Họ c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1 1. MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong những nguồn lực quan trọng đảm bảo các hoạt động của nhà nước gắn với từng thời kỳ nhất định. Những năm của thời kỳ đổi mới, công tác quản lý ngân sách liên tục được đổi mới và tăng cường theo hướng đơn giản hoá quy trình, tăng hiệu quả, đẩy mạnh tiết kiệm, chống lãng phí. Các khoản thu chi của Ngân sách nhà nước đã được cơ cấu lại theo hướng thu đúng, thu đủ, giảm thuế cho những công trình dự án ưu tiên, thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội. Giảm các khoản chi bao cấp, tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên chi cho những nhiệm vụ phát triển kinh tếxã hội quan trọng và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc. Công tác quản lý và phân cấp ngân sách đã có những đổi mới cơ bản, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm cho các cấp chính quyền địa phương và các đơn vị sử dụng ngân sách, thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý, kiểm soát thu chi NSNN đã được sửa đổi bổ sung theo hướng đơn giản, thuận lợi... Gia Bình được tái lập ngày 1181999 theo Nghị quyết số 681999NĐCP. Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới trong công tác quản lý NSNN của đất nước, công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Gia Bình đã đạt được những thành tựu đáng kể. Là một huyện thuần nông thu nhập của người dân chủ yếu là từ nông nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không phát triển, nguồn thu NSNN không nhiều, trong khi đó nhu cầu đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho huyện mới tái lập là tương đối lớn, nên việc tự cân đối ngân sách huyện là rất khó khăn. Chi thường xuyên, chi đầu tư xây dựng cơ bản và các khoản chi khác trên địa bàn chủ yếu dựa vào nguồn bổ sung của ngân sách cấp trên. Do đó, huyện cũng đã chỉ đạo việc quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả thu chi NSNN, đảm bảo đáp ứng kịp thời, đầy đủ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, giảm thiểu tối đa các hạn chế trong quản lý chi NSNN góp phần quan trọng trong tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ NGỌC LAN
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
Ở HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS QUYỀN ĐÌNH HÀ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở huyện Gia Bình, tỉnh
Bắc Ninh” được thực hiện từ tháng 6/2013 đến tháng 8/2014
Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc, phần lớn thông tin thu thập từ điều tra thực tế
ở địa phương, số liệu đã được tổng hợp và xử lý
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để công bố, bảo vệ một học vị nào
Tác giả
Trần Thị Ngọc Lan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành bản luận văn này
Cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
- Phó Giáo sư, Tiến sỹ Quyền Đình Hà, người hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn;
- Lãnh đạo Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Khoa Kinh tế và PTNT, các thầy, cô giáo trong Bộ môn Kinh tế -Phát triển nông thôn đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện Gia Bình, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, Thủ trưởng các cơ quan, ban, ngành hưởng lương ngân sách huyện, UBND các xã và thị trấn của huyện Gia Bình
đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn
Cảm ơn gia đình cùng toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn./
Trần Thị Ngọc Lan
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu 3
1.5.2 Phạm vi không gian 3
1.5.3 Phạm vi về thời gian 3
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1.1 Khái quát về quản lý ngân sách nhà nước 4
2.1.2 Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 13
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 25
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 27
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 27
2.2.2 Bài học kinh nghiệm 32
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
Trang 53.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của huyện Gia Bình 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xă hội của huyện 34
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 42
3.2 Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 46
3.2.2 Phương pháp xử lý phân tích số liệu, thông tin 48
3.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 49
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51
4.1 Thực trạng Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở huyện Gia Bình trong những năm qua 51
4.1.1 Bộ máy quản lý ngân sách nhà nước 51
4.1.2 Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở huyện Gia Bình trong những năm qua 53
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 97
4.2.1 Yếu tố khách quan 97
4.2.2 Yếu tố chủ quan 99
4.3 Các giải pháp tăng cường quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới .101
4.3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Gia Bình 101
4.3.2 Phương hướng quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh .102
4.3.3 Giải pháp tăng cường quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới .103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115
1 Kết luận 115
2 Kiến nghị 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6DANH MỤC BẢNG
STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 3.1: Số phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng 47 Bảng 4.1: Dự toán tỉnh giao nhiệm vụ thu cho huyện Gia Bình năm 2010-2013 54 Bảng 4.2: Dự toán tỉnh giao nhiệm vụ chi cho huyện Gia Bình năm 2010-2013 54 Bảng 4.3 : Kết quả điều tra công tác lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước 56 Bảng 4.4: Dự toán thu ngân sách của các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Gia
Bình năm 2013 57 Bảng 4.5: Tình hình thực hiện thu ngân sách so với dự toán 59 Bảng 4.6: Tình hình thực hiện chi ngân sách so với dự toán 62 Bảng 4.7: Tỷ lệ phân chia giữa các cấp ngân sách các khoản thu phân chia tỷ lệ
phần trăm (%) trên địa bàn huyện thời kỳ 2011-2015 68 Bảng 4.8: Tỷ lệ phân chia giữa các cấp ngân sách các khoản thu phân chia tỷ lệ
phần trăm (%) trên địa bàn huyện Gia Bình thời kỳ ổn đinh ngân sách 2011-2015 69 Bảng 4.9 Định múc phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách địa phương
Cấp huyện (1000đ) 73 Bảng 4.10: Tổng hợp Quyết toán thu ngân sách huyện trên địa bàn huyện giai
đoạn 2010-2013 77 Bảng 4.11: Tổng hợp thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện theo từng sắc
thuế năm 2010 và năm 2013 78 Bảng 4.12: Tình hình thực hiện thu ngân sách trên địa bàn Huyện Gia Bình
(Giai đoạn 2010-2013) 82 Bảng 4.13: Tổng hợp chi ngân sách cấp huyện giai đoạn 2010-2013 83 Bảng 4.14: Tổng hợp chi ngân sách xã giai đoạn 2010-2013 84 Bảng 4.15: Số thuế còn nợ đến hết năm 2013 của các đơn vị trên địa bàn huyện
Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 92
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT TÊN BIỂU ĐỒ TRANG
Biểu đồ 3.1 Biến động cơ cấu kinh tế huyện Gia Bình năm 2007 – 2012 38
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu nông nghiệp năm 2007 huyện Gia Bình 39
Biểu đồ 3.3 Cơ cấu nông nghiệp năm 2012 huyện Gia Bình 40
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ tỷ trọng thu cân đối NSNN giai đoạn 2010 -2013 79
Biểu đồ 4.2: Cơ cấu nguồn thu ngân sách cấp huyện giai đoạn 2010 - 2013 80
Biểu đồ 4.3 Biểu đồ cơ cấu chi cân đối ngân sách giai đoạn 2010 – 2013 86
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
NSTW : Ngân sáchtrương ương
NSĐP : Ngân sách địa phương
ĐVT : Đơn vị tính
TH/DT : Thực hiện/ Dự toán
CSC : Chính sách công
GTGT : Giá trị gia tăng
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
Trang 9
1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong những nguồn lực quan trọng đảm bảo các hoạt động của nhà nước gắn với từng thời kỳ nhất định Những năm của thời kỳ đổi mới, công tác quản lý ngân sách liên tục được đổi mới và tăng cường theo hướng đơn giản hoá quy trình, tăng hiệu quả, đẩy mạnh tiết kiệm, chống lãng phí Các khoản thu- chi của Ngân sách nhà nước đã được cơ cấu lại theo hướng thu đúng, thu đủ, giảm thuế cho những công trình dự án ưu tiên, thực hiện các mục tiêu
an sinh xã hội Giảm các khoản chi bao cấp, tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên chi cho những nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội quan trọng và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc Công tác quản lý và phân cấp ngân sách đã
có những đổi mới cơ bản, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm cho các cấp chính quyền địa phương và các đơn vị sử dụng ngân sách, thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý, kiểm soát thu- chi NSNN đã được sửa đổi bổ sung theo hướng đơn giản, thuận lợi
Gia Bình được tái lập ngày 11/8/1999 theo Nghị quyết số 68/1999/NĐ-CP Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới trong công tác quản lý NSNN của đất nước, công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Gia Bình đã đạt được những thành tựu đáng kể Là một huyện thuần nông thu nhập của người dân chủ yếu là từ nông nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không phát triển, nguồn thu NSNN không nhiều, trong khi đó nhu cầu đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho huyện mới tái lập là tương đối lớn, nên việc tự cân đối ngân sách huyện là rất khó khăn Chi thường xuyên, chi đầu tư xây dựng cơ bản và các khoản chi khác trên địa bàn chủ yếu dựa vào nguồn bổ sung của ngân sách cấp trên Do đó, huyện cũng đã chỉ đạo việc quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả thu- chi NSNN, đảm bảo đáp ứng kịp thời, đầy đủ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, giảm thiểu tối đa các hạn chế trong quản lý chi NSNN góp phần quan trọng trong tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội
Trang 10Tuy nhiên làm thế nào để việc quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả thu - chi ngân sách, trong khi công tác quản lý ngân sách nhà nước còn bộc lộ những khó khăn, hạn chế nhất định:
- Thu ngân sách vẫn chưa bao quát các nguồn thu trên địa bàn, vẫn còn tình trạng thất thu, nguồn thu ngân sách còn hạn chế Chưa đề ra được biện pháp tận thu, tạo điều kiện nuôi dưỡng nguồn thu
- Trong công tác lập, chấp hành, thanh tra, kiểm tra và quyết toán ngân sách còn hạn chế, mang tính chất phân bổ, dự toán giao chưa sát với nhiệm vụ cụ thể của địa phương Dẫn đến tình trạng hiệu quả đầu tư còn thấp, chi đầu tư còn dàn trải, thiếu tập trung dẫn đến thất thoát, lãng phí trong quản lý và sử dụng NSNN còn cao, chi tiêu thường xuyên còn vượt dự toán, nhiều bất hợp lý…
Xuất phát từ thực tiễn công tác quản lý NSNN những năm qua ở huyện Gia
Bình, tỉnh Bắc Ninh, tôi chọn vấn đề “Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở
huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ chuyên
ngành Quản lý kinh tế nhằm góp phần giải quyết vấn đề cấp bách nói trên
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu phân tích thực trạng quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện hiện nay trên địa bàn huyện Gia Bình, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường chất lượng quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện trên địa bàn huyện Gia Bình trong thời gian tới
Trang 111.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Tại sao phải nghiên cứu quản lý Ngân sách nhà nước cấp huyện ở huyện Gia Bình ?
