- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp tại các doanh nghiệp - Chương 2: Thực trạng phát triển mạng lưới phân phối ổn áp STANDA ở Công ty Cổ phẩn Tiêu chuẩn Việt - Chương 3: Giải phát phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp STANDA của Công ty Cổ phần Tiêu chuẩn Việt những năm tới
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, kinh tếViệt Nam đã có những bước tiến đáng kể trên con đường hội nhập sâu vàonền kinh tế thế giới Các cơ chế chính sách, pháp luật về kinh tế dần hoànthiện, mở đường cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động sảnxuất kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng
Các doanh nghiệp chuyên sản xuất, các doanh nghiệp Thương mại dịch
vụ, và cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều đang phát triển khôngngừng cả về mặt chiều rộng và chiều sâu
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, việc tiêu thụ sản phẩm là một trongnhững vấn đề cực kỳ quan trọng, hơn thế nữa, nó còn là vấn đề sống còn,mang tính chất quyết định tới mọi hoạt động khác của tổ chức
Nhằm mục tiêu tiêu thụ sản phẩm với kết quả và hiệu quả cao nhất, cácdoanh nghiệp cần phải thiết lập cho mình một mạng lưới phân phối sản phẩmsao cho phù hợp với tình hình thị trường, phù hợp với nhu cầu của người tiêudùng cũng như phải đủ mạnh để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.Chính vì thế, phải thiết lập mạng lưới phân phối như thế nào, tổ chức quản lý
và kiểm tra giám sát hoạt động của mạng lưới phân phối ra sao luôn là mộtvấn đề được các nhà lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm thực hiện
Công ty Cổ phần Tiêu Chuẩn Việt là một doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh, có nhà máy sản xuất và có bộ phận phát triển thị trường, tự tổ chứcphân phối sản phẩm của mình Trong quá trình gần 10 năm hoạt động, Công
ty đã xây dựng cho mình một mạng lưới phân phối sản phẩm phát huy hiệuquả tích cực trong từng giai đoạn phát triển Tuy vậy, thị trường cạnh tranhkhốc liệt luôn đòi hỏi các công ty phải đổi mới nhất là đổi mới tổ chức quản
lý, đổi mới mạng lưới phân phối sản phẩm để phù hợp với tình hình thực tế
Trang 2Bằng những kiến thức đã học, kết hợp với những kinh nghiệm thực tếthu được trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Tiêu Chuẩn Việt, đặcbiệt được sự tận tình chỉ bảo của Cô giáo Phan Tố Uyên tôi đã mạnh dạn chọn
đề tài: “Phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp STANDA tại Công ty Cổ phần Tiêu Chuẩn Việt”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bản báo cáo thực tập gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển mạng lưới phân phối sản
phẩm ổn áp tại các doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng phát triển mạng lưới phân phối ổn áp STANDA ở
Công ty Cổ phẩn Tiêu chuẩn Việt
- Chương 3: Giải phát phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp
STANDA của Công ty Cổ phần Tiêu chuẩn Việt những năm tớiChuyên đề này được hoàn thành là nhờ sự giúp đỡ tận tình của PGS TSPhan Tố Uyên và các anh chị trong Công ty Cổ phần Tiêu Chuẩn Việt Mặc dùbản thân tôi đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức, kinh nghiệm còn hạn chếđồng thời vấn đề phát triển mạng lưới phân phối là một vấn đề lớn và cực kỳquan trọng với mỗi công ty nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót,kính mong thầy cô giáo và các cán bộ công nhân viên trong Công ty Cổ phẩnTiêu Chuẩn Việt đóng góp ý kiến để bản báo cáo được hoàn chỉnh hơn
Trang 3Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI PHÂN PHỐI SẢN PHẨM ỔN ÁP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát chung về sản phẩm ổn áp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm chủ yếu của sản phẩm ổn áp
Mỗi loại sản phẩm đều có những đặc điểm, tính chất lý hóa học riêng.Tùy theo phương thức tạo ra sản phẩm và mục đích sử dụng mà sản phẩm đó
có những nét riêng biệt so với các sản phẩm khác trên thị trường
Sản phẩm ổn áp ra đời nhằm mục tiêu tạo ra dòng điện đúng theo chuẩnhoạt động của thiết bị điện tức là tạo ra điện áp mà tại đó thiết bị điện hoạtđộng trong điều kiện tốt nhất
1.1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm ổn áp
Mỗi một loại sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ trên thị trường đều cónhững đặc điểm, tính chất cơ lý hoá… khác nhau Sản phẩm ổn áp có một sốđặc điểm như:
Trang 4- Tiêu chuẩn kỹ thuật sản xuất ra chúng cao Bởi vì chức năng của loạisản phẩm ổn áp là tạo ra dòng điện có điện áp chuẩn nên các chi tiết, côngđoạn sản xuất mang tính kỹ thuật phải cực kỳ chính xác Hơn thế nữa, các quyđịnh, quy ước quốc tế, quốc gia về loại điện áp hoạt động cho các thiết bị điệnthường luôn là một giá trị duy nhất.
- Chủng loại sản phẩm đa dạng nhưng lại phụ thuộc rất nhiều vào cácthiết bị điện khác Bởi như đã nói ở trên, các chỉ số trên các thiết bị điện làcác chỉ số đã được quy chuẩn hóa
- Sản phẩm ổn áp có trọng lượng tương đối lớn Thông thường một laođộng chỉ có thể vận chuyển bằng tay một sản phẩm ổn áp
- Luôn được sử dụng đi kèm các thiết bị điện khác Chính vì thế, việctiêu thụ sản phẩm ổn áp có phụ thuộc vào lượng tiêu thụ các thiết bị điện năng
- Sản phẩm ổn áp được tiêu thụ chủ yếu trên thị trường mà tại đó nguồnđiện có điện áp không ổn định, không đúng chuẩn điện áp của thiết bị điện,hoặc được sử dụng để bảo vệ các thiết bị điện khác trong trường hợp cùng lúc
sử dụng nhiều thiết bị điện nhằm tiết kiệm điện năng, tăng thời gian sử dụngcủa các thiết bị điện
- Sản phẩm ổn áp là loại sản phẩm lâu bền Thông thường, một máy ổn
áp có thời gian hoạt động từ 5 – 7 năm, và trong điều kiện bảo quản tốt, điện áp
ổn định, nó có thể sử dụng tốt trong thời gian hơn 10 năm Và đây là loại sảnphẩm được tiêu dùng với sự lựa chọn kỹ lưỡng của khách hàng
1.1.2 Phân loại
Sản phẩm ổn áp hay máy ổn áp, hoặc có thể gọi là máy ổn định điện áp
có rất nhiều chủng loại khác nhau Có nhiều cách để phân loại các sản phẩm
ổn áp, tuy nhiên cách phân loại chủ yếu là dựa vào kích cỡ công suất, dải điện
áp, dòng điện danh định
Trang 5Theo cách phân loại phổ biến nhất hiện nay: Phân loại theo các chỉ tiêuhỗn hợp Tức là sản phẩm ổn áp gồm 2 chủng loại là máy ổn áp 1 pha và máy
ổn áp 3 pha Máy ổn áp 1 pha và 3 pha lại bao gồm nhiều loại khác nhau chiatheo công suất và dải điện áp
1.1.2.1 Máy ổn áp 1 pha
Máy ổn áp 1 pha được sản xuất cho mạng điện 220V, tần số 50/60 Hztheo các kích cỡ công suất tương ứng với trị số dòng điện danh định với cáckích thước khác nhau
Có thể khái quát các loại ổn áp 1 pha trong bảng sau:
Bảng 1.1: Các loại máy ổn áp 1 pha
TT LOẠI CÔNG SUẤT
(KVA)
DẢI ĐIỆN ÁP (VAC)
DÒNG ĐIỆN DANH ĐỊNH (A)
Nguồn: Tài liệu marketing của phòng kinh doanh năm 2008
Như vậy chủng loại máy ổn áp 1 pha hoạt động trong môi trường có dảiđiện áp vào – điện áp sơ cấp: 150V – 240V nhằm tạo ra điện áp ổn định 220Vvới dải công suất danh định từ 0,35KVA đến 50KVA
Trên bảng tổng hợp 1.1 là các loại máy ổn áp 1 pha thông dụng, đượcsản xuất chủ yếu trong nước và trên phạm vi khu vực Châu Á Ngoài ra, cũng
Trang 6có thể cùng một loại công suất nhưng hoạt động dưới dải điện áp khác ví như
từ 40V, 50V, 60V, 90V – 240V, người ta gọi đó là máy ổn áp 1 pha dải rộng.Còn rất nhiều loại máy ổn áp 1 pha với công suất, dải điện áp và dòng điệndanh định khác nhau được sản xuất dựa trên yêu cầu riêng của khách hàng
Đó là những sản phẩm mang tính cá biệt, ít thông dụng trên thị trường
Bảng 1.1 cho chúng ta cái nhìn tổng quan về các loại ổn áp 1 pha hiện
có mặt trên thị trường Một đánh giá chung nhất đó là các sản phẩm ổn áp 1pha cực kỳ đa dạng và phong phú
1.1.2.2 Máy ổn áp 3 pha
Máy ổn áp 3 pha được sản xuất cho mạng điện 380/220V, tần số50/60Hz theo các kích cỡ công suất tương ứng với trị số dòng điện danh định
và dải điện áp như sau:
Cũng như loại máy ổn áp 1 pha, máy ổn áp 3 pha cũng có rất nhiều loạikhác nhau phù hợp với tình hình tiêu thụ thực tế với các dải điện áp khácnhau, và công suất cũng khác nhau
Bảng 1.2: Các loại máy ổn áp 3 pha
CÔNG SUẤT
DẢI ĐIỆN ÁP (U dây – VAC)
DÒNG ĐIỆN DANH ĐỊNH (I pha A )
Trang 7Nguồn: Tài liệu marketing của phòng kinh doanh năm 2008.
