TK 154 để tính giá thành
(4): Kết chuyển giá vốn hàng bán
(5a, 5b): ghi nhận giá thanh toán nội bộ và phần thuế GTGT đầu ra (nếu có)
1.5.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
CPNCTT là những khoản tiền phải trả phải thanh toán cho công nhân trực
tiếp sản xuất xây lắp, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ gồm tiền lương chính,
lương phụ, các khoản phụ cấp
Khi các DNXL đều áp dụng hình thức khoán gọn trong xây lắp thì các DN
đều phải sử dụng hình thức trả lương theo khối lượng công việc giao khoán Nên
các DN buộc phải xây dựng được các định mức kinh tế kỹ thuật, làm cơ sở cho việc
xác định đơn giá tiền lương đối với từng loại công việc một cách hợp lý
Trang 18Trình tự hạch toán chi phí nhân công trực tiếp :
Sơ đồ 2a: Hạch toán CPNCTT tại doanh nghiệp tổ chức kế toán theo phơng thức
Tiền lương phải trả = Khối lượng công việc
giao khoán hoàn thành x Đơn giá tiền lương
Trang 19Sơ đồ 2b: Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp tại đơn vị giao khoán:
* Trờng hợp đơn vị không tổ chức kế toán riêng
Trong đó: (1): Xuất tiền tạm ứng cho bên nhận khoán thanh toán CPNCTT
(2): Ghi nhận các khoản chi phí liên quan đến CPNCTT (3): Cuối kỳ kết chuyển sang TK 154 để tính giá thành
* Trờng hợp đơn vị có tổ chức kế toán riêng
Trong đó: (1): Nhận tạm ứng bằng tiền để cấp dưới thực hiện khối lợng xây lắp
nhận khoán (2): Giá trị khối lợng xây lắp khoán nội bộ
Trang 20Sơ đồ 2c: Hạch toán CPNCTT tại đơn vị nhận khoán:
• Trờng hợp đơn vị có tổ chức kế toán riêng
Trong đó: (1): Tính CPNCTT theo các khoản phải trả cho công nhân trực tiếp
sản xuất
(2, 3): Nhận tạm ứng của bên giao khoán và thanh toán tiền lơng và các khoản phải nộp
(4): Cuối kỳ kết chuyển sang TK 154 để tính giá thành
1.5.3 Kế toán chi phí máy thi công
Do đặc điểm của hoạt động MTC trong xây dựng mà CP sử dụng MTC chia
làm 2 loại:
- CP thường xuyên: là những CP hàng ngày cần thiết cho việc sử dụng MTC
- CP tạm thời: là những CP liên quan đến việc tháo lắp, chạy thử, vận chuyển
MTC, CP này được phân bổ trong thời gian máy hoạt động ở công trường
Trang 21Sơ đồ 3: Hạch toán chi phí máy thi công tại doanh nghiệp tổ chức kế toán theo
ph-ơng thức quản lý tập trung
Sơ đồ 3a:Tại đội máy thi công có tổ chức kế toán riêng
Trang 22(1): Xuất kho nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng cho máy thi công
(2): Mua nguyên vật liệu đưa thẳng vào sử dụng cho máy thi công
(3): Lơng công nhân trực tiếp điều khiển máy thi công
(4): Trích khấu hao máy thi công
(5): Chi phí khác tại tổ đội máy thi công
(6): Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
(7): Cuối kỳ kết chuyển CPNCTT
(8): Cuối kỳ kêt chuyển CPSXC
(9): Cuối kỳ ghi nhận giá thành thực tế máy thi công (nếu quan hệ giữa các đơn vị
trong nội bộ doanh nghiệp là cung cấp lao vụ lẫn nhau)
(10a): Ghi nhận doanh thu nội bộ khi cung cấp dịch vụ thi công cho tổ đội xây lắp
(nếu quan hệ giữa các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp là bán lao vụ lẫn nhau)
(10b): Đồng thời ghi nhận giá vốn hàng bán
* Tại phòng kế toán doanh nghiệp (hay đội thi công xây lắp):
Trong đó:
(1a): Giá thành thực tế máy thi công nếu quan hệ giữa các đơn vị trong nội bộ
