1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHẬT BẢN HAI LẦN KHÁNG CHIẾN CHỐNG MÔNG - NGUYÊN

77 442 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhật Bản Hai Lần Kháng Chiến Chống Quân Xâm Lược Mông - Nguyên
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Đông Phương học
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHẬT BẢN HAI LẦN KHÁNG CHIẾN CHỐNG MÔNG - NGUYÊN

Trang 1

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

§¹i häc Quèc gia Hµ Néi §¹i häc quèc gia hµ néi Trêng §¹i häc Khoa häc x· héi & Nh©n V¨n

Khoa §«ng Ph¬ng Häc

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NhËt B¶n hai lÇn kh¸ng chiÕn chèng qu©n x©m lîc M«ng - Nguyªn

Trang 2

và đặc biệt luôn mang trong mình tình yêu quê hơng, đất nớc nồng nàn Nếu

nh trong Cách mạng Minh Trị (1868), bằng lòng tự hào dân tộc mãnh liệt;

ngời Nhật Bản đã quyết tâm canh tân đất nớc mình từ một nớc nông nghiệplạc hậu trở thành một quốc gia hùng mạnh sánh vai cùng các cờng quốc Tâyphơng, thì trong những năm tháng khổ cực sau Đại chiến Thế giới thứ hai,cũng chính bằng tình yêu nớc thiết tha ấy, những con ngời xứ sở Phù Tang lạilàm việc quên mình với niềm tin sẽ khôi phục lại nớc Nhật đã kiệt quệ vìchiến tranh Chính những con ngời đó, với truyền thống và nghị lực phi thờng

đã tạo nên một nớc Nhật Bản thần kỳ khiến cả thế giới ngày nay phải ngỡng

mộ

Tìm hiểu về truyền thống và con ngời Nhật Bản từ lâu đã là một trongnhững hớng u tiên của các nhà xã hội học cũng nh các nhà sử học Việt Nam

và thế giới Cá nhân tôi, với t cách là một sinh viên chuyên ngành Đông

Ph-ơng học, tôi không có tham vọng trình bày tất cả truyền thống lâu đời củadân tộc Nhật Bản, mà trong bản khoá luận tốt nghiệp này tôi chỉ cố gắng nêu

ra một vài suy nghĩ của mình về hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lợcMông - Nguyên của họ Đây là một thời kỳ hào hùng và đầy biến động tronglịch sử Nhật Bản; là quãng thời gian tuy ngắn ngủi song thể hiện đậm nét tínhcách con ngời và các giá trị truyền thống cho đến ngày nay vẫn đợc dân tộcNhật trân trọng Qua đó tôi cũng muốn phần nào giới thiệu với quý vị độcgiả, nhất là với các bạn sinh viên cùng trang lứa rằng ngời Nhật Bản họ đã

Trang 3

yêu nớc nh thế nào và tình yêu ấy đã giúp gì cho họ trớc những thử tháchngặt nghèo của lịch sử.

Trớc khi bắt tay vào thực hiện bản khoá luận tốt nghiệp này, quả thựctôi đã không lờng trớc hết đợc những khó khăn sẽ gặp phải Trớc hết là khókhăn chồng chất trong việc su tầm tài liệu do khả năng ngoại ngữ còn hạnchế và nguồn tài liệu tiếng Việt không nhiều Thứ đến là do cha có điều kiệnnghiên cứu khoa học thờng xuyên, tôi gặp nhiều bỡ ngỡ và rất thiếu kinhnghiệm khi tiến hành viết khoá luận Cuối cùng đó là sự khó khăn trong việcphân tích tài liệu do có quá nhiều cách nhìn nhận khác nhau từ các phía

giới thứ hai này Tuy nhiên, bên cạnh đó, tôi cũng gặp đợc nhiều thuận lợinh: do đã đợc học tiếng chuyên ngành Nhật Bản nên tôi có cơ hội tiếp xúcvới các tài liệu bằng tiếng bản ngữ, hoặc thông qua các bạn bè tôi có thêm đ-

ợc một số thông tin mới Đặc biệt là tôi nhận đợc sự hớng dẫn tận tình củacác thầy cô giáo trong cũng nh ngoài khoa Trong số những tài liệu mà mình

su tầm đợc, tôi nhận thấy nguồn sử liệu tiếng Anh là phong phú hơn cả Cáchọc giả phơng Tây, đặc biệt là hai nớc Anh, Mỹ đã viết rất nhiều sách giá trị

về lịch sử Nhật Bản Ngay các công trình nghiên cứu lớn của Nhật Bản, phầnnhiều cũng đợc dịch và xuất bản bằng tiếng Anh Thêm vào đó, các độc giảViệt Nam trong đó có cả tôi, xa nay vẫn chỉ quen tiếp xúc với các tài liệutiếng Việt và tiếng Anh Vì lẽ ấy, trong báo cáo này tôi quyết định ghi chépcác tên ngời, địa danh bằng phiên âm tiếng Anh; và một số, trong chừngmực có thể tôi cũng cố gắng sử dụng tên phiên âm Hán - Việt để quen thuộcvới ngời Việt Nam chúng ta

Với trình độ nhận thức của một sinh viên, chắc chắn bài viết khôngtránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận đợc sự góp ý quý báu của thầycô và các bạn

Trang 4

I Bèi c¶nh lÞch sö NhËt B¶n nh÷ng n¨m tríc chiÕn tranh……… 27

II Hai cuéc kh¸ng chiÕn chèng qu©n x©m lîc M«ng-Nguyªn………… 33

Ch¬ng III _ Nguyªn nh©n th¾ng lîi vµ ý nghÜa lÞch sö cña hai cuéc kh¸ng chiÕn.

I C¸c lîi thÕ cña qu©n M«ng Cæ vµ chiÕn thËt qu©n sù cña hä ……….56

II Nguyªn nh©n th¾ng lîi vµ nghÜa lÞch sö cña hai cuéc kh¸ng chiÕn… 62

KÕt luËn Tµi liÖu tham kh¶o.

Trang 5

Chơng I

Tình hình lục địa á-âu thế kỷ XIII và âm mu

bành trớng của đế quốc Mông Cổ

I Đế quốc Mông Cổ - con đờng hình thành và phát triển.

1 Dân tộc Mông Cổ - nguồn gốc và những truyền thống cổ xa.

Vùng thảo nguyên rộng lớn phía Bắc Trung Hoa, từ xa xa đã là địa bàn

c trú của những bộ lạc du mục thuộc các tộc ngời Duy Ngô Nhĩ, Khiết Đan,Nữ Chân hay Mông Cổ Tới trớc thế kỷ XIII hầu hết các bộ tộc này đều đã

từ bỏ lối sống du mục, học theo các c dân phơng Nam sống định c làm nôngnghiệp Theo đó họ thành lập nên hàng loạt những nhà nớc mới của dân tộcmình, nh nớc Liêu của ngời Khiết Đan, nớc Kim của ngời Nữ Chân Tuynhiên trong số ấy vẫn còn một dân tộc đang chìm trong bóng đêm môngmuội của xã hội thị tộc, đó chính là ngời Mông Cổ Dân tộc ấy đợc ngời ta

đem so sánh với hình ảnh một con mãnh hổ đang ngủ quên, và khi nó thứcdậy thì cả thế giới bị một phen kinh hoàng

Nh chúng ta đã biết, ở phơng Đông, vùng Đông Bắc nớc Trung Quốcngày nay là một trong những cái nôi đầu tiên xuất hiện loài ngời hiện đạiHomosaphien Xơng cốt hoá thạch của giống “ngời vợn Bắc Kinh” đợc tìmthấy ở đây có niên đại tới gần 1,5 triệu năm, và chắc hẳn các dân tộc Bắc átrong đó có ngời Mông Cổ chính là hậu duệ của giống ngời này Dân tộcMông Cổ xuất hiện từ bao giờ không có tài liệu nào ghi chép chính xác, nhngngay từ thời Xuân Thu Chiến Quốc ngời Trung Hoa đã phải xây Vạn Lý Tr-ờng Thành vô cùng tốn kém để phòng ngừa những đội kỵ binh của họ tới cớp

Trang 6

cung Cho tới tận thời kỳ trung đại, trong khi những dân tộc láng giềng đãbớc sang chế độ phong kiến với tổ chức xã hội tiến bộ thì ngời Mông Cổ vẫn

đang sống du mục dới hình thức bộ lạc hay liên minh các bộ lạc Đến lúcnày, họ chỉ là một dân tộc nhỏ bé cha từng đợc lịch sử thế giới nhắc đến Các

bộ lạc du mục Mông Cổ sinh sống trên vùng thảo nguyên Bắc á rộng mênhmông và hoang vắng Dân số của họ cho tới giữa thế kỷ XIII chỉ vào khoảng2,5 triệu ngời, nhng lãnh thổ lại rất rộng lớn bao gồm phía Bắc tới tận hồBaikal, thợng lu sông Yenisey và sông Irtysh, phía Nam qua sa mạc Đại QuaBích ( Gobi ) tới gần trờng thành Mông Cổ có nhiều bộ tộc nh Naimans ở

phía Tây, Merkits ở phía Bắc đông nhất là tộc Tartar ( ngời Trung Quốc

sản chủ yếu của họ là các loài đại gia súc nh bò, dê, cừu, ngựa thức ănchính là thịt và sữa ngựa Ngựa đóng một vai trò thiết yếu trong đời sống củangời Mông Cổ, họ có tới hàng triệu con Cứ mùa Đông đồng cỏ khô héo, họrời xuống phía Nam, tới mùa Hạ thời tiết ấm áp lại lùa gia súc về phơng Bắc,không ngoa mà có thể nói rằng ngời Mông Cổ sinh ra và lớn lên trên lngngựa Ngày này qua ngày khác, họ chăn thả gia súc, săn bắt và chiến đấu trênlng ngựa, đó vừa là sinh kế cũng vừa nh là bản năng của họ Chính vì xã hộisống du mục nh vậy ngời Mông Cổ rất trọng sức mạnh, họ coi việc cỡi ngựabắn cung là bản năng tự nhiên giống nh việc đứa trẻ tập đi, nếu không biếtnhững thứ đó thì không thể sinh tồn đợc

Ngời Mông Cổ du mục theo hình thức Kuryel, có nghĩa là lều trại Theo nhà sử học Ba T

1000 lều, đó có thể đó là một bộ lạc hay một gia tộc Khi bộ lạc di chuyển tới đâu, Kuryel đợc đóng tại đó, lều của thủ lĩnh ở chính giữa, xung quanh

1 Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm - Cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Nguyên-Mông thế kỷ XIII , NXB

Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1972.