- Cơ sở lý luận và thực tiễn gì về Quản lý Ngân sách nhà nước cấp huyện hiện nay?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến Quản lý Ngân sách nhà nước cấp huyện hiện nay?
- Thực tế vấn đề Quản lý Ngân sách nhà nước cấp huyện hiện nay ở huyện Gia Bình như thế nào?
- Giải pháp nào để tăng cường Quản lý ngân sách cấp huyện tại huyện Gia
Bình trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận về Quản lý NSNN Quản lý NSNN cấp huyện
- Thực trạng Quản lý NSNN cấp huyện ở huyện Gia Bình
- Các yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý ngân sách nhà nước
1.5 Phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện từ năm 2010 đến năm 2013 Trong đó, về chi NSNN không nghiên cứu quản lý chi đối với các khoản chi của ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh và ngân sách xã phát sinh trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Các giải pháp chủ yếu để tăng cường Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện của huyện Gia Bình tốt hơn trong những năm tới
-Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quản lý NSNN cấp huyện trên địa bàn huyện Gia Bình trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2013
1.5.2 Phạm vi không gian
Luận văn được tiến hành nghiên cứu ở huyện Gia Bình
1.5.3 Phạm vi về thời gian
- Thời gian làm luận văn: Từ tháng 06/2013 đến tháng 8/2014
- Thời gian thu thập số liệu nghiên cứu: 4 năm ( 2010- 2013)
Trang 122 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái quát về quản lý ngân sách nhà nước
2.1.1.1 Khái niệm, vai trò ngân sách nhà nước
* Khái niệm ngân sách nhà nước
Từ “Ngân sách” được lấy ra từ thuật ngữ “budjet” một từ tiếng Anh thời trung cổ, dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó có chứa những khoản tiền cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của nhà vua cho những mục đích công cộng như, đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đường xá và chi tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách biệt nhau Khi giai cấp tư sản lớn mạnh từng bước khống chế nghị viện và đòi hỏi tách bạch hai khoản chi tiêu này, từ đó nảy sinh khái niệm ngân sách nhà nước
Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định Một bảng tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình, cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là ngân sách Nhà nước
Từ điển tiếng Việt thông dụng định nghĩa :
“Ngân sách: Tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định”
Điều 1 của Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai, năm 2002 cũng khẳng định:
“Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.”
Về bản chất của ngân sách nhà nước, đằng sau những con số thu, chi đó là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp,
hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối
và sử dụng quỹ ngân sách
Ngân sách nhà nước (NSNN) Việt Nam gồm: ngân sách trung ương
Trang 13(NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP) Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền Nhà nước ta hiện nay ngân sách địa phương bao gồm: Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh), ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung
là ngân sách cấp huyện) và ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã) ( giáo trình CSC)
NSNN cấp huyện là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được HĐND, UBND cấp huyện quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trên địa bàn huyện
* Vai trò của ngân sách Nhà nước
- Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Ngân sách Nhà nước là đảm bảo nguồn tài chính để thực hiện chức năng nhà nước công quyền, duy trì sự tồn tại của
hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương Ngân sách Nhà nước là công cụ quan trọng để thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, tạo đà tăng trưởng và ổn định nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước, bù đắp những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, thực hiện tiến trình công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
- Ngân sách Nhà nước đầu tư cho sự phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng ổn định và điều khiển nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước Ngoài việc đảm bảo ngân sách cho chi thường xuyên Nhà nước cần phải tác động vào quá trình phát triển kinh tế bằng các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn hoặc kế hoạch dài hạn Với ý nghĩa đó, tiềm lực tài chính của Nhà nước phải đủ mạnh đảm bảo cho Nhà nước chủ động thực hiện chính sách tài khoá nới lỏng hoặc thắt chặt, thực hiện kích cầu đầu tư, tiêu dùng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Ngân sách Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên cho sự hoạt động của bộ máy hành chính, đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường sinh thái, giữ gìn an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền đất nước và trật tự
xã hội
- Hiện nay trong nền kinh tế năng động, thời kỳ kinh tế Việt Nam hội nhập với các nền kinh tế trên toàn cầu, việc sử dụng Ngân sách Nhà nước để tác động vào
Trang 14nền kinh tế là hết sức quan trọng Do đó luật ngân sách cũng cần phải được sửa đổi,
bổ sung cho hoàn thiện để đáp ứng đúng yêu cầu là vai trò thúc đẩy sự phát triển và
ổn định cho một nền kinh tế năng động của nước ta hiện nay
Ngân sách Nhà nước với tư cách là một công cụ tài chính vĩ mô sắc bén, nhạy cảm, hiệu quả để Nhà nước can thiệp, điều chỉnh nền kinh tế Do vậy, Nhà nước cần phải nắm chắc cơ chế tác động của thu, chi ngân sách đối với kinh tế thông qua nhận thức đầy đủ và làm chủ cơ chế tác động của hiệu ứng kích thích kinh tế của Ngân sách Nhà nước để tăng cường vai trò thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều khiển kinh tế vĩ mô của Ngân sách Nhà nước
- Song song với việc chi đảm bảo cho hoạt động của hệ thống chính trị, đầu tư cho phát triển đem lại những thành tựu to lớn Nhiệm vụ quan trọng không kém là những khiếm khuyết mà nền kinh tế thị trường đã tạo ra là môi trường sinh thái ô nhiễm, sự mất cân đối về cơ hội phát triển kinh tế - xã hội, sự chênh lệch giữa các vùng miền trong cả nước Vì vậy để giảm bớt tình trạng ô nhiễm môi trường và đảm bảo công bằng xã hội thì Ngân sách Nhà nước cần có các biện pháp nhằm giải quyết các hậu quả do nền kinh tế thị thường đã đem lại cho xã hội
2.1.1.2 Bản chất của ngân sách nhà nước
Về mặt hình thức biểu hiện, có thể hiểu ngân sách là toàn bộ các khoản chi tiêu của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Các biểu hiện bên ngoài của NSNN rất phong phú, rất đa dạng nhưng cũng rời rạc; đó là bảng tổng hợp các khoản thu, khoản chi của nhà nước, là mức động viên các nguồn lực tài chính vào trong tay nhà nước, những khoản đóng góp của các thành viên cho xã hội và các hình thức cấp phát của nhà nước cho các thành viên Tuy NSNN có biểu hiện rời rạc phân tán nhưng hoạt động của nó đều nằm trong sự kiểm soát của nhà nước Các nội dung bên trong của NSNN có mối quan hệ chặt chẽ nhau, phần lớn nguồn thu NSNN mang tính chất bắt buộc, thu không hoàn toàn thông qua hình thức thuế, còn các khoản chi phần lớn mang tính chất cấp phát không hoàn lại, trừ trường hợp góp vốn tham gia các tổ chức kinh tế
Và chính nội dung này đóng vai trò quyết định sự tồn tại của NSNN Chủ thể của
Trang 15NSNN chính là nhà nước
Tuy nhiên, bản chất kinh tế của NSNN được hình thành từ các mối quan hệ bên trong trong quá trình hoạt động của nó Hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối các nguồn tài chính, nguồn này được chia thành hai phần là một phần nộp vào NSNN và phần để lại cho xã hội, phần nộp vào NSNN tiếp tục được phân phối cho tiêu dùng và đầu tư và phần để lại cho xã hội cũng vậy Vì vậy hoạt động của NSNN là quá trình giải quyết các quyền lợi kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong xã hội, gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ NSNN Như vậy làm xuất hiện hàng loạt các quan hệ giữa một bên là nhà nước và một bên là các chủ thể xã hội, được thể hiện qua các khoản thu và các khoản chi của NSNN Như vậy hệ thống các quan hệ tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ NSNN tạo nên bản chất kinh tế của NSNN, thể hiện ở các mối quan hệ chủ yếu; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính, sự nghiệp, phát sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính Quản lý NSNN chính là quá trình tác động vào các mối quan hệ trên, để đạt được mục tiêu nhất định
Như vậy, mặc dù các biển hiện của NSNN rất phong phú đa dạng nhưng thực chất chúng phản ảnh những nội dung cơ bản là:
Thứ nhất, NSNN là phạm trù kinh tế khách quan nhưng được sử dụng theo ý
định chủ quan của nhà nước;
Thứ hai, xét nội dung vật chất thì NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của
nhà nước, do nhà nước quản lý, sử dụng;
Thứ ba, xét về nội dung quản lý thì NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản của
chính phủ, được thực hiện trong một thời kỳ (thường là một năm) có 3 đặc trưng: tính dự toán, tính cân đối và tính thời hạn;
Thứ tư, xét về pháp lý thì NSNN là một đạo luật tài chính;
Thứ năm, quy mô của NSNN nhà nước quyết định bởi kết quả hoạt động của
nền kinh tế quốc dân
Do vậy, có thể đi đến kết luận một cách toàn diện và khoa học: Bản chất của
Trang 16NSNN, đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế được phát sinh trong quá trình phân phối bằng giá trị tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ KT-XH của nhà nước trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Nghiên cứu nắm vững bản chất
của NSNN để thấy rõ các mối quan hệ, sự tác động qua lại của các quan hệ để có những giải pháp quản lý NSNN hiệu quả Quản lý NSNN ảnh hưởng đến nhiều đối tượng, nhiều cấp chính quyền cần phải thận trọng, cơ chế chính sách trong quản lý NSNN cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc, khoa học, dân chủ, được xem xét trong các mối quan hệ thì khi áp dụng mới mang lại hiệu quả cao
2.1.1.3 Chức năng của ngân sách nhà nước
NSNN có các chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Một là, chức năng phân phối NSNN Bộ máy nhà nước muốn thực hiện được
sự hoạt động của mình một cách bình thường và ổn định để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ là quản lý mọi mặt của đời sống xã hội của một quốc gia thì nhất thiết phải có nguồn ngân sách nhà nước đảm bảo
Với quyền lực tối cao của mình, nhà nước sử dụng các công cụ, các biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết Nhưng cơ sở để hình thành nguồn lực tài chính đó là từ sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh Vì vậy, muốn động viên được nguồn thu NSNN ngày càng tăng và có hiệu quả thì nền kinh tế nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng phải được phát triển với tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao
Do đó, nhà nước trong quá trình quản lý KT - XH phải nắm được quy luật kinh tế
và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan Đồng thời phải bảo đảm hài hoà các quan hệ lợi ích của các chủ thể của nền kinh tế
Một NSNN vững mạnh là một ngân sách mà cơ chế phân phối của nó đảm bảo được sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh nuôi dưỡng nguồn thu, trên cơ sở đó tăng được thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước ngày càng tăng lên
Mặt khác, một NSNN vững mạnh còn phải thể hiện việc phân phối và quản
lý chi đúng đắn, hợp lý, hiệu quả Nhà nước sử dụng khối lượng tài chính từ nguồn
Trang 17NSNN để chi tiêu vào mục đích phát triển kinh tế xã hội và chi tiêu cho sự hoạt động của bộ máy nhà nước Như vậy, chức năng của NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực hiện quản lý và phân phối chi tiêu sao cho có hiệu quả
lý, theo dõi các phát sinh và những nhân tố ảnh hưởng đến thu- chi
Tóm lại, NSNN có hai chức năng cơ bản- chức năng phân phối và chức năng giám đốc NSNN không thể cân đối được nếu như không thực hiện đầy đủ hai chức năng đó, bởi vì nếu không có sự giám đốc trong việc động viên khai thác hợp lý các nguồn thu và do đó, sẽ dẫn đến tình trạng thất thu dưới nhiều hình thức Nếu không thực hiện tốt chức năng phân phối thì cũng không thể động viên được nguồn thu cho NSNN
Chức năng phân phối và chức năng giám đốc của NSNN đều có vị trí và tầm quan trọng của nó Do đó, cần phải coi trọng cả hai chức năng đó và tổ chức chỉ đạo
để các cơ quan chức năng thực hiện tốt hai chức năng đó của NSNN
2.1.1.4 Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước
* Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ
Điều 6 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 quy định: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”
Trong hoạt động ngân sách điều này có tầm quan trọng đặc biệt Một mặt, nó bảo đảm sự thống nhất ý chí và lợi ích qua huy động và phân bổ ngân sách để có được những hàng hoá, dịch vụ công cộng có tính chất quốc gia Mặt khác, nó đảm bảo phát huy tính chủ động và sáng tạo của các địa phương, các tổ chức, cá nhân trong đảm bảo giải quyết các vấn đề cụ thể, trong những hoàn cảnh và cơ sở cụ thể Tập trung ở đây không phải là độc đoán, chuyên quyền mà trên cơ sở phát huy dân chủ thực sự trong tổ chức hoạt động ngân sách của các cấp chính quyền, các ngành,
Trang 18các đơn vị Nguyên tắc này được quán triệt thông qua sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong phân cấp quản lý ở ba khâu của chu trình ngân sách
* Nguyên tắc công khai, minh bạch
Công khai có nghĩa là để cho mọi người biết Minh bạch là làm cho mọi việc trở nên rõ ràng, dễ hiểu, sáng sủa, không thể nhầm lẫn được Quản lý ngân sách đòi hỏi phải công khai, minh bạch xuất phát từ đòi hỏi chính đáng của người dân với tư cách là người nộp thuế cho Nhà nước
Việc Nhà nước có đảm bảo trách nhiệm trước dân về huy động và sử dụng các nguồn thu hay không phụ thuộc nhiều vào tính minh bạch của ngân sách Điều này cũng rất quan trọng đối với nhà tài trợ, những người hiển nhiên sẽ không hài lòng nếu sau khi hỗ trợ tài chính cho một quốc gia lại không có đủ thông tin về việc
sử dụng nó vào đâu, như thế nào? Những nhà đầu tư cũng cần có sự minh bạch về ngân sách để có thể đưa ra các quyết định đầu tư, cho vay Trước yêu cầu của hội nhập quốc tế, năm 1998 Quỹ tiền tệ quốc tế đã tập hợp quy tắc chung về tính minh bạch để các nước hướng tới bao gồm các nội dung chủ yếu là:
Ngân sách phải đảm bảo tính toàn diện:
Điều này có nghĩa là các hoạt động trong và ngoài ngân sách đều được đề phản ánh vào trong tài liệu trình quốc hội xem xét, quyết định
Các hoạt động ngoài ngân sách cần được thể hiện trong các tài liệu ngân sách
và báo cáo kế toán
Các dự toán ngân sách ban đầu và sửa đổi cho hai năm trước năm ngân sách cần được đính kèm trong tài liệu về ngân sách
Mức nợ và cơ cấu nợ của chính quyền trung ương cần được báo cáo hàng năm
Cơ sở cho lập ngân sách nhà nước như: Các mục tiêu và chính sách ưu tiên cũng như các dự báo kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng cần được trình bày rõ ràng, nhằm tạo điều kiện cho Quốc hội, Hội đồng ND có thể giám sát ngân sách Đảm bảo tính khách quan độc lập:
Trang 19Cần có các cơ chế để Báo cáo quyết toán ngân sách của Chính phủ phải được
cơ quan kiểm toán bên ngoài độc lập xác nhận Các chuẩn mực về kiểm toán sử dụng cần nhất quán với các chuẩn mực Quốc tế
Các phát hiện của kiểm toán phải được báo cáo cho cơ quan lập pháp và có biện pháp giải quyết kịp thời
Luật ngân sách của Việt Nam cũng được sửa đổi theo hướng tiếp cận với các quy tắc về minh bạch ngân sách trên ở cả ba khâu của chu trình ngân sách Các cấp, các đơn vị dự toán, các tổ chức và cá nhân được NSNN hỗ trợ phải công khai dự toán và quyết toán ngân sách Nội dung công khai theo các mẫu đã được Bộ Tài chính quy định Hình thức công khai chủ yếu là: thông báo bằng văn bản cho các cơ quan hữu quan, phát hành ấn phẩm; công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính Thời gian công khai cũng được quy định rõ đối với từng cấp ngân sách Các cơ quan như: Tài chính, Kho bạc nhà nước, các cơ quan thu của Nhà nước phải niêm yết công khai quy trình, thủ tục tại nơi giao dịch Các tài liệu trình Quốc hội, HĐND về dự toán và phân bổ ngân sách được quy định đầy đủ, rõ ràng theo Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phân bổ ngân sách Trung ương và phê chuẩn quyết toán NSNN Chính phủ Ban hành Quy chế xem xét, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương Chính phủ quy định cụ thể việc công khai ngân sách
* Nguyên tắc đảm bảo trách nhiệm
Với tư cách là người được nhân dân “uỷ thác” trong việc sử dụng nguồn lực, Nhà nước phải đảm bảo trách nhiệm trước nhân dân về toàn bộ quá trình quản lý ngân sách, về kết quả thu, chi ngân sách Chịu trách nhiệm hữu hiệu bao gồm khả năng điều trần và gánh chịu hậu quả
Khả năng điều trần là yêu cầu đối với cán bộ quản lý ngân sách và các quan chức của các bộ, ngành định kỳ phải trả lời các câu hỏi liên quan đến thu, chi ngân sách cũng như kết quả đạt được đằng sau các con số thu, chi đó
Khả năng gánh chịu hậu quả là khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật về những sai phạm mà các nhà quản lý thu, chi ngân sách gây ra Những hậu quả này cũng cần được rõ ràng, quy định trước và thực thi hữu hiệu tránh hình thức