doanh nghiệp là cung cấp lao vụ lẫn nhau, hoạc ghi nhận theo giá mua nội bộ nếu
quan hệ giữa các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp là bán lao vụ lẫn nhau
(1b): VAT đầu vào được khấu trừ
TK 133 (1a)
(1b)
Trang 23Sơ đồ 3b:Doanh nghiệp không tổ chức đội máy thi công riêng hoặc có tổ chức đội
máy thi công nhưng không tổ chức hạch toán riêng
Trong đó:
(1): Chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng cho máy thi công
(2): Lương phải trả cho công nhân điều khiển máy thi công
(3): Trích khấu hao máy thi công
(4): Chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho máy thi công và ghi nhận thuế GTGT
được khấu trừ nếu có
(5): Phân bổ chi phí trả trước vào chi phí sử dụng máy thi công
(6): Các khoản ghi giảm chi phí máy thi công
(7): Kết chuyển chi phí máy thi công cuối kỳ
Trang 24Sơ đồ 3c: Doanh nghiệp không có đội máy thi công phải thuê ngoài:
(1): Thanh toán tiền thuê máy và ghi nhận thuế GTGT được khấu trừ
(2): Kết chuyển chi phí máy thi công thuê ngoài
Sơ đồ 4a: Hạch toán chi phí máy thi công tại đơn vị giao khoán
Sơ đồ 4a.1: Trường hợp đơn vị không tổ chức kế toán riêng:
Trong đó: (1): Xuất tiền tạm ứng cho bên nhận khoán
(2): Ghi nhận các khoản chi phí liên quan đến máy thi công (3): Cuối kỳ kết chuyển chi phí máy thi công để tính giá thành
Trang 25Sơ đồ 4b.2: Trường hợp đơn vị có tổ chức kế toán riêng:
Trong đó: (1): ứng tiền cho bên nhận khoán
(2): Giá trị khối lượng xây lắp khoán nội bộ
Sơ đồ 4b: Hạch toán chi phí máy thi công tại đơn vị nhận khoán
Trong đó: (1): Nhận tiền ứng trước
(2): Mua NL, VL và các khoản chi phí bằng tiền (3): Trích khấu hao TSCĐ
(4): Trích CP nhân công điều khiển máy (5): Cuối kỳ kết chuyển chi phí máy thi công sang TK 154 để tính giá thành
(6a, 6b): Ghi nhận giá thanh toán nội bộ và thuế GTGT đầu ra (nếu có)
Trang 261.5.4 Kế toán chi phí sản xuất chung
CPSXC thường được tập hợp và hạch toán riêng cho từng địa điểm phát
sinh Nếu trong DN có nhiều tổ đội thì phải mở sổ chi tiết để tập hợp theo từng tổ
đội Cuối tháng CPSXC đã được tập hợp, sẽ được kết chuyển để tính giá thành sản
phẩm Nếu tổ đội xây dựng chỉ thi công một CT, HMCT thì CPSX sẽ được kết
chuyển vào tính giá thành cho từng SP ấy Còn nếu thi công nhiều CT thì phải phân
bổ cho từng CT đó theo những tiêu thức thích hợp
Trình tự hạch toán :
Trang 27Sơ đồ: Hạch toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp tổ chức kế toán theo
phương thức quản lý tập trung
Trang 28(2): Tiền lương nhân viên quản lý đội và các khoản trích theo lương của nhân viên
quản lý đội, công nhân trực tiếp điều khiển máy thi công, công nhân trực tiếp xây
lắp
(3): Trích khấu hao tài sản cố định, thiết bị ở tổ đội xây lắp
(4): Chi phí dịch vụ mua ngoài và VAT được khấu trừ ở tổ đội xây lắp
(5): Chi phí sản xuất chung của đơn vị nhận khoán nội bộ khi quyết toán
(6): Chi phí theo dự toán tính vào chi phí sản xuất chung kỳ này
(7): Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
(8): Kết chuyển chi phí sản xuất chung cuối kỳ
Sơ đồ 5b: Hạch toán chi phí sản xuất chung tại doanh nghiệp tổ chức kế toán theo
phương thức khoán
Sơ đồ 5b.1: Hạch toán chi phí sản xuất chung tại đơn vị giao khoán