Trang 7

xã thị tộc và tù binh từ các cuộc chiến tranh vì tranh giành đồng cỏ, các gia

đình Mông Cổ giàu có mở rộng phạm vi thế lực, tầng lớp nô lệ bắt đầu xuấthiện Nô lệ gia đình đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi từ ph-

ơng thức Kuryel-du mục của công xã sang phơng thức Ayil-du mục của gia

đình các thể Song, các bộ lạc Mông Cổ không trở thành một xã hội chiếmhữu nô lệ mà tiến thẳng tới hình thái phong kiến Điều đó hiển nhiên là do

ảnh hởng từ các dân tộc định c phong kiến láng giềng, đặc biệt là ngời TrungHoa Dới chế độ công xã, bãi chăn nuôi và gia súc đều là tài sản chung củabộc tộc Khi chế độ thị tộc tan rã, gia súc biến thành tài sản riêng của gia

đình cá thể, nhng đồng cỏ vẫn là tài sản chung Dần dần các bãi chăn thả giasúc bị tầng lớp quý tộc Mông Cổ ( Noyan ) chiếm dụng làm của riêng, những

ngời tự do ( Arat ) bị biến thành tầng lớp lệ thuộc, phải cung cấp củi đốt, vắt

sữa, chăn gia súc cho Noyan nh vậy từ cuối thế kỷ XII mầm mống sở hữuphong kiến đã dần hình thành trong xã hội Mông Cổ

2 Đế quốc Mông Cổ và dã tâm nô dịch các dân tộc khác

Thế kỷ XII, ngời Mông Cổ vẫn là bộ tộc lệ thuộc vào nớc Kim ( 金 )của ngời Nữ Chân, họ học đợc từ ngời Kim nhiều chiến thuật lợi hại Trongkhi đó, bản thân ngời Kim lại bị Hán hoá trầm trọng, họ chuyển sang sống

định c, làm nghề nông và bắt đầu thích đọc sách, làm văn thơ giống nh ngờiHán Chẳng những cái hung bạo, thiện chiến truyền thống đã mất đi mà họcòn bị nhiễm nhiều thói xấu của chế độ tập quyền chuyên chế phơng Nam.Nội bộ mất đoàn kết, các tập đoàn phong kiến khuynh loát lẫn nhau làm vơngtriều của họ suy yếu nghiêm trọng Suốt 120 năm làm chủ miền Bắc TrungHoa, ngời Kim liên tục phải chiến tranh, kình địch với Nam Tống, tuy giành

đợc thắng lợi nhng Kim cũng kiệt quệ lắm rồi Có một sự trùng hợp ngẫunhiên của lịch sử, ngời Kim trớc kia lệ thuộc vào ngời Khiết Đan, vì vua Liêu

Trang 8

nghĩa cuối cùng diệt đợc nớc Liêu Nay thì ngời Mông Cổ cũng bị nớc Kim

đàn áp quá đáng mà qua thế kỷ XIII đã nổi loạn chống lại Kim Vua Kim bịthua nhiều trận, phải nộp vàng bạc, bò, dê, đậu, gạo để xin nghị hoà, cònphải cắt đất phong vơng cho Mông Cổ, nhng họ không thèm nhận, tự xng là

Đại Mông Cổ Quốc

Qua thời Temujin ( Thiết Mộc Chân ), Mông Cổ lại càng mạnh, đánh

đâu thắng đó Temujin là tộc trởng bộ lạc Kereyid sinh sống ở lu vực sôngOnon, cha là Yesugey Ba’artur Năm 1200, sau một thời gian tập hợp lực l-ợng, Temujin quyết định mở cuộc chiến tranh thống nhất các bộ lạc Mông

Cổ Năm 1206, ông ta đã hàng phục đợc hầuhết các bộ lạc chủ yếu ở Mông Cổ, sau đó tại

đại hội quý tộc Khuriltai tổ chức bên bờ sôngOnon, giai cấp quý tộc Noyan đã tôn ThiếtMộc Chân lên làm Thành Cát T Hãn (

vua Mông Cổ ) mạnh nhất Một nhà nớc

phong kiến tập quyền quân sự của ngời Mông

Cổ chính thức đợc ra đời Quan hệ phongkiến nảy sinh trong xã hội Mông Cổ từ cuốithế kỷ XII, nay phát triển mạnh mẽ, hình thành nên một Hình 1: Thành Cát T Hãn dân tộc Mông Cổ thống nhất Kinh tế, văn hoá có điềukiện rất thuận lợi để phát triển “Nhng ngay sau đó, Thành Cát T Hãn và tập

đoàn quý tộc phong kiến Noyan lại đem tất cả tinh lực của bộ tộc Mông

Cổ vừa hình thành lao vào cuộc chiến tranh xâm lợc và nô dịch các dân

nguyên hoang vắng tiến về phơng Tây và phơng Đông, gieo rắc nỗi kinhhoàng cùng sự chết chóc Lý do nào dẫn tới tham vọng điên cuồng muốn trở

2 Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm - Cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Nguyên-Mông thế kỷ XIII

Trang 9

thành bá chủ thế giới của ngời Mông Cổ cho tới nay vẫn còn nhiều tranh cãi,nhng chắc chắn trong đó có vài nguyên nhân sau Thứ nhất, ngời Mông Cổ làdân tộc du mục, họ rất coi trọng các đồng cỏ chăn thả gia súc, khi xã hội củamình phát triển mạnh mẽ nhu cầu về đất chăn nuôi tăng cao làm họ nghĩ tớiviệc phải thôn tính những miền đất mới Thứ hai, ngời Mông Cổ bị ảnh hởng

t tởng đại Hán từ ngời Trung Hoa họ sớm cho mình là một dân tộc thợng

đẳng và nuôi dã tâm nô dịch các dân tộc xung quanh, đặc biệt là ngời Hánhay ngời Kim-những dân tộc trớc kia từng thống trị các bộ lạc Mông Cổ Thứ

ba, rõ ràng ngời Mông Cổ bị hấp dẫn bởi thứ văn hoá và lối sống mới lạ từnhững quốc gia lân cận Lấy ví dụ nh nớc Trung Hoa chẳng hạn, họ vừamuốn học theo lại vừa muốn khuất phục quốc gia ấy để chứng tỏ sức mạnh v-

ợt trội của dân tộc mình Cuối cùng, không thể không nhắc đến đó là thamvọng bá chủ thiên hạ của cá nhân Thành Cát T Hãn và những ngời kế tục ông

ta Họ muốn để lại những chiến công hiển hách, muốn chiến thắng mọi sựkháng cự dù là nhỏ nhất chỉ để thoả mãn danh vọng cá nhân Ngay bản thâncác chiến binh Mông Cổ cũng say sa trong mỗi chiến thắng, ảo tởng về mộtsức mạnh bất khả chiến bại Những t tởng ấy ngày càng thôi thúc tớng sỹ

Mông Cổ lao vào cuộc chiến tranh xâm lợc phi nghĩa, tàn bạo Ngời Mông

Cổ thì ít, đế quốc của họ thì đã rộng lớn lắm rồi mà các đoàn kỵ binh vẫn tiếptục hành quân mãi không thôi Kết quả là Mông Cổ trở thành một đế chếrộng lớn và hùng mạnh nhất trong lịch sử cổ kim, với cơng thổ trải dài từ bờbiển Thái Bình Dơng tới tận miền Địa Trung Hải

II Lục địa á - Âu dới vó ngựa xâm lăng của đế chế Mông Cổ

1 Những cuộc tiến công dới thời Thành Cát T Hãn

Trang 10

Hình2: Những con đờng Tây tiến của quân Mông Cổ ( nửa đầu thế kỷ XIII )

Năm 1211, Thành Cát T Hãn tiến quân vào miền Bắc Trung Hoa vàchiếm đợc Đại Đô 大都 ( ngày nay là thủ đô Bắc Kinh-Trung Quốc ) tứcTây Kinh của nhà Kim, cớp nhiều của cải và tù binh Vua Kim sợ hãi xinhoà, nộp vàng, lụa, phụ nữ còn phải dâng một công chúa cho Thành Cát THãn làm thiếp Mông Cổ chuyển hớng tấn công sang phía Tây, chiếm vùngTây Vực của ngời Duy Ngô Nhĩ ( Uygur ) và thẳng tiến đến miền đất Trung

á xa lạ Năm 1218, quân Mông Cổ chiếm đợc phần phía Đông lãnh thổ củangời Tuốc ( ngời Turk hay đầy đủ là Turkestan ) Năm 1219, họ tiến quân

tới vơng quốc Khwarizm ( ngày nay thuộc lãnh thổ các nớc Turkmenistan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Tajikistan và một phần nớc Kazakhstan ), tới tháng

2 năm 1220 thì chiếm đợc thành cổ Bukhara, dân chúng ở đây bị tàn sát rấtdã man, còn toà thành bị họ thiêu trụi Quân Mông Cổ tiếp tục tiến quân vềhớng kinh đô Urgenc của vơng quốc Khwarizm, trên đờng đi họ tàn phá

Trang 11

không thơng tiếc Samarkhand-một thành phố lớn ở miền trung Uzbekistan.Toà thành lộng lẫy với những ngôi đền Hồi giáo bị biến thành một đống trotàn hoang phế Nhân dân thành Urgenc chiến đấu rất ngoan cờng chống lại

đội quân Mông Cổ thiện chiến dới sự chỉ huy của các con trai Thành Cát THãn đều là những dũng tớng, nh Ogodey ( Oa Khoát Đài 窩 闊 台 ),Tragatai ( Sát Hợp Đài 察合台 ), Jotri ( Thuật Xích 朮赤 ) Tuy nhiên họcũng chỉ cầm cự đợc 5 tháng, thành Urgenc thất thủ tháng 4 năm 1221 Saukhi tàn sát c dân và trng tập thợ thủ công, bọn chiến thắng cuồng bạo đã phá

đê sông Amu-daria ( dòng sông lớn nhất Trung á chảy từ Đông sang Tây đổ vào biển Aral ) cho nớc tràn vào nhấn chìm cả toà thành, không một ai sống

sót sau thảm hoạ đó Cùng năm đó ngày 25 tháng 2, Tolui ( Đà Lôi 拖雷)con trai út của Thành Cát T Hãn hạ thành Mecv của ngời Tuốc-một thành cổgiàu có nằm trên “ con đờng tơ lụa ” nổi tiếng trong lịch sử Nhân dân thành

Mecv đã chống trả quyết liệt nên toàn thành bị tàn sát trừ 400 thợ thủ công,

sự kiện này đợc lịch sử Turkmenistan ghi lại nh một trong những trang đentối nhất của toàn dân tộc Ngời ta đã đếm đợc hơn 70 vạn xác chết quanhngôi thành Vơng triều Samanids của nớc Khwarizm- một nền văn minh cổ x-

a, rực rỡ ở Trung á giờ chỉ còn lại một miền đất hoang vắng Vua Mohammed buộc phải chạy trốn, rồi chết trong tủi nhục tại một hòn đảo nhỏtrên biển Caspien ( Lý Hải ) “ Nghệ thuật, những th viện phong phú, nền nông nghiệp u việt, cung điện và giáo đờng tất cả sạch không , Mác ( K.Mark ) đã viết nh vậy để nói về cuộc xâm lợc tàn bạo của ngời Mông Cổ ở