Trên bảng 1.2 liệt kê 17 loại ổn áp 3 pha, với công suất từ 3KVA đến500KVA với dải điện áp 260V – 420V (đây được gọi là dải điện áp thường).Ngoài ra các doanh nghiệp còn sản xuất một lượng không nhỏ loại ổn áp 3pha dải rộng (sử dụng trong môi trường có điện áp sơ cấp 155V – 420V)nhằm tạo ra điện áp 220V hoặc 380V Và bên cạnh những loại ổn áp 3 phaphổ biến kể trên, trên thực tế, các nhà sản xuất vẫn tạo ra các loại máy theoyêu cầu riêng của người tiêu dùng Số lượng máy loại này thường nhỏ
Như vậy có thể khái quát loại máy ổn áp 3 pha hoạt động được trongmôi trường có dải điện áp 155/260V – 420V (điện áp sơ cấp) nhằm tạo radòng điện có điện áp 200V – 380V (điện áp thứ cấp), với công suất danh địnhcủa máy có thể từ 3KVA đến 500KVA, và chịu được dòng điện (cường độdòng điện) danh định tương ứng từ 4A đến 666,6A
1.2 Nội dung phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp
1.2.1 Quan niệm về phân phối và mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp phải đối mặt không ítkhó khăn từ sự thay đổi môi trường kinh doanh, sự cạnh tranh của các đối thủ,
Trang 8sức ép từ nhà cung ứng, từ khách hàng… Chính vì vậy việc tiêu thụ sảnphẩm, hàng hóa cũng gặp phải không ít khó khăn Hình thành nên một mạnglưới tiêu thụ sao cho hiệu quả luôn làm đau đầu các nhà lãnh đạo của mỗicông ty
1.2.1.1 Quan niệm về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinhdoanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.Tiêu thụ sản phẩm có thể nói là đưa sản phẩm của doanh nghiệp ra bán trênthị trường nhằm thu hồi lại vốn cùng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm là khâu lưu thông hàng hóa, là cầu nối trung giangiữa một bên là nhà sản xuất và phân phối còn bên kia là người tiêu dùng
Đứng trên giác độ kinh tế, tiêu thụ là quá trình chuyển hóa quyền sởhữu và sử dụng hàng hóa, tiền tệ giữa các chủ thể kinh tế Hay nói một cáchkhác, tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của hàng hóa Thông quatiêu thụ, hàng hóa chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ, và từ đóvòng chu chuyển vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được hoàn thành
Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ nên được hiểu theo nghĩa rộnghơn: Đó là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thịtrường nhằm xác định nhu cầu của khách hàng, đến quảng cáo, xúc tiến bánhàng,… cuối cùng là phân tích tình hình tiêu thụ hàng hóa nhằm đạt đượchiệu quả cao nhất
1.2.1.2 Quan niệm về phân phối sản phẩm
Có thể hiểu phân phối sản phẩm là những quyết định đưa sản phẩm,hàng hóa, dịch vụ vào các kênh phân phối khác nhau nhằm tiếp cận và khaithác một cách hợp lý nhất nhu cầu của thị trường, chuyển đưa sản phẩm từnơi sản xuất đến các khách hàng nhanh nhất và đạt lợi nhuận cao nhất
Trang 9mục tiêu của doanh nghiệp.
Người tiêu dùng không chỉ mong muốn có được các sản phẩm tốt vàgiá rẻ mà họ cần được đáp ứng đúng thời gian và địa điểm Chính vì thế đểthành công trong kinh doanh, chính sách phân phối của doanh nghiệp là rấtquan trọng Chính sách phân phối và tiêu thụ hàng hóa thể hiện cách thức màdoanh nghiệp cung ứng sản phẩm cho khách hàng của doanh nghiệp mìnhtrên khoảng thị trường xác định Nhằm xây dựng một chính sách phân phốihiệu quả, doanh nghiệp cần phải chú ý giải quyết tốt ba nội dung là: Lựa chọnđịa điểm, lựa chọn và tổ chức kênh phân phối và tổ chức, điều khiển quá trìnhphân phối hiện vật
Mỗi một sản phẩm khác nhau thì chính sách phân phối cũng khác nhau
Về lựa chọn địa điểm, cần phải dựa vào nội dung xác định thị trường củadoanh nghiệp Thông thường, đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
ổn áp, địa điểm được lựa chọn theo tiêu thức địa lý, nhằm quản lý, bao phủđược khu vực thị trường tốt hơn
Điểm đến cuối cùng của sản phẩm là người tiêu dùng hay người sửdụng sản phẩm của doanh nghiệp Để sản phẩm đến tay người tiêu dùng,doanh nghiệp có thể sử dụng các kênh phân phối khác nhau Doanh nghiệp cóthể trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và bán hàng – hình thành nên kênh phânphối trực tiếp, hoặc cũng có thể dùng các nhà trung gian làm công việc đó –khi đó hình thành nên kênh phân phối gián tiếp
Có thể định nghĩa kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và
cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từnơi sản xuất đến nơi tiêu thụ
Hay: “Kênh phân phối là tập hợp các công ty và cá nhân có tư cáchtham gia vào quá trình lưu chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ từ người sản xuấtđến người tiêu dùng” (Stern LW & El-Ansary AI -1992)
Trang 10Xét theo góc độ người sản xuất, kênh phân phối là việc thiết lập và sắpxếp các phần tử tham gia vào quá trình phân phối, tuyên truyền, quảng cáo vàbán hàng cho doanh nghiệp.
Khi nói đến kênh phân phối, người ta thường nhắc tới 3 yếu tố trựcthuộc nó đó là kênh cung cấp, kênh marketing và chuỗi giá trị
Trong đó kênh cung cấp là phương tiện mà thông qua đó khách hàngnhận và trả tiền cho hàng hoá, dịch vụ mà họ tìm kiếm; là phương tiện màthông qua đó nhà cung cấp cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Kênh marketing là một tập hợp của các tổ chức độc lập, tổ chức thànhviên và cá nhân có tham gia vào tất cả các mặt hoạt động từ tạo ra nhu cầu,kích cầu và thoả mãn nhu cầu thông qua việc cung cấp và tiêu thụ sản phẩm,dịch vụ
Chuỗi giá trị là phương tiện mà thông qua đó giá trị được chuyển giao
và khách hàng trả tiền để nhận được sản phẩm; là phương tiện mà thông qua
đó các nhà cung cấp bổ sung giá trị cộng thêm và thu lại giá trị cho mình
Việc chọn lựa kênh phân phối nào cần căn cứ vào chính sách, chiếnlược tiêu thụ của doanh nghiệp; khả năng cũng như nguồn lực của doanhnghiệp; bên cạnh đó cần căn cứ vào đặc tính của khách hàng về số lượng, sựphân bố trên khu vực địa lý, thói quen tiêu dùng, khả năng thanh toán…; vàmột số yếu tố không thể xem nhẹ đó là đặc tính của sản phẩm, luật pháp, kênhphân phối mà đối thủ cạnh tranh đang dùng và các loại kênh phân phối được
sử dụng phổ biến hiện nay
1.2.1.3 Quan niệm về mạng lưới phân phối sản phẩm
Lựa chọn và thành lập đúng đắn mạng lưới các kênh phân phối có ýnghĩa cực kỳ to lớn đến việc thúc đẩy tiêu thụ Phân phối là một phần rất quantrọng trong những nỗ lực tiếp cận thị trường của doanh nghiệp Loại kênh
Trang 11sử dụng sau cùng) hoặc gián tiếp (bán thông qua người trung gian, nhà phânphối, nhà buôn sỉ đến người bán lẻ) hoặc chuyên nghành (bán thông qua kênhriêng biệt chuyên nghành cùng các sản phẩm dịch vụ khác) Thông thườngmột doanh nghiệp thường sử dụng nhiều loại kênh phân phối nhằm thích ứngvới từng khu vực thị trường khác nhau – hình thành nên mạng lưới phân phốisản phẩm của doanh nghiệp.