*Trường hợp đơn vị không tổ chức kế toán riêng:
Trong đó: (1) xuất tiền tạm ứng cho bên nhận khoán
(2): Ghi nhận các khoản chi phí sản xuất chung phát sinh do bên nhận khoán chi
(3): Cuối kỳ kết chuyển chi phí sản xuất chung sang TK 154 để tính giá thành
* Trường hợp đơn vị có tổ chức kế toán riêng:
Trong đó: (1): Xuất tiền tạm ứng cho bên nhận khoán
(2): Giá trị khối lượng xây lắp khoán nội địa
Trang 29Sơ đồ 5b.2: Hạch toán chi phí sản xuất chung tại đơn vị nhận khoán
* Trường hợp đơn vị có tổ chức kế toán riêng
Trong đó: (1): Nhận tiền ứng trước
(2): Mua NVL và các chi phí bằng tiền
(3): Trích khấu hao TSCĐ
(4): Trả tiền lương cho nhân viên quản lý
(5): Cuối kỳ kết chuyển sang TK 154 để tính giá thành
(6a, 6b): ghi nhận giá thanh toán nội bộ và thuế GTGT đầu ra (nếu có)
1.5.5 Tổng hợp chi phí sản xuất
Căn cứ vào đối tượng hạch toán CPSX đã được xác định tương ứng, kế toán
tiến hành hạch toán và tổng hợp CP theo trình tự sau:
+ Căn cứ vào đối tượng hạch toán đã xác định, mở sổ hoặc thẻ chi tiết CPSX,
mỗi thẻ mở cho một đối tượng hạch toán
+ Các CP phát sinh trong tháng có liên quan đến đối tượng hạch toán nào thì
ghi vào sổ thẻ của đối tượng hạch toán đó
+ Đối với CP cần được phân bổ thì phải tập hợp riêng và tính phân bổ cho
các đối tượng liên quan
Trang 30+ Cuối tháng (quý) tiến hành tổng hợp toàn bộ CP phát sinh cho từng đối
tượng và cho toàn DN
Sổ hạch toán chi tiết là cơ sở để tổng hợp CPSX từng kỳ cho từng đối tượng
hạch toán CP và tính giá thành SP Kế toán sử dụng TK 154, mở chi tiết cho từng
đối tượng hạch toán để tổng hợp CPSX thực tế của chúng
2 Đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang trong xây lắp có thể xác định là CT, HMCT, đơn đặt hàng,
khối lượng công tác xây lắp quy ước… chưa hoàn thành, chưa được bên chủ đầu tư
nghiệm thu, thanh toán… Đánh giá SP dở dang chính là công việc tính toán, xác
định phần CPSX mà khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ phải gánh chị
2.1 Trong điều kiện được thanh toán khối lượng hoàn thành theo giai đoạn
xây dựng có dự toán riêng
2.1.1 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí dự toán
x
CP theo
dự toán của KLXL DDCK tính theo mức độ thi công
CP theo dự toán của KLXL hoàn thành bàn giao trong kỳ
KLXL DDCK tính theo mức độ thi công
Trang 31KLXL DDCK
2.2 Trong điều kiện tính toán khối lượng hoàn thành khi CT, HMCT hoàn tất
được bàn giao
Trong trường hợp này đối tượng tính giá thành là CT, HMCT hoàn thành, vì
vậy khi CT chưa hoàn thành thì toàn bộ CPSX tập hợp được từ khi bắt đầu khởi
công thi công CT cho đến thời điểm đánh giá SP dở dang đều được coi là CP dở
dang
Đối với các DN áp dụng hình thức khoán gọn, bên nhận khoán có tổ chức kế
toán riêng thì không phải đánh giá SP dở dang Khi CT hoàn thành bàn giao toàn
bộ hoặc theo quy ước thì bên nhận khoán mới bàn giao cho bên giao khoán Còn
nếu bên nhận khoán không tổ chức kế toán riếng thì kế toán bên giao khoán cũng
vẫn tổ chức đánh giá SP dở dang như trên
3 Tính giá thành sản phẩm xây lắp
3.1 Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp
Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp CP và giá thành là xác định