Khwarizm-Trung á”3

Một đạo quân Mông Cổ khác do các tớng Subutai, Jebe chỉ huy tiếncông về hớng Azerbaijan và Georgia Sau khi chiếm Semakha thuộc

Trang 12

Armenia, đội quân viễn chinh vợt dãy Caucasus ( Cáp-ca-dơ ) kéo lên phơng

Bắc, và tràn vào Kharza ( ngày nay thuộc Nga ) Vùng đất này và cả miền

Đông Hắc Hải đang ở trong tình trạng chiến loạn liên miên Đế quốc Đông

La Mã ( Byzantium ) lâm vào hồi lụi tàn không đủ sức khống chế khu vực và

các cuộc thập tự chinh ( Crusade ) chống lại ngời Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ ( Turkish ) hay Ai Cập ( Egypt ) của ngời Tây Âu làm chiến tranh xảy ra liên

tục Các nớc trong khu vực suy yếu trầm trọng, mỗi vùng đất đợc cai quảnbởi các lãnh chúa chứ không có một đế chế hùng mạnh thật sự, chỉ có thế lựccủa ngời Mameluk ở Ai Cập là khả dĩ có thể ngăn chặn bớc tiến công củaquân xâm lợc Mông Cổ Năm 1223, lần đầu tiên ở chiến trờng phơng Tây,quân đội Mông Cổ đụng độ với một lực lợng lớn do các công tớc Kiev vàNga ( Vladimir, Smolen ) chỉ huy tập hợp lại bởi lời kêu gọi của thân vơng

công quốc Kiev là Mstislav đệ tam ( Mstislav III of Kiev ) Liên quân

Nga-Kiev gồm 80.000 ngời lập phòng tuyến chặn địch tại bờ sông Kalka ( nằm trên lãnh thổ nớc Ucraina ngày nay ), nhng ngay trong lúc nguy cấp đó, các

công quốc vẫn bất hoà với nhau và kết quả họ đã phải chịu thất bại thảm hại.Dòng sông Kalka hung dữ không ngăn nổi vó ngựa của đội quân xâm lăngthiện chiến, chiến thuyền Nga bị thiêu trụi, binh sỹ chạy thoát không quá mộtphần mời, tất cả 6 công tớc đều bị bắt trong đó có cả Mstislav Quân Mông

Cổ không chỉ dừng lại ở miền Nam nớc Nga mà tiếp tục tiến quân vào lu vựcsông Volga, đây là vùng lãnh thổ các công quốc khá mạnh của ngời Nga nhMuscovy, Pskov Tại đây, họ gặp sức chiến đấu mãnh liệt của những ngờiSlav ( Xlavơ ) nh ngời Russian ( Nga ), Volga-Bulgarian, Lituanian ( ngày nay thuộc lãnh thổ các nớc Belarus, Latvia, Litva ) Bị phục kích và do số l-

ợng quá ít, quân Mông Cổ thất bại không thể tiếp tục tấn công, họ buộc phảiquay về

Trang 13

Mùa thu năm 1225, Thành Cát T Hãn trở về Mông Cổ, sang năm sau

ông ta kéo quân đánh nớc Tây Hạ ( Xi Xia 西夏 ) Tây Hạ thất thủ nhanhchóng, kinh đô Ning Xia bị cớp phá và thiêu huỷ Nhng đó cũng chính là

chiến thắng cuối cùng trong đời Thành Cát T Hãn, tháng 8 năm 1227, ông tachết trên đờng viễn chinh ở huyện Thanh Thuỷ ( tỉnh Cam Túc-Trung Quốc

) Cho tới lúc này, lãnh thổ của ngời Mông Cổ đã vô cùng rộng lớn, phía

Đông giáp với bán đảo Triều Tiên, phía Tây trải dài tới tận dãy Caucasus.Khi Thành Cát T Hãn chết, lãnh thổ của ông ta đợc chia cho các con trai,những vùng đất ấy tiếng Mông Cổ gọi là “ Ulus ” nghĩa là đất phong “Theo

th tịch Trung Quốc: Nguyên triều bí sử, Thành Cát T Hãn đã chỉ định con

tr-ởng Oa Khoát Đài thừa kế ngôi vị Đại Hãn nhng sau khi ông ta qua đời,quyền lực thực tế rơi vào tay ngời con út là Đà Lôi”4 Năm 1235, thủ đô của

đế quốc Đại Mông Cổ đợc xây dựng bên bờ sông Orkhon lấy tên làKarakorum, kỷ nguyên mới của dân tộc Mông Cổ bắt đầu nh thế, thấm đầymáu, nớc mắt và gió bụi chiến tranh

2 Các Hãn quốc của ngời Mông Cổ đợc thành lập.

Sau khi Thành Cát T Hãn chết, các cuộc viễn chinh vẫn không ngừngdiễn ra Nạn nhân đầu tiên là nớc Kim ở Bắc Trung Hoa, lần này ngời NữChân không thể dùng vàng bạc để đổi lấy hoà bình đợc nữa Năm 1232, OaKhoát Đài và Đà Lôi tấn công vào Hà Nam, liên minh với Nam Tống đánhKim Năm 1234, Thái Châu-thành trì cuối cùng của ngời Kim thất thủ, vuaKim Ai Tông tự sát ở U Lan Hiên, Kim vong Đã có nhiều bài học lịch sửcho ngời Trung Hoa về sự tráo trở của kẻ thù, trớc kia Tống giúp Kim diệtLiêu sau đó bị Kim bội ớc, nhng họ vẫn không chịu tỉnh ngộ Lần này cũngthế, Tống giúp 20.000 quân và 300.000 thạch lơng cho Mông Cổ vây thành

Trang 14

Thái Châu mong đợc trả lại các vùng đất của mình nhng khi diệt Kim xongrồi, quân Thát Đát trở giáo quay sang diệt Tống Năm 1236, Oa Khoát Đàixua quân tấn công Giang Nam, cuộc chiến tranh 40 năm xâm lợc Nam Tốngchính thức mở màn Năm 1260, Hốt Tất Liệt-cháu nội Thành Cát T Hãn lênngôi đại Hãn tức vua Nguyên Thế Tổ trong lịch sử Trung Hoa Năm 1264,

ông ta cho rời đô từ Karakorum về Tây Kinh ( sau đổi tên là Đại Đô 大都 ,

ngày nay là thành phố Bắc Kinh ) Năm 1268, quân Mông Cổ vây thành

T-ơng DT-ơng, quân dân TT-ơng DT-ơng kiên cờng cố thủ đợc 5 năm thì bị hạ ( 1273

), thế Tống lúc này rất nguy Hai năm sau, Mông Cổ dẫn quân theo đờngGiang Đông tiến xuống miền Nam, thừa tớng Giả Tự Đạo đốc suất 130.000binh mã và 2500 chiến thuyền cự địch, nhng nhà Tống đã suy yếu lắm rồi ch-

a xáp chiến mà quân đội đã tan vỡ Quân Mông Thát trái lại, khí thế nhcuồng phong chiếm hết thành này sang thành khác, cuối cùng kinh đô Lâm

An ( Hàng Châu ) bị uy hiếp Hai dũng tớng Văn Thiên Tờng và Trơng Thế

Kiệt chiêu mộ nghĩa binh chống giặc, nhng vận Tống đã đến lúc diệt vongkhông gì có thể cứu vãn đợc Năm 1276, Lâm An thất thủ, vua Tống là Cung

Đế bị bắt Tể tớng Lục Tú Phu tôn Đoan Tông rồi Quảng Vơng lên làm vua,chạy ra đảo Nhai Sơn ( nay thuộc tỉnh Quảng Đông-Trung Quốc ) Năm

1279, Văn Thiên Tờng bị bắt, quân Mông Cổ tiến đánh Nhai Sơn, Lục Tú Phu biết không thể chống cự đợc nữa bèn cõng vua Tống nhảy xuống biển

tự sát Sử sách chép lại rằng, năm ấy có tới 100.000 ngời Hán noi gơng đó

nhất trong lịch sử nhân loại Tuy vua quan nhà Tống nhu nhợc, yếu hèn lúcnào cũng chỉ muốn cầu hoà, nhng nhân dân lại luôn anh dũng chiến đấu tớicùng Suốt từ Đông sang Tây, không có dân tộc nào chống quân Mông Cổkiên cờng và quả cảm nh ngời Trung Hoa, vậy nên Tống mất vào tay quânThát Đát không phải là một điều đáng hổ thẹn Will Durant-một sử gia ngời

5 Nguyễn Hiến Lê - Sử trung Quốc - NXB Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội 1997

Trang 15

Pháp kể rằng: ở thành Juningfu, ngời Hán đã cố gắng cầm cự với quân Mông Cổ tới khi tất cả ngời già cả, tàn tật bị ngời trong thành ăn thịt hết, còn ngời khoẻ mạnh thì chết sạch vì chiến tranh, họ mới tự nổi lửa đốt thành, thà chết thiêu trong biển lửa chứ nhất định không chịu rơi vào tay

quả cảm khác đã viết nên trang sử cuối cùng thật bi thảm mà cũng thật vẻvang của nhà Tống Có những vị nh thế Tống cũng bớt tủi Vị anh hùng củanhân dân Trung Hoa, Văn Thiên Tờng khi bị bắt vẫn hiên ngang khẳng khái

đón nhận cái chết, tinh thần xả thân cho tổ quốc của ông đợc cô đúc trong bài

Tạp nhiên phú lu hình Hạ tắc vi hà nhạc Thợng tắc vi nhật tinh ”

Tạm dịch: “ Trời đất có chính khí

Lẫn lộn trong các hình Dới đất là sông núi

Về phía Tây, quân Mông Cổ cũng thu đợc những thắng lợi vang dộitrên khắp các chiến trờng Một trong những trọng điểm tấn công của họ làvùng thảo nguyên sông Volga rộng lớn, mà trong đợt viễn chinh năm 1223Thành Cát T Hãn còn cha chiếm đợc Mùa xuân năm 1236, một đạo kỵ binh

150.000 ngời ồ ạt kéo về phía Tây.Chỉ huy đạo quân là thống soái Batu (

cháu nội Thành Cát T Hãn, viên lão

Trang 16

t-ớng Subutai làm tiên phong Tháng 12 năm 1237, Batu tấn công công quốcRyazan ( Nga ), đại công tớc Yury Igorevic bị giết Năm sau, quân Mông Cổchiếm đợc hai công quốc Vladimir và Muscoy, đại công tớc Yury II bị hạ sát,các thành phố Moscow ( Mát-xơ-cơ-va ) Suzdal, Kolomna bị thiêu trụi Tiếp

sau đó một loạt 14 thị trấn Nga nh Rostov, Yaroslav, Dmiterov bị quânTartar ( Tartar là tên gọi một bộ lạc Mông Cổ nhng sử sách phơng Tây dùng từ này để chỉ tất cả những ngời Mông Cổ nói chung ) giày xéo Tháng

3 năm 1238, Batu định tiến quân về hớng Nogvorod - công quốc mạnh nhấtcủa ngời Nga dới sự trị vì của Đại Thân Vơng

Hình 3: Tợng Alexander Nevsky tại thành phố St.Peterburg ( LB Nga ) ngày nay.