Trang 20Tính chịu trách nhiệm bao gồm chịu trách nhiệm có tính chất nội bộ và chịu trách nhiệm bên ngoài
Chịu trách nhiệm nội bộ của nhà quản lý ngân sách bao gồm chịu trách nhiệm của cấp dưới với cấp trên, với co quan giám sát, cơ quan kiểm tra ngân sách trong nội bộ Nhà nước
Chịu trách nhiệm ra bên ngoài muốn nói tới ở đây là tính chịu trách nhiệm của các bộ, ngành đối với khách hàng của mình như những người nộp thuế hay đối tượng được hưởng các dịch vụ y tế, giáo dục Nâng cao tính chịu trách nhiệm ra bên ngoài đặc biệt cần thiết khi nhà nước gia tăng phi tập trung hoá, tăng tự chủ trong quản lý ngân sách cho các địa phương, bộ, ngành, đơn vị Điều này cũng được thể hiện rõ trong luật ngân sách của Việt Nam Quốc hội, Hội đồng nhân dân được bầu theo nhiệm kỳ và chịu trách nhiệm giải trình trước toàn bộ cử tri về ngân sách
Cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm giải trình trước cơ quan lập pháp
Nhiệm vụ, quyền hạn của các bên liên quan đến ngân sách như: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch đầu
tư, Uỷ ban nhân dân các cấp, các tổ chức, cá nhân được quy định rõ ràng trong luật ngân sách
Trong phân cấp ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào cấp đó đảm bảo, việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của cấp mình, thì buộc phải chuyển kinh phí đi kèm để cấp dưới có thể hoàn thành nhiệm vụ Người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm tổ chức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng
* Nguyên tắc đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước
Cân đối ngân sách nhà nước ngoài sự cân bằng về thu, chi còn là sự hài hoà, hợp lý trong cơ cấu thu, chi giữa các khoản thu, chi; các lĩnh vực, các ngành; các cấp chính quyền thậm chí ngay cả giữa các thế hệ (ví dụ: vay nợ)
Trang 21Đảm bảo cân đối ngân sách là một đòi hỏi có tính chất khách quan xuất phát
từ vai trò nhà nước trong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục tiêu ổn định, hiệu quả và công bằng Thông thường, khi thực hiện ngân sách các khoản thu dự kiến sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Vì thế, tính toán nhu cầu chi sát với khả năng thu trong khi lập ngân sách là rất quan trọng Các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu bù đắp
Đối với một nước nghèo như Việt Nam nguyên tắc này đã được quán triệt chặt chẽ trong quá trình quản lý ngân sách trên cả ba khâu: Lập dự toán, tổ chức chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách cũng như quá trình phân cấp ngân sách cho các địa phương
Các cấp chính quyền cần được phân cấp nguồn thu, giao nhiệm vụ chi cụ thể Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó đảm bảo, việc ban hành các chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp đó
2.1.2 Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
2.1.2.1.Khái niệm, vai trò quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
a Khái niệm
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, ngân sách nhà nước ta tổ chức thành hai cấp: Ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh, thành phố Việc phân cấp như vậy là phù hợp với nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền trong việc huy động tối đa nguồn lực tài chính Ở thời kỳ này, ngân sách huyện đóng vai trò là một cấp
dự toán
Ngày 15/5/1978, với chủ trương xây dựng huyện thành một cấp có cơ cấu kinh
tế hoàn chỉnh, có tư cách là một đơn vị kinh tế công nông nghiệp phát triển toàn diện, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết 108/CP xác định quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp huyện về quản lý tài chính, ngân sách Nghị quyết có quy định các khoản thu, chi ngân sách huyện Ngày 19/11/1983, Hội đồng
Bộ trưởng ra Nghị quyết số 138/HĐBT về cải tiến phân cấp ngân sách địa phương, nói rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của ngân sách huyện
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
Trang 22có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với việc đổi mới của nền kinh tế đất nước, ngân sách huyện cũng được xác định lại vai trò, nhiệm vụ của mình Cụ thể, ngày 27 /11 /1989 HĐBT đã ra Nghị quyết số 186 /HĐBT vè phân cấp quản lý ngân sách địa phương trong đó có Ngân sách Huyện Ngày 16 /2 /1992 HĐBT ban hành Nghị quyết số 186 / HĐBT sửa đổi bổ sung nghị quyết 186/ HĐBT ngày 27/11/1989
Kỳ họp thứ 8 Quốc Hội khoá IX khẳng định: huyện là một cấp chính quyền có ngân sách, ngân sách huyện là một bộ phận hợp thành ngân sách địa phương thuộc
Ngân sách huyện mang bản chất của ngân sách nhà nước, đó là mối quan hệ giữa ngân sách huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện, mối quan hệ đó được điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Có thể nói, việc ngân sách huyện trở thành một cấp ngân sách đã làm cho bộ mặt ngân sách nhà nước mang một diện mạo, sắc thái mới, nền tài chính quốc gia trở nên lành mạnh và hiệu quả hơn Thực tế đã chứng minh, trong những năm qua, xét riêng ở cấp độ huyện, tình hình kinh tế - xã hội có những bước tiến đáng kể Ngoài ra, ngân sách huyện còn thể hiện bản chất chính trị của Nhà nước ta thông qua việc thực hiện đúng đắn, hiệu quả, có sáng tạo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Quản lý Ngân sách huyện là quá trình quản lý hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp huyện; quản lý các khoản thu, chi của huyện đã được HĐND cấp huyện phê chuẩn, UBND cấp huyện quyết định giao và được thực hiện trong một
Trang 23năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cấp trên giao và Hội đồng nhân dân huyện đề ra
b Vai trò của ngân sách nhà nước cấp huyện
NSNN là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính cơ bản, tổng hợp của nhà nước Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có vai trò quyết định sự phát triển của nền KT-XH Vai trò của NSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của nhà nước các cấp trong đó có nhà nước cấp huyện Ở nước ta hiện nay, Ngân sách nhà nước cấp huyện có các vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất NSNN cấp huyện duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước của huyện, bằng việc huy động, khai thác các nguồn lực tài chính từ mọi lĩnh vực, các thành phần kinh tế theo các hình thức bắt buộc hay tự nguyện Từ đó nhà nước sẽ tiến hành phân phối nguồn tài chính đó để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước của huyện theo tỷ lệ hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả nhằm duy trì và đảm bảo sức mạnh của bộ máy vừa đảm bảo thực hiện được chức năng KT-XH hội trên địa bàn huyện
Thứ hai NSNN cấp huyện là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định trên địa bàn huyện, thông qua NSNN huyện, HĐND, UBND huyện sẽ định hướng đầu tư, mục tiêu phát triển kinh tế trên địa bàn huyện theo đúng định hướng phát triển
Thứ ba NSNN cấp huyện đóng vai trò trong việc thực hiện công bằng và giải quyết các vấn đề xã hội trên địa bàn huyện KTTT phân phối nguồn lực theo phương thức riêng của nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó Mặt trái của
nó là phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất bình đằng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội Bên cạnh đó do mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu nguồn lực thường khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bị hủy hoại, nhiều loại hàng hóa và dịch vụ
mà xã hội cần nhưng khu vực tư nhân không cung cấp như hàng hóa công cộng Do
đó nếu để kinh tế thị trường tự điều chỉnh mà không có vai trò của nhà nước thì sẽ phát triển thiếu bền vững Vì vậy nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ là
Trang 24chính sách thuế khóa và chi tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho XH, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo công bằng XH, bảo vệ môi trường sinh thái, thông qua NSNN huyện, chính quyền huyện sẽ thực hiện cung cấp các dịch vụ công cộng như y tế, giáo dục, văn hoá, xoá đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, giữ gìn môi trường, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn
2.1.2.2 Mục tiêu quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Nhằm quản lý tốt NSNN cấp huyện cần hướng tới những mục tiêu cơ bản sau:
Một là, quản lý thống nhất nguồn NSNN thuộc trách nhiệm quản lý của cấp huyện Mọi khoản thu, chi của cấp huyện phải đưa vào một kế hoạch ngân sách thống nhất, được phản ánh đầy đủ, rõ ràng, thống nhất trong dự toán NSNN để HĐND, UBND huyện có thể thông qua và không được bù trừ giữa các khoản thu, chi hay dành một khoản thu nào đó để thực hiện trang trải cho một khoản chi nhất định