nơi phát sinh CP và nơi gánh chịu CP Nếu đối tượng tập hợp CP là căn cứ để kế
toán ghi sổ kế toán chi tiết, hạch toán ban đầu, cũng như để tập hợp và phân bổ
CPSX, thuận tiện cho công tác quản lý tiết kiệm CPSX thì đối tượng tính giá thành
lại là căn cứ để kế toán lựa chọn phương pháp tính giá thành và xây dựng nên các
bảng tính giá thành thích hợp
3.2 Các phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
3.2.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn
Phương pháp này dùng trong trường hợp tập hợp CP trùng với đối tượng giá
thành Tất cả CP tập hợp trực tiếp được cho một CT, HMCT từ khi khởi công cho
tới khi hoàn thành chính là giá thực tế của CT, HMCT đó
Trang 32Trường hợp CT, HMCT chưa hoàn thành toàn bộ nhưng có khối lượng công
tác xây lắp hoàn thành bàn giao trong kỳ thì:
CP thực
tế DD CK
Trong trường hợp CPSX tập hợp theo từng CT nhưng giá thành tính riêng
cho từng HMCT hoặc theo từng giai đoạn hoàn thành thì kế toán sẽ căn cứ vào
CPSX tập hợp được và hệ số kinh tế kỹ thuật đã quy định cho từng HMCT hoặc
giai đoạn hoàn thành để tính giá thành thực tế Nếu HMCT hoặc giai đoạn hoàn
thành có thiết kế khác, dự toán khác nhưng cùng thi công trên một địa điểm, do một
chủ công trình đảm nhận nhưng không có điều kiện quản lý, theo dõi sử dụng các
loại chi phí cho từng HMCT, khi đó giá thành thực tế của từng HMCT được tính
3.2.2 Phương pháp tính giá thành theo định mức
Phương pháp này dùng cho DNXL có quy trình công nghệ ổn định, có hệ
thống các định mức kinh tế kỹ thuật và dự toán chi phí hợp lý Giá thành thực tế
của SPXL được tính theo công thức sau:
Giá thành thực
tế của SPXL =
Giá thành định mức của SPXL ±
Chênh lệch do thay đổi định mức ±
Chênh lệch do thoát ly định mức Trong đó:
Trang 33+ Chênh lệch do thay đổi định mức là chênh lệch giữa giá thành theo định
mức mới và giá thành theo định mức cũ Trong thực tế do việc thay đổi định mức
thường vào đầu tháng nên việc tính số chênh lệch do thay đổi định mức chỉ cần
thực hiện đối với SP dở dang đầu kỳ
+ Chênh lệch do thoát ly định mức được xác định như sau:
Chênh lệch do
thoát ly định mức =
CP thực tế theo từng khoản mục -
CP định mức theo từng khoản mục
3.2.3 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Phương pháp này dùng trong trường hợp DN nhận thầu xây lắp theo đơn đặt
hàng (thầu chỉ định) Mỗi đơn đặt hàng là từng CT, HMCT hoặc từng loại công
việc (lắp đặt, sửa chữa…) Khi đó, đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành là
trùng nhau, kỳ tính giá thành cũng không là kỳ báo cáo mà là khi đơn đặt hàng
hoàn thành Theo phương pháp này DNXL cũng mở riêng cho mỗi đơn đặt hàng
một bảng tính giá thành Hàng tháng, căn cứ CPSX thực tế phát sinh được tập hợp
theo từng đơn đặt hàng trong sổ kế toán chi tiết để ghi sang bản tính giá thành Khi
hoàn thành đơn đặt hàng, kế toán tổng cộng chi phí đã tập hợp được trong bảng tính
giá thành để tính ra giá thành cho từng đơn đặt hàng
3.2.4 Phương pháp tổng cộng chi phí:
Phương pháp này dùng trong trường hợp CT, HMCT trải qua nhiều giai đoạn
thi công xây lắp Đối tượng tập hợp CP là các giai đoạn thi công hoặc các đội xây
lắp, đối tượng tính giá thành là các CT, HMCT hoàn thành Khi đó, giá thành thực