Alexander Nevsky ( 1219-1263 ), nhng họ đã gặp phải sự chiến đấu ngoan

cờng của ngời Nga nên buộc phải rút lui Năm 1239, Batu đổi hớng tấn côngxuống phía Tây Nam vào Crimea và Mordovia Các thành phố Pereyaslav rồiChernigov lần lợt bị tàn phá Năm 1240, quân Mông Cổ tấn công thành Kiev,cha bao giờ ngời châu Âu phải đơng đầu với một đội quân khổng lồ nh thế,thân vơng Mikhain sợ hãi bỏ trốn sang Hungary, bá tớc Dmitri đứng ra tổchức giữ thành Sử sách nớc Nga chép lại rằng: “ quân Mông Cổ bao vây dày đặc xung quanh thành Kiev, tiếng các cỗ xe, tiếng bò rống, ngựa kêu, tiếng những ngời dã man gào thét lớn tới mức trong thành ngời ta không nghe đợc gì lời nói chuyện của nhau ngoài những tiếng ầm ầm khủng khiếp

” 8 Ngày 6-12-1240, thành phố Kiev bị chiếm, vô số binh sỹ và thờng dân bịtàn sát, hàng nghìn ngời bị bắt làm nô lệ Một cánh quân Mông Cổ khác doBaidar chỉ huy tiến vào Balan, ngày 9-4-1241 họ đánh tan 30.000 liên quân

Đức ( Holy Roman Emperor ) - Balan do Đại công tớc Henrich II chỉ huy tại

Wahlsalt-Balan Sau đó, cánh quân này hợp với đại quân của Batu tiến đánhHungary Tháng 7 năm đó thủ đô Budapest của Hungary thất thủ, bọn xâm l-

8 Trích theo: Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm - Cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Nguyên-Mông thế

kỷ XIII

Trang 17

ợc tàn bạo chặt đầu phụ nữ và nớng ngời trên lửa để tra khảo tìm chỗ giấu củacải Biên niên sử châu Âu ghi lại rằng, sau 1 năm quân Tartar ở Hungary dân

số nớc này chỉ còn lại hơn một nửa, các thành thị gần nh bị xoá sổ, đây đóchỉ lác đác những làng mạc nghèo khổ, đói rách Quân Mông Cổ tiếp tục truykích ông vua mới 6 tuổi của Hungary là Bela Đệ Tứ ( Béla IVof Hungary 1235-1270 ) tới tận bờ biển Serbia Cả châu Âu chấn động, Giáo Hoàng

Gregoa IX hoảng hốt kêu gọi thành lập các đoàn quân Thập Tự Chinh chốnglại ngời Mông Cổ, ở nhiều nơi các bài cầu kinh xin chúa cứu vớt khỏi cơn thịnh nộ Tartar cũng xuất hiện Tuy nhiên sức chiến đấu của nhân dân các n-

ớc Nga, Balan, Hungary, Bulgary đã làm quân Mông Cổ suy yếu đi nhiềukhông thể tiếp tục tấn công đợc nữa Thậm chí mùa xuân năm 1242, Batu đãphải rút khỏi lãnh thổ Balan và Hungary Tuy nhiên với công quốc Kiev,vùng thảo nguyên sông Volga và đất Kharza ( miền cực Nam của nớc Nga ngày nay, nằm ở bờ Đông Bắc biển Đen ) mới chiếm đợc, đất phong Ulus

của gia tộc Jotri đã trở nên vô cùng rộng lớn lập thành một Hãn quốc mới gọi

là Hãn Kim Trớng ( phơng Tây gọi là Golden Horde ) hoặc còn có tên gọi

khác là Khâm Sát Hãn Quốc ( Kipchak Khan Ulus 欽察汗國 ) Hãn quốcmới đóng đô ở thành Surai bên bờ sông Volga, gần địa điểm thành phốVolgograd ngày nay Trong suốt lịch sử của mình Khâm Sát Hãn Quốc đãtồn tại hoàn toàn độc lập so với Đại Hãn ở Mông Cổ

Năm 1241, Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài cùng qua đời, tình hìnhMông Cổ trở nên vô cùng phức tạp, ngôi vị Đại Hãn bỏ trống trong 5 năm, vợcủa Oa Khoát Đài là Toregene phải đứng ra nhiếp chính Đại hội Kuriltainăm 1246 cử Guyuk ( Quý Do 貴由 ) con trởng của Oa Khoát Đài lên ngôi

Đại Hãn, nhng Bạt Đô ra mặt chống đối không chịu tuyên thệ trung thành.Năm 1248, trong khi cha kịp đem quân hỏi tội Bạt Đô, Quý Do đột nhiên lâm

Trang 18

Kha 蒙哥 ) con trởng của Tolui lên làm Đại Hãn Mông Kha đem quân đánhdẹp lãnh địa của gia tộc Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài-những kẻ đã chống đốimình khiến cho hai vơng thất này suy yếu, lãnh địa Ulus ở Trung á khôngcòn rộng lớn nh trớc nữa Trên vùng lãnh thổ cũ của vơng quốc Khwarizm vàmiền cao nguyên Tây Tạng họ thành lập thêm một Hãn quốc nhỏ gọi là SátHợp Đài Hãn Quốc ( 察合台汗 ).

Mông Kha đã giành ngôi đại Hãn và cai quản những miền đất rộngmênh mông nhng ông ta vẫn cha thoả mãn Các kế hoạch xâm lợc mới lạitiếp tục đợc vạch ra Mục tiêu tiếp theo là vùng cao nguyên Iran Năm 1253,Mông Kha cử em là Hulegu ( Húc Liệt Ngột 旭烈兀 ) tấn công Ba T Đất n-

ớc này trớc đây cũng từng bị các tớng Mông Cổ Baiju và El’jigidai xâm lợcnhiều lần từ đợt viễn chinh năm 1231 Ngày 2-1-1256, Hulegu vợt sôngAmu-daria, tấn công Ixma’il-miền đất cuối cùng của ngời Ba T còn độc lập.Sau khi tiêu diệt Ixma’il, Hulegu dẫn đại quân tiến về vùng Lỡng Hà lúc đóthuộc lãnh thổ của Khaliph ( vua Hồi giáo ) al-Musta’sim Nhng bản thân

ông ta và cận thần đều là những kẻ bất tài, hèn nhát khiến Hulegu dễ dàngchiếm đợc kinh đô Baghdad Ngày 15-2-1258, quân Mông Cổ tiến vào thànhBaghdad nổi tiếng, cớp bóc của cải, đốt phá cung điện, đền thờ và tàn sát cdân Hulegu ra lệnh bỏ al-Musta’sim vào một cái túi rồi cho ngựa xéo chết.Thế tấn công vũ bão của Hulegu cuối cùng bị chặn lại ở Syria, thủ lĩnh ngờiMameluk ở Ai Cập là Saif ad-din Khutuz đã đánh bại quân Mông Cổ dới sựchỉ huy của tớng Kitbukha trong trận Ain-jalut lịch sử ( ngày 3-10-1260 )

Trang 19

Hình4: Lợc đồ lãnh thổ Y Lợi Hãn Quốc ( Il Khan Empire ) năm 1294

Nếu nh vì không thể thôn tính Đại Việt, Hốt Tất Liệt đành từ bỏ dã tâm xâmlợc vùng Đông Nam á, thì chiến thắng này của ngời Ai Cập cũng đã làmHulegu không thể tiếp tục xâm chiếm các quốc gia Hồi giáo ở Bắc Phi.Hulegu sau đó quay về Iran, sát nhập thêm các nớc ở miền Caucasus nhAzerbaijan, Goregia, Armenia vào bản đồ quốc gia của mình, cùng với miềnLỡng Hà trù phú hợp thành một Hãn quốc mới có tên là Y Lợi Hãn Quốc ( Il

Trang 20

Khan Ulus 伊利汗國 ) Hãn quốc này thực tế cũng đã thoát ly khỏi chínhquyền trung ơng của Đại Hãn Mông Cổ.

Hình 5: Bốn Hãn quốc và những con đờng tiến công của ngời Mông Cổ

Cho tới giữa thế kỷ XIII, hầu hết lục địa châu á rộng lớn và một phần

Đông Âu đã trở thành thuộc địa của ngời Mông Cổ, bờ cõi của đế quốc trảidài từ miền viễn Đông xa xôi tới tận bờ Địa Trung Hải Lịch sử loài ngời chatừng chứng kiến một đế quốc hùng mạnh và hung bạo đến thế Sử sách cònnói rằng, ngời Mông Cổ là một dân tộc dã man sống bên cạnh những dân tộcvăn minh Ngời dã man trọng võ bị nên thôn tính đợc những quốc gia vănminh bằng bạo lực, nhng trong thời bình họ lại bị thứ văn hoá đặc sắc, sống

động của những dân tộc ấy chinh phục lại Ngời Mông Cổ xây dựng đế quốccủa mình khi trong tay chẳng có gì ngoài những chiến thuật quân sự Họ càngkhông biết gì về tổ chức nhà nớc, nhà Nguyên cái gì cũng phải học của ngờiTrung Hoa Từ chế độ chính trị, tổ chức chính quyền tới thuế khoá, từ lễnghi triều đình, tên hiệu của vua tới việc cúng tế trời đất, thờ cúng tổ tiên,nhất nhất họ đều học theo Nho giáo của ngời Trung Hoa ấy thế nhng HốtTất Liệt lại luôn miệt thị Nho học, xếp nhà nho vào hạng cùng đinh chỉ đứngtrên ăn mày Xem ra Hốt Tất Liệt quả thực chẳng có chủ trơng gì cả, sự thậttrong mắt ông ta dân Trung Hoa chỉ là một bầy nô lệ để bóc lột chứ thâm tâm

ông ta không hề coi họ là những thần dân của mình ở các Hãn quốc khác,tình trạng có đỡ bi đát hơn vì quân Mông Cổ chỉ kỳ thị mỗi ngời Trung Hoa

mà thôi, nhng cũng không tốt hơn là mấy Mông Cổ buộc phải sử dụng ngờinớc ngoài để làm việc trong bộ máy chính quyền, tạo nên tình trạng cai trịsiêu quốc giới, tới mức Marco Polo một thơng nhân Italia cũng làm quan chonhà Nguyên đợc Làm nh thế có lợi cho sự thống trị của quân Mông Cổ nhnglại có hại cho dân bị trị tức là cho đế quốc của họ Sự lúng túng trong quản lý

