3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 453.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 454.1 Vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại tỉnh 4.1.1 Tình hình phát triển k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi Toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2014
Học viên
Nguyễn Văn Nhật
Trang 3- Học viện nông nghiệp Việt Nam
- Các thày giáo, cô giáo đã truyền thụ cho tôi những kiến thức trong quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua
- Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang; Văn phòng UBND tỉnh; Sở Nông nghiệp & PTNT; Sở Tài nguyên môi trường; các đồng chí Thường trực Hội Nông dân của các huyện, thành phố; các đồng chí Chủ tịch Hội Nông dân các xã, thị trấn; các chủ trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.…đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, nghiên cứu, công tác góp phần quan trọng giúp tôi hoàn thành luận văn này
- Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các tác giả có những công trình nghiên cứu, công trình khoa học về những lĩnh vực liên quan là tài liệu tham khảo vô cùng quý giá, hữu ích cho quá trình nghiên cứu giúp tôi hoàn thành tốt đề tài này
- Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2014
Tác giả
Nguyễn Văn Nhật
Trang 42 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI
NÔNG DÂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 4
2.1.2 Đặc điểm vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò của Hội Nông dân
2.2 Cơ sở thực tiễn về vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh
Trang 53.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 453.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 45
4.1 Vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại tỉnh
4.1.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại và hiệu quả kinh tế trang
4.1.2 Vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại trên
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của Hội Nông
dân ở Bắc Giang trong phát triển kinh tế trang trại 73
4.2.2 Về phía các cơ quan, doanh nghiệp phối kết hợp 83
4.3 Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Hội Nông dân tham gia phát
4.3.1 Tăng cường tranh thủ sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự phối hợp
tạo điều kiện của chính quyền đối với hoạt động của Hội Nông
4.3.2 Xây dựng tổ chức hội vững mạnh thực hiện có hiệu quả chức
năng, nhiệm vụ của Hội Nông dân góp phần phát triển kinh tế
4.3.3 Tuyên truyền vận động cán bộ, hội viên nông dân tham gia phát
Trang 64.3.4 Đẩy mạnh thực hiện các phong trào hành động cách mạng của
Hội Nông dân là động lực cho kinh tế trang trại phát triển 944.3.5 Tổ chức dậy nghề cho nông dân gắn với xây dựng các mô hình
4.3.6 Vận động các trang trại tham gia hiệp hội trang trại, thành lập
doanh nghiệp, tham gia các hoạt động bảo hiểm sản phẩm nông
Trang 7TAGS Thức ăn gia súc
THPT Trung học phổ thông
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TT-CN Trồng trọt chăn nuôi
TTLN Thông tư liên ngành
TTLT Thông tư liên tịch
Trang 84.1 Số lượng các loại hình trang trại của tỉnh qua 3 năm 48
4.3 Tình hình lao động các trang trại của tỉnh 52 4.4 Nguồn vốn của các trang trại của tỉnh Bắc Giang 53
4.7 Doanh thu và thu nhập của trang trại năm 2013 56 4.8 Tình hình tổ chức Hội Nông dân các cấp tỉnh Bắc Giang từ 2011
4.9 Kết quả hoạt động tuyên truyền của Hội Nông dân 60 4.10 Kết quả cho vay vốn theo hình thức tín chấp 63 4.11 Kết quả cho vay vốn từ nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân 64 4.12 Kết quả chuyển giao KHKT trồng trọt tới trang trại 68 4.13 Kết quả chuyển giao KHKT chăn nuôi tới trang trại 69 4.14 Kết quả hỗ trợ nông dân mua vật tư trả chậm 70 4.15 Trình độ cán bộ Hội Nông dân tỉnh, huyện và cơ sở 73 4.16 Đánh giá của cán bộ về các hoạt động của Hội Nông dân 75 4.17 Đánh giá của cán bộ về năng lực cán bộ Hội Nông dân 77
Trang 94.18 Ý kiến của cán bộ các cấp về yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của
4.19 Đánh giá của chủ trang trại về mức độ cần thiết của các hoạt
4.20 Mức độ ứng dụng kiến thức tập huấn khoa học kỹ thuật và thăm
quan mô hình vào thực tiễn của các trang trại 81 4.21 Đánh giá của chủ trang trại về hiệu quả theo cấp độ đối với hoạt
động hỗ trợ của Hội Nông dân so với các đoàn thể chính trị xã
4.22 Ý kiến điều tra về những tiêu chuẩn cần có đối với cán bộ hội 93
Trang 101 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (2010 - 2015) và đề án quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang đến 2020, xác định: Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá có năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh cao trên cơ sở tích tụ ruộng đất và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến phù hợp với hệ sinh thái và điều kiện tự nhiên… khuyến khích các hộ nông dân chuyển đổi diện tích cho nhau để phát triển kinh tế, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích…
Trang trại là những hình mẫu về tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế ở nông thôn theo cơ chế thị trường Do tính hiệu quả của kinh tế trang trại nên nhiều năm qua các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách đã tập trung nghiên cứu thực trạng về kinh tế trang trại và cũng đã
có những kiến nghị và đề ra giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại, song chưa có một tổ chức chính trị xã hội nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách khoa học vai trò của tổ chức mình trong vấn đề phát triển kinh tế trang trại Hội Nông dân là một tổ chức chính trị xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và lãnh đạo, là cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với chức năng là: Tuyên truyền giáo dục, vận động nông dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng và hợp pháp cho nông dân, là trung tâm nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới Thực hiện nghị quyết Đại hội Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang khoá VIII nhiệm kỳ (2013 - 2018), Hội Nông dân các cấp trong tỉnh đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế trang trại Phối hợp với các ngành theo mô hình liên kết 4 nhà hỗ trợ nông dân về vốn, kinh
Trang 11nghiệm sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật Để góp phần giúp cho kinh tế trang trại phát triển bền vững, thu hút, giải quyết công ăn việc làm cho lao động nông thôn Vấn đề cấp bách đặt ra là phải đánh giá được thực trạng vai trò của Hội Nông dân trên địa bàn tỉnh trong phát triển kinh tế trang trại và thực trạng về khả năng tiếp nhận chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tính sáng tạo của hội viên nông dân trong việc phát triển kinh tế trang trại thời kỳ hội nhập Đề ra các giải pháp phù hợp, cụ thể, phương hướng vận động, nâng cao vai trò của tổ chức Hội, thúc đẩy
mở rộng phát triển mô hình kinh tế trang trại góp phần thực hiện các nhiệm vụ
về phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn
Xuất phát từ thực trạng trên, học viên đã chọn đề tài “Nâng cao vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12các cấp, trong phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thời gian tới
1.3 Các câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã và đang diễn ra như thế nào?
- Làm thế nào để khẳng định và nâng cao vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại?