tế của toàn bộ CT, HMCT hoàn thành được xác định:
Z = D ĐK + C1 + C2 + … + Cn – DCK
Trong đó: Z: Giá thành thực tế của CT, HMCT hoàn thành
DĐK, DCK: Giá thành SP dở dang đầu kỳ và cuối kỳ C1, C2,…, Cn: CPSX của các giai đoạn thi công, xây lắp
Trang 34Khi đã tính được giá thành SPXL kế toán ghi sổ theo bút toán:
Nợ TK 632: Giá thành CT hoàn thành bàn giao và được thanh toán
(Hoặc Nợ TK 155: Giá thành CT hoàn thành chờ bán)
Có TK 154: Giá thành thực tế của KLXL hoàn thành
Trang 35Chương II THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI XÍ NGHIỆP SÔNG ĐÀ 12-2
I Những đặc điểm chung của Xí nghiệp sông đà 12-2
1 Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp
Xí nghiệp Sông Đà 12-2 trực thuộc Tổng Công ty xây dựng Sông Đà 12
được thành lập theo quyết định số: 27/BXD-TCLĐ/TCT ngày 04 tháng 2 năm
1994 của Bộ xây dựng
Trước đây, khi mới thành lập Xí nghiệp có tên là Xí nghiệp xây dựng Bút
Sơn nay được đổi tên thành Xí nghiệp Sông Đà 12-2-Hà nội Cùng với quyết định
đổi tên Xí nghiệp đang tập trung đổi mới, sửa chữa máy móc thiết bị, cải tiến kỹ
thuật, công nghệ, đầu tư chiều sâu để sẵn sàng nhận đấu thầu xây dựng, thi công
các công trình trên địa bàn toàn quốc
Hiện nay, Xí nghiệp có trụ sở tại Nhà G10-P209-Quận Thanh xuân-Hà Nội
Xí nghiệp hoạt động kinh doanh cùng với đội ngũ 248 cán bộ chuyên môn và
kỹ thuật trong đó có 155 CBNV có trình độ đại học cùng với 1222 công nhân kỹ
thuật, công nhân viên lành nghề, giàu kinh nghiệm Xí nghiệp đã tham gia nhiều
công trình quan trọng và đã hoàn thành tốt với chất lượng được nhiều khách hàng
chủ đầu tư thừa nhận và thông suốt
Là một doanh nghiệp mới được thành lập trong một thời gian ngắn, nhưng
Xí nghiệp có nhiều cố gắng trong việc xây dựng phát triển Xí nghiệp Ngay từ khi
mới thành lập đã được Tổng Xí nghiệp giao cho thi công rất nhiều công trình Địa
bàn hoạt động của Xí nghiệp rộng khắp các tỉnh trong cả nước: Hà Nội, Hà Tây,
Nghệ An, Hoà Bình, Huế, Lai Châu, Vĩnh Phúc…
Các công trình Xí nghiệp đã và đang thi công rất đa dạng, từ các công trình
công nghiệp, công trình thuỷ điện, thuỷ lợi và các công trình khác giá trị công
trình
Trang 36lớn đạt hàng chục tỷ đồng như: Thi công hệ thống băng tải tại công trình xi măng
Nghi Sơn, tổ chức lắp đặt hệ thống điều hoà không khí tại công trình, khoan khai
thác đá tại các mỏ đá ở các tỉnh…
Qua những năm xây dựng và phát triển Xí nghiệp đã dần đi vào ổn định và
đã từng bước phát triển Có được điều đó là nhờ vào năng lực của Xí nghiệp và
Tổng Xí nghiệp Đặc biệt là nhờ vào năng lực của đội ngũ kỹ sư giàu kinh nghiệm,
công nhân giỏi nghề và các trang thiết bị tiên tiến, hiện đại của nhiều nước trên thế
giới mà Tổng Xí nghiệp đã điều động cho Xí nghiệp
Từ đó mà Xí nghiệp luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ mà Tổng Xí nghiệp giao
cho và luôn sẵng sàng đáp ứng, nhận làm các công trình phục vụ cho nhu cầu xã
hội
2 Chức năng nhiệm vụ sản xuất của Xí nghiệp
Theo quyết định số 92TCT/TCLĐ và quyết định số: 01/BXD-TCLĐ của Bộ
xây dựng về việc thành lập và phê chuẩn điều lệ tổ chức hoạt động của Xí nghiệp
Sông Đà 12-2 có chức năng nhiệm vụ chính như sau:
Xí nghiệp được nhận thi công các công trình theo chỉ đạo của Tổng Xí