Trang 21

nhà nớc, bất công, tàn ác trong cai trị làm nhân dân thuộc địa nổi dậy khắpnơi, các Hãn quốc lúc nào cũng ở trong tình trạng hỗn loạn Ngời Mông Cổcũng không có văn tự, chiếm đợc Tây Tạng, họ mợn chữ của ngời Duy NgôNhĩ, chiếm đợc Trung Hoa, họ học chữ Hán, qua Tây á lại dùng chữ ả rập,nhà s Lạt Ma Tây Tạng là Bát Tu Ba cố sáng tạo cho họ một loại chữ riêngnhng thất bại Tóm lại ngời Mông Cổ vẫn chẳng có văn tự thống nhất, mỗinơi, mỗi lúc một loại Sắc lệnh nhà nớc ban ra, điều luật, thuế khoá khôngbiết phải làm thế nào, tất cả đều truyền khẩu, mỗi ngời hiểu một kiểu Hiểnnhiên nh vậy thì việc cai trị trở nên thật khó khăn, quốc gia vô cùng rối loạn.Lại nữa, ngời Mông Cổ, cũng chẳng có tín ngỡng, họ chẳng biết lấy cái gì để

đoàn kết các dân tộc bị mình thống trị Họ học theo tất cả tôn giáo của cácdân tộc xung quanh, nhiều nhất là theo Phật giáo Lạt Ma, thứ đến là Hồigiáo, cũng có ngời theo Kitô giáo nhng tuyệt nhiên họ chừa lại Phật giáo ĐạiThừa Trung Hoa, có lẽ thứ đó cao siêu quá đối với họ Chính vì thế, cho dùngời Mông Cổ ở đâu họ cũng bị đồng hoá với c dân nơi ấy Điển hình nh ng-

ời Mông Cổ ở Trung á tất cả đều bị Tuốc hoá và cải theo đạo Hồi, đến nỗingời ta chẳng thể phân biệt nổi đâu là ngời Tuốc đâu là ngời Tartar Hốt TấtLiệt cũng nhìn trớc đợc điều này, ông cấm ngời Mông Cổ không đợc Hánhóa, nhng cấm sao đợc Thứ văn hoá của những kẻ bị nô dịch rực rỡ và hấpdẫn quá, dân Mông Cổ làm sao mà không thích cho đợc Thế hệ đầu họ còngiữ đợc bản chất vũ dũng, chứ sang những đời sau sinh trởng ở Trung Hoa,thích ở lâu đài hơn lều trại, thích ăn nem, ăn chả hơn ăn thịt ngựa, uống sữadê thành ra họ trở nên yếu đuối nhu nhợc, sợ khó, sợ khổ Vậy nên nhàNguyên làm chủ Trung Hoa cha đầy 90 năm đã bị đuổi về đồng cỏ Các Hãnquốc kia cũng chẳng hơn gì, chỉ giữ đợc thuộc địa chừng trăm năm RiêngKhâm Sát hãn Quốc ở miền thảo nguyên hoang vu mới tồn tại đợc trong hơnhai thế kỷ rồi mới bị Nga diệt

Trang 22

Để hiểu thêm về sự tàn bạo và bất lực trong chính sách cai trị ở các

Hãn quốc, theo dõi bảng số liệu sự thay đổi dân số các quốc gia thế kỷ

XIII ( đơn vị triệu ngời ) Các quốc gia dới sự thống trị của quân Mông Cổ

Bắc Trung Hoa-những nơi đợc họ u đãi.

Quốc gia Năm 1200 Năm 1300 Thayđổi

Trang 23

Rập, các môn vẽ bản đồ, thiên văn học từ ngời phơng Tây Thế nên sử gia

culturel ), còn ngời đồng nghiệp của ông-Simon Leys thì cho rằng nếu hai triều đại Minh, Thanh tiếp theo biết noi gơng khai quan, mở cửa nh thời

Mông Cổ vốn rất ít, hầu hết họ lại sinh sống ở miền đồng cỏ quê hơng Ngay

ở lãnh thổ nhà Nguyên, ngời Mông Cổ tính luôn cả các tộc du mục phơngBắc nh Khiết Đan, Nữ Chân, Duy Ngô Nhĩ những ngời anh em của họ,cũng cha tới 1 triệu, thực tế họ không cần xâm chiếm đất khác vì nhu cầu musinh Vậy mà Hốt Tất Liệt vẫn cha thoả mãn, ông ta lại tiếp tục vạch ra các

kế hoạch viễn chinh mới ở những miền rừng núi và hải đảo xa xôi Thật trớtrêu cho những tham vọng đó, khi các đế chế hùng mạnh từ Đông sang Tây,

đều lần lợt khuất phục dới vó ngựa xâm lăng của những đoàn kỵ binh Mông

Cổ, thì vài dân tộc nhỏ bé miền viễn Đông nh Đại Việt, Champa hay đảo

quốc Nhật Bản lại hiên ngang chống chọi tới cùng và chiến thắng lũ cớp nớchung bạo

Trang 24

Hình 6: Bản đồ địa lý Nhật Bản

Chơng II

Trang 25

Nhật Bản hai lần kháng chiến chống quân xâm lợc Mông-Nguyên

I Bối cảnh lịch sử Nhật Bản những năm trớc chiến tranh.

1 Mạc phủ Kamakura.

Những năm cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII đợc nhắc đến trong lịch

sử Nhật Bản nh một thời kỳ đầy dãy biến động với những cuộc chiến tranhkhốc liệt, những cải cách mạnh mẽ và sự ra đời của một thể chế quân sự tậpquyền vững mạnh Năm 1189, sau nhiều năm dài nội chiến, MinamotoYoritomo ( 源 頼朝 1147 - 1199 ) bằng chiến thắng trớc phái quân sự đối

nghịch của dòng họ Taira ( 平 氏 ) đã lập nên chính quyền Mạc PhủKamakura Đây là một chính quyền phong kiến thống nhất trên toàn quốc,

đặt dới quyền lực chỉ huy của các thủ lĩnh quân sự mà cơ quan đại diện làMạc Phủ ( Bakufu 幕府 ) đóng tại thành phố Kamakura( 鎌倉 ) Lần đầutiên trong lịch sử nhiều thế kỷ, Nhật Bản có một nhà nớc pháp quyền mạnh

và ổn định nh thế Điều này là một khác biệt hoàn toàn so với các thời kỳ trớc

nh thời đại Nara ( 奈良 ) hay Heiyan ( 平安 ), nơi hoàng gia và các dòng

họ đại quý tộc có vai trò chính yếu đối với nền chính trị quốc gia Thời kỳKamakura, ngời đại diện cho tầng lớp thống trị không còn là giới quý tộc dân

sự mà thay vào đó là các dòng họ quân phiệt với thủ lĩnh tối cao là Yoritomocủa họ Minamoto ( 源氏 ) Phái quân sự lên nắm chính quyền, theo đó họ

Trang 26

chức danh chủ yếu là “ chỉ huy cảnh sát ” ( Shugo 守護 ) lo việc trị an và “

đình Kyoto ( 京都 ) đã buộc phải công nhận địa vị hợp pháp của Yoritomo

là ngời có quyền bảo hộ vĩnh viễn cho Thiên Hoàng và phong cho ông tachức danh Chinh Di Đại Nguyên Soái ( Seiitai Shògun 征夷大将軍 ) Đó

là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời chính thức của chính quyềnBakufu-một thể chế chính trị đợc cho là phù hợp với tình hình đơng thời vàtồn tại lâu dài trong lịch sử Nhật Bản ( gần 7 thế kỷ, từ thời kỳ Kamakura tới

Chính quyền Mạc Phủ Kamakura đợc đánh giá là một chính quyềnmạnh và rất có năng lực Nó lại càng đợc củng cố vững chắc dới thời cácnhiếp chính Hòjò-những ngời kế tục xứng đáng của vị Đại Nguyên Soái đầutiên Yoritomo Điều đặc biệt của chính quyền Nhật Bản qua hầu hết các thời kỳ là thể chế chính trị không đợc kiểm soát bởi những thủ lĩnh trên

hình nh các quan nhiếp chính họ Fujiwara ( Đằng Nguyên 藤原 ) thời Heian

hay các nhiếp chính họ Hòjò ( Bắc Điều北条 ) thời kì Kamakura này Saukhi Yoritomo qua đời vào năm 1199, những ngời kế nghiệp dòng họMinamoto không đủ tài năng lãnh đạo đất nớc và tớc hiệu Nguyên Soái của

họ thực tế chỉ là trên danh nghĩa Mọi quyền lực thực sự rơi vào tay nhữngthủ lĩnh của gia đình Hòjò với t cách là các Nhiếp Chính Vơng hay ChấpQuyền ( Shikken 執 権 ) thay mặt các Shògun Việc nắm quyền của nhàHòjò đã đợc thử thách qua nhiều cuộc bạo loạn mà phần lớn là do các quý

10 R.H.P Manson & J.G Caiger - Lịch sử Nhật Bản- Dịch giả Nguyễn Văn Sỹ - NXB Lao Động, Hà Nội 2003.

Trang 27

tộc bất mãn tại triều đình Kyoto chủ xớng Đỉnh cao của các cuộc bạo loạnnày là trận tấn công của phái Bảo Hoàng diễn ra vào năm 1221 mà sử sáchNhật Bản gọi là loạn “ Thừa Cửu ” ( Jòkyu 承久 ) Nhng chính trận chiếnnày lại là cơ hội tốt để nhiếp chính Hòjò Yoshitoki ( 北条義時1163-1224 )

củng cố thêm quyền lực của dòng họ mình sau khi đàn áp dễ dàng những lựclợng chống đối do hoàng tộc cầm đầu Những năm tiếp theo chứng kiến thời

kỳ đạt đỉnh cao quyền lực cha từng có của chính quyền Bakufu và họ Hòjòtrên toàn cõi Nhật Bản “Một điều may mắn cho đất nớc Nhật Bản là sau Yoshitoki họ Hòjò có một loạt những quan nhiếp chính đợc ca ngợi là đạo

Những đức tính kể trên cùng với một nền tảng vững chắc là giới quân sự hậuthuẫn đã giúp cho các nhiếp chính Hòjò giữ đợc quốc gia khá ổn định, ítphải dùng đến vũ lực trong hàng chục năm sau đó mặc dù những năm ấycũng không phải là yên bình với nhiều thiên tai bão lụt và nạn đói mất mùa