- Cần có những giải pháp, biện pháp gì để nâng cao vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hoạt động hỗ trợ của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò của Hội
Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại, tác động của Hội Nông dân các cấp trong tỉnh đến kết quả và hiệu quả trong phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh, các giải pháp
* Phạm vi không gian: Khảo sát Hội Nông dân các cấp (tỉnh, huyện,
thành phố và xã, phường, thị trấn) về vai trò trong phát triển kinh tế trang trại
ở 9 xã đại diện cho 3 huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
* Phạm vi về thời gian: từ 2011 – 2013
Trang 13
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRANG TRẠI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Hội Nông dân
Hội Nông dân là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do Đảng cộng sản Việt Nam sáng lập và lãnh đạo, là thành viên của Mặt trận tổ quốc và là
cơ sở chính trị của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hội Nông dân Việt Nam có chức năng vận động giáo dục hội viên nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt, đại diện giai cấp nông dân xây dựng Đảng và nhà nước, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân
Nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam: Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên, nông dân hiểu biết đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của hội, khơi dậy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng, tinh thần tự lực tự cường, lao động sáng tạo trong thời
kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá Tổ chức học tập nâng cao trình độ khoa học
kỹ thuật và nghề nghiệp trong sản xuất kinh doanh cho hội viên nông dân, nghiệp vụ công tác hội cho cán bộ, hội viên
2.1.1.2 Vai trò của Hội Nông dân
Vận động tập hợp và làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, xây dựng nông thôn mới, xây dựng gia đình nông dân văn hoá, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên nông dân
Các cấp hội là thành viên tích cực tham gia hoạch định và thực hiện các
Trang 14chính sách, pháp luật, chương trình phát triển kinh tế xã hội của nhà nước ở nông thôn, tham gia xây dựng kinh tế hợp tác, hợp tác xã, tổ chức các hoạt động dịch vụ và hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho nông dân thông qua các hoạt động như: Hỗ trợ nông dân vay vốn phát triển kinh tế gia đình, trang trại, hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học,
kỹ thuật, vật tư nông nghiệp, hỗ trợ thông tin thị trường, hỗ trợ đào tạo, tập huấn nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng quản lý… vận động nông dân thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, tham gia phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc
Tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức hội, nâng cao số lượng, chất lượng hội viên Xây dựng tổ chức hội vững mạnh, đào tạo bồi dưỡng cán bộ hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh, tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tham gia xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nông dân Các cấp hội có chính kiến, chủ động đề xuất với cấp uỷ, chính quyền cùng cấp những chủ trương, biện pháp đáp ứng đòi hỏi chính đáng của nông dân
2.1.1.3 Trang trại
Trang trại: Về thuật ngữ, kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó
Theo các nhà khoa học của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, “…nói kinh tế trang trại là nói mặt kinh tế của của trang trại Ngoài mặt kinh tế, còn
có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã hội và môi trường”
Trang 15Về mặt xã hội, trang trại là tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó có các quan hệ đan xen nhau trong nội bộ giữa các thành viên của trang trại, quan hệ giữa chủ trang trại và lao động làm thuê; quan hệ giữa các lao động làm thuê trong các trang trại với nhau Bên cạnh đó, còn có các quan hệ giữa trang trại với các trang trại khác; giữa trang trại với các cơ quan quản lý vĩ mô, giữa trang trại với các tổ chức chính trị xã hội…
2.1.1.4 Kinh tế trang trại
Xuất hiện cách đây khoảng hơn 200 năm, cho đến những năm cuối thế
kỷ 20, kinh tế trang trại mà đặc biệt là trang trại gia đình đã trở thành mô hình sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp các nước phát triển, chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối về đất đai cũng như khối lượng nông sản, đặc biệt ở các nước Anh, Pháp, Nga nơi bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đầu tiên của nhân loại
Trải qua nhiều thế kỷ, đến nay, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển ở những nước tư bản chủ nghĩa lâu đời cũng như các nước đang phát triển, các nước công nghiệp mới với cơ cấu và quy mô sản xuất khác nhau
Tại Việt Nam, kinh tế trang trại phát triển muộn, chỉ từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được thừa nhận
và đặc biệt là từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4/1988) về đổi mới quản lý kinh tế Nhà nước, kinh tế hộ nông dân mới từng bước phục hồi
và phát triển Cùng với các hộ gia đình công nhân viên chức làm nông nghiệp, lại có tích luỹ về vốn, kinh nghiệm sản xuất và kinh nghiệm quản lý, tiếp cận được với thị trường, thì sản xuất nông nghiệp mới thoát khỏi cái vỏ tự cấp tự túc và vươn tới nền sản xuất hàng hoá Kinh tế trang trại ra đời
Cho đến nay, quan điểm về kinh tế trang trại vẫn được trình bày theo nhiều khía cạnh khác nhau Có thể hiểu trang trại là một đơn vị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với quy mô lớn theo hướng sản xuất hàng hoá
Kinh tế trang trại là một khái niệm không còn mới với các nước kinh tế
Trang 16phát triển và đang phát triển Song đối với nước ta đang còn là một vấn đề mới, do nước ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên việc nhận thức còn chưa đầy đủ về kinh tế trang trại là điều không thể tránh khỏi Thời gian qua các lý luận về kinh tế trang trại đã được các nhà khoa học trao đổi trên nhiều diễn đàn và các phương tiện thông tin đại chúng Song cho tới nay ở mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau các nhà khoa học lại đưa ra các khái niệm khác nhau về kinh tế trang trại
Theo một số nhà khoa học trên thế giới thì khái niệm về kinh tế trang trại như sau:
Lênin đã phân biệt kinh tế trang trại “Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết các sản phẩm làm ra, còn người tiểu nông thì dùng đại bộ phận sản phẩm sản xuất được, mua bán càng ít càng tốt”
Quan điểm của Mác đã khẳng định: “Điểm cơ bản của trang trại gia đình là sản xuất hàng hoá, khác với kinh tế tiểu nông là sản xuất tự cấp tự túc, nhưng có điểm giống nhau là lấy gia đình làm cơ sở làm nòng cốt”
Quan điểm trên đã nêu được bản chất của kinh tế trang trại là hộ nông dân, nhưng chưa đề cập đến vị trí của chủ trang trại trong toàn bộ quá trình tái sản xuất sản phẩm của trang trại
Theo PGS.TS Lê Trọng: “ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh
tế cơ sở, là doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hiệp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, được Nhà nước bảo hộ theo luật định” [26]
Từ các quan điểm trên đây ta có thể rút ra khái niệm chung về kinh tế
trang trại: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất trong Nông - Lâm
- Ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất
Trang 17được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung
đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường”
2.1.2 Đặc điểm vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại
2.1.2.1 Giới thiệu về Hội Nông dân Việt Nam
Hội Nông dân Việt Nam tiền thân là Nông hội đỏ, thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng
và dân tộc Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng hội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động; nâng cao vai trò đại diện, phát huy quyền làm chủ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân Phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần cách mạng, lao động sáng tạo, cần kiệm, tự lực, tự cường, đoàn kết của nông dân, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng văn hoá, giữ vững quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trải qua các thời kỳ cách mạng, tổ chức Hội Nông dân với những tên gọi khác nhau, đã luôn thực hiện tốt nhiệm vụ của mình; tuyên truyền, vận động, tập hợp rộng rãi giai cấp nông dân - một lực lượng đông đảo và hùng hậu trong khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức đi theo con đường của cách mạng Việt Nam mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Nông dân Việt Nam đã có bước phát triển mới về mọi mặt trong việc tập hợp, tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của
Trang 18Nhà nước, tổ chức các phong trào nông dân, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế- xã hội, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới
Hội Nông dân Việt Nam được tổ chức rộng khắp trong cả nước từ Trung ương tới cơ sở; số cán bộ công tác tại các cấp hội: Trung ương Hội Nông dân Việt Nam có trên 250 người; Hội Nông dân 63 tỉnh, thành phố 1.467 người (bình quân 23 người/tỉnh); Hội Nông dân 636 huyện, thị, quận 2.954 người (bình quân 4 người/huyện); Hội Nông dân xã, phường, thị trấn có 10.223 cán bộ chuyên trách; 93.450 thôn, làng, ấp, bản khoảng trên 10 triệu hội viên [17] Thông qua những con số trên cho thấy rằng tổ chức Hội Nông dân là một tổ chức có bộ máy rộng khắp, là lực lượng đông đảo nhất trong tất
cả các giai cấp trong xã hội Việt Nam
Cơ cấu tổ chức Hội Nông dân các cấp hiện nay
được tổ chức theo sơ đồ sau:
2.1.2.2 Đặc điểm, vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại
a Đặc điểm của Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế trang trại
Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông
Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
Hội Nông dân các tỉnh, thành phố
Hội Nông dân các huyện, quận, thành phố
Hội Nông dân cơ sở
Trang 19thôn, tổ chức Hội Nông dân đã có những hoạt động hỗ trợ cụ thể, rõ nét được thể hiện qua 3 phong trào thi đua chính của Hội trong 3 năm trở lại đây (2011
- 2013) đó là: Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giầu bền vững; Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới; Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng - an ninh
Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói, giảm nghèo và làm giàu bền vững là phong trào ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, có sức lan toả trên phạm vi cả nước, trong tất
cả các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trở thành tâm điểm trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn Phong trào đã khích lệ người nông dân có ý trí và quyết tâm tự vươn lên xoá đói, giảm nghèo, cần cù, sáng tạo, đổi mới nếp nghĩ, cách làm, khai thác tiềm năng, thế mạnh về lao động, đất đai, tiền vốn đầu tư cho sản xuất góp phần chuyển dịch, cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề ở nông thôn, cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, chú trọng tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế, hướng tới xuất khẩu Nhiều sản phẩm nông nghiệp
có sức cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới Cơ cấu sản xuất ngày càng đa dạng, quy mô ngày càng tập trung, người sản xuất ngày càng quan tâm đến nhu cầu của thị trường; khoa học, công nghệ mới được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn
- Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn hội viên nông dân phát huy nội lực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi nâng cao giá trị thu được trên mỗi đơn vị diện tích, đồng thời phát triển ngành nghề, dịch vụ chuyển lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ
- Vận động nông dân thực hiện "Dồn điền, đổi thửa" gắn với quy hoạch lại đồng ruộng tạo thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, nông trại, gia trại
- Tăng cường phối hợp liên kết 4 nhà: Nhà nước, nhà nông, nhà khoa
Trang 20học, nhà doanh nghiệp để hỗ trợ về giống, vốn, vật tư, công cụ sản xuất, khoa học kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân theo Quyết định số: 80 - QĐ/TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ
- Vận động nông dân xây dựng và tiếp nhận các nguồn vốn quỹ giúp nông dân phát triển sản xuất kinh doanh
- Xây dựng chi, tổ Hội có cánh đồng cho thu nhập 100 triệu đồng/năm
để rút kinh nghiệm, nhân ra diện rộng, xây dựng mô hình kinh tế trang trại, hộ gia đình sản xuất thu nhập đạt giá trị 100 triệu đồng/hộ/năm, phấn đấu hàng năm có 60% số hộ nông dân đăng ký phấn đấu và có trên 50% số hộ sản xuất đạt danh hiệu sản xuất kinh doanh giỏi các cấp
- Tiếp tục thực hiện các dự án của chương trình xoá đói giảm nghèo của Chính phủ Hội Nông dân cơ sở nắm chắc, theo dõi các hộ nghèo, phân loại xác định rõ nguyên nhân nghèo đói của từng hộ Phân công hộ sản xuất kinh doanh giỏi giúp hộ nghèo, phân công mỗi chi Hội giúp đỡ 2-3 hộ nghèo, lập danh sách hộ nghèo cần giúp đỡ Hướng dẫn giúp đỡ nông dân nghèo theo
phương thức "Cầm tay, chỉ việc" phấn đấu giảm 10-15% trong tổng số hộ
nghèo hàng năm, mỗi huyện, thành hội giúp xoá một nhà tạm hoặc nâng cao mức sống cho hộ nghèo với mức kinh phí từ 5 - 10 triệu đồng
- Phối hợp với các ngành, các đoàn thể nhân dân định kỳ tổ chức hội nghị biểu dương nông dân sản xuất kinh doanh giỏi hàng năm ở cơ sở để kịp thời động viên những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc Đánh giá kết quả của phong trào trao đổi kinh nghiệm, cách làm ăn của hội để đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới
Để cụ thể hoá các hoạt động hỗ trợ, Hội Nông dân đã triển khai phối hợp với các cấp, các ngành tổ chức các hoạt động hỗ trợ:
- Tạo vốn thông qua các chương trình phối hợp
Hội Nông dân Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam đã có Thoả thuận liên ngành số: 799/TTLN, ngày 19/10/2010
Trang 21Trên cơ sở thoả thuận liên ngành Hội Nông dân triển khai tới hệ thống các cấp hội trong cả nước Đến nay đã có trên 627 ngàn thành viên tham gia tổ vay vốn, với 63.186 tổ vay vốn với tổng dư nợ gần 12 nghìn tỷ đồng
+ Nguồn vốn Ngân hàng Chính sách xã hội
Thực hiện Nghị định 78/2002/NĐ- CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng người nghèo và các đối tượng chính sách khác; Hội Nông dân đã ký kết thoả thuận nhận uỷ thác cho vay vốn Đến nay đã thành lập 70 nghìn tổ tiết kiệm vay vốn với 2,5 triệu thành viên tham gia vay vốn ở các chương trình như cho vay
hộ nghèo, học sinh sinh viên, nước sạch vệ sinh môi trường…với dư nợ 32,3 nghìn tỷ đồng ở 15 chương trình tín dụng
+ Nguồn vốn chương trình quốc gia giải quyết việc làm (120) và các chương trình dự án: Tổng số vốn do Hội Nông dân các cấp quản lý là 857,18