nghiệp:
- Thi công khai thác vật liệu đá
- Thi công lắp đặt các thiết bị, hệ thống điện nước
- Thi công lắp dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, đường dây và
trạm biến thế, các công trình kỹ thuật hạ tầng
- Cho thuê các loại cần cẩu và các loại thiết bị thi công khác
- Xử lý nền móng và cấp thoát nước
3 Tổ chức bộ máy quản lý của Xí nghiệp
Mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Xí nghiệp Sông Đà 12-2-Tổng Xí
nghiệp xây dựng Sông Đà định hướng và tham mưu, cơ cấu này phụ thuộc vào
ngành nghề xây dựng và quy mô kinh doanh nên có thể thấy hiện tại Xí nghiệp
Trang 37Sông Đà 12-2-Tổng Xí nghiệp xây dựng Sông Đà có bộ máy quản lý đơn giản, gọn
nhẹ và đầy hiệu quả quản lý theo một cấp Đứng đầu Xí nghiệp là Giám đốc chịu
trách nhiệm quản lý và điều hành hoạt động chung của Xí nghiệp, giúp việc cho
Giám đốc là 1 phó Giám đốc và các phòng ban chức năng
- Giám đốc Xí nghiệp: là người đứng đầu quản lý, chỉ đạo và chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp Giám đốc do Chủ tịch Hội
đồng quản trị Tổng Xí nghiệp bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc,
Hội đồng quản trị Tổng Xí nghiệp và pháp luật về việc điều hành của Xí nghiệp
- Phó Giám đốc: là người giúp việc cho giám đốc, chịu trách nhiệm về sản
xuất kinh doanh, an toàn lao động, đồng thời tổ chức quản lý và điều hành vật tư cơ
giới trong toàn Xí nghiệp
Về các phòng ban chức năng: việc tổ chức ra các phòng ban tùy thuộc vào
yêu cầu của sản xuất kinh doanh đứng đầu là các trưởng phòng chịu sự lãnh đạo
trực tiếp của ban giám đốc và có vai trò trợ giúp giám đốc chỉ đạo các hoạt động
sản xuất kinh doanh một cách thông suốt Hiện tại Xí nghiệp có 4 phòng ban và 4
đội công trình sản xuất trực tiếp
1- Phòng hạch toán kỹ thuật: là bộ phận chức năng của Xí nghiệp, tham mưu
giúp việc cho Xí nghiệp trong lĩnh vực quản lý kỹ thuật, chất lượng công trình và
các hoạt động khoa học kỹ thuật
2 - Phòng Tài chính - Kế toán: là phòng nghiệp vụ, giúp việc cho giám đốc
Xí nghiệp tổ chức và thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán, thông tin kế toán,
tổ chức hạch toán kinh tế trong nội bộ Xí nghiệp theo đúng chế độ, chính sách và
pháp luật Nhà nước về kinh tế, tài chính tín dụng và theo điều lệ tổ chức kế toán
pháp lệnh kế toán thống kê của Nhà nước và những qui định cụ thể của Xí nghiệp,
của Tổng Xí nghiệp về công tác quản lý tài chính
3 - Phòng Hành chính: là phòng chức năng giúp Giám đốc Xí nghiệp trong
công việc thực hiện các phương án sắp xếp và cải tiến tổ chức sản xuất, kinh doanh
tổ chức quản lý tuyển dụng phân phối nhân lực, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh
Trang 38doanh của toàn Xí nghiệp theo từng thời kỳ Đồng thời tổ chức thực hiện đúng đắn
các chính sách chế độ đối với người lao động
4 - Phòng Vật tư - Cơ giới: Giúp Giám đốc Xí nghiệp trong việc điều hành
quản lý xe, máy, vật tư thiết bị cơ giới và quản lý cơ giới, vật tư cho các đơn vị
Về công tác tổ chức sản xuất: Xí nghiệp Sông Đà 12-2 tổ chức sản xuất theo
từng đội công trình Khi mới thành lập Xí nghiệp có những đội:
- Đội khai thác đá
- Đội máy thi công
- Đội vận tải