Xét một cách chung nhất, mạng lưới phân phối là tập hợp các tổ chức
có liên quan với nhau trong phân phối lưu thông sản phẩm dịch vụ mà chúng
là những hệ thống hoạt động phức tạp, trong đó các thành viên tương tác lẫnnhau để đạt được mục tiêu riêng
Tùy theo góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta có thể đưa ra nhữngkhái niệm khác nhau về mạng lưới phân phối
Dưới góc độ vĩ mô, mạng lưới phân phối được xem như là con đườngvận động của hàng hóa, dịch vụ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng
Đối với người tiêu dùng, mạng lưới phân phối là tập hợp những trunggian bán hàng, vì vậy họ sẽ phải mua hàng hóa với giá cao hơn giá của ngườisản xuất
Đối với người sản xuất - người tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩmthì đây là sự tổ chức các quan hệ bên ngoài nhằm thực hiện hoạt động tiêu thụsản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp theo các cách thức, phương thức vàchính sách mà công ty đã đưa ra
Mạng lưới phân phối bao gồm một hệ thống những cửa hàng, nhữngđại lý và những đại diện bán hàng của công ty Nói tóm lại mạng lưới phânphối sản phẩm của công ty là toàn bộ hệ thống các cửa hàng, trung gian tiêuthụ và mối quan hệ giữa chúng
1.2.2 Căn cứ phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp
Trang 12Phân phối bao gồm toàn bộ quá trình đưa sản phẩm từ nơi sản xuất hayđầu mối nhập khẩu tới tay những người sử dụng cuối cùng Mô hình mạnglưới phân phối mà một công ty lựa chọn dựa vào ngành công nghiệp và quy
mô thị trường của công ty Một cách hay cho sự quyết định lựa chọn kênhphân phối là phân tích đối thủ cạnh tranh của công ty để xác định những kênhphân phối mà họ dùng, từ đó quyết định sử dụng mô hình kênh phân phốigiống nhau hoặc một sự lựa chọn có thể cung cấp cho công ty một chiến lượcphân phối tân tiến hơn
Lựa chọn kênh phân phối nào cho khu vực thị trường nào, thiết lập,phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ra sao là một trong những vấn đềmang tính chất quyết định đến hiệu quả hoạt động tiêu thụ nói riêng và hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung
Phát triển mạng lưới phân phối của bất kỳ một sản phẩm nào cũng phảidựa vào bản chất của sản phẩm, tình hình thị trường, chiến lược phân phốihàng hóa và giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, sự phát triển của ngànhkinh doanh, sự thay đổi nguồn hàng, các sản phẩm cạnh tranh và mức độ cạnhtranh trên thị trường…
Sản phẩm ổn áp là một sản phẩm mang tính chất đặc thù riêng, chính vìvậy khi phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp cần phải có nhữngquyết định cân nhắc, chú trọng đến các yếu tố kể trên với mức độ hợp lý.1.2.2.1 Yếu tố thứ nhất: Bản chất của sản phẩm
Sản phẩm ổn áp là sản phẩm mang tính chất đặc thù riêng, rất cần thiếtđối với khu vực thị trường có nguồn điện không ổn định cũng như dưới hoặctrên mức cho phép để các thiết bị điện hoạt động bình thường Chúng ta cũngbiết, mỗi loại sản phẩm ổn áp có kích thước, khối lượng khác nhau, nhưngnhìn chung đều nặng, một người khó có thể mang vác trên 2 sản phẩm cùng
Trang 13lượng sản phẩm ít trong một lần giao dịch thì như kênh tiêu thụ trực tiếp kémphù hợp hơn so với các loại kênh khác.
Sản phẩm ổn áp có các thông số, mang tính kỹ thuật cao, không phảingười tiêu dùng nào cũng có thể hiểu hết các tính năng, cách sử dụng…Chính vì thế, sự lựa chọn của họ phụ thuộc rất nhiều vào nhân viên kinhdoanh, người môi giới, trung gian
Hơn thế nữa, sản phẩm ổn áp là loại sản phẩm lâu bền, khách hàngthường đắn đo, suy nghĩ rất kỹ trước khi quyết định mua sản phẩm Sản phẩm
ổn áp lại được tiêu thụ chủ yếu trong các hộ gia đình, do đó kênh tiêu thụ giántiếp, qua các nhà trung gian như đại lý, đồng thời phân khu vực thị trườngtheo yếu tố địa lý là hợp lý hơn cả
1.2.2.2 Yếu tố thứ hai: Tình hình thị trường
Sản phẩm ổn áp có chức năng là biến đổi điện áp, tạo ra một dòng điện
có điện áp ổn định cho nên trên khu vực thị trường có nguồn điện không đạtchuẩn, lượng tiêu thụ cũng lớn hơn các khu vực khác
Sản phẩm ổn áp được tiêu dùng mạnh vào mùa hè, là thời điểm màlượng sử dụng các thiết bị điện tăng cao, cần sự ổn định điện áp để có thể tiếtkiệm điện, đảm bảo độ an toàn cho các thiết bị điện khác
Nhìn chung thị trường tiêu thụ ổn áp sẽ diễn biến không quá phức tạp,
và thường theo hai chiều hướng như trên Tuy nhiên không phải lúc nào cũngdiễn ra như thế, nó còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tác động như việc điềuchỉnh, xây dựng mạng điện, những biến đổi trong sản xuất các thiết bị điệnkhác… Do đó việc thường xuyên tìm hiểu, nghiên cứu, và nắm bắt tình hìnhthị trường luôn thực sự cần thiết để có thể đưa ra những quyết định kịp thờinhằm điều chỉnh mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp sao cho hợp lý
1.2.2.3 Yếu tố thứ 3: Chiến lược phân phối hàng hóa và giai đoạn phát triểncủa doanh nghiệp
Trang 14Giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng như chiến lược phân phốihàng hóa luôn là những yếu tố quan trọng, được xem xét khi ra các quyết địnhliên quan đến việc thiết lập, phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm củacông ty
Với từng giai đoạn phát triển khác nhau của công ty, tiềm lực tài chính,nhân lực, công nghệ hay nói chung là khả năng và nguồn lực cũng khác nhau.Kênh phân phối mà công ty lựa chọn do đó cũng không thể giống trước hoàntoàn, do đó, mạng lưới phân phối sản phẩm của công ty cũng khác nhau, phùhợp với tiềm lực, cũng như mục tiêu phát triển trước mắt và lâu dài
Trong giai đoạn đầu thành lập và hoạt động, các doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh ổn áp chủ yếu sử dụng kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối
1 cấp Điều này thực sự hợp lý khi mà tiềm lực của doanh nghiệp chưa mạnh,thị trường chưa lớn và chưa thực sự có được chỗ đứng vững chắc trong lòngkhách hàng Dạng kênh phân phối ngắn giúp doanh nghiệp tiếp cận và kiểmsoát thị trường tốt hơn Còn khi doanh nghiệp phát triển, có tiềm lực mạnh thìviệc áp dụng kết hợp các kênh phân phối (trực tiếp, gián tiếp) tùy thuộc vàoquyết định của công ty dựa trên nhiều yếu tố khác nữa
Cũng như vậy, một chiến lược phân phối hàng hóa được dựa trên việcnghiên cứu, xem xét đồng thời rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài doanhnghiệp Với mỗi một chiến lược phân phối khác nhau, mạng lưới phân phốicũng cần phải phù hợp, và chỉ khi mạng lưới phân phối phù hợp thì chiếnlược phân phối mới đạt hiệu quả
1.2.2.4 Yếu tố thứ 4: Sự phát triển của ngành kinh doanh
Sự phát triển của ngành kinh doanh có tác động không nhỏ tới cácquyết định phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp Ngành kinh doanhphát triển đồng nghĩa với việc gia nhập ngành diễn ra ngày cành nhiều, phức
Trang 15CÔNG TY SXKD HAY ĐẦU MỐI NHẬP KHẨU SP ỔN ÁP
1.2.2.5 Yếu tố thứ năm: Đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm cạnh tranh và mức
độ cạnh tranh
Về đối thủ cạnh tranh, như đã nói ở trên, khi phát triển mạng lưới phânphối sản phẩm của công ty, thì những kênh phân phối mà đối thủ của công tyđang sử dụng, mạng lưới phân phối của đối thủ cạnh tranh, chính sách phânphối của họ… luôn là những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới các quyếtđịnh của các nhà quản trị
Hầu hết các công ty sản xuất và kinh doanh sản phẩm ổn áp đều sửdụng hỗn hợp các kênh phân phối Đó là sự kết hợp phân phối sản phẩm theokênh trực tiếp và kênh gián tiếp (kênh 1 cấp, 2 cấp và 3 cấp)
Sơ đồ 1.1: Các dạng kênh phân phối sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ổn áp trên thị trường hiện nay
(1) (2) (3) (4)
Trang 16
(1): Kênh phân phối trực tiếp(2): Kênh phân phối gián tiếp, kênh 1 cấp(3): Kênh phân phối gián tiếp, kênh 2 cấp(4): Kênh phân phối gián tiếp, kênh 3 cấpMức độ cạnh tranh cũng ảnh hưởng không nhỏ tới mạng lưới phân phốisản phẩm của doanh nghiệp Công ty sẽ cần phải hình thành một mạng lướiphân phối sao cho phù hợp nếu không muốn mất đi thị phần của mình trênkhu vực thị trường đó
Về yếu tố các sản phẩm cạnh tranh, đa phần các sản phẩm cạnh tranhcủa mặt hàng ổn áp là cạnh tranh trực tiếp, tức các sản phẩm cùng loại, chính
vì thế mạng lưới phân phối sản phẩm này cần phải hợp lý bởi một sai sót nhỏcũng có thể khiến người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm của công ty khác thay
vì tiêu dùng sản phẩm ổn áp của doanh nghiệp
1.2.3 Nội dung phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp
1.2.3.1 Thiết lập mạng lưới phân phối
Việc thiết lập mạng lưới phân phối sản phẩm cho doanh nghiệp như thếnào là một vấn đề cực kỳ quan trọng, bởi nó quyết định đến kết quả và hiệuquả tiêu thụ sản phẩm
Trước hết để thiết lập mạng lưới phân phối một hoặc một vài sản phẩm,công ty cần tổ chức nghiên cứu các yếu tố bên trong và bên ngoài công ty
Trang 17mục tiêu, chiến lược phát triển, quan điểm của nhà lãnh đạo… cùng với cácyếu tố như môi trường kinh tế xã hội, luật pháp, tình hình thị trường, sự pháttriển của ngành kinh doanh, đối thủ cạnh tranh
Sau khi nghiên cứu kỹ các yếu tố kể trên, công ty tiến hành phân tích,đánh giá và lựa chọn một kết quả tối ưu nhất về lựa chọn kênh phân phối
Tiếp tục là đến công tác lựa chọn đại lý với việc xác định tiêu chí lựachọn, tiến hành đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng đại lý, lựa chọn và kýkết hợp đồng đại lý Thực tế cho thấy, những người trung gian và các hãngphân phối chuyên nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho cácdoanh nghiệp tiêu thụ, phổ biến hàng hóa đối với khách hàng, giúp doanhnghiệp tạo dựng uy tín Những tổ chức này có ảnh hưởng một cách trực tiếptới hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường Chính vì thế việc lựa chọn đại
lý cần phải được cân nhắc rất cẩn thận
Tiếp đến là việc xây dựng những chính sách, cơ chế, nguyên tắc, mốiquan hệ giữa các thành viên nhằm đảm bảo cho mạng lưới hoạt động trơn tru
và hiệu quả Cần phải thiết lập những mối quan hệ bền vững với những đại lý
có tính chất quyết định nhất đối với doanh nghiệp
1.2.3.2 Tổ chức quản lý mạng lưới phân phối
Sau khi có dự án về việc thiết lập mạng lưới phân phối sản phẩm, công
ty tiến hành công việc tổ chức quản lý mạng lưới Cần phải có mối liên hệthường xuyên với các đại lý nhằm nắm bắt tình hình, chỉ đạo triển khai cácchương trình, kế hoạch, mục tiêu của công ty một cách kịp thời
Công ty tiến hành điều khiển các dòng vận động của hàng hóa, đưahàng hóa đến các đại lý theo yêu cầu của đại lý và dựa vào kế hoạch cũng nhưkhả năng sản xuất của công ty Thông tin kịp thời các cơ chế, chính sách, cácmục tiêu cũng như các kế hoạch triển khai của công ty cho các đại lý mộtcách chính xác Kiểm soát dòng thông tin nội bộ từ trên xuống và thu nhận
Trang 18thông tin phản hồi từ đại lý Sử dụng các chính sách nhằm giúp cho quá trìnhthanh toán được thuận tiện và nhanh chóng Tích cực hỗ trợ các đại lý trongcông tác tiếp cận thị trường, chiếm lĩnh thị trường, tổ chức các chương trìnhchăm sóc khách hàng…
Tổ chức quản lý mạng lưới phân phối có vai trò cực kỳ quan trọng, nóquyết định trực tiếp đến kết quả và hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm củatừng thành viên trong mạng lưới, của toàn mạng lưới phân phối của công ty,quyết định đến mục tiêu của công ty trong việc giành, giữ và phát triển thịtrường, tạo chỗ đứng trong lòng khách hàng
1.2.3.3 Kiểm tra, giám sát hoạt động mạng lưới phân phối
Công việc này phải được tiến hành xuyên suốt trong quá trình hoạtđộng của công ty Kiểm tra giám sát hoạt động của mạng lưới phân phốinhằm mục đích nắm bắt tình hình hoạt động của các đại lý, có biện pháp chấnchỉnh kịp thời nếu hoạt động của đại lý đi ngược lại với mục tiêu công ty,đồng thời đưa ra các hoạt động hỗ trợ cần thiết kịp thời cho các đại lý
Hơn thế nữa, kiểm tra, giám sát hoạt động mạng lưới phân phối còn tìm
ra những yếu tố chưa hợp lý trong cơ chế vận hành, tránh chồng chéo, để từ
đó có những thay đổi giúp cho hoạt động của mạng lưới phân phối sản phẩm
ổn áp được thông suốt
Tìm ra những khâu yếu trong mạng lưới phân phối để có những kếhoạch kịp thời nhằm cải tạo, giúp đỡ hoặc loại bỏ nhằm từng bước hoàn chỉnhdần mạng lưới phân phối ngày một hợp lý hơn
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp
Trang 19Đối với mỗi một công ty, việc thiết lập một mạng lưới phân phối sảnphẩm luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu Song songvới điều đó, công ty cũng cần phải kiểm tra, đánh giá các kết quả phát triểncủa mạng lưới phân phối sản phẩm để mạng lưới hoạt động một cách có hiệuquả
Việc đánh giá kết quả phát triển có thể được tiến hành thường xuyên,hoặc cũng có thể tiến hành sau mỗi tháng, mỗi quý, mỗi năm hoạt động Điềunày tùy thuộc vào quyết định của công ty, tuy nhiên, một kinh nghiệm thực tếcủa các doanh nghiệp là luôn luôn theo dõi các chỉ tiêu phản ánh kết quảnhằm đánh giá một cách chính xác diễn biến của nó, từ đó đưa ra những chấnchỉnh kịp thời, để mạng lưới phân phối hoạt động một cách “trơn tru”
Các chỉ tiêu đánh giá kết quả phát triển của mạng lưới phân phối sảnphẩm ổn áp bao gồm chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính
1.3.1 Chỉ tiêu định lượng
Các chỉ tiêu định lượng đánh giá kết quả phát triển mạng lưới phânphối sản phẩm ổn áp có thể kể đến:
- Số lượng đại lý của công ty, số lượng đại lý / khu vực thị trường Số
lượng đại lý theo thời gian tăng hay giảm một phần thể hiện sự phát triển củamạng lưới phân phối sản phẩm của công ty Số lượng đại lý tăng chứng tỏ sựbao phủ thị trường càng tốt Tuy nhiên con số này không phải cứ tăng, tăngmãi thì sẽ có lợi cho công ty
Chính vì thế cần phải xem xét số lượng đại lý có trên một khu vực địa
lý nhất định Bởi hầu hết các công ty sản xuất kinh doanh mặt hàng ổn áp đềuphân đoạn thị trường theo khu vực địa lý, chính vì thế, ở địa bàn địa lý rộng,
xu thế chung là bố trí nhiều đại lý hơn so với khu vực địa bàn hẹp Tuy nhiên,
bố trí nhiều hay ít đại lý còn phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó yếu tố cực kỳ
Trang 20quan trọng là dung lượng thị trường hay nhu cầu của khách hàng trong khuvực đó.
- Thị phần của công ty: Chỉ tiêu này thường được đánh giá sau mỗi quý
hay mỗi năm Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệpchiếm lĩnh Thị phần thể hiện rõ phần sản phẩm tiêu thụ của riêng doanhnghiệp so với tổng sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường
Bên cạnh đó, công ty còn cần phải xem xét tới thị phần tương đối Thịphần tương đối được tính bằng tỷ lệ giữa số sản phẩm bán ra của doanhnghiệp với số sản phẩm bán ra của đối thủ cạnh tranh Nếu thị phần tương đốilớn hơn 1 thì lợi thế cạnh tranh thuộc về doanh nghiệp, nếu nhỏ hơn 1 thì lợithế cạnh tranh thuộc về đối thủ cạnh tranh, còn nếu thị phần tương đối bằng 1thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và của đối thủ là như nhau
- Doanh số (hay doanh thu) bán hàng của công ty và của từng đại lý.
Chỉ tiêu này thường được tổng hợp sau mỗi tháng, và là một trong những chỉtiêu quan trọng bậc nhất, thể hiện rõ nhất kết quả tiêu thụ của từng đại lý vàcủa cả công ty Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện mạng lưới phân phối sảnphẩm của công ty đã hoạt động rất tốt
- Mức tăng doanh thu bán hàng của công ty và của từng đại lý Chỉ tiêu
này có thể đánh giá dựa vào chỉ tiêu doanh số bán hàng của công ty và củatừng đại lý Mức tăng giảm doanh thu của từng đại lý nói riêng và của cả công
ty nói chung phản ảnh sự biến động của thị trường, phản ánh tác động của các
cơ chế chính sách mà công ty áp dụng có mang lại hiệu quả hay không Chỉtiêu này còn thể hiện hiệu quả hoạt động qua thời gian
- Các kênh phân phối mà công ty sử dụng nhằm chuyển đưa hàng hóa đến người tiêu dùng và lượng hàng được bán ra theo từng loại kênh phân phối Đây là chỉ tiêu thể hiện xem kênh phân phối nào mang lại kết quả tiêu
Trang 21thụ cao nhất cho doanh nghiệp, kênh loại nào hoạt động có hiệu quả, kênh nàochưa thực sự hoạt động tốt.
Mức chiết khấu, thưởng, khuyến mại không phải là một chỉ tiêu đánhgiá kết quả sự phát triển của mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp của cácdoanh nghiệp Tuy nhiên chỉ tiêu này ảnh hưởng mạnh mẽ đến các kết quả vàhiệu quả hoạt động của mạng lưới phân phối kể trên Khi xem xét các chỉ tiêuđánh giá kết quả phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp, công ty cầnquan tâm xem xét yếu tố này một cách thỏa đáng
1.3.2 Chỉ tiêu định tính
Các chỉ tiêu định tính đánh giá kết quả phát triển mạng lưới phân phốisản phẩm ổn áp nói riêng và các sản phẩm nói chung là các chỉ tiêu thườngkhó để xác định một cách chính xác như các chỉ tiêu định lượng Đó là các chỉtiêu mang tính tương đối, tuy nhiên, công ty cũng vẫn phải xem xét đánh giá,kết hợp với các chỉ tiêu định lượng nhằm có được cái nhìn tổng quát như:
- Mối quan hệ giữa công ty – đại lý và giữa các đại lý (các thành viên
trong mạng lưới phân phối) với nhau Mối quan hệ này có thể tốt hay xấu,căng thẳng mâu thuẫn hay hòa hợp và mâu thuẫn có xảy ra thường xuyên haykhông? Mối quan hệ lâu dài hay chưa?
- Các hoạt động phân phối hàng hóa, thoanh toán, thông tin… giữa các
thành viên trong mạng lưới có thuận lợi, nhanh chóng, kịp thời? Điều này trảlời cho câu hỏi liệu hoạt động của mạng lưới phân phối có thực sự tốt chưa,hoạt động có nhịp nhàng chưa, và vướng mắc xảy ra ở khâu nào, giai đoạnnào, do những nguyên nhân nào
- Các chính sách có hợp lý? Có thỏa mãn đại lý? Chỉ tiêu này đánh giá
xem các chính sách mà doanh nghiệp áp dụng cho các đại lý có tác dụng kíchthích đại lý tích cực tham gia vào việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hàng hóacủa doanh nghiệp hay không Bởi mối quan hệ chi phối chủ yếu đến các quyết
Trang 22định của các chủ thể kinh tế là quan hệ lợi ích Do vậy khi đánh giá đúng chỉtiêu này, công ty có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh, hoặc có những biệnpháp khác nhằm lôi kéo đại lý vào guồng bán hàng của doanh nghiệp.
- Mâu thuẫn trong mạng lưới có thường xuyên xảy ra? Trong quá trình
hoạt động, không thể không xảy ra trường hợp mâu thuẫn giữa các chủ thểtham gia vào mạng lưới phân phối sản phẩm Mâu thuẫn này có thể xuất phát
từ nhiều yếu tố như: Sự thiếu công bằng giữa việc đưa ra chính sách áp dụngcho đại lý, chậm triển khai các chương trình, kế hoạch, mâu thuẫn trong khâuthanh toán, thông tin, khâu giao hàng cho đại lý… Tuy nhiên, nếu mâu thuẫnxảy ra thường xuyên, nó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động tiêuthụ, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của mạng lưới phân phối, và có thểảnh hưởng đến uy tín, vị trí của công ty trong lòng khách hàng
- Sự hài lòng của khách hàng Đây thực sự là một chỉ tiêu khó tiến
hành đánh giá Sự hài lòng của khách hàng thể hiện họ có thực sự bằng lòngvới việc phân phối của doanh nghiệp hay không, có cảm thấy thuận tiện khimua hàng của doanh nghiệp không…
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm
ổn áp
Mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp hoạt động trong môi trường kinh
tế luôn có sự biến động nhất định Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô và vi
mô đều có ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển mạng lưới phân phối sảnphẩm ổn áp Tuy nhiên, trong khi có một số nhân tố chỉ ảnh hưởng rất ít thìbên cạnh đó cũng có một vài nhân tố ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến sựphát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp mà nếu doanh nghiệp bỏ quahoặc ít quan tâm đến nó, hoạt động của mạng lưới phân phối sản phẩm củadoanh nghiệp có thể gặp trục trặc
Trang 23Có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển mạng lưới phânphối sản phẩm ổn áp thành nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
1.4.1 Nhân tố khách quan
Thị trường luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng khiến cho mọi
cơ cấu đều không thể mãi bền vững, đổi mới là phương thức duy nhất để tiếptục tồn tại và phát triển Các nhân tố khách quan ảnh hưởng tới phát triểnmạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp bao gồm: Nhân tố thuộc môi trường vĩ
mô như: Môi trường kinh tế - xã hội, môi trường chính trị - luật pháp, sự pháttriển công nghệ, sự phát triển của ngành kinh doanh, đối thủ cạnh tranh,khách hàng…
1.4.1.1 Môi trường kinh tế - xã hội, chính trị - luật pháp, công nghệ
Môi trường kinh tế - xã hội, chính trị - luật pháp và công nghệ có ảnhhưởng trực tiếp đến sự phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp Kinh
tế phát triển, các hình thức phân phối cũng có nhiều thay đổi, các thành phầnkinh tế lớn mạnh, sản xuất tăng… mạng lưới phân phối cũng phải thay đổicho phù hợp với quy mô thị trường
Xã hội ổn định, đời sống nhân dân tăng cao, nhu cầu tiêu dùng lớn,mạng lưới phân phối phải bao phủ tốt thị trường Sự thay đổi cơ cấu dân số, didân, tỷ lệ sinh – chết… cũng có ảnh hưởng phần nào tới phát triển mạng lướiphân phối sản phẩm nói chung và sản phẩm ổn áp nói riêng
Môi trường chính trị - luật pháp cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấucủa mạng lưới phân phối, đến các điều khoản hợp đồng đại lý, điều chỉnh mốiquan hệ lợi ích giữa các thành viên trong mạng lưới
Bên cạnh đó, công nghệ phát triển nhanh như vũ bão làm thay đổi cănbản hệ thống cơ sở hạ tầng, phương tiện giao thông, các phương thức, cáchthức phân phối, vận chuyển… khiến cho việc tổ chức hệ thống đại lý cũng cónhiều thay đổi
Trang 241.4.1.2 Ngành kinh doanh
Như đã nói ở trên, ngành kinh doanh là một trong những căn cứ quantrọng trong việc quyết định phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm như thếnào ở mỗi công ty Mặc dù chỉ có một số dạng kênh phân phối khác nhaunhưng mạng lưới phân phối sản phẩm của mỗi công ty lại mang những nétđặc trưng riêng biệt Tuy nhiên, với mỗi ngành kinh doanh, thường có một sốphương án phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm chung, bởi có một số đặcđiểm chung về sản phẩm, thị trường, truyền thống…
Ngành kinh doanh có ảnh hưởng mạnh mẽ lên sự phát triển mạng lướiphân phối sản phẩm ổn áp hơn cả các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô khácnhư chính trị - luật pháp, kinh tế - xã hội hay công nghệ Điều này thể hiện,ngành kinh doanh có triển vọng hay không, có phát triển hay không sẽ ảnhhưởng tới quy mô của mạng lưới phân phối, các thành phần tham gia vàomạng lưới phân phối
Các chiến lược liên quan đến phân phối, tiêu thụ sản phẩm của đối thủcạnh tranh khiến cho mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp có diễn biến đổikhác thường, có thể thu hep, có thể mở rộng, có thể thuận lợi, nhưng hầu hết
là gây khó khăn, gây nhiễu cho sự vận hành mạng lưới phân phối
Trang 25Chính vì vậy, không phải chỉ khi xuất hiện những biến cố, công ty mới
ra các quyết định điều chỉnh Điều đó đôi khi làm cho mạng lưới phân phốicủa công ty xáo trộn, có khi đổ bể Công ty cần phải có những nghiên cứu,khảo sát, giám sát thường xuyên tình hình thị trường, có những thay đổi mangtính chiến lược, tránh gặp phải tình trạng luôn luôn chạy sau đối thủ để giảiquyết hậu quả
1.4.1.4 Khách hàng
Khách hàng là nguồn nuôi sống công ty bằng cách tiêu dùng sản phẩmcủa công ty chứ không phải của các đối thủ cạnh tranh khác Chính vì vậykhách hàng luôn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thiết lập vàđiều chỉnh mạng lưới phân phối sản phẩm
Sự thay đổi thị hiếu, tình hình thu nhập, thói quen tiêu dùng… cũng cótác động không nhỏ lên sự phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm ổn áp nóiriêng và mạng lưới phân phối sản phẩm nói chung Chính vì thế công tácnghiên cứu khách hàng, nghiên cứu thị trường luôn là những công việc màmọi công ty phải dành nguồn lực thích đáng để tiến hành
1.4.2 Nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan có ảnh hưởng tới phát triển mạng lưới phân phốisản phẩm ổn áp như: Mục tiêu, định hướng của công ty; quan điểm quản trịcủa ban lãnh đạo; tiềm lực và khả năng của công ty…
1.4.2.1 Mục tiêu định hướng của công ty
Đây là nhân tố chủ quan ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển mạng lướiphân phối sản phẩm ổn áp nói riêng và mọi loại sản phẩm nói chung Mụctiêu của công ty là cái đích mà công ty mong muốn đạt được trong tương lai
Từ mục tiêu đã đặt ra, công ty đưa ra các giải pháp, các bước đi nhằm đạtđược mục tiêu đó Mục tiêu của công ty do đó ảnh hưởng đến các quyết định
Trang 26trong tiêu thụ sản phẩm, trong phân phối và trong việc phát triển mạng lướiphân phối
Ví như, mục tiêu của công ty trong năm tới là chiếm lĩnh thị phần, baophủ thị trường, xâm nhập thị trường, giữ vững thị trường… Các mục tiêu này
có thể đạt được hay không phần nhiều dựa vào các quyết định phát triển mạnglưới phân phối sản phẩm của doanh nghiệp như thế nào
1.4.2.2 Quan điểm quản trị của ban lãnh đạo
Quan điểm của Ban lãnh đạo mà điển hình nhất là người đứng đầu công
ty có ảnh hưởng đến hầu hết các quyết định, các mục tiêu, chiến lược kinhdoanh của công ty Người lãnh đạo công ty có thể là người theo xu hướng bảothủ, tân tiến hay có thể là người tham vọng… Chính những tính cách, quanđiểm của họ đặt dấu ấn lên mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty và
do đó ảnh hưởng đến quyết định về phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm
1.4.2.3 Tiềm lực và khả năng của công ty
Tất cả các mục tiêu của công ty được đưa ra đều phải căn cứ vào tiềmlực và khả năng của công ty Đây chính là yêu cầu về tính khả thi của mụctiêu Cũng như thế, các quyết định về phát triển mạng lưới phân phối sảnphẩm ổn áp của doanh nghiệp cũng phải dựa trên các nguồn lực mà công tyhiện có, liệu nguồn lực đó có thể huy động được nhằm phát triển mạng lướiphân phối sản phẩm ổn áp trong thời điểm này được không? Khi nguồn lực
bị hạn chế, điều tất yếu là sự phân bổ cho việc phát triển mạng lưới phân phốisản phẩm ổn áp sẽ ít đi, công ty dù có tham vọng cũng cần phải tính toán kỹlưỡng liệu mở rộng mạng lưới, giữ nguyên hay nên thu hẹp…
Trang 27Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI PHÂN PHỐI
SẢN PHẨM ỔN ÁP STANDA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TIÊU CHUẨN VIỆT
2.1 Khái quát chung về Công ty Cổ phần Tiêu Chuẩn Việt
2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Tiêu Chuẩn Việt
Trang 28trong nhiều năm, Công ty đã nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất, pháttriển nhiều mặt hàng như ổn áp, biến áp, thiết bị bảo vệ, thiết bị nguồn…mang thương hiệu STANDA, bên cạnh đó Công ty cũng nhanh chóng pháttriển các sản phẩm mới.
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN TIÊU CHUẨN VIỆT
Tên giao dịch: VIET STANDA JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: V-STANDA.,JSC
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0103002884 do Phòng kinh doanh
-Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 18/09/2003, thay đổi lầncuối ngày 06/11/2008
Trụ sở chính của Công ty: Số 18, đường Nguyễn Chí Thanh, phường Ngọc
Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 37 718721 Fax: (84-4) 37 716526
Email: standatcv@fpt.vn Website: www.standa.com.vn
w ww.standa.vn Vốn điều lệ: 25.000.000.000 đồng (Hai mươi lăm tỷ đồng Việt Nam)
- Mệnh giá cổ phần: 100.000 đồng
- Số cổ phần đã đăng ký mua: 250.000
Vốn pháp định: 10.000.000.000 (Mười tỷ đồng Việt Nam)
Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Nguyễn Vũ Long – Chủ tịch Hội
đồng Quản trị
Phương châm hoạt động: “Chất lượng sản phẩm gắn với quyền lợi của
khách hàng và cùng phát triển bền vững”.
Nhà máy đặt tại: Khu Công nghiệp Quang Minh – Mê Linh – Hà Nội.
Để đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển, trong năm 2006, Công ty đãđầu tư xây dựng Nhà máy mới tại khu công nghiệp Quang Minh tại huyện Mê
Trang 29trên tổng diện tích 30.000 m2 mặt bằng Bên cạnh đó Công ty cũng đầu tư hệthống dây chuyền pha cắt tôn, các loại máy đột dập cơ khí, gia công tấmmỏng tự động (CNC), dây chuyền hàn, hệ thống lò ủ…
Hiện tại, Công ty có thể đáp ứng mọi yêu cầu về năng lực gia công vàmặt bằng sản xuất Thể hiện rõ trong năm 2006 – 2007, Công ty đã trúng thầusản xuất trên 30.000 sản phẩm tủ, giá thiết bị cho các Sở Giáo dục trên toànquốc
Qua nhiều năm hoạt động, Công ty đã nỗ lực không ngừng trong việcduy trì và cải thiện chất lượng sản phẩm và từ năm 2007 Công ty đã áp dụngthực hiện quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001 – 2000 cho tất cả các sản phẩm mà Công ty sản xuất
Đến nay, Công ty Cổ phần Tiêu chuẩn Việt đã xây dựng hoàn chỉnhmột hệ thống tổ chức sản xuất – kinh doanh đồng bộ từ các phòng ban chuyênmôn như: Kế hoạch – vật tư, tài chính – kế toán, kinh doanh, dự án, kỹ thuật –công nghệ, bảo hành – dịch vụ kỹ thuật và các xưởng sản xuất với trang thiết
bị hiện đại đồng bộ năng suất cao, có khả năng thực hiện các hợp đồng tươngđối lớn trong thời gian ngắn
2.1.1.2 Lĩnh vực hoạt động và sản phẩm chủ yếu của Công ty
Theo giấy phép kinh doanh số 0103002884 do Phòng kinh doanh – Sở
Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 18/09/2003, thay đổi lầncuối ngày 06/11/2008, Công ty Cổ phẩn Tiêu Chuẩn Việt đăng ký kinh doanhtheo ngành nghề như sau:
Sản xuất thiết bị công nghiệp, sản phẩm cơ khí tấm mỏng, tấm lớn
Sản cuất và kinh doanh các sản phẩm điện, điện tử, điện máy cơ khí
Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, công trình điện thếđến 35KV
Trang 30 Mua bán và cho thuê máy móc, thiết bị trong ngành điện, điển tử, cơkhí.
Qua hơn 5 năm hoạt động, Công ty đã không ngừng phát triển cho rađời ngày càng nhiều chủng loại, mẫu mã sản phẩm khác nhau Các sản phẩmchủ yếu của công ty bao gồm 3 dòng sản phẩm chính đó là:
1 Các thiết bị điện dân dụng và công nghiệp:
Ổn áp; Biến áp; Bộ chuyển điện ( inverter – converter)
Ổ cắm điện và thiết bị bảo vệ
Tủ điện; Thiết bị và nguồn viễn thông
2 Các sản phẩm cơ khí tấm mỏng:
Tủ điều khiển; Tủ điện; Tủ văn phòng; Tủ RACK
Thang; Máng cáp; Giá, kệ siêu thị; Cột bơm xăng
3 Thiết bị nội thất trường học:
Giá, tủ và bàn ghế học sinh, giáo viên
Giá, kệ thư viện
Từ năm 2007, Công ty đã từng bước áp dụng ISO 9001 – 2000 (Quytrình sản xuất và kiểm soát chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế) nhằm tạo ranhững sản phẩm tốt nhất đáp ứng theo yêu cầu của khách hàng Lượng tiêuthụ các sản phẩm của Công ty ngày càng tăng và Công ty đã từng bước tạodựng uy tín, thương hiệu của mình trong lòng khách hàng
2.1.1.3 Thị trường hiện tại và mục tiêu phát triển thị trường trong tương lai
Trong những năm qua, Công ty đã không ngừng phát triển, dần chiếmlĩnh thị trường, tạo được vị thế của mình trong từng khu vực nhất là khu vựcthị trường miền Bắc và miền Trung
Trên thị trường miền Bắc: Hầu hết các tỉnh miền Bắc đều có đại lý sản
phẩm STANDA, với thị phần ổn định, tăng đều qua các năm, và hiện nay thị
Trang 31Công ty Cổ phẩn Tiêu Chuẩn Việt đã trở thành công ty có vị trí thứ 2 trongkhu vực với sản phẩm ổn áp và các thiết bị điện.
Đối với khu vực miền Trung: Thị trường gồm các tỉnh Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình Đây là khu vực thị trường mới được Công
ty triển khai phân phối sản phẩm trong vài năm gần đây Hiện tại số lượng đại
lý trên khu vực thị trường này chưa nhiều Tuy nhiên, Công ty xác định đây làmảng thị trường tiềm năng, sẽ mang lại nhiều lợi nhuận cho công ty trong thờigian tới
Công ty cũng đang tích cực tiếp cận khu vực Nam Trung Bộ, TâyNguyên và Nam Bộ và có kế hoạch mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩmcủa mình ra khu vực thị trường này với những bước đi thận trọng và vữngchắc
2.1.1.4 Các đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Công ty
Trong quá trình sản xuất và kinh doanh, Công ty đã gặp phải không ítkhó khăn thách thức, nhất là sự cạnh tranh mạnh mẽ, liên tục của các đối thủlớn, vừa và nhỏ Là một công ty ra đời sau, khi mà trên thị trường đã có một
“đại gia” là LIOA, và một số công ty khác như Robot, Hanshin, tạo được chomình một chỗ đứng là vấn đề cực kỳ khó khăn
Đối thủ cạnh tranh trực tiếp và mạnh nhất là: Công ty TNHH Nhật Linh (LIOA) với sản phẩm chủ yếu là ổn áp, biến áp, thiết bị điện, ổ cắm kéo
dài, Audio Studio, phích cắm, dây và cáp điện… Như vậy, hầu hết các sảnphẩm của LIOA và STANDA đều có nét tương đồng lớn, chính vì thế việcchiếm lĩnh thị trường trở nên khó khăn, và càng khó khăn hơn khi LIOA làthương hiệu ra đời trước, đã tìm được chỗ đứng trên thị trường toàn Việt Nam
Trên thị trường Việt Nam, LIOA đã trở thành thương hiệu nổi tiếng vàchiếm thị phần lớn, (khoảng 40-50%) Bên cạnh đó, Công ty cũng đã mở rộngthị trường, làm ăn với các đối tác lớn trên thế giới, đã có mặt trên các thị
Trang 32trường như: Miến Điện, Lào, Cam-pu-chia, Triều Tiên, Malaixia, Đức, ĐanMạch, Angola và Nam Phi, Tiệp, Canada, Nhật Bản, Trung Quốc…
LIOA sử dụng nhiều nhất dạng kênh phân phối: LIOA Nhà PP Đại lý cấp 1 Đại lý cấp 2… với hơn 7050 điểm bán lẻ trên toàn quốc, trong
đó hơn 500 đại lý độc quyền, 70 trung tâm phân phối, và hơn 100 nhân viên
làm việc tại tất cả các tỉnh trên toàn quốc LIOA sử dụng chiến lượcmarketing kéo, cạnh tranh trực tiếp, đối đầu nhằm loại bỏ STANDA
Các đối thủ cạnh tranh khác của Công ty Cổ phẩn Tiêu Chuẩn Việt cóthể kể đến là Công ty TNHH ROBOT; Công ty Cổ phần Nghiên cứu và Chếtạo Công nghiệp (RIM.,JSC) với nhãn hiệu nổi bật nhất là Ruler, Công tyTNHH SX-TM và DV Kĩ thuật Đông Nam Á; Công ty TNHH Shunshin(SHUNSHIN); Công ty TNHH Cơ điện – Điện tử Hán Sinh (HANSHIN);Công ty TNHH SX&TM Đa Phát (LION)… Mỗi công ty đều có những thếmạnh riêng, là những đối thủ đáng gờm mà Công ty Cổ phẩn Tiêu Chuẩn Việtkhông thể xem nhẹ Cần phải có những quyết định sáng suốt nếu không muốnmất thị phần vào tay đối thủ cạnh tranh
2.1.1.5 Năng lực sản xuất kinh doanh của Công ty hiện nay
Với việc quan tâm, đầu tư thích đáng vào việc xây dựng và hoàn thiện
hệ thống nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, dây truyền công nghệ… thì trongthời điểm hiện tại, Công ty có thể đáp ứng mọi yêu cầu về năng lực gia côngcũng như về mặt bằng sản xuất Thể hiện rõ trong năm 2007 – 2008, Công ty
đã trúng thầu sản xuất trên 34.000 sản phẩm tủ, giá thiết bị cho các Sở Giáodục trên toàn quốc Năng lực sản xuất của Công ty hiện nay như sau:
- Xưởng sản xuất tủ các loại, công suất 36.000 sản phẩm/ năm;
- Xưởng sản xuất ổn áp, biến áp, thiết bị nguồn công suất 60.000 sản phẩm/ năm
- Xưởng sản xuất thang, máng cáp công suất 1000 tấn/ năm;
- Xưởng sản xuất bàn ghế, công suất 60.000 chiếc/ năm;
Trang 33- Xưởng sơn tĩnh điện đủ khả năng đáp ứng yêu cầu về sản lượng
2.1.1.6 Tình hình nhân sự của Công ty Cổ phẩn Tiêu Chuẩn Việt trong năm 2008
Ngay từ khi thành lập, Ban lãnh đạo công ty đã xác định đội ngũ nhânviên là yếu tố tạo nên sức mạnh, sự thành công của công ty Chính vì vậycông ty luôn có những kế hoạch bổ sung, đào tạo, bồi dưỡng chuyên mônnghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên, kèm theo chính sách đãi ngộ hợp lý
Thứ nhất: Tổng quan về tình hình nhân sự của Công ty trong năm 2008Bảng 2.1: Tổng số lao động của công ty năm 2008
17.8 12.8 56.2 13.2
Nguồn: Hồ sơ năng lực Công ty Cổ phần Tiêu Chuẩn Việt (2008).
Số lao động của Công ty nhìn chung phù hợp với quy mô hoạt động sảnxuất kinh doanh trong thời điểm hiện tại Các vị trí có trình độ chuyên mônphù hợp với công việc được giao Số lao động đạt trình độ đại học chiếm17,8%, và số lao động đạt trình độ cao đẳng là 12,8%, cao hơn so với mặtbằng chung của các công ty trong nước Số công nhân lành nghề chiếm56,2%, đây là một tỷ lệ khá cao, cao hơn so với các công ty hoạt động tronglĩnh vực sản xuất ổn áp Nhờ có nguồn nhân sự tương đối tốt, công ty ngàycàng phát triển và lớn mạnh
Thứ hai: Tình hình nhân sự trong lĩnh vực sản xuất
Bảng 2.2: Số lao động trong lĩnh vực sản xuất năm 2008
2 Tổng số
Trong đó
185
Trang 3411.9 12.4 65.4 10.3
Nguồn: Hồ sơ năng lực Công ty Cổ phần Tiêu chuẩn Việt (2008)
Số lượng cán bộ, công nhân và nhân viên trong lĩnh vực sản xuất là 185 ngườitrong tổng số 219 nhân viên của công ty Bởi Công ty Cổ phẩn Tiêu Chuẩn Việt làcông ty chuyên sản xuất kinh doanh sản phẩm ổn áp, các thiết bị điện và các loại sảnphẩm khác nên số lượng nhân viên phân bố vào lĩnh vực sản xuất nhiều hơn số nhânviên trong lĩnh vực kinh doanh là hoàn toàn hợp lý Hiện nay, nguồn nhân lực ở bộphận sản xuất đủ đáp ứng hoàn thành các đơn hàng đúng và đủ theo yêu cầu cả vềmặt thời gian và chất lượng
Thứ ba: Tình hình nhân sự trong lĩnh vực kinh doanh
Bảng 2.3: Số lao động trong lĩnh vực kinh doanh năm 2008
50.0 14.7 5.9 29.4
Nguồn: Hồ sơ năng lực Công ty Cổ phần Tiêu chuẩn Việt (2008)
Nhân sự trong lĩnh vực kinh doanh cũng tương đối ổn định và đã thựchiện tốt các mục tiêu của Công ty như duy trì và mở rộng thị trường, tăng doanh
số bán hàng, đảm bảo thực hiện việc phân phối hàng và hoàn thành các dự án…
Trang 35Số lượng nhân viên đạt trình độ đại học là 17 người, đạt tỷ lệ 50% trong tổng sốnhân viên kinh doanh Trình độ của nhân viên kinh doanh cao giúp cho việc triểnkhai các chiến lược, kế hoạch tiêu thụ được tốt hơn.
2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý kinh doanh của Công ty Cổ phẩn Tiêu chuẩn Việt
2.1.2.1 Mô hình tổ chức Công ty Cổ phẩn Tiêu Chuẩn Việt
Trang 36NHÀ MÁY SẢN XUẤT
Phân xưởng
điện
Nhân
sự hành chính
Văn phòng Phòng kinh
doanh
Kế toán tài chính
Bộ phận
dự án
Trung tâm bảo hành
Kho vận, đội xe
Các tổ
sản xuất
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CÔNG TY CỔ PHẦN TIÊU CHUẨN VIỆT
Phòng
Kế hoạch vật tư
Bộ phận R&D
Kho vật tư phận Bộ
QC
Phân xưởng
cơ khí
Các tổ sản xuất
Bộ
phận
cơ
điện
Trang 37Chức năng và nhiệm vụ cụ thể của mỗi bộ phận, phòng ban
Giám đốc: Là người đại diện hợp pháp của công ty, chỉ đạo, quản lý
điều hành công ty theo chế độ một thủ trưởng Giám đốc phụ trách chung tất
cả các mặt của công ty, ban hành quy định và các quyết định cuối cùng, chịutrách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Nhà nước và pháp luật về kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty
Các Phó Giám đốc công ty bao gồm Phó Giám đốc tài chính và Phó
Giám đốc phụ trách sản xuất – kiêm Giám đốc nhà máy Các Phó Giám đốc lànhững người giúp việc cho Giám đốc, được Giám đốc ủy quyền hoặc phâncông chịu trách nhiệm trong một hoặc một số lĩnh vực quản lý chuyên môn,chịu trách nhiệm trực tiếp trước giám đốc và HĐQT về phần việc được giao
Phòng kinh doanh có chức năng xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh
doanh của công ty dựa trên các hợp đồng đã ký kết Triển khai lực lượng nhânviên kinh doanh nhằm tiếp cận khách hàng, duy trì, và mở rộng thị trường tiêuthụ
SV: Lê Thị Hải Yến Thương mại 37
Trang 38Phòng tài chính - kế toán: Công ty là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, tổ
chức theo mô hình hạch toán tập trung, không có các đơn vị hạch toán phụthuộc Vì vậy phòng kế toán có chức năng quản lý sự vận động của vốn, tổ chứcthực hiện các nghiệp vụ hạch toán kế toán đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh
Bộ phận văn phòng: Phụ trách giám sát chung các công việc trong
công ty, quản lý tài liệu sổ sách, nhân sự, hỗ trợ các nhân viên khác hoànthành tốt công việc Thực hiện việc tiếp đón khách hàng, đối tác và quản lý tàisản chung của khối văn phòng
Kho vận, đội xe: Có chức năng đảm bảo công tác vận chuyển hàng hóa
đến nơi tiêu thụ đúng thời gian, địa điểm và an toàn
Phòng kế hoạch – vật tư: Tổ chức hoạt động mua sắm vật tư kỹ thuật
đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục Lập, triển khai vàgiám sát các kế hoạch vật tư của công ty
Phòng kỹ thuật: Hoạt động dưới sự quản lý của nhà máy Có chức
năng xây dựng và quản lý quy trình công nghệ, nghiên cứu, thiết kế, chế thửsản phẩm, tư vấn cho khách hàng Chịu trách nhiệm chung đối với toàn bộthiết bị công nghệ của nhà máy, đảm bảo chúng luôn hoạt động tốt
Trung tâm nghiên cứu chế thử: Hoạt động dưới sự quản lý của nhà
máy Có chức năng hợp tác với phòng kỹ thuật trong công tác nghiên cứu, chếthử Phụ trách chính trong công việc mang tính thực hành, nhằm tạo ra cácsản phẩm mới, cải tiến sản phẩm hiện có
Bộ phận hành chính – quản trị - nhân sự: Giám sát chung các hoạt
động của Công ty Tham mưu cho Giám đốc về chính sách lao động, tiềnlương, nội quy, quy chế trong công ty
Trang 39Các phân xưởng: Chịu trách nhiệm hoàn thành việc sản xuất ra các
sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà nước, theo yêu cầu của kháchhàng với chất lượng ngày càng cao
Trung tâm bảo hành: Tiến hành công việc bảo hành sản phẩm cho
khách hàng theo định kỳ cũng như theo yêu cầu của khách hàng trong thờigian nhanh nhất với chất lượng phục vụ tốt nhất
2.1.2.3 Chức năng của Công ty Cổ phẩn Tiêu Chuẩn Việt
Công ty Cổ phẩn Tiêu Chuẩn Việt là một pháp nhân kinh doanh, có bộmáy, cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanhcủa mình Nhiệm vụ của Công ty Cổ phẩn Tiêu Chuẩn Việt là tuyệt đối tuânthủ các nguyên tắc của hạch toán kinh doanh, chấp hành nghiêm chỉnh cácchế độ chính sách do Nhà nước và pháp luật quy định, đảm bảo và khôngngừng nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho CBCNV
Công ty tạo ra những sản phẩm đủ tiêu chuẩn chất lượng dưới sự chophép của Nhà nước và các cơ quan chức năng, chịu trách nhiệm pháp lý vềsản phẩm của mình trước người tiêu dùng Công ty không ngừng nâng caochất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã cũng như tạo ra các sản phẩm mới ngàycàng tiên tiến phù hợp với nhu cầu khách hàng, góp phần nâng cao đời sốngnhân dân và đóng góp vào sự tiến bộ chung của xã hội
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh
Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Tiêu chuẩn Việt cóthể được khái quát trong bảng số liệu sau:
Bảng 2.4: Tình hình tài chính của công ty trong 4 năm 2005 - 2008
Đơn vị tính: VNĐ
Tổng tài sản 15,161,411,809 21,216,223,062 31,952,040,543 61,073,720,479 Doanh thu 14,613,339,289 15,045,085,936 26,278,131,665 46,424,487,847
LN trước thuế 46,711,205 275,630,597 383,610,390 1,731,527,945
LN sau thuế 33,632,068 198,454,030 276,199,481 1,246,700,120
SV: Lê Thị Hải Yến Thương mại 39
Trang 40Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 2005 - 2008
Từ bảng số liệu trên cho ta thấy, tài sản của Công ty không ngừng giatăng qua các năm, hầu như đều gấp rưỡi so với năm trước Cụ thể, năm 2005,tổng tài sản của Công ty là hơn 15 tỷ đồng, đến cuối năm 2006 thì đã là hơn
21 tỷ đồng, gấp gần 1,5 lần Tới năm 2007 con số này là gần 32 tỷ đồng, hơnnăm trước tới 11 tỷ Và tổng tài sản của Công ty cuối năm 2008 đã là 61,073
tỷ đồng, gấp gần 2 lần năm 2007, 3 lần năm 2006 và gấp hơn 4 lần năm 2005
Chỉ qua 4 năm hoạt động mà tổng tài sản của công ty đã tăng lên mộtcon số khá lớn so với ban đầu Nguyên nhân là do công ty chú trọng trongviệc đầu tư mua sắm trang thiết bị nhà xưởng máy móc phục vụ sản xuất,phương tiện vận tải và thiết bị dụng cụ quản lý cùng những tài sản khác nhằm
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đáp ứng yêu cầu thực tế
Doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ cũng
không ngừng gia tăng Cụ thể, doanh thu năm 2005 là 14,613,339,289 đồng, đến năm 2008 đã là 46,424,487,847 đồng, gấp 3,17 lần so với năm 2005.
Trung bình qua 4 năm, doanh thu của công ty tăng 54, 4% - đây là mức tăngdoanh thu khá cao so với các công ty khác cùng hoạt động trong lĩnh vực này.Tuy nhiên, trong khi tổng tài sản tăng hơn 4 lần từ 2005 đến 2008 thì doanhthu chỉ tăng hơn 3 lần, như vậy nói một cách tương đối, kết quả đạt được củaCông ty chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực mà công ty đã bỏ ra
Xét về lợi nhuận (lợi nhuận trước thuế): Xét về mặt tuyệt đối, Lợinhuận công ty thu được tăng rõ rệt qua các năm Từ 46,7 triệu đồng năm 2005lên đến 275,6 triệu năm 2006 và con số này năm 2008 đã là 1,73 tỷ đồng, gấpgần 4 lần chỉ qua 4 năm Tỷ lệ LN trước thuế/Tổng doanh thu năm 2005 là0,32%; của năm 2006 là 1,83%, năm 2007 là 1,46% và năm 2008 là 3,73%.Như vậy, tỷ lệ Lợi nhuận trước thuế/Tổng doanh thu có xu hướng ngày càng