Trong khi xã hội Nhật Bản phát triển khá thống nhất và ổn định nhvậy thì tình hình chính trị ở miền Đông lục địa Châu á lại đang trên đờngsuy thoái ở Trung Hoa, một đế chế lớn là vơng triều nhà Tống lâm vào tìnhtrạng suy yếu nghiêm trọng, họ thờng xuyên bị các tộc du mục Bắc á của ng-

ời Khiết Đan và ngời Nữ Chân tấn công Một trong số đó là ngời Kim dãchiếm đợc toàn bộ phía Bắc Trung Hoa cho đến tận bờ sông Dơng Tử Nhngsau đó chính quyền của ngời Kim đã bị ngời Mông Cổ( 蒙古 ) đánh tan và

họ thành lập nhà nớc mới của mình gọi là nhà Nguyên vào năm 1259 QuânMông-Nguyên tiếp tục mở rộng lãnh thổ quốc gia, chiếm vùng Mãn Châu,Triều Tiên và âm mu xâm chiếm Nhật Bản Ngay sau đó Nguyên Thế Tổ-Hốt Tất Liệt đã hiện thực hoá âm mu ấy bằng hai cuộc xâm lợc Nhật Bản vào

Trang 28

các năm 1274 và 1281 Xét trên khía cạnh thời gian, chiến tranh xảy ra vàothời điểm này có lẽ cũng là một may mắn đối với Nhật Bản vì những năm ấychính quyền Kamakura còn khá mạnh và vẫn đủ uy tín để lãnh đạo nhân dân

đứng lên chống giặc ngoại xâm Mặt khác, Nhật Bản vừa trải qua thời nộichiến kéo dài nên dã đào luyện đợc một đội ngũ binh sỹ dũng cảm, thiệnchiến và rất giàu kinh nghiệm trận mạc Đó có lẽ cũng là một trong những

lý do quan trọng giúp cho chính quyền Kamakura có đủ tự tin đón nhận cuộcchiến với kẻ thù hùng mạnh hơn mình rất nhiều lần

2 Tầng lớp chiến binh Samurai và truyền thống thợng võ.

Samurai trong tiếng Nhật đợc viết bằng chữ “ Thị ” ( 侍 ) trong tiếngHán và có cùng ý nghĩa là ngời phục dịch Bản thân tầng lớp Samurai vốnxuất thân từ những chiến binh thuần tuý làm nhiệm vụ bảo vệ các lãnh chúa

và quý tộc hoặc giữ gìn trật tự Từ võ sĩ ( Bushi 武士 ) xuất hiện trong sử

sách Nhật Bản lần đầu tiên vào năm 797 trong bộ sách cổ Shoku Nihongi ( 続 日 本 記 ) Ban đầu từ ngời ta gọi họ là Saburapi sau đó là “ ” “

nào thì bản thân các Samurai ấy vẫn là những chiến binh thực thụ, họ luônmang trong mình lòng dũng cảm và tinh thần thợng võ cao cả Tới cuối thế

kỷ XII, cán cân quyền lực ở Nhật Bản dần dần thay đổi, chính quyền rơi vàotay các gia đình võ tớng, ban đầu là tể tớng Taira Kyomori ( 平清盛 1118

1181

– ) rồi sau đến lợt Đại Nguyên Soái Yoritomo Samurai đã thực sự trởthành một tầng lớp đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị

đất nớc Sự thay đổi này không phải là sự bắt chớc các thể chế ngoại lai nh

12 Theo: Stephen Turnbull - The Samurai: A Military History - Macmillan Publishing Co, Newyork 1977.

Trang 29

cải cách Taika ( Đại Hoá 大化 ) trớc kia, cũng không phải do lo sợ nguy cơngoại xâm mà đó hoàn toàn là sự chuyển đổi nội tại trong bản thân xã hộiNhật Bản “Nớc Nhật thời ấy đang bớc vào một thời kỳ mới mà nhiều sử gia

mà phần lớn thuộc quyền sở hữu của những lãnh chúa vốn xuất thân từ cácthủ lĩnh quân sự địa phơng Xã hội Nhật Bản đơng thời mang đậm tính chấtchế độ ch hầu, và tính đặc tính quân nhân trong văn hoá cũng nh trong chínhtrị Bản thân các ch hầu chiến binh ấy cũng tự ý thức rằng phải đoàn kết nhaulại trớc hết là để bảo vệ quyền lợi vừa giành đợc Kết quả, xã hội đã hìnhthành nên một tầng lớp chiến binh mạnh mẽ, đông đảo, thống nhất với nhữngtruyền thống chung tốt đẹp Đó chính là môi trờng lý tởng nuôi dỡng tinhthần Võ Sĩ Đạo ( Bushido 武士道 ) một tinh thần thấm đẫm truyền thốngthợng võ và sự trung thành với dòng họ, với quốc gia, dân tộc Truyền thống

ấy thể hiện rõ nét trong nhiều tác phẩm văn học đơng thời, nh cuốn Azumi kagami có nghĩa là “ Tấm gơng miền Đông ” nói về sự hình thành tầng lớp

quân nhân, những phẩm chất tốt đẹp đã giúp họ chiến thắng kẻ thù Câuchuyện cũng đề cao yếu tố đạo đức quân nhân trong những ngày đầu xâydựng chính quyền phong kiến quân sự Kamakura Hay nh trong sách do HòjòShigetoki ( 1198-1261 ) viết để dạy con với tựa đề là Kakun có nghĩa là “ Những bài học gia đình ”, nói về những phẩm chất cần có của các quân nhân

dòng họ Hòjò Cuốn sách có đoạn viết : “ Trớc hết phải tôn kính Thần Phật, phục tùng vô điều kiện chủ soái và cha mẹ ” sau lại viết “ dù phải đổi cả thân mình và gia đình cũng phải giữ trọn đạo lý quân nhân, không đợc làm

họ Hòjò mà đó là hệ t tởng chung của cả tầng lớp Samurai Nhật Bản thời bấy

Trang 30

giờ Xa nay ngời Nhật Bản cha từng phải đối mặt với sự lựa chọn giữa Trung

và Hiếu, bởi một lẽ đơn giản không hề có một kẻ ngoại xâm nào đặt chân tới

đất nớc của họ Nhng với quan niệm tôn trọng truyền thống gia đình và dòng

họ, ngời Nhật Bản dễ dàng cho rằng cả dân tộc mình có chung một nguồngốc, và với họ cái nguồn gốc ấy là thiêng liêng nhất bởi họ là dòng dõi củanữ thần mặt trời Amateratsu Nếu nh ngời Nhật Bản coi gia đình là tổ ấm thì cả quốc gia cũng đợc coi là một cái tổ chung và mỗi cá nhân đều cảm

Không chỉ về mặt t tởng, bản thân các Samurai cũng luôn chú ý traudồi kiến thức cùng những kỹ năng chiến đấu sao cho thật xứng đáng với đẳngcấp cao quý của mình Ngời Nhật cho rằng linh hồn của mỗi Samurai hoà quyện trong chính thanh kiếm ( Katana ) và kiếm pháp của anh ta, bởi thế, kiếm không chỉ là vũ khí đơn thuần mà nó là biểu tợng cho chính chiến sỹ Samurai Một Samurai luôn tự hào vì mình là một chiến binh, tự hào vì đợc mang kiếm Luyện tập kiếm pháp cho giỏi không chỉ mang ý nghĩa về mặt

thấy bất cứ một Samurai nào không giỏi võ thuật Bản thân quan nhiếp chínhthời kỳ chống ngoại xâm Hòjò Tokimune ( 1251-1284 ) vốn cũng là một

dũng sỹ rất nổi tiếng về sức mạnh và lòng dũng cảm Các Samurai sử dụngnhững loại vũ khí khác nh cung tên ( Yumi ), thơng ( Yari ) cũng luôn cố

gắng hoàn thiện kỹ năng chiến đấu của mình, nh một tác gi a phơng Tây đãnhận xét: “ Mỗi ngày họ cố gắng hoàn thiện những kỹ năng của mình giống

Các phái quân sự lên nắm chính quyền không có nghĩa là họ điều hành

đất nớc một cách đơn thuần mà cùng với đó họ đã tạo ra cả một thời đại mớivới những giá trị văn hoá, t tởng mới Vai trò, vị thế của tầng lớp Samurai

15 Thích Thiên Ân - Lịch sử t tởng Nhật Bản - Đông Phơng xuất bản, Sài Gòn 1965.

16 Dịch theo: http://www.samurai-archives.com

17 Dịch theo: http://www.samurai-archives.com

Trang 31

ngày càng đợc nâng cao trong xã hội Đơng thời những tấm gơng chiến đấuquả cảm và trung thành của các chiến binh rất đợc quần chúng ngỡng mộ.Các điều kiện ấy đã tạo nên những chiến binh Nhật Bản thế kỷ XIII với nhiềuphẩm chất đáng quý: trung thành, dũng cảm và thiện chiến Do quyền lợi đ-

ợc bảo đảm, địa vị đợc trân trọng dới chế độ Mạc Phủ Kamakura, và vì “đợc chết cho tổ quốc là một vinh quang nên bản thân mỗi chiến binh đều muốn xả thân bảo vệ đất nớc, cũng chính là bảo vệ cho quyền lợi và danh dự của

với giặc ngoại xâm, tinh thần ấy lại càng dâng cao mạnh mẽ, không chỉ tronggiới quân nhân mà còn lan rộng khắp các tầng lớp quần chúng nhân dân trêntoàn quốc Một đất nớc nh vậy, một dân tộc nh vậy quyết không thể đầu hàngcho dù kẻ thù của họ có hùng mạnh đến nh thế nào chăng nữa

II Hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Mông-Nguyên

1 âm mu xâm lợc Nhật Bản của đế quốc Mông Cổ.