Hai là, nâng cao tính chủ động, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng NSNN Tạo điều kiện hoạt động độc lập hơn cho khả năng của mình
để xây dựng các chính sách chi tiêu, hướng tới việc nâng cao trách nhiệm về chính trị, tính hiệu quả và minh bạch
Ba là, đảm bảo kỷ luật tài chính Việc phân bổ các chi tiêu theo cách phân loại trong mục lục ngân sách và các đơn vị, khi thực hiện huy động cũng như chi tiêu phải theo đúng dòng mục trong dự toán ngân sách đã được phê duyệt cho đối tượng và mục đích sử dụng, tránh dùng khoản kinh phí của nhiệm vụ này để thực hiện cho nhiệm vụ khác
Bốn là, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn ngân sách và tài sản của nhà nước Việc quản lý, sử dụng ngân sách sẽ được đánh giá, công khai tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của các khoản chi tiêu góp phần quản lý NSNN được tốt hơn
2.1.2.3 Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
* Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn:
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý NSNN Nội dung của nguyên tắc này là mọi khoản thu, chi phải được ghi đầy đủ vào kế hoạch
Trang 25ngân sách Nhà nước, mọi khoản chi phải được vào sổ và quyết toán rành mạch Chỉ
có kế hoạch ngân sách đầy đủ, trọn vẹn mới phản ánh đúng mục đích chính sách và đảm bảo tính minh bạch của các tài khoản thu, chi
* Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách Nhà nước
Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách Nhà nước bắt nguồn từ yêu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của Nhà nước Biểu hiện cụ thể sức mạnh vật chất của Nhà nước là thông qua hoạt động thu - chi của ngân sách Nhà nước Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách Nhà nước được thể hiện:
Mọi khoản thu - chi của ngân sách Nhà nước phải tuân thủ theo những quy định của Luật ngân sách Nhà nước và phải được dự toán hàng năm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Tất cả các khâu trong chu trình ngân sách Nhà nước khi triển khai thực hiện phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quyền lực là Hội đồng nhân dân
- Hoạt động ngân sách Nhà nước đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế, xã hội của quốc gia Hoạt động kinh tế, xã hội của quốc gia là nền tảng của hoạt động ngân sách Nhà nước Hoạt động ngân sách Nhà nước phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội, đồng thời là hoạt động mang tính chất kiểm chứng đối với hoạt động KT-XH
* Nguyên tắc cân đối ngân sách
Ngân sách Nhà nước được lập và thu chi ngân sách phải được cân đối Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu bù đắp Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân luôn cố gắng để đảm bảo cân đối nguồn ngân sách Nhà nước bằng cách đưa ra các quyết định liên quan tới các khoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà nền kinh tế có khả năng đáp ứng
* Nguyên tắc công khai, minh bạch
Việc nhà nước có đảm bảo trách nhiệm trước dân về huy động và sử dụng các nguồn thu hay không phụ thuộc nhiều vào tính minh bạch của ngân sách Điều này cũng rất quan trọng đối với nhà tài trợ, những người hiển nhiên sẽ không hài lòng nếu sau khi hỗ trợ tài chính cho một địa phương lại không có đủ thông tin về
Trang 26việc sử dụng nó vào đâu, như thế nào Những nhà đầu tư cũng cần có sự minh bạch
về ngân sách để có thể đưa ra các quyết định đầu tư, cho vay
* Nguyên tắc rõ ràng, trung thực và chính xác
Nguyên tắc này là cơ sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhận được chương trình hoạt động của Chính quyền địa phương và chương trình này phải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính Địa phương
Nguyên tắc này đòi hỏi: Ngân sách Nhà nước được xây dựng rành mạch, có
hệ thống; Các dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chính xác và phải đưa vào kế hoạch ngân sách; Không được che đậy và bào chữa đối với tất cả các khoản thu, chi ngân sách Nhà nước; Không được phép lập quỹ đen, quỹ ngoài ngân sách nhà nước
2.1.2.4 Nội dung quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
* Lập dự toán ngân sách nhà nước cấp huyện
Dự toán ngân sách huyện gồm dự toán thu ngân sách và dự toán chi ngân sách Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán ngân sách là nhằm tính toán đúng đắn ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn các chỉ tiêu thu, chi của ngân sách trong kỳ kế hoạch
Yêu cầu trong quá trình lập dự toán ngân sách phải đảm bảo:
+ Kế hoạch ngân sách Nhà nước phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH Kế hoạch ngân sách chỉ mang tính hiện thực khi nó bám sát kế hoạch phát triển, xã hội
Có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch phát triển KTXH, cũng chính là thực hiện kế hoạch ngân sách Nhà nước Trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý vĩ mô, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu mang tính định hướng
+ Kế hoạch ngân sách Nhà nước phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan điểm của chính sách tài chính địa phương trong thời kỳ và yêu cầu của Luật ngân sách Nhà nước Hoạt động ngân sách Nhà nước là nội dung cơ bản của chính sách tài chính Do vậy, lập ngân sách Nhà nước phải thể hiện được đầy đủ và đúng đắn các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chính địa phương như: Trật tự
Trang 27và cơ cấu động viên các nguồn thu, thứ tự và cơ cấu bố trí các nội dung chi tiêu Bên cạnh đó, ngân sách Nhà nước hoạt động luôn phải tuân thủ các yêu cầu của Luật ngân sách Nhà nước, nên ngay từ khâu lập ngân sách cũng phải thể hiện đầy
đủ các yêu cầu của Luật ngân sách Nhà nước như: Xác định phạm vi, mức độ của nội dung các khoản thu, chi phân định thu, chi giữa các cấp ngân sách, cân đối ngân sách Nhà nước
+ Lập dự toán ngân sách phải lập theo đúng yêu cầu, nội dung, biểu mẫu và thời gian quy định theo thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính và văn bản hướng dẫn của Sở Tài chính
+ Lập dự toán ngân sách phải kèm theo báo cáo thuyết minh rõ cơ sở, căn cứ tính toán
+ Lập dự toán ngân sách cấp huyện và xã, thị trấn phải cân bằng thu, chi
Về căn cứ lập dự toán ngân sách huyện hàng năm: Dự toán NSNN huyện
được lập dựa trên sáu căn cứ:
Một là, nhiệm vụ phát triển KTXH và bảo đảm quốc phòng, an ninh; chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánh quy mô nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện KT-XH và tự nhiên của địa phương
Hai là, những quy định về phân cấp quản lý KT-XH, phân cấp quản lý ngân sách
Ba là, lập ngân sách Nhà nước phải dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức cụ thể về thu, chi tài chính Nhà nước Lập ngân sách Nhà nước là xây dựng các chỉ tiêu thu chi cho năm kế hoạch, các chỉ tiêu đó chỉ có thể được xây dựng sát, đúng, ngoài dựa vào căn cứ nói trên phải đặc biệt tuân thủ theo các chế
độ, tiêu chuẩn, định mức thu, chi tài chính Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật (đặc biệt là hệ thống các Luật thuế) và các văn bản pháp lý khác của Nhà nước Trong đó:
Đối với thu NSNN, việc lập dự toán phải căn cứ vào mức tăng trưởng kinh tế địa phương, các chỉ tiêu liên quan, tình hình thu thực tế qua các năm và các quy định của pháp luật về thu ngân sách
Đối với chi đầu tư phát triển, việc lập dự toán phải căn cứ vào những dự án
Trang 28đầu tư có đủ các điều kiện bố trí vốn theo quy định tại quy chế quản lý vốn đầu tư xây dựng và phù hợp với khả năng ngân sách hàng năm
Đối với chi thường xuyên việc lập dự toán phải tuân theo chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Trong đó HĐND cấp tỉnh căn cứ định mức phân bổ chi ngân sách địa phương do chính phủ quyết định, ban hành định mức phân bổ chi ngân sách huyện
Bốn là, việc lập dự toán trong thời kỳ ổn định ngân sách căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung cân đối từ ngân sách cấp tỉnh đã được giao, đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào chế độ phân cấp ngân sách và dự toán thu, chi ngân sách huyện do UBND tỉnh giao
Năm là, số kiểm tra về dự toán ngân sách do Sở Tài chính thông báo tình hình thực hiện ngân sách các năm trước
* Chấp hành ngân sách nhà nước cấp huyện
Mục tiêu của chấp hành ngân sách là biến các chỉ tiêu thu, chi trong kế hoạch ngân sách từ khả năng, dự kiến thành hiện thực Kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức về kinh tế - tài chính của nhà nước Thông qua chấp hành ngân sách mà tiến hành đánh giá sự phù hợp của chính sách với thực tiễn
- Chấp hành thu ngân sách huyện: Theo Luật ngân sách Nhà nước, chấp hành thu ngân sách có nội dung như sau:
+ Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan hải quan và cơ quan khác được giao nhiệm vụ thu ngân sách (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu ngân sách Nhà nước
+ Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Phối hợp với các cơ quan Nhà nước hữu quan tổ chức thu đúng pháp luật, chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Uỷ ban nhân dân và sự giám sát của Hội đồng nhân dân về công tác thu ngân sách tại địa phương; Phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật ngân sách và các quy định khác của Pháp luật
+ Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách phải nộp
Trang 29đầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào NSNN
- Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách: Sau khi UBND giao dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo các nguyên tắc được quy định tại Điểm a khoản 1 điều 44 của Nghị định số 60/2003/NĐ- CP ngày 06 tháng 6 năm
2003 của Chính phủ Dự toán chi thường xuyên giao cho đơn vị sử dụng ngân sách được phân bổ theo từng loại của Mục lục ngân sách Nhà nước, theo các nhóm mục: Chi thanh toán cá nhân; Chi nghiệp vụ, chuyên môn; Chi mua sắm, sửa chữa; Các khoản chi khác
+ Nội dung cơ bản của chi thường xuyên ngân sách huyện (xét theo lĩnh vực chi): Chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, văn hoá xã hội; Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh
tế của Nhà nước; Chi cho hoạt động hành chính Nhà nước; Chi cho Quốc phòng -
An ninh và trật tự an toàn xã hội; Chi khác
Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên của ngân sách huyện bao gồm: Nguyên tắc quản lý theo dự toán; Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước
+ Nội dung cơ bản của chi đầu tư phát triển: Trên nguyên tắc quản lý cấp phát thanh toán vốn đầu tư XDCB như cấp phát vốn trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, đảm bảo đầy đủ các tài liệu thiết kế, dự toán; Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch; Cấp phát vốn đầu tư XDCB chỉ được thực hiện theo đúng mức
độ thực tế hoàn thành kế hoạch, trong phạm vi giá dự toán được duyệt; Việc cấp phát vốn đầu tư XDCB được thực hiện bằng hai phương pháp cấp phát không hoàn trả và có hoàn trả
* Quyết toán ngân sách nhà nước cấp huyện
Nghị định 60/2003/NĐ-CP, ngày 06/6/2003 của Chính phủ có hiệu lực thì quyết toán ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, số quyết toán ngân sách nhà nước là số thu đã được thực nộp hoặc hạch toán thu ngân sách nhà nước qua KBNN
Trang 30Thứ hai, số quyết toán chi ngân sách nhà nước là số chi đã thực thanh toán hoặc đã hạch toán chi theo quy định tại điều 62 của Luật ngân sách nhà nước và các khoản chi chuyển nguồn sang năm sau để chi tiếp theo quy định tại khoản 2 điều 66 của Nghị định này
Thứ ba, số liệu trong báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác, trung thực, đầy đủ Nội dung báo cáo quyết toán ngân sách phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được giao và chi tiết theo mục lục NSNN Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ; chịu trách nhiệm về những khoản thu, chi hạch toán, quyết toán ngân sách sai chế độ
Thứ tư, báo cáo quyết toán năm của đơn vị dự toán cấp dưới gửi đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp I gửi Phòng Tài chính huyện
Thứ năm, báo cáo quyết toán năm gửi cấp có thẩm quyền để thẩm định, phê duyệt phải có xác nhận của KBNN huyện về tổng số và chi tiết
Thứ sáu, báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán và của các cấp chính quyền địa phương không được quyết toán chi lớn hơn thu
Thứ bảy, ngân sách cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí uỷ quyền của ngân sách cấp trên vào báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước cấp mình Cuối năm, phòng Tài chính – Kế hoạch huyện được uỷ quyền lập báo cáo quyết toán kinh phí uỷ quyền theo quy định gửi Sở tài chính và cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cấp uỷ quyền
Thứ tám, KBNN huyện có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi phòng Tài chính- Kế hoạch huyện để lập báo cáo quyết toán, KBNN huyện xác nhận số liệu thu, chi ngân sách trên báo cáo quyết toán của ngân sách các cấp, đơn
Trang 31quyết toán theo chế độ quy định và gửi đơn vị dự toán cấp trên Đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc Các đơn vị dự toán cấp trên là đơn vị dự toán cấp I, phải tổng hợp và lập báo cáo quyết toán năm của đơn vị mình và báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc, gửi cơ quan tài chính cùng cấp Cơ quan Tài chính cấp huyện thẩm định quyết toán năm của các đơn vị dự toán cấp huyện xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý sai phạm trong quyết toán của đơn vị dự toán cấp huyện, ra thông báo thẩm định quyết toán, gửi đơn vị dự toán cấp huyện Trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan tài chính duyệt quyết toán và thông báo kết quả duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp I
Về trình tự lập, thẩm định, phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán thu, chi NSNN năm của ngân sách cấp huyện: Các mẫu, biểu báo cáo quyết toán năm của ngân sách nhà nước nói chung và ngân sách huyện nói riêng thực hiện theo chế độ
kế toán nhà nước và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính Tài chính ngân sách
xã có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã trình UBND xã xem xét gửi phòng Tài chính - Kế hoạch huyện đồng thời trình HĐND xã phê chuẩn Trường hợp báo cáo quyết toán năm của xã do HĐND xã phê chuẩn có thay đổi so với báo cáo quyết toán năm do UBND xã đã gửi phòng Tài chính – Kế hoạch huyện, thì UBND xã báo cáo bổ sung, gửi phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Sau khi HĐND xã phê chuẩn, Ban tài chính xã gửi báo cáo quyết toán về Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện đồng thời gửi Kho bạc nhà nước huyện Nghị quyết phê chuẩn quyết toán của HĐND xã Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện có trách nhiệm thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã; Lập quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện; Tổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu NSNN trên địa bàn huyện và quyết toán thu, chi ngân sách huyện (bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện và quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã) trình UBND huyện xem xét gửi Sở Tài chính, đồng thời trình HĐND huyện phê chuẩn Trường hợp báo cáo quyết toán năm của huyện do HĐND huyện phê chuẩn có thay đổi so với báo cáo quyết toán năm do UBND huyện đã gửi Sở Tài chính, thì UBND huyện lập báo cáo bổ sung gửi Sở Tài chính Sau khi HĐND huyện phê chuẩn, trong phạm vị không quá 5 ngày, Phòng
Trang 32Tài chính – Kế hoạch huyện gửi báo cáo quyết toán đến Sở Tài chính, HĐND, UBND; Đồng thời, gửi Kho bạc Nhà nước huyện Nghị quyết phê chuẩn quyết toán của HĐND cấp huyện
Duyệt báo cáo quyết toán năm đối với đơn vị dự toán: Cơ quan quản lý xét duyệt từng khoản thu, chi phát sinh tại đơn vị, các khoản thu phải đúng pháp luật, pháp lệnh thuế, pháp lệnh phí, lệ phí và các chế độ thu khác của nhà nước; các khoản chi phải đảm bảo các điều kiện chi quy định, thu chi phải hạch toán theo đúng chế độ kế toán, đúng mục lục ngân sách nhà nước, đúng niên độ ngân sách; Chứng từ thu, chi phải hợp pháp Sổ sách và báo cáo quyết toán phải khớp với chứng từ và khớp với số liệu của KBNN
* Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm pháp luật về quản lý ngân sách nhà nước
- Về kiểm tra, thanh tra ngân sách
Cơ quan thanh tra tài chính huyện có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành thu, chi và quản lý ngân sách Khi thực hiện nhiệm vụ, Thanh tra tài chính huyện có quyền: yêu cầu tổ chức, cá nhân được thanh tra xuất trình các hồ sơ, các tài liệu kèm theo; yêu cầu các cơ quan có liên quan tham gia phối hợp thực hiện thanh tra; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, Thanh tra tài chính xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật; khi tiếp nhận các kiến nghị của cơ quan Thanh tra tài chính, cơ quan có thẩm quyền phải xử lý và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan Thanh tra tài chính.Thanh tra tài chính phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra của mình Nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Thanh tra tài chính trong việc thanh tra quản lý, sử dụng ngân sách được quy định trong văn bản riêng của Chính phủ
- Về kế toán ngân sách
Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, nộp NSNN, sử dụng vốn, kinh phí NSNN và quản lý các khoản thu, chi tài chính phải tổ chức hạch toán kế toán, lập báo cáo kế toán và quyết toán các khoản thu, chi của NSNN và các khoản thu, chi tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê, theo chế độ kế toán và Mục lục NSNN