tỷ đồng, trong đó vốn Trung ương Hội quản lý là 57,18 tỷ đồng; vốn do Uỷ ban Nhân dân tỉnh giao cho Hội Nông dân tỉnh quản lý là 800 tỷ đồng, quay vòng cho 34.200 lao động vay Bên cạnh đó, tổ chức hội còn chủ động kêu gọi các nguồn vốn thông qua các chương trình, dự án phối hợp với các sở, ngành đạt gần 3.300 tỷ đồng giúp nông dân mở rộng sản xuất [2]
+ Xây dựng và phát triển Quỹ Hỗ trợ nông dân
Quỹ Hỗ trợ nông dân được Chính phủ cho phép thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1996 Đến nay Quỹ Hỗ trợ nông dân được Nhà nước giao cho Hội Nông dân Việt Nam quản lý gần 1.000 tỷ đồng, trong đó năm 2011 Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương được ngân sách Nhà nước giao 300 trăm tỷ
Từ nguồn vốn này đã giúp cho 72 ngàn hộ nông dân có thêm vốn để sản xuất kinh doanh, Quỹ Hỗ trợ nông dân đã được thành lập ở 63/63 tỉnh, thành; 664/664 huyện, thị xã; 9.896/10.417 xã, phương, thị trấn có quỹ Bên cạnh nguồn vốn được ngân sách Nhà nước cấp, Tổ chức hội đã vận động, ủng hộ từ các tổ chức, cá nhân với số dư nợ hiện nay đạt 1.210.206,37 tỷ đồng, hỗ trợ
Trang 22trên 219.101 lượt hộ vay
+ Tham gia hoạt động khuyến nông, khuyến ngư
Thông qua hoạt động này đã giúp nông dân được tiếp cận với khoa học
kỹ thuật - công nghệ mới Hội Nông dân các cấp đã chủ động đi đầu trong công tác tuyên truyền, vận động, tập huấn, hướng dẫn nông dân ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, đồng thời phối hợp tổ chức tập huấn được 78.000 lớp cho trên 4 triệu lượt người Tổ chức chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật được 35.000 cho trên 2 triệu lượt người Tổ chức 10.132 cuộc hội thảo, thăm quan; tổ chức dạy nghề cho 550.559 lượt người
Ngoài ra, các cấp hội còn phối hợp với các doanh nghiệp: Phân bón Lâm Thao, Việt Nhật, Bình Điền, Công ty thức ăn chăn nuôi VIC… mua vật
tư nông nghiệp theo phương thức trả chậm với trị giá trên 1.500 tỷ đồng, trên 2.000 tỷ đồng cây con các loại
Từ những giải pháp trên, bình quân mỗi năm số hộ nông dân đăng ký danh hiệu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp tăng 4,3% đạt 8,21 triêu lượt hộ nông dân đăng ký, chiếm 53,4% so với tổng số hộ cả nước, trong đó
số hộ đạt tiêu chuẩn hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp tăng 12,5% Hiện nay tổng số hộ nông dân đạt danh hiệu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp là 4,24 triệu hộ, chiếm 51,6% số hộ đăng ký; trong đó có 143.827 hộ nông dân đạt danh hiệu cấp trung ương chiếm 3,39%; 394.830 hộ nông dân đạt danh hiệu cấp tỉnh chiếm 9,32%; 1.107.738 hộ đạt danh hiệu cấp huyện, thành phố chiếm 26,12% và 2.593.605 hộ đạt danh hiệu cấp xã, phường chiếm 61,17% so với tổng số hộ nông dân đạt danh hiệu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp Về cơ cấu hộ sản xuất, kinh doanh giỏi ngành trồng trọt là 1.797.689 hộ chiếm 42,39%; hộ sản xuất, kinh doanh giỏi ngành chăn nuôi là 1.376.742 hộ chiếm 32,47%; hộ sản xuất, kinh doanh tổng hợp là 1.065.569 hộ chiếm 25,13%
Trang 23Thông qua phong trào ngày càng xuất hiện nhiều hộ nông dân có quy
mô sản xuất lớn, có vốn kinh doanh hàng trăm tỷ đồng, thu hút hàng chục, hàng trăm lao động, thu nhập hàng 100 triệu đến hàng tỷ động Từ phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi đã có nhều tấm gương nông dân không cam chịu đói, nghèo quyết tâm vươn lên vượt qua khó khăn, thách thức, phát huy lợi thế của địa phương, khai thác mọi tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn để phát triển những mô hình sản xuất có hiệu quả
b Vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại
* Tuyên truyền vận động nông dân tham gia phát triển kinh tế trang trại
Vận động tuyên truyền phát triển kinh tế trang trại Trong những năm qua các cấp hội đã vận động, tuyên truyền cán bộ hội viên tham gia phát triển kinh
tế trang trại bằng nhiều nội dung và hình thức phong phú Những nội dung chính trong tuyên truyền phát triển kinh tế trang trại đó là:
Tuyên truyền nghị quyết 03/NQ- CP ngày 02 tháng 02 năm 2000 của chính phủ về phát triển kinh tế trang trại đã chính thức công nhận trang trại là một bộ phận của nền kinh tế, kể từ đó sản xuất trang trại được các cấp chính quyền quan tâm hỗ trợ và quản lý Những tuyên truyền của các cấp hội về chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách đầu tư tín dụng, chính sách về bảo hộ tài sản
Về đất đai nội dung tuyên truyền nghị quyết nêu rõ “Hộ gia đình có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để phát triển trang trại được nhà nước giao đất hoặc cho thuê sử dụng đất được cấp giấy quyền sử dụng đất, thuê hoặc thuê lại quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình cá nhân khác để phát triển trang trại theo qui định của pháp luật”
Tuyên truyền nội dung về chính sách đầu tư tín dụng: Trang trại phát triển sản xuất kinh doanh được vay vốn tín dụng thương mại của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việc vay vốn được thực hiện theo qui định tại quyết định số 67/1999/QĐ- TTg ngày 30/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về
Trang 24“Một số chính sách tín dụng ngân hàng phát triển nông thôn, chủ trang trại được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo tiền vay theo quy định tại nghị định số 178/1999/NĐ- CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng”; Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn việc triển khai Nghị định số 41/2010/NĐ- CP còn tạo ra cơ chế phối kết hợp đồng bộ giữa chính sách tín dụng với các chính sách khác đối với nông nghiệp, nông thôn nhằm đảm bảo
sự phát triển ổn định, bền vững cho lĩnh vực này, khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay, đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân
Tuyên truyền chính sách lao động nghị định nêu rõ “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, tạo nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên sử dụng lao động nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm”
* Tạo vốn thông qua các chương trình phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Hội Nông dân Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã ký thoả thuận liên ngành số: 799/TTLN ngày 19/10/2010 Trên cơ sở thoả thuận liên ngành, Hội Nông dân các cấp đã đứng ra tín chấp giúp nông dân nói chung và các chủ trang trại nói riêng vay vốn không phải thế chấp, thông qua các tổ vay vốn
- Tổ chức học tập, tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy định của ngân hàng trong việc cho hộ nông dân vay vốn sản xuất kinh doanh, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nhằm thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đề ra
- Thành lập các tổ vay vốn trên cơ sở các Chi, tổ Hội Nông dân, các tổ vay vốn được tổ chức chặt chẽ, đảm bảo các điều kiện sau:
Trang 25+ Hội Nông dân cơ sở tổ chức thành lập các tổ vay vốn, các thành viên của tổ vay vốn phải là hội viên Hội Nông dân Trong trường hợp thành viên chưa phải là hội viên nông dân thì phải được chi hội giới thiệu và sau chi hội làm các thủ tục đề nghị Hội Nông dân cấp trên kết nạp vào tổ chức Hội Các thành viên
có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, mở mang thêm ngành nghề, dịch vụ với mức vay từ 50 triệu đồng trở xuống thì không phải thế chấp bằng tài sản
+ Có danh sách các thành viên của tổ vay vốn và biên bản họp tổ, bầu
tổ trưởng, tổ phó, thư ký được Hội Nông dân cùng UBND xã, phường, thị trấn xác nhận