Nh đã nói ở trên, cuối thời Tống ( 960-1120 ) nớc Trung Hoa rơi vào tình

trạng suy yếu trầm trọng, họ liên tiếp

bị các tộc du mục ở phơng Bắc tấncông xâm chiếm lãnh thổ Cuối cùng,ngời Mông Cổ sau khi diệt các tộc dumục đã chiếm đợc miền Bắc TrungHoa và thành lập quốc gia của riêngmình gọi là nhà Nguyên Năm 1259,

Trang 32

một thủ lĩnh Mông Cổ-Hốt Tất Liệt ( 忽必烈 1215-1294 ) đã chính thức

lên

Hình 7: Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt

ngôi hoàng đế ở Trung Quốc, đến năm 1264 ông ta cho rời đô tới TrungKinh ( sau đổi tên là Đại Đô 大都 , ngày nay là thủ đô Bắc Kinh-Trung Quốc ) và nhà Tống chỉ còn cai trị vùng nam Trung Hoa tới bờ sông Dơng

Tử Nh vậy trong vòng 6 thập kỷ kể từ khi Thiết Mộc Chân ( Temujin ) lên

ngôi Thành Cát T Hãn ( Genghis Khan 成 吉 思 汗 ) năm 1206, dân tộcMông Cổ từ trong mông muội của xã hội thị tộc đã vơn lên trở thành một đếchế hùng mạnh và hung bạo nhất trên thế giới Chẳng những ngời Mông Cổ

đã nô dịch đợc một đế quốc xa nay vẫn tự cho là vô địch ở phơng Đông nhTrung Hoa mà ngay cả nhiều quốc gia ở tận châu Âu xa xôi cũng lần lợtkhuất phục trớc vó ngựa xâm lăng của họ Lãnh thổ Mông Cổ mở rộng chatừng có, từ vùng Địa Trung Hải tới tận bờ Thái Bình Dơng, và nhanh chóngtrở thành một đế quốc hùng mạnh Sức mạnh ấy cùng với sự tàn bạo của cácbinh sĩ khiến cho nhiều quốc gia khác hoang mang, sợ hãi không tin rằngmình có khả năng chống lại quân Mông Cổ, đồng thời nó cũng tạo nên tâm lýkiêu căng, ngạo mạn, tự cho mình là bất khả chiến bại trong bản thân mỗi

chiến binh Mông Cổ Những thắng lợi dồn dập làm họ càng đánh càng hăng

và say sa trong mỗi chiến thắng Trớc bất kỳ sự kháng cự nào dù là nhỏ nhất

họ đều quyết tâm đè bẹp bằng mọi giá để khẳng định sức mạnh vợt trội củadân tộc mình Đó một phần cũng là do ảnh hởng t tởng Đại Hán từ TrungHoa, ngời Mông Cổ tự cho rằng họ là dân tộc thợng đẳng và sớm mang trongmình dã tâm muốn thôn tính các dân tộc khác Khi đã hoàn tất việc xâm lợcNam Tống ( 1279 ) đặt ách thống trị lên toàn cõi Trung Hoa, t tởng ấy lại

càng trở nên bức thiết, ngời Mông Cổ muốn dẫm đạp lên mọi vật cản trên con

Trang 33

đờng bá chủ thiên hạ của mình Trớc hết họ muốn chinh phục những nớc lânbang vốn nằm trong vùng ảnh hởng truyền thống của các đế chế Trung Hoa,

mà một trong những mục tiêu hàng đầu là Nhật Bản, tuy nớc này không đóngvai trò quan trọng trong chiến lợc bành trớng của họ Đó là vì Nhật Bản nằmngoài khơi Thái Bình Dơng là điểm tận cùng có thể mở rộng cơng thổ về phía

Đông của đế quốc Mông-Nguyên, chiếm đợc Nhật Bản có thể làm chủ nhiềuhòn đảo khác ở vùng biển phía Đông Bắc và hơn thế nữa sẽ thể hiện đợc uyquyền tuyệt đối của Nguyên triều trên toàn cõi phơng Đông Vơng quốcTriều Tiên và vùng Mãn Châu của ngời Kim nhanh chóng bị đặt dới ách đô

hộ của đế quốc Mông-Nguyên, điều này có ảnh hởng nguy hại trực tiếp tới anninh của Nhật Bản Vùng phía nam quần đảo Nhật Bản, khoảng cách vớiTriều Tiên chỉ ớc độ 100 hải lý, tuy thờng xuyên có bão và những lòng hải luhung dữ nhng việc đi lại giữa hai vùng không phải là không thực hiện đợc.Ngày nay, khi Mông Cổ chiếm đợc Triều Tiên, chắc chắn dới sức ép khôngthể cỡng lại, chiến thuyền và thuỷ thủ Triều Tiên sẽ đợc sử dụng vào mục

đích xâm lợc Nhật Bản Và một khi ngời Triều Tiên vốn thiện nghề đi biển

đã vào cuộc thì sự đe doạ đối với Nhật Bản không còn là nguy cơ mà đã trởthành mối nguy hiểm thực sự

2 Nguy cơ chiến tranh cận kề, ngời Nhật Bản tích cực chuẩn

bị kháng chiến

Năm 1268, lần đầu tiên một phái đoàn ngoại giao của Mông Cổ đã tới

đợc Nhật Bản dới sự dẫn đạo của ngời Triều Tiên, phái đoàn này cập cảngDazaifu( 太宰府 ) ở Kyùshù ( 九州 ), mang theo bức th của Hoàng Đế ĐạiNguyên gửi tới vua Nhật Bản Th đợc trao cho đại diện của chính quyềnBakufu ở đây có chức danh là “ tớng phòng vệ miền Tây ”, với t cách một quốc th yêu cầu Nhật Bản phải mở cửa giao dịch với Trung Quốc Thực tế,

Trang 34

chính quyền Nhật Bản, buộc họ phải khuất phục trở thành ch hầu của đế quốc Mông-Nguyên Bản yêu sách chỉ ra rằng, Đại Nguyên là một đế chế bất khả chiến bại và nếu Nhật Bản không biết c xử cho phải đạo thì chiến

th tiếp theo với đầy đủ những lời lẽ hăm doạ về sức mạnh vô địch của cácbinh đoàn Mông Cổ Chính quyền Kamakura, nhận đợc th ngay sau đó, họtiếp tục chuyển lá th về triều đình ở Kyoto mặc dù thừa biết rằng hoàng gia

sẽ chẳng thể đề ra chủ trơng gì đáng kể Quả thật nh vậy, cả hoàng cung vôcùng hoang mang sau khi nhận đợc bản tối hậu th, lễ kỷ niệm sinh nhật TháiThợng Hoàng bị huỷ bỏ, triều đình họp đi họp lại để tìm ra quyết sách nhngchung quy họ chỉ biết cầu Thần-Phật phù trợ cho chính khí quốc gia Thậm

chí, Thợng Hoàng Go Saga ( 後嵯峨 ) còn gửi th trả lời chấp nhận yêu sáchcủa quân Mông Cổ Lá th này lại đợc gửi qua chính quyền Kamakura và tấtnhiên nó bị huỷ bỏ, một chính quyền điều hành bởi toàn những chiến binh rõràng không thể khuất phục kẻ thù khi cha dùng tới bất kỳ một mũi tên, hòn

đạn nào nh vậy cả Những ngời nắm quyền ở Kamakura đều tỏ ra bình tĩnh,mặc dù rất hiểu tình hình là vô cùng nghiêm trọng, và nguy cơ chiến tranh

đang cận kề nhng vẫn họ cho đuổi phái bộ Mông Cổ về nớc, không hồi âm gìhết Bakufu một mặt thông tri cho triều đình rõ quyết định của mình đồngthời cũng tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến Trớc hết, cố nhiên họ phảikêu gọi sự trung thành của các lãnh chúa địa phơng, đặc biệt là những ngờicầm quân ở miền Tây-nơi chắc chắn sẽ phải đơng đầu với quân xâm lợc đầutiên Đó cũng là cách họ tập trung mọi nguồn nhân tài, vật lực toàn quốc giavào một cuộc chiến mang tính chất sinh tử tồn vong của cả dân tộc Cụ thể

hơn, lực lợng quân sự phòng thủ miền Tây đợc tăng cờng, các quan chứcmiền Tây đang lu trú tại kinh đô cũng đợc lệnh trở về địa phơng, chuẩn bị

19 Dịch theo: Lee Wha Rang - The Koryo-Mongol allied invasion of Japan-The myth of Kamikaze.

Trang 35

chiến đấu Quan nhiếp chính vừa mới lên kế vị Hòjò Tokimune ( 北条 時宗

1227-1263, nắm quyền nhiếp chính từ 1246 đến 1256 ) đứng ra đảm nhận

trọng trách tổng chỉ huy quân đội Nhật Bản Cựu nhiếp chính Masamura (

北条政村 1205-1273 ), một chiến tớng tuổi 60 dạn dày kinh nghiệm trậnmạc làm cố vấn trong việc hoạch định các chiến lợc phòng thủ

Về phía ngời Mông Cổ, họ cũng không phải không biết gì về NhậtBản Từ thời Thành Cát T Hãn, các thủ lĩnh Mông Cổ đã có ý định xâmchiếm Nhật Bản, họ đã tích cực thu thập các tài liệu có liên quan, đặc biệt là

về địa hình Nhật Bản Đó là lý do giải thích tại sao đờng tiến công của quânMông-Nguyên trong cả hai cuộc xâm lợc đều là con đờng thuận lợi nhất cả

về hải trình trên biển lẫn địa điểm đổ bộ Nhng rõ ràng, những thông tin mà

họ có đợc không nhiều và đôi khi thiếu chính xác Một mặt là do thông tinchủ yếu lấy từ phía ngời Triều Tiên ( 朝鮮 ) vốn không mặn mà gì với cuộcchiến tranh này, mặt khác lại do Nhật Bản là một đảo quốc cách xa lục địanên việc đi lại, thông thơng xa nay vốn không nhiều Mặc dù bản thân ngờiMông Cổ cũng biết rằng đánh Nhật Bản là đem cái sở đoản của mình đấuvới cái sở trờng của ngời khác nhng ỷ vào các binh sỹ thiện chiến và đã cócác chiến thuyền Cao Ly ( Koryo ) hỗ trợ nên Hốt Tất Liệt vẫn quyết tâm

xâm lợc Nhật Bản Trong đợt xâm lợc lần thứ nhất, vai trò của các thuỷ thủ

và chiến thuyền Triều Tiên đã tỏ ra hết sức quan trọng Trong tổng số lực ợng tham chiến phía Mông-Nguyên là 40.000 ngời thì có tới 5000 binh

Triều Tiên chiếm tỷ lệ không nhỏ trong đoàn quân này, nhng họ lại giữ vaitrò đội quân đánh thuê cho chính kẻ thù của mình Vơng triều Koryo của ng-

Trang 36

ời Triều Tiên vốn từng kháng chiến chống quân Mông-Nguyên, thậm chí khi

bị chiếm đóng, nhà vua Ko-jong của họ còn cho rời cả chính quyền ra đảoGiang Hoa ( Cheju ) để tiếp tục chống giặc ngoại xâm Nhng khi vua Ko-

jong chết ( năm 1274 ), ngời con trai làm con tin ở Mông Cổ là Chung-ryol

trở về kế vị, tình hình đã đảo ngợc hoàn toàn và Triều Tiên trở thành mộtthuộc quốc-tay sai đắc lực cho quân Mông Cổ Hốt Tất Liệt có ý định gấp rútxâm lợc Nhật Bản còn bởi vì một danh kỹ Koryo có tên là Cho Yi nói với ông

ta rằng Nhật Bản là một quốc gia nhỏ yếu và sẽ dễ dàng bị chinh phục, theonhà sử học Hàn Quốc Lee Wha-rang thì sự việc này xảy ra vào năm 1265.Một năm sau đó, Hốt Tất Liệt cử hai sứ giả là Hede và Yin Hong sang TriềuTiên yêu cầu vua Ko-jong đa họ tới Nhật Bản Hai ngời này đã thất bại khikhông thể gặp bất kỳ một chỉ huy cấp cao nào bên phía Nhật Bản và phải trở

về tay không Cho tới lúc này Hốt Tất Liệt vẫn có ý định sử dụng các biệnpháp ngoại giao để khuất phục Nhật Bản-một quốc gia mà ông ta cho là vôcùng nhỏ yếu Cũng phải nói rằng, bản thân những ngời Triều Tiên lại vốnkhông hề có oán thù gì với dân Nhật, có chăng chỉ là những vụ rắc rối liênqua đến cớp biển Wakò Chính quyền Koryo quả thực có nhiều lần thanphiền về các sự vụ này nhng phần lớn đều đợc phía Nhật Bản giải quyết êm