Trang 33- Về khen thưởng và xử lý vi phạm pháp luật về NSNN
+Khen thưởng: Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện NSNN thì được UBND huyện khen thưởng theo quy định của pháp luật Việc quản lý ngân sách hiệu quả, tiết kiệm, tăng đầu tư phát triển, tăng thu, tăng điều tiết cho ngân sách, giảm
bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên là căn cứ để đánh giá, khen thưởng
+ Xử lý vi phạm về NSNN: Những hành vi sau đây là những hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách; Không kê khai hoặc kê khai sai doanh thu, thu nhập, chi phí, giá và các căn cứ tính các khoản phải nộp ngân sách, trì hoãn, nộp không đầy đủ thuế hoặc không thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN, trừ trường hợp được phép chậm nộp do cơ quan có thẩm quyền quyết định; Cho miễn, giảm và cho phép chậm nộp các khoản phải nộp NSNN sai thẩm quyền, trái nội dung quy định, giữ lại nguồn thu của ngân sách sai chế độ, sử dụng các nguồn thu được để lại chi không đúng mục đích Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt, hoặc chiếm dụng nguồn thu ngân sách; Thực hiện phân chia sai nguồn thu giữa các cấp ngân sách, thu sai quy định của pháp luật; Chi sai chế độ, không đúng mục đích, không đúng
dự toán ngân sách được giao; duyệt quyết toán sai quy định của pháp luật Hạch toán sai chế độ kế toán của nhà nước và mục lục NSNN gây thiệt hại cho ngân sách,
tổ chức, cá nhân được phép tự kê khai, tự nộp thuế mà kê khai sai, nộp sai chế độ quy định gây thiệt hại cho ngân sách, quản lý hoá đơn, làm giả hoá đơn và chứng từ thanh toán, sử dụng hoá đơn, chứng từ không hợp pháp, quyết toán ngân sách chậm
so với thời hạn quy định, trì hoãn việc chi ngân sách khi đã bảo đảm có đủ các điều kiện chi Các hành vi trái với quy định của Luật NSNN và những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
2.1.3.1 Các yếu tố khách quan
+ Các quy định về quản lý NSNN của cơ quan quản lý cấp trên
Các quy định của cơ quan quản lý cấp trên về phạm vi, đối tượng thu, chi
Trang 34ngân sách; Quy định, chế định việc phân công, phân cấp nhiệm vụ chi, quản lý chi
của các cấp chính quyền; Quy định quy trình, nội dung lập, chấp hành và quyết toán
ngân sách; Quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong
quá trình quản lý thu, chi ngân sách, sử dụng quỹ ngân sách; Quy định, chế định
những nguyên tắc, chế độ và định mức chi tiêu Mọi hoạt động, các quy định quản
lý của cơ quan quản lý NSNN huyện được thực hiện, xây dựng trên cơ sở tuân thủ
các quy định đó của cơ quan quản lý tài chính cấp trên
+ Mức độ phát triển kinh tế và mức thu nhập của các tổ chức kinh tế và của
người dân Khi kinh tế phát triển và mức thu nhập bình quân của người dân tăng
lên Nó không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn thu cho ngân
sách và sử dụng có hiệu quả, mà nó còn đòi hỏi các chính sách, chế độ, mức chi tiêu
ngân sách phải thay đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế và mức thu nhập mức
sống của người dân Khi trình độ phát triển kinh tế và mức sống của người dân ở
mức cao thì việc thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước có thể rất dễ dàng Còn nếu
trình độ và mức sống dân cư thấp thì việc thu thuế cũng rất khó khăn Theo đó, việc
quản lý NSNN huyện sẽ gặp khó khăn
2.1.3.2 Các yếu tố chủ quan
Thứ nhất: Cơ cấu tổ chức bộ máy, cán bộ quản lý NSNN; Khi nói đến cơ cấu
tổ chức là một bộ máy quản lý ngân sách người ta thường đề cấp đến quy mô nhân
sự của nó và trong sự thiết lập ấy chính là cơ cấu tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý
ngân sách nhà nước và các mối quan hệ giữa các cấp, giữa các bộ phận trong quá
trình thực hiện quản lý Nếu việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
chính quyền cấp huyện không rõ ràng, cụ thể thì dễ xảy ra tình trạng hoặc thiếu
trách nhiệm, hoặc lạm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý ngân sách Sự
thiết lập bộ máy đảm bảo vận hành nhịp nhàng đúng nhiệm vụ và chức năng quyền
hạn giữa các cấp, các bộ phận trong tổ chức bộ máy và các cán bộ quản lý ngân
sách nhà nước, có sự phân công, phân cấp thì ngân sách nhà nước được quản lý hiệu
quả, chặt chẽ Bộ máy quản lý phải gọn nhẹ nhưng bao quát được nguồn thu, chi
đảm bảo trên nguyên tắc họat động có hiệu quả nhất
Trang 35Thứ hai: Trình độ phát triển KTXH của địa phương
Trình độ phát triển KTXH của địa phương là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến quản lý Ngân sách Nhà nước ở địa phương Địa phương có hạ tầng tốt, có vị trí địa chiến lược thuận lợi cho phát triển kinh tế và thông thương hàng hóa, có cơ chế chính sách thu hút đầu tư và khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân làm ăn kinh doanh sẽ là điểm đến của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo nên nguồn thu từ thuế cho Ngân sách Nhà nước của địa phương Doanh nghiệp càng làm ăn thuận lợi, càng phát triển thì địa phương càng có cơ hội tăng thu ngân sách từ thuế Những qui định công khai, minh bạch của chính quyền địa phương, cùng với nhận thức đúng đắn của đối tượng nộp thuế, phí sẽ là điều kiện tăng nguồn thu ngân sách Mặt khác, trình độ phát triển KTXH kém, hạ tầng thấp kém sẽ không thu hút được các nhà đầu tư, địa phương sẽ phải dành khoản ngân sách lớn hơn cho chi phát triển, dễ dẫn đến mất cân đối thu, chi Ngân sách Nhà nước Có thể nói, trình độ phát triển KTXH của địa phương có tác động không nhỏ đến nhận thức của người quản lý Ngân sách Nhà nước, đến nhận thức của đối tượng nộp thuế, đối tượng thực hiện các công việc từ nguồn Ngân sách Nhà nước và do đó có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Ngân sách Nhà nước ở địa phương
Công tác lập dự toán, chấp hành kế toán và quyết toán đối với ngân sách địa phương được thực hiện như sau: Ngày 31/03 hàng năm các đơn vị phải lập dự toán gửi Bộ Nội Chính, cuối tháng 5, Bộ Nội Chính tiến hành kiểm tra các công trình đầu tư với mục đích xem xét lại việc đầu tư có theo đúng dự án ban đầu không, nếu
Trang 36dự án thực hiện đúng theo tiến độ thì đây là cơ sở bố trí cho năm sau; Đến 31/7 Bộ Nội Chính gửi hướng dẫn xây dựng dự toán năm sau cho các địa phương theo nguyên tắc trao quyền chủ động cho địa phương; Tháng 8 Bộ Nội Chính giao số kiểm tra cho các đơn vị, trong đó quy định chi tiết từng hạng mục cần thiết như mục chi lương, chi lễ hội ; Cuối tháng 12 các cơ quan Tài chính địa phương lập và phân
bổ dự toán báo cáo UBND trình HĐND quyết định; Kết thúc năm, đơn vị tỉnh, thành phố, quận, huyện phải nộp quyết toán cho Bộ Nội Chính Dựa trên tiêu chuẩn quy định, Bộ Nội Chính thực hiện phân tích quyết toán, mỗi địa phương có một bộ phận chuyên môn riêng kiểm tra quyết toán Việc kiểm tra quyết toán không làm thường xuyên mà tuỳ thuộc hàng năm, thời gian kiểm toán là 20 ngày
Đối với công lập kế hoạch trung hạn: Cùng với việc lập dự toán ngân sách hàng năm UBND các cấp phải xây dựng kế hoạch tài chính và chỉ tiêu trung hạn kế hoạch này được gửi HĐND, nhưng HĐND không phê chuẩn kế hoạch này mà sử dụng để làm căn cứ xem xét quyết định dự toán ngân sách hàng năm Mục tiêu việc xây dựng kế hoạch tài chính và chỉ tiêu trung hạn là để tăng cường hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực ngân sách, gắn kế hoạch hàng năm với kế hoạch trung hạn;
Phân cấp ngân sách cho địa phương:
Nhiệm vụ chi: Ngân sách địa phương thực hiện nhiệm vụ chi còn lại theo nguyên tắc giao quyền tự trị cho địa phương như chi quản lý hành chính địa phương, chi phúc lợi, y tế xã hội, chi phát triển nông nghiệp, thương mại, quy hoạch thành phố và xây dựng hệ thống cấp nước, trả nợ vay của ngân sách địa phương Nguồn thu: bao gồm thuế đăng ký, thuế chuyển nhượng, thuế dân cư, thuế giáo dục địa phương, thuế tài sản thuế giao thông, thuế xe, thuế tiêu dùng thuốc lá, phí thu từ các dịch vụ công, dịch vụ quản lý hành chính, thu tiền nước, thu từ hoạt động của tầu điện ngầm do địa phương quản lý với các cơ cấu nguồn thu như trên ngân sách địa phương chỉ chiếm khoảng 20 % trong tổng ngân sách Nhà nước Đối với chi ngân sách: Chi ngân sách của Hàn Quốc đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực giáo dục và phát triển nhân lực, Xét ở số tương đối chi cho lĩnh vực này chiếm khoảng 13% tổng chi ngân sách địa phương trong đó giáo dục phổ thông chiếm 87%, giáo dục trên phổ thông và mầm non là 13% (riêng với giáo dục phổ
Trang 37thông cơ cấu chi lương chiếm 70% tổng chi cho giáo dục)
Bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương : Bổ sung từ ngân sách Địa phương cho ngân sách Trung ương chia thành 3 loại