+ Có quyết định thành lập tổ vay vốn của UBND xã, phường, thị trấn + Có quy ước hoạt động của tổ vay vốn theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, giúp đỡ nhau trong sản xuất, đời sống, cùng nhau chia sẻ rủi
ra, hỗ trợ nhau trả gốc, lãi cho ngân hàng đúng thời hạn
+ Trong quá trình hoạt động, tổ vay vốn phải cam kết tuân thủ theo các nguyên tắc và điều kiện vay vốn theo quy định của ngân hàng
- Tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kiến thức, phổ biến các kinh nghiệm sản xuất kinh doanh cho hội viên, đảm bảo đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
- Phối hợp cùng UBND xã, phường, thị trấn, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn xử lý những trường hợp vi phạm quy định của ngân hàng trong quá trình vay, trả nợ ngân hàng của các thành viên trong tổ vay vốn
- Đại diện cho hộ nông dân bảo vệ các quyền lợi của người vay vốn theo đúng quy định của pháp luật và hợp đồng dịch vụ hai bên đã ký kết
* Tạo vốn thông qua các chương trình phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội
Thực hiện Nghị định 78/2002/NĐ - CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ
về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách và văn bản liên
Trang 26tịch 235 ký kết với Ngân hàng Chính sách xã hội, Hội Nông dân Việt Nam đã
ký kết nhận uỷ thác từ Ngân hàng Chính sách xã hội, tạo kênh tín dụng cho hội viên nông dân nghèo vay vốn phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo
- Tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quy định của ngân hàng trong việc cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác để sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống
- Phối hợp với chính quyền cơ sở thành lập tổ tiết kiệm và vay vốn để tạo lập kênh dẫn vốn trực tiếp đến hộ nghèo, giúp hộ nghèo vay vốn tiếp cận với dịch vụ tài chính ngân hàng, phát huy truyền thống đoàn kết tương trợ trong cộng đồng, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, cùng nhau trong trả nợ tiền vay đúng kỳ hạn
- Cung cấp đúng, đầy đủ các thông tin, tài liệu liên quan đến vốn nhận
uỷ thác từ Ngân hàng Chính sách xã hội và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu đã cung cấp
- Triển khai thực hiện nghiêm túc việc cho vạy theo hợp đồng uỷ thác cho vay; việc cho vay, thu nợ, thu lãi, thu tiết kiệm, xử lý rủi do…phải tuân theo các văn bản pháp quy, các quy định nghiệp vụ và văn bản liên quan khác của Ngân hàng Chính sách xã hội Sử dụng vốn nhận uỷ thác đúng mục đích, đúng nội dung đã quy định và cam kết trong hợp đồng uỷ thác cho vay
- Đôn đốc thu vốn và lãi đúng hạn theo thảo thuận và cam kết trong hợp đồng uỷ thác cho vay
- Kiểm tra, giám sát quá trình cho vay, sử dụng vốn vay của hộ nghèo và thực hiện báo cáo, thống kê theo quy định của Ngân hàng Chính sách xã hội
- Tham gia xây dựng các tài liệu tập huấn và tham dự lớp tập huấn nghiệp vụ do Ngân hàng Chính sách xã hội tổ chức
- Tổ chức các hoạt động nâng cao kiến thức, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh cho hộ nghèo, đảm bảo đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
Trang 27- Cung cấp cho Ngân hàng Chính sách xã hội những thông tin về nguyện vọng của hội viên nông dân liên quan đến việc vay vốn
* Tạo vốn thông qua xây dựng và phát triển Quỹ Hỗ trợ nông dân
Quỹ Hỗ trợ nông dân được Chính phủ cho phép thành lập từ năm 1996, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam được Nhà nước giao 340 tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước để hoạt động Các cấp Hội Nông dân đã vận động thu hút hàng triệu tập thể, cá nhân và tổ chức ủng hộ, cho vay với lãi xuất thấp, cho mượn
- Vận động nông dân, các hộ phi nông nghiệp, các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ, cho mượn (không lãi) hoặc cho vay lãi suất thấp
- Tiếp cận các nguồn vốn tài trợ hoặc uỷ thác của Nhà nước, của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước giúp đỡ nông dân phát triển kinh tế xã hội nông thôn
- Các nguồn vốn trên dùng để giúp nông dân, trước hết là nông dân khó khăn về vốn để có vốn phục vụ cho phát triển sản xuất Vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân được thu phí theo quy định của Bộ Tài chính và những văn bản hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam Đối với từng thời gian cụ thể, Bộ Tài chính và Ban thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam có hướng dẫn thu phí và sử dụng phí cụ thể, trên nguyên tắc bảo đảm đủ trang trải chi phí cần thiết cho hoạt động quỹ
- Phải bảo toàn và phát triển nguồn vốn quỹ
* Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và dạy nghề
Với hệ thống sâu rộng, từ Trung ương đến cơ sở, Hội Nông dân các cấp
đã trở thành cầu nối quan trọng giữa các nhà khoa học - cơ quan khoa học, các doanh nghiệp tới trang trại và ngược lại
Các cấp hội chủ động trong công tác tuyên truyền, tổ chức tập huấn hướng dẫn nông dân áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; tổ chức
Trang 28xây dựng các mô hình trình diễn, mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đạt năng xuất, chất lượng cao Cụ thể các cấp Hội Nông dân đã tổ chức các lớp tập huấn, dạy nghề chăm nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản,…tại các trung tâm dạy nghề của hội, tổ chức thăm quan các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi ở các địa phương trong cả nước
* Hỗ trợ mua vật tư, máy móc và tiêu thụ sản phẩm
Bằng việc ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp mua vật tự theo phương thức trả chậm, đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý, như: Công ty Supe
và hoá chất Lâm Thao; Công ty phân bón apatít Lao Cai; Con Heo Vàng… Các cấp hội đã trở thành cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp và trang trại
Bên cạnh đó, thực hiện quyết định số: 80/2002/QĐ- TTg ngày
24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng” Hội đã đứng ra làm đầu mối phối
hợp với các doanh nghiệp, siêu thị, chợ đầu mối giúp tiêu thụ nông sản
Cụ thể Hội Nông dân triển khai một số nhiệm vụ:
- Phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức các lớp tập huấn đến nông dân, mỗi vụ tổ chức một số lớp để nhiều hội viên nông dân được hướng dẫn
kỹ thuật Động viên nông dân tích cực học tập và ứng dựng tiến bộ kỹ thuật
và đưa vật tư của các doanh nghiệp chuyên dùng vào sản xuất đạt hiệu quả cao Hướng dẫn nông dân sử dụng đúng kỹ thuật trong sản xuất
- Trước khi các hộ nông dân mua vật tư của doanh nghiệp thì phải có bảo tín bằng văn bản của Hội Nông dân mới có đủ điều kiện
- Đôn đốc các đơn vị được vay vốn thanh toán đúng hạn Nếu có đơn vị đến hạn nhưng không thanh toán thì các cấp hội biện pháp tích cực để thu nợ nhanh, đảm bảo an toàn vốn cho doanh nghiệp
- Nắm thông tin thị trường, nguyện vọng của nông dân, thông tin cho doanh nghiệp biết để thời điều chỉnh giá cả, hàng hoá, phục vụ tốt hơn cho sản xuất của nông dân
Trang 29* Xây dựng mô hình điểm phát triển các loại hình kinh tế trang trại
Hội Nông dân các cấp đã lựa chọn xây dựng các mô hình điểm phát triển kinh tế trang trại ở các địa phương căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, tiềm
lực kinh tế từng vùng, từng điều kiện sẵn có để phát triển trang trại
Các cấp hội thống nhất chọn mô hình là chủ hộ trang trại có tâm huyết,
có ý chí và có hiểu biết nhất định về khoa học kỹ thuật; có thời gian sản xuất kinh doanh từ 3 năm trở lên và tích cực tham gia các hoạt động của hội Sau
đó các cấp hội hướng vào việc đầu tư cơ sở vật chất hỗ trợ vốn, tập huấn khoa học kỹ thuật, tổ chức thăm quan mô hình; phối hợp cho vay trả chậm, tư vấn thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi để trang trại phát triển
Sau khi phối hợp tập huấn kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản các cấp hội đã cùng chủ trang trại chỉ đạo thực hiện thực tế trên các hồ ao đầm từ kỹ thuật cải tạo, nạo vét đầm, hồ đến kiểm tra tiêu chuẩn về mực nước cho từng đối tượng nuôi, xác định độ PH, nồng độ muối cụ thể cho từng đối tượng nuôi trồng, xác định môi trường nuôi, chất lượng giống
Hàng tháng kiểm tra kỹ thuật nuôi trồng, kiểm tra tỉ lệ tăng trọng, chất lượng con giống, môi trường nuôi trồng để các chủ trang trại và Hội Nông dân có định hướng cụ thể chăm sóc, nuôi trồng đạt hiệu quả
Phối hợp với các doanh nghiệp hỗ trợ vật tư trả chậm, hỗ trợ giống vốn, thức ăn, có định hướng tiêu thụ sản phẩm cho các trang trại; sau những vụ sản xuất các cấp hội đều sơ kết đánh giá mô hình và rút kinh nghiệm để nhân rộng
mô hình
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại
2.1.3.1 Về phía Hội Nông dân
* Cách thức tổ chức hoạt động của Hội Nông dân
Xuất phát từ vị trí, vai trò của tổ chức Hội Nông dân là một tổ chức
Trang 30chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp nông dân; là trung tâm, nòng cốt trong phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới Hội chủ động phối hợp là cầu nối quan trọng với các cấp, các ngành, các doanh nghiệp theo hình thức liên kết 4 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà nông - Nhà doanh nghiệp)
để tổ chức các hoạt động hỗ trợ cho nông dân nói chung và kinh tế trang trại nói riêng về giống, vốn, vật tư; KHKT; thị trường tiêu thụ…Qua thời gian triển khai đã đạt được nhiều kết quả cụ thể, tuy nhiên trên thực tế hiện nay, tổ chức hội chủ yếu là phối hợp triển khai các hoạt động hỗ trợ chưa có đủ các nguồn lực và thiếu chủ động để tổ chức triển khai Bên cạnh đó, trong các chương trình phối hợp các nguồn lực cho vay ưu đãi còn ít, như tín chấp vay vốn qua Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn số vốn chỉ được 10 triệu đồng/ lần vay ít hơn nhiều so với thực tế nhu cầu vay của trang trại
Hơn thế nữa với cơ cấu tổ chức là hội đoàn thể, nên độ chặt chẽ trong
bộ máy tổ chức còn có nhiều hạn chế, nhiều hoạt động chủ yếu mang tính phong trào
* Trình độ đội ngũ cán bộ Hội Nông dân
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
Trung cấp (%)
Cao đẳng (%)
Đại học (%)
Trên đại học (%)
Sơ cấp (%)
Trung cấp (%)
Cao cấp, cử nhân (%)
<31 (%)
31-40 (%)
41-50 (%)
>50 (%)
(Chi hội trưởng) 93.727 12,2 6,8 1,3 0 Na 17,8 3,6 0,2 Na Na Na Na
Ghi chú: Na: không có số liệu
Nguồn: Tài liệu hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
Trang 32Qua kết quả khảo sát của Hội Nông dân các cấp, trình độ đội ngũ cán
bộ hội còn thấp so với yêu cầu hiện nay, cụ thể: "Số cán bộ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam có 240 người, 77,61% có trình độ cao đẳng, đại học, 5,9% có trình độ trên đại học; trình độ lý luận chính trị cao cấp và cử nhân chiếm 36,7% Cán bộ công tác ở các tỉnh, thành phố: 1.467 người (bình quân
23 người/tỉnh); trình độ cao đẳng, đại học chiếm 72,8%; trình độ lý luận chính trị cao cấp và cử nhân chiếm 31,7% Cán bộ Hội Nông dân cấp huyện, thị có 2.954 người (bình quân 4,6 người/đơn vị), trình độ cao đẳng, đại học chiếm 62,4%; trình độ lý luận chính trị cao cấp và cử nhân chiếm 23,5% Ở cấp xã, phường mỗi đơn vị có 2 có 2 cán bộ được hưởng phụ cấp sinh hoạt chuyên trách (Chủ tịch, Phó chủ tịch), trình độ trung học cơ sở trở lên chiếm 85,7%,
số có trình độ trung cấp trở lên chiếm 6,8%, lý luận từ trung cấp trở lên chiếm 7,3%"[22] Qua những số liệu thống kê trên cho thấy, trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác hội còn thấp, đặc biệt ở cấp huyện và cấp xã, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động hỗ trợ cho nông dân và kinh tế trang trại
- Năng lực tài chính của hội
Toàn bộ hoạt động chính của tổ chức hội chủ yếu là kinh phí hành chính sự nghiệp được Nhà nước cấp hàng năm Bên cạnh đó các hội viên tham gia hội đều có nghĩa vụ đóng một khoản hội phí hàng năm, mức nộp là 6.000 đồng/người/năm Ngoài ra hội đã ký kết phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn; Ngân hàng Chính sách xã hội; các doanh nghiệp; phí quản lý thực hiện các dự án do hội trực tiếp điều hành Mỗi một hoạt động đó đều có một tỷ lệ phí nhất định giúp bổ xung thêm nguồn tài chính để hội hoạt động
2.1.3.2 Về phía các cơ quan doanh nghiệp phối kết hợp
Để việc tuyên truyền, vận động hội viên nông dân nói chung và các chủ trang trại nói riêng đạt hiệu quả thì cần có những chương trình, dự án cụ thể nhằm xây dựng mô hình, đào tạo và chuyển giao cho nông dân mới có tính
Trang 33thuyết phục Tuy nhiên trên thực tế hiện nay do chưa có cơ chế chính sách cụ thể, các hoạt động dịch vụ, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh của Hội trong thời gian qua chủ yếu dựa vào cơ chế “xin - cho” thông qua các chương trình phối hợp
Để có điều kiện hoạt động hội đã ký chương trình phối hợp, nghị quyết liên tịch với hơn 40 bộ, ngành, doanh nghiệp Các hoạt động đó tuy có hiệu quả rất rõ rệt, thiết thực đối với nông dân, nhưng mới chỉ ở phạm vi hẹp Các hoạt động của hội vẫn bị hạn chế mà nguyên nhân lớn nhất là do thiếu tính chủ động và những điều kiện cần thiết, đặc biệt về kinh phí để tổ chức triển khai thực hiện Bên cạnh đó, do đặc điểm là chương trình phối hợp nên ràng buộc về pháp lý còn mức độ do vậy nhiều đơn vị lúc mới triển khai thì thực hiện đầy đủ nhưng sau một thời gian hiệu quả hoạt động giảm dần
2.1.3.3 Các yếu tố ngoại cảnh khác
* Các yếu tố chủ quan của nông nghiệp
Nông nghiệp nước ta trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, được cả thế giới ghi nhận; nhưng nó vẫn còn có những hạn chế yếu kém, bất cập và những vấn đề nảy sinh cần phải giải quyết Hội nghị Trung ương lần thứ Bảy khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém sau:
- Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm so với yêu cầu; nông nghiệp vẫn nặng về trồng trọt, lúa đóng vai trò chủ yếu trong
cơ cấu cây trồng, tỷ trọng giá trị chăn nuôi mới vượt ngưỡng 20%, sản xuất phân tán, năng xuất thấp
- Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất, nghiên cứu chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến là sản xuất nhỏ, phân tán
Trang 34- Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Trình độ công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn còn thấp, công nghệ sau thu hoạch chưa phát triển Nhiều cơ sở chế biến lạc hậu về công nghệ gây ô nhễm môi trường Theo báo cáo của Hội Nông dân Việt Nam năm 2007 có đến 80% làng nghề không đủ vốn mở rộng sản xuất, đổi mới kỹ thuật; 35% thiếu nguyên liệu để sản xuất; chất lượng sản phẩm chậm được cải thiện, giá thành cao, sức cạnh tranh yếu
- Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất hàng hoá; sản xuất và tiêu thu sản phẩm nông nghiệp chịu tác động của những biến động giá nông sản và vật tư trên thị trường thế giới nên tính rủi ro cao, tiềm ẩn nguy cơ kém bền vững
- Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu, môi trường ô nhiễm, năng lực thích ứng đối phó với thiên tai còn hạn chế Nếu không có những giải pháp chủ động đối phó với dự báo của khí tượng thuỷ văn, nếu băng tan mực nước biển dâng cao thì đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng sẽ bị ngập mặn mất đi 38% diện tích đất canh tác [Nguyễn Thị Ngân- 2010]