đẹp bằng cách bồi thờng hoặc trả lại hàng bị cớp ( chủ yếu là da thú và thóc lúa ) Điều đáng chú ý là tuy ngời Nhật rất dễ tức giận trong quan hệ của

họ với các triều đình nớc ngoài, và dễ tự ái trớc những ngôn từ họ cho là thiếu lễ độ, nhng trong trờng hợp này chính quyền Kamakura lại thờng thừa nhận là ngời của mình có lỗi và khiển trách những ch hầu đã có hành

rằng, kẻ thù thực sự của họ chính là quân Mông Cổ và việc tấn công NhậtBản thực chẳng đem lại lợi ích gì Cái mà họ mong muốn là độc lập dân tộc

và hoà bình lâu dài chứ không phải một cuộc chiến vô nghĩa phục vụ cho

21 G.Sansom - Lịch sử Nhật Bản ( tập I ) - Dịch giả Lê Năng An - NXB LĐXH - Hà Nội 1994.

Trang 37

tham vọng điên cuồng của những kẻ xâm lợc ngoại bang Nhng dới sức mạnhkhông thể cỡng lại của đế quốc Mông-Nguyên , họ buộc phải tham chiến cho

dù có muốn hay không Một mặt ngời Triều Tiên vẫn phải chuẩn bị chocuộc viễn chinh, mặt khác họ bí mật thông báo kế hoạch tấn công cho ngờiNhật Tháng 9 năm 1271, bức tối hậu th thứ ba của Hốt Tất Liệt đã đợc đemtới Nhật Bản Bức th này do một sứ thần Mông Cổ vợt biển sang Amazuthuộc tỉnh Chikuzen yêu cầu chính quyền ở Dazaifu cho ông ta đợc yết kiếnvua Nhật Bản ý đồ đó không thực hiện đợc, ông ta gửi lại th cho nhà vua vàhẹn chậm nhất hai tháng phải trả lời Giống nh năm 1268, bức th lần nàycũng đợc chuyển đến tay Thiên Hoàng-Kameyama sau khi đã thông quachính quyền quân sự Bakufu Một lần nữa triều đình lại trả lời nhợng bộ quânMông Cổ, nhng Kamakura đã lập tức bác bỏ th của Kyoto Họ ra lệnh đuổi sứthần Mông Cổ về nớc Việc đó chẳng khác nào cử chỉ tuyên chiến của NhậtBản với những kẻ xâm lợc và cũng vì thế Thợng Hoàng Go Saga-một ngờibạn tận tâm của chính quyền Bakufu đã lo nghĩ tới mức lâm trọng bệnh vàqua đời 5 tháng sau đó ( ngày 18-3-1272 )

3 Cuộc xâm lợc lần thứ nhất ( 1274 )

Trang 38

Thông qua các hoạt động ngoại giao, Hốt Tất Liệt muốn cho NhậtBản thấy đợc sức mạnh vô địch của đế quốc Mông-Nguyên mà tự động đầuhàng Nhng sau khi sứ thần bị đuổi về nớc ông ta đã quyết định dùng vũ lực

để khuất phục Nhật Bản Hốt Tất Liệt ra lệnh cho vua Koryo đóng chiếnthuyền và tập hợp binh mã song Triều Tiên thiếu thốn đủ đờng nên cha thể

đáp ứng yêu cầu đó Họ đã phải huy động tới một lực lợng 30.000 thợ mộc để

đóng mới 300 chiến thuyền lớn, đó là cha kể tới việc chuẩn bị một khối lợng

vũ khí, lơng thảo và quân nhu khổng lồ Tháng 10 năm 1274, hơn 25.000

quân Mông Cổ dới sự chỉ huy của tớng Hốt Đôn( Holdon 忽敦 ) tới Koryo, đạo quân này hợpvới đội quân 5000 binh sỹ Cao Ly do đô đốcKim Bang-gyong ( 金方慶 ) chỉ huy trở thànhmột lực lợng khá hùng hậu Ngày 3-10-1274,

đội quân xâm lợc rời cảng Masan ( nay thuộc

灣)-Nhật Bản trên 900 chiến thuyền điều khiểnbởi 6700 thuỷ thủ Triều Tiên Đối với NhậtBản, đó cũng không

Hình 8: Đô đốc Kim Bang-gyong, ngời chỉ huy các lực lợng Triều Tiên trong cả 2

đợt xâm lợc Nhật Bản.

phải là một đội quân quá đông đảo, nhng họ lại gặp một vấn đề muôn thuởtrong quân sự là khó khăn trong việc tập trung quân lực do địa hình bị chiacắt trầm trọng bởi biển, các dãy núi và những dòng sông chảy xiết Chính vìthế, vào lúc này cả nớc Nhật có tới 200.000 chiến binh nhng lực lợng thamchiến ở Kyùshù chỉ vào khoảng 10.000 ngời Một mặt đó là do địa điểm đổ

bộ của quân địch thuộc vùng miền Tây xa xôi, xa nay vốn ít ảnh hởng đến

Ngày đăng: 17/04/2013, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thích Thiên Ân - Lịch sử t tởng Nhật Bản - Đông Phơng Xuất Bản, Sài Gòn 1965 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử t tởng Nhật Bản
2. Nguyễn Hiến Lê - Sử trung Quốc - NXB Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử trung Quốc
Nhà XB: NXB Văn Hoá Thông Tin
3. Chủ biên Nguyễn Gia Phu - Lịch sử thế giới trung đại - NXB Giáo Dục, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại
Nhà XB: NXB Giáo Dục
4. Lê Văn Quang - Lịch sử Nhật Bản - Tủ sách đại học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
5. Vĩnh Sính - Nhật Bản cận đại - NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản cận đại
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1991
6. Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm - Cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Nguyên - Mông thế kỷ XIII - NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lợcNguyên - Mông thế kỷ XIII
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội
7. R.H.P Manson & J.G Caiger - Dịch giả Nguyễn Văn Sỹ - Lịch sử Nhật Bản - NXB Lao Động, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử NhậtBản
Nhà XB: NXB Lao Động
8. G.Sansom - Dịch giả Lê Năng An - Lợc sử văn hoá Nhật Bản ( tập II ) - NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợc sử văn hoá Nhật Bản ( tập II
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội
9. G.Sansom - Dịch giả Lê Năng An - Lịch sử Nhật Bản ( tập I ) - NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1994.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản ( tập I
Nhà XB: NXBKhoa Học Xã Hội
10. Mikiso Hane - Premodern Japan ( A historycal survey ) - Bản dịch tiếng Anh - Boulder, Sanfrancisco 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Premodern Japan ( A historycal survey
11. Japan from Prehistory to the Modern time - Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japan from Prehistory to the Modern time
12. J.W Hall & Jeffrey P. Mass - Medieval Japan - Stanford University Press, California Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medieval Japan
13. G.B. Sansom - A Short History of Japan - Charles E. Tuttle Company, Tokyo Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Short History of Japan
14. Stephen Turnbull - The Samurai: A Military History - Macmillan Publishing Co, Newyork 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Samurai: A Military History
15. Nakaba Yamaha - The Mongol invasion of Japan - Bản dịch tiếng Anh - Newyork E.P Dutton & Company 681 Fifth Avenue.Tài liệu tiếng Nhật Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Mongol invasion of Japan
16. Matsuda Takashi & Nakano Rikuo & Furukawa Kiyojuki - Supa Nihon Shi - NXB Kondansha, Tokyo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Supa NihonShi
Nhà XB: NXB Kondansha
17. Izuhara Ichiman - Tokai Nihon Shi - NXB Yamagawa, Tokyo 1991.18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tokai Nihon Shi
Nhà XB: NXB Yamagawa

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6: Bản đồ  địa lý Nhật Bản - NHẬT BẢN HAI LẦN KHÁNG CHIẾN CHỐNG MÔNG - NGUYÊN
Hình 6 Bản đồ địa lý Nhật Bản (Trang 24)
Hình 9: Một đoạn trên cuộn tranh Moko Shurai Ekotoba (  蒙古襲来絵詞  ) do Takezaki Suenaga vẽ  năm 1293 tự kể về cảnh anh ta chiến đấu với quân Mông Cổ . - NHẬT BẢN HAI LẦN KHÁNG CHIẾN CHỐNG MÔNG - NGUYÊN
Hình 9 Một đoạn trên cuộn tranh Moko Shurai Ekotoba ( 蒙古襲来絵詞 ) do Takezaki Suenaga vẽ năm 1293 tự kể về cảnh anh ta chiến đấu với quân Mông Cổ (Trang 40)
Hình 10: Đờng tiến công và rút chạy của quân Mông Cổ trong cuộc xâm  lợc năm 1274. - NHẬT BẢN HAI LẦN KHÁNG CHIẾN CHỐNG MÔNG - NGUYÊN
Hình 10 Đờng tiến công và rút chạy của quân Mông Cổ trong cuộc xâm lợc năm 1274 (Trang 41)
Hình 13: Một đoạn trên cuộn tranh Moko Shurai Ekotoba  (  蒙古襲来絵詞 ) - NHẬT BẢN HAI LẦN KHÁNG CHIẾN CHỐNG MÔNG - NGUYÊN
Hình 13 Một đoạn trên cuộn tranh Moko Shurai Ekotoba ( 蒙古襲来絵詞 ) (Trang 51)
Hình 14: Một đoạn trên cuộn tranh Moko Shurai Ekotoba  (  蒙古襲来絵詞 ) - NHẬT BẢN HAI LẦN KHÁNG CHIẾN CHỐNG MÔNG - NGUYÊN
Hình 14 Một đoạn trên cuộn tranh Moko Shurai Ekotoba ( 蒙古襲来絵詞 ) (Trang 53)
Hình 15: Mũ sắt và áo giáp của quân Mông-Nguyên. Mũ: 2 kg; áo giáp: 12,5 kg. - NHẬT BẢN HAI LẦN KHÁNG CHIẾN CHỐNG MÔNG - NGUYÊN
Hình 15 Mũ sắt và áo giáp của quân Mông-Nguyên. Mũ: 2 kg; áo giáp: 12,5 kg (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w