- Xưởng sửa chữa
- Đội xây dựng công trình
Khi có quyết định đổi tên Xí nghiệp cơ cấu lại các đội sản xuất và giữ
nguyên cho đến nay như sau:
- Đội cơ giới 1: Có nhiệm vụ thi công bằng cơ giới các đội công trình
- Đội xây dựng: tham gia xây dựng các công trình Xí nghiệp giao cho
- Đội lắp máy 2, 3, 4
Trang 39Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Xí nghiệp
4 Đặc điểm sản phẩm quy trình công nghệ
Là đơn vị xây dựng cơ bản cho nên sản phẩm của Xí nghiệp mang những nét
đặc trưng riêng của ngành xây dựng Đó là những công trình dân dụng và công
nghệ quy mô lớn, kết cấu phức tạp thời gian xây dựng lâu dài, khối thi công được
tiến hành hầu hết ở ngoài trời, do vậy quá trình sản xuất cũng rất phức tạp Sau khi
hoàn thành công trình được bàn giao cho đơn vị sử dụng và trở thành TSCĐ hàng
hóa của đơn vị đó Chất lượng của công trình không được khẳng định ngay khi bàn
giao mà nó được kiểm nghiệm qua một thời gian nhất định Cho thấy sản phẩm mà
Xí nghiệp không trực tiếp trao đổi trên thương trường như các sản phẩm hàng hoá
khác mà nó chỉ được sử dụng sau khi hợp đồng xây dựng đã được ký kết
Xí nghiệp tổ chức xây dựng bằng cách phân công, thi công và sản xuất theo
từng xí nghiệp, từng Chi nhánh, Đội công trình, Đội sản xuất công nghiệp Tất cả
các công trình xây lắp của Xí nghiệp từ lúc bắt đầu đến khi hoàn thành phải trải qua
Giám đốc công ty
Phó giám đốc
Phòng tổ chức tiền lương
Phòng T i chính-Kế toán
Phòng Vật tư
cơ giới
Phòng Tổ chức h nh chính
Đội công trình I
Đội công trình II Đội công trình III Đội công trình IV
Trang 40các công đoạn nhất định Xí nghiệp tổ chức sản xuất kinh doanh theo mô hình vừa
tập trung, vừa khoán gọn Quy trình sản xuất của các công trình như sau:
- Giai đoạn khảo sát thiết kế
- Giải phóng mặt bằng
- Thi công xây dựng công trình
Mỗi giai đoạn đều tiêu hao định mức nguyên vật liệu, tiêu phí nguyên vật liệu trực
tiếp Đây là chi phí chiếm tỉ trọng lớn trong giá thành công trình xây dựng, nó
chiếm khoảng từ 60-80% tổng chi phí sản xuất Xí nghiệp phải tiến hành phân loại
vật liệu và sử dụng sổ luân chuyển vật liệu để theo dõi chi tiết tình hình nhập, xuất
vật liệu, kiểm tra đối chiếu theo nguyên tắc của hạch toán chi tiết vật liệu theo hình
thức sổ luân chuyển vật liệu
- Về tài sản cố định: có nguồn hình thành từ ngân sách cấp, nguồn vốn tự có, nguồn
vốn tín dụng….Khi các đội tiến hành thi công các công trình cần sử dụng máy móc
thi công thì Xí nghiệp sẽ điều xuống công trình, khoản chi phí này chiếm khoảng 2
% giá thành
- Đối với tiền lương: Khoản chi phí này chiếm tỉ trọng khá lớn trong tổng chi phí
sản xuất, trong kỳ nó chiếm khoảng từ 12-15% trong điều kiện hiện nay
- Các chi phí gián tiếp: Khoản chi phí này của Xí nghiệp cũng rất phức tạp chứa
nhiều nội dung kinh tế khác nhau liên quan đến nhiều chế độ tài chính, khoản chi
phí này chiếm khoảng3,5% trong giá thành
- Chi phí sản xuất chung: Đây là toàn bộ chi phí phục vụ cho quá trình tổ chức sản
xuất, tổ chức quản lý trong phạm vi phân xưởng sản xuất bao gồm:
+ Chi phí tiền lương, bảo hiểm phụ cấp
+ Chi phí khấu hao máy móc thiết bị
+ Các khoản chi phí khác bao gồm: chi phí dịch vụ mua ngoài như điện, nước ,
điện thoại…