* Các yếu tố chủ quan của nông nghiệp
- Sự phụ thuộc của các sản phẩm nông nghiệp vào các yếu tố công nghiệp Năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp đều phụ thuộc ngày càng nhiều vào sản phẩm công nghiệp là đầu vào của nông nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu, thiết bị, dụng cụ cơ khí phục vụ chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, thuốc BVTV, thuốc thú y ) Giá của các sản phẩm này khá cao so với giá nông sản
- Nền kinh tế chuyển từ tự cấp, tự túc qua sản xuất hàng hoá đã đặt nông hộ vào tình trạng bị động, bấp bênh; niềm vui được mùa, nhiều khi không bù lại được nỗi lo mất giá
Trang 35- Nhiều thông tin nông dân cần thì không có, nếu có không dễ thu nhận được; các trung tâm xử lý và truyền đạt thông tin thường nằm ở thành phố lớn, khu đô thị Thông tin thời tiết, dịch bệnh, thị trường, giá cả thường đến với nông dân chậm, thậm chí sai lệch
2.2 Cơ sở thực tiễn về vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại ở một số tỉnh
- Vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thanh Hóa cùng với sự phát triển đi lên của cả tỉnh, Hội Nông dân Thanh Hóa đã từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống của nông dân Hàng năm hội đã tổ chức vận động nông dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước bằng việc chỉ đạo, giúp đỡ và hướng dẫn cho nông dân biết tổ chức sản xuất, lựa chọn cái gì nên và không nên sản xuất, nhạy bén với thông tin thị trường, sản xuất phải gắn liền với thị trường tiêu thụ sản phẩm; xác định rõ mô hình và quy mô sản xuất hộ phù hợp với gia đình nông dân, áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, sử dụng nguồn lực có hiệu quả, phát triển ngành nghề nâng cao chất lượng các giống cây trồng vật nuôi, hạ giá thành sản phẩm; từng bước hình thành các vùng sản xuất chuyên canh có sức cạnh tranh trên thị trường, thúc đẩy sự phát triển của
mô hình kinh tế trang trại
Với việc phát động phong trào “Toàn dân thi đua làm kinh tế giỏi” của
Hội nông dân đã phát huy được nội lực, khai thác các tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương; nông dân hưởng ứng đổi điền dồn thửa, thâm canh tăng
vụ, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi toàn diện, kinh tế hộ VAC, phát triển kinh
tế trang trại (hiện trong toàn tỉnh có 3.655 trang trại)
Kết quả của phong trào đó, nhiều huyện đã tạo nên bước đột biến trong phát triển kinh tế trang trại, điển hình là huyện Vĩnh Lộc, theo số liệu thống
kê, đến tháng 2/2014, huyện có 178 trang trại chăn nuôi, trong đó có 44 trang
Trang 36trại đạt tiêu chí theo Thông tư số 27/2011/TT- BNNPTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận trang trại; 30 trang trại đủ tiêu chí được tỉnh hỗ trợ, tổng số tiền trên 5,4 tỷ đồng, trong đó riêng xã Vĩnh Phúc có 14 trang trại, các xã khác có từ 1- 3 trang trại, được hỗ trợ với số tiền là 500 triệu đồng Hầu hết các trang trại trên địa bàn huyện đều cho doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm, không chỉ có thu nhập cao, các trang trại còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động với tiền công từ 2- 5 triệu đồng Điển hình là trang trại của gia đình ông Phạm Văn Hoàng xã Vĩnh Phúc- Vĩnh Lộc, năm
2006, được hội nông dân xã tư vấn làm kinh tế trang trại, đúng thời điểm xã
có chủ trương cho đấu thầu đất để phát triển khu trang trại chăn nuôi tập trung, gia đình ông đã nhận đất thầu xây trang trại Đến nay khu trang trại của gia đình ông phát triển 34 lợn nái, trên 300 lợn thịt, bình quân mỗi năm ông xuất bán trên 500 tấn lợn thịt, doanh thu gần 2 tỷ đồng, trừ chi phí cho lãi từ 200- 250 triệu đồng/năm
Bài học của Thanh Hóa, Hội Nông dân chủ động tham gia và phát động các phong trào thi đua, với sự trợ giúp kịp thời, hiệu quả của địa phương
và các đơn vị chức năng, cùng với sự mạnh dạn, nắm bắt cơ hội làm giàu của các chủ trang trại, nhiều hộ dân đã tự khẳng định được mình bằng những thành công trong phát triển kinh tế trang trại, trở thành những hộ sản xuất kinh doanh giỏi
- Kinh nghiệm phát huy vai trò của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Nam Định Thực hiện nghị quyết Đại hội Hội Nông
dân tỉnh Nam Định khóa VIII nhiệm kỳ (2008 - 2013), Hội Nông dân các cấp
đã có những đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, nhất là trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại như: Tuyên truyền, vận động nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tham gia hoàn thiện các chính sách về phát triển kinh tế xã hội, phát triển kinh tế trang trại phối hợp với các ngành theo mô hình liên kết 4 nhà: Nhà nông, nhà
Trang 37khoa học, nhà nước và nhà doanh nghiệp để hỗ trợ nông dân về vốn, kinh nghiệm sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hàng năm Hội Nông dân tỉnh đã giao chỉ tiêu cụ thể để hội nông dân các cấp giúp đỡ hội viên nông dân xây dựng các gia trại, trang trại Đặc biệt Hội Nông dân Nam Định có sáng kiến thành lập hiệp hội trang trại về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Với sự hoạt động tích cực của Hội Nông dân các cấp trong tỉnh đã góp phần thúc đẩy kinh tế trang trại ở Nam Định phát triển rõ rệt, ví dụ riêng ở huyện Vụ Bản có 19 mô hình kinh tế hộ của hội viên nông dân được công nhận kinh tế trang trại theo tiêu chí mới, đang phát huy được hiệu quả Trong đó có
07 trang trại nuôi gia cầm quy mô 9.000 - 12.000 con gà thịt/lứa nuôi bán công nghiệp, tiêu biểu là trang trại của gia đình ông Triệu Đình Hợi xã Hợp Hưng, ông Lê Văn Quang xã Tam Thanh… Các mô hình trên đều phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế tích cực cho chủ trang trại Phương thức sản xuất mới đã giúp các hội viên nâng cao nhận thức về yêu cầu hợp tác trong sản xuất hàng hoá Vì vậy, Hiệp hội trang trại xã Tân Khánh và Trung Thành đã thu hút trên
40 thành viên tham gia, từng bước phát huy hiệu quả Từ thành công của hiệp hội này đang thu hút các chủ trang trại tham gia hiệp hội, cũng như hình thành các hiệp hội mới phù hợp với ngành nghề sản xuất, kinh doanh
Kinh nghiệm thành lập các hiệp hội trang trại theo tiêu chí phù hợp với ngành nghề, sản xuất kinh doanh đang mang lại hiệu quả kinh tế cho các chủ trang trại, góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội ở địa phương phát triển
- Bài học từ thực tiễn phát huy vai trò của hội nông dân trong phát triển kinh tế trang trại ở Hòa Bình Trong số các tổ chức chính trị - xã hội có
vai trò to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của Hòa Bình phải kể đến là Hội Nông dân các cấp trên địa bàn tỉnh Là tổ chức của giai cấp nông dân, có nhiệm vụ hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên là phương châm
Trang 38hoạt động của hội Những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, UBND các cấp, Hội Nông dân các cấp trong tỉnh đã tích cực tham gia tuyên tuyền, vận động nhân dân phát huy tiềm năng thế mạnh để làm giàu từ đất đai, lao động, vốn tự có của mình, cùng với
sự hỗ trợ của Nhà nước để phát triển kinh tế trang trại Từ đó hình thành nên
cơ cấu kinh tế hộ sản xuất hàng hoá có giá trị kinh tế cao; các mô hình trang trại dù ở loại hình sản xuất nào cũng đều thể hiện tính sản xuất hàng hoá nhằm đưa vào thị trường để tăng thu nhập.
Các cấp Hội Nông dân trong tỉnh đã tích cực giúp hội viên nâng cao kiến thức về mọi mặt, tập huấn chuyển giao kiến thức khoa học kỹ thuật, hỗ trợ tư liệu sản xuất, tạo mọi điều kiện để nông dân đẩy mạnh các phong trào thi đua, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Hiện nay toàn tỉnh có hàng nghìn trang trại được cấp giấy chứng nhận (trang trại tổng hợp, trang trại trồng trọt, trang trại trồng cây lâm nghiệp) Hầu hết các trang trại trên địa bàn đều phát huy tốt, hiệu quả bình quân thu nhập của các trang trại từ 50 triệu đồng đến trên 200 triệu đồng Tiêu biểu như hộ gia đình ông Bùi Văn Chung ở Lạc Thủy phát triển mô hình kinh tế chăn nuôi, trồng rừng, kinh doanh dịch vụ hàng năm cho thu nhập trên 200 triệu đồng; mô hình phát triển kinh tế của gia đình anh Nguyễn Cao Kỳ thôn Rị xã Phú Thành phát triển mô hình kinh tế chăn nuôi bò cho các hộ nông dân nghèo ở các xã vùng sâu nuôi, đã giải quyết công ăn việc làm cho từ 20 đến
30 lao động tại địa phương và giúp nhiều hộ nông dân thoát nghèo
Như vậy, với việc đẩy mạnh khuyến khích phát triển kinh tế trang trại địa bàn nông thôn của tỉnh đã thu hút, tạo việc làm cho nhiều lao động, góp phần tăng tích luỹ cho nông dân giảm dần tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn toàn tỉnh
Tóm lại, hoạt động của Hội Nông dân ở mỗi địa phương trong thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại cho chúng ta những kinh nghiệm quý thông qua các phong trào thi đua, các sáng kiến, do hội phát động
Trang 393 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Bắc Giang nằm ở tọa độ địa lý từ 21007’ đến 21037’ vĩ độ Bắc; từ 105053’ đến 107002’ kinh độ Đông; là tỉnh miền núi có vị trí nằm chuyển tiếp giữa các tỉnh phía Đông Bắc với các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Thủ
đô Hà Nội Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.827,85 km2; phía Nam giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh và phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên và thủ đô Hà Nội So với các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Giang có vị trí địa lý tương đối thuận lợi cho giao lưu hàng hóa với Trung Quốc, với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, nhất
là thủ đô Hà Nội qua quốc lộ 1A và đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn Ngoài ra, Bắc Giang cách không xa các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn của “Tam giác kinh tế phát triển” Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Đó là nơi tập trung tiềm lực khoa học kỹ thuật của cả nước, với hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng Viện nghiên cứu của Trung ương; nơi tập trung đầu mối kinh tế đối ngoại, giao lưu kinh tế, khoa học, công nghệ, thu hút đầu tư của cả nước, nơi tập trung đông dân cư, với tốc độ đô thị hoá nhanh sẽ là thị trường tiêu thụ lớn
về nông sản hàng hoá và các hàng tiêu dùng khác
Với các huyện miền núi có quy mô diện tích bình quân đầu người lớn, địa hình đồi núi thuận lợi cho hình thành các trang trại sản xuất lâm nghiệp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp; các huyện trung du và vùng thấp có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các trang trại chăn nuôi kết hợp với nuôi thủy sản tập trung
3.1.1.2 Khí hậu
Bắc Giang nằm trong vùng đồng Bắc Bộ, khí hậu được chia làm 2 mùa mùa đông và mùa hè Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình năm 22,60C - 23,30C, lượng mua
Trang 40trung bình từ 1500 mm - 1700 mm
3.1.1.3 Nguồn nước
Tỉnh có mạng lưới sông, hồ phân bố tương đối đều vì vậy nguồn nước
tưới, tiêu khá dồi dào
Sông Cầu: Sông Cầu có chiều dài 290 km, đoạn chảy qua địa phận Bắc
Giang có chiều dài 101 km Sông Cầu có hai chi lưu lớn nằm ở hữu ngạn là sông Công và sông Cà Lồ Lưu lượng nước sông Cầu hàng năm khoảng 4,2 tỷ
m3, hiện nay đã có hệ thống thủy nông trên sông Cầu phục vụ nước tưới cho các huyện: Tân Yên, Việt Yên, Hiệp Hòa, một phần thành phố Bắc Giang và huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Sông Lục Nam: Sông Lục Nam có chiều dài khoảng 175 km, đoạn
chảy qua địa phận tỉnh Bắc Giang có chiều dài khoảng 150 km, bao gồm các chi lưu chính là sông Cẩm Đàn, sông Thanh Luận, sông Rán, sông Bò Lưu lượng nước hàng năm khoảng 1,86 tỷ m3 Hiện tại trên hệ thống sông Lục Nam đã xây dựng khoảng 170 công trình chủ yếu là hồ, đập để phục vụ nước tưới cho các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam
Sông Thương: Sông Thương có chiều dài 87 km, có chi lưu chính là
sông Hóa, sông Sỏi và sông Trung Lưu lượng nước hàng năm khoảng 1,46 tỷ
m3, trên sông Thương đã xây dựng hệ thống thủy nông Cầu Sơn phục vụ nước tưới cho huyện Lạng Giang, một phần các huyện: Lục Nam, Yên Dũng và thành phố Bắc Giang
Các hồ lớn: Bắc Giang có khoảng 70 hồ chứa lớn với tổng diện tích
gần 5.000 ha, một số hồ có diện tích và trữ lượng nước khá lớn như: Hồ Cấm Sơn, trữ lượng nước khoảng 307 triệu m3; hồ Suối Nứa, trữ lượng khoảng 6,27 triệu m3; hồ Hố Cao, trữ lượng khoảng 1,151 triệu m3; hồ Cây Đa, trữ lượng khoảng 2,97 triệu m3 và hồ Suối Mỡ, trữ lượng khoảng 2,024 triệu
m3…Tỉnh có các trạm bơm lớn đó là các trạm bơm Cống Bún, Yên Tâp, Tư Mại, Vân Trung… Công tác thuỷ lợi và phòng chống thiên tai được đặc biệt