Loại 1 là trợ cấp cân đối để bù đắp thâm hụt ngân sách nhằm đảm bảo cho các địa phương có đủ nguồn tài chính tối thiểu, để thực hiện các nhiệm vụ chi được phân cấp Trợ cấp cân đối được xác định trên nguyên tắc chênh lệch thu, chi Nguồn trợ cấp cân đối từ ngân sách trung ương cho địa phương bằng 15% tổng thu nội địa Tổng thu nội địa xác định bằng tổng thu thuế quốc gia trừ thuế giao thông, thuế giáo dục, thuế đặc biệt cho phát triển nông thôn và thuế hải quan Tuy nhiên khi tính trợ cấp cân đối còn trừ thuế rượu, bia và thuế điện thoại vì hai loại thuê này chuyển giao 100% cho địa phương ở trợ cấp loại 2
Loại 2 là trợ cấp theo mục tiêu và trọn gói cho địa phương nhằm tập trung vào
5 lĩnh vực cần ưu tiêu phát triển như: Đường giao thông, hệ thống thoát nước, phát triển nông thôn, phát triển kinh tế địa phương và giáo dục thanh thiếu niên, trong 5 lĩnh vực đầu tư này cũng quy định cụ thể tỉ lệ phần trăm(%) dành cho từng lĩnh vực
Cụ thể là 46% cho xây dựng đường giao thông, 25% cho cấp nước, thoát nước, 19% cho phát triển vùng, 8,3 % cho phát triển nông thôn và 0,7 % cho giáo dục thanh thiếu niên Nguồn để bổ sung trợ cấp loại 2 được xác định trên cơ sở tổng số của 100% tiền thu sử dụng điện thoại và thuế tiêu thụ đặc biệt mặt hàng bia, rượu
Loại 3 là trợ cấp theo một tỉ lệ nhất định, loại trợ cấp này được sử dụng cho những lĩnh vực về nguyên tắc trung ương phải đảm bảo, nhưng do những dự án này
có hiệu quả thiết thực đến người dân địa phương nên Nhà nước đã giao cho địa phương làm (như Trung tâm văn hoá - TDTT, xây dựng đường tàu điện ngầm, xây dựng cơ sở hạ tầng) Mức hỗ trợ NSNN cho từng lĩnh vực được quy định cụ thể
2.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở một số địa phương ở Việt Nam
- Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước của huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Chư Sê là một huyện nằm về phía Nam của của tỉnh Gia Lai có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, KT-XH có nhiều điểm tương đồng với huyện Đak Đoa Huyện
có 15 xã, thị trấn, đây là huyện có số thu tương đối lớn so với các huyện trong toàn
Trang 38tỉnh chỉ đứng sau thành phố Plei Ku do làm tốt việc quản lý, khai thác nguồn thu trên địa bàn từ các khoản thuế ngoài quốc doanh, đến các khoản thu phí, lệ phí, thu khác nên công tác quản lý NSNN trên địa bàn tương đối tốt, đảo bảo được nhu cầu chi tiêu cho bộ máy chính quyền địa phương góp phần vào phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
Sáu tháng đầu năm 2013 thu ngân sách ước thực hiện 100 tỷ đồng, một số chỉ tiêu vượt dự toán đầu năm, như thu thuế ngoài quốc doanh đạt 69%, lệ phí trước bạ 66%, thuế nhà đất 77% Tổng chi ngân sách thực hiện 59.164 triệu đồng, trong đó chi phát triển kinh tế 9.617 triệu đồng, chi tiêu dùng thường xuyên 49.476 triệu đồng
Trong điều hành chi ngân sách, cấp uỷ, chính quyền các cấp ở Chư Sê đã chỉ đạo sát sao, chặt chẽ và các cơ quan chuyên môn tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát ngay từ đầu năm nên việc chi tiêu bám sát dự toán, bảo đảm cân đối tích cực Chi đầu tư phát triển KT-XH được bảo đảm tiến độ thực hiện dự án, chi tiêu dùng tiết kiệm, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của huyện và cơ sở Ngoài
ra, Chư Sê còn đáp ứng kinh phí phục vụ các khoản chi đột xuất của huyện, xã, thị trấn, đã tạo điều kiện cho các cấp, ngành hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Quản
lý ngân sách xã luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm KBNN huyện đã tích cực kết hợp với các ngành thuộc khối tài chính quản lý chặt chẽ thu, chi, thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ quản lý, điều hành ngân sách trên địa bàn huyện Đồng thời phòng Tài chính – Kế hoạch đã triển khai chương trình tin học kế toán ngân sách
xã, nhằm đưa ứng dụng công nghệ vào việc hạch toán kế toán quản lý thu, chi, đáp ứng nhu cầu quản lý ngân sách xã trong giai đoạn hiện nay Năm 2008, tổng thu NSNN là 150 tỉ đồng, tăng 13% so với dự toán đầu năm; ngân sách huyện, xã dự kiến thu 145 tỉ đồng, tăng 15% so với dự toán đầu năm Đối với chi ngân sách Chư
Sê giữ ổn định theo dự toán mà HĐND huyện đã phê duyệt; trên cơ sở một số nguồn thu tăng, huyện sẽ bổ sung thêm nhiệm vụ chi là 24.000 triệu đồng, như bổ sung tăng vốn đầu tư XDCB 9.000 triệu đồng, chi sự nghiệp kinh tế 2.500 triệu đồng, chi thường xuyên 7.400 triệu đồng Để chủ động quản lý về điều hành ngân sách những tháng cuối năm, Chư Sê tập trung khắc phục những yếu kém, đề ra các biện pháp thực hiện, phấn đấu hoàn thành vượt dự toán thu, bảo đảm nhiệm vụ chi
Trang 39Tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, phấn đấu thực hiện đạt, vượt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2013 Các cấp chính quyền địa phương, ngành thuế và một số ngành chức năng làm rõ nguyên nhân thất thu đối với từng chỉ tiêu thu ở từng lĩnh vực, từng địa bàn Tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất, tạo vốn từ quỹ đất để xây dựng cơ sở hạ tầng Chư Sê thực hiện nghiêm các quy định để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Tiếp tục củng cố công tác quản lý tài chính, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý điều hành của bộ máy chính quyền cấp xã
- Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước của Thành phố Đà lạt
Thành phố Đà lạt là thành phố là trung tâm kinh tế - chính trị - hành chính của tỉnh Lâm Đồng, đây cũng là một trong những Trung tâm dụ lịch lớn của cả nước, gồm có 12 phường và 3 xã Cơ cấu kinh tế được xác định là: Dịch vụ du lịch - công nghiệp - nông lâm nghiệp
Công tác quản lý thu thuế, phí và lệ phí được thực hiện trên cơ sở đề án ủy nhiệm thu được UBND tỉnh phê duyệt, Chi cục thuế thực hiện quản lý thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đối với các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh có doanh thu lớn, thu tiền thuê đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất thu cấp quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, cấp xã, phường tổ chức thu thuế nhà đất, môn bài từ bậc 4 đến bậc 6, thuế công thương nghiệp đối với hộ kinh doanh nhỏ, người trực tiếp thực hiện ủy nhiệm thu và xã, phường được trích tỷ lệ hoa hồng ủy nhiệm thu từ kinh phí của Chi cục thuế
Công tác quản lý chi thường xuyên: Đã tiến hành khoán biên chế và khoản chi hành chính nên đơn vị dự toán đã chủ động trong sử dụng kinh phí được ngân sách nhà nước cấp, sắp xếp bộ máy, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ và tăng thu nhập cho cán bộ, công chức Thực hiện nghiêm túc việc công khai ngân sách các cấp, nhất là các quỹ nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng
Việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cũng như tỷ lệ điều tiết các khoản thu giữa các cấp ngân sách thực hiện ổn định trong 4 năm đã từng bước nâng được tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong điều hành ngân sách, tăng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Trang 402.2.2 Bài học kinh nghiệm
Từ kinh nghiệm về quản lý NSNN của một số nước và các tỉnh có thể rút ra một số kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả quản lý NSNN ở Việt Nam và ở huyện Gia Bình, Bắc Ninh cụ thể:
- Trong quá trình quản lý thu, chi NSNN cần kiểm soát chặt chẽ các khoản thu, chi ngân sách, kìm hãm sự gia tăng quá mức nhu cầu chi; Cần coi trọng các khoản chi kích hoạt sự đầu tư của khu vực tư và đảm bảo phân phối công bằng xã hội
- Quản lý NSNN có liên quan chặt chẽ với chu trình ngân sách và phương diện phân cấp quản lý NSNN Trong phân cấp ngân sách, cần chú trọng cân đối giữa NSTW và NSĐP nhằm phát huy vai trò của các cấp chính quyền địa phương trong phát triển KTXH
- Kiểm tra quyết toán thu, chi rất chú trọng đến hiệu quả của công tác quản
lý thu, chi NSNN Quá trình lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán NSNN đều được quan tâm chặt chẽ từ khâu lập dự toán đến khâu cuối cùng
- Công tác kiểm tra, thanh tra và kiểm toán quản lý NSNN luôn coi trọng hàng đầu trong định hướng phát triển KTXH
- Coi thực hiện công khai tài chính ngân sách các cấp là biện pháp để tăng cường giám sát của cán bộ, công chức và nhân dân trong việc quản lý sử dụng ngân sách ở địa phương, đơn vị, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách
Từ kinh nghiệm về quản lý NSNN trên, huyện Gia Bình, Bắc Ninh cũng cần nhìn nhận xem quá trình quản lý ngân sách nhà nước của địa phương mình có hiệu quả đúng mức chưa để có giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong quản lý NSNN cấp huyện ở huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới