+ Theo Luật Xây dựng năm 2003: Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi m
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ THEO HƯỚNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI HUYỆN CAO PHONG - TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ THEO HƯỚNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HUYỆN CAO PHONG - TỈNH HÒA BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ THỊ BÌNH
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Trường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các thầy cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, đồng nghiệp và nhân dân địa phương
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Vũ Thị Bình đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Quản lý đất đai, các chú, cô, anh, chị phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, các phòng ban, cán bộ và nhân dân các xã trên địa bàn huyện Cao Phong
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này./
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Trường
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển hệ thống điểm dân cư 3
1.1.1 Những khái niệm về điểm dân cư 3
1.1.2 Phân loại hệ thống điểm dân cư 4
1.1.2.1 Phân loại đô thị 4
1.1.2.2 Phân loại hệ thống điểm dân cư nông thôn 4
1.1.3 Căn cứ pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư 5
1.1.3.1 Hệ thống các văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước 5
1.1.3.2 Hệ thống các tiêu chuẩn ngành 6
1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống điểm dân cư 7
1.1.4.1 Nguyên tắc phát triển không gian đô thị 7
1.1.4.2 Nguyên tắc phát triển hệ thống điểm dân cư nông thôn 8
1.2 Thực trạng và xu thế phát triển hệ thống điểm dân cư một số nước trên thế giới 9
1.2.1 Thái Lan 9
1.2.2 Trung Quốc 9
1.2.3 Hàn Quốc 10
1.2.4 Vương quốc Anh 11
1.2.5 Cộng Hoà SEC 12
1.3 Tổng quan về phát triển khu dân cư ở Việt Nam 14
1.3.1 Một số vấn đề cơ bản về khu dân cư và xu hướng phát triển 14
1.3.1.1 Khái quát chung 14
1.3.1.2 Phân bố không gian các điểm dân cư truyền thống 14
1.3.1.3 Một số hình thức bố cục của các điểm dân cư truyền thống 16
1.3.2 Thực trạng kiến trúc cảnh quan khu dân cư nông thôn 17
Trang 61.3.3 Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển khu
dân cư theo hướng xây dựng nông thôn mới 20
1.3.3.1 Những quy định về quản lý đất đai 20
1.3.3.2 Những quy định về quản lý quy hoạch xây dựng 20
1.3.3.3 Những quy định về định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư 21
1.3.3.4 Định hướng phát triển kiến trúc cảnh quan 24
1.3.4 Một số công trình nghiên cứu về phát triển hệ thống điểm dân cư ở Việt Nam 26
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cao Phong có liên quan đến phát triển hệ thống điểm dân cư 28
2.2.2 Khái quát chung về tình hình quản lý và sử dụng đất liên quan đến khu dân cư 28
2.2.3 Thực trạng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Cao Phong 28
2.2.4 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Cao Phong 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 29
2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 29
2.3.3 Phương pháp phân tích tổng hợp 29
2.3.4 Phương pháp phân loại điểm dân cư 29
2.3.5 Phương pháp tính toán theo định mức 30
2.3.6 Phương pháp chuyên gia 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 31
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường 31 3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
3.1.1.2 Các nguồn tài nguyên 33
3.1.1.3 Thực trạng môi trường 35
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 36
3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 36
3.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 36
3.1.2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 37
Trang 73.1.2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 38
3.1.2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 39
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 44
3.2 Khái quát chung về tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Cao Phong liên quan đến khu dân cư 45
3.2.1 Tình hình quản lý đất đai liên quan đến khu dân cư 45
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Cao Phong năm 2013 49
3.3 Thực trạng hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện Cao Phong 52
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất KDC đô thị và KDC nông thôn 52
3.3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất KDC nông thôn 52
3.3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất KDC đô thị 52
3.3.2 Thực trạng phân bố hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện Cao Phong 53
3.3.3 Phân loại hệ thống điểm dân cư 54
3.3.4 Hiện trạng kiến trúc cảnh quan các công trình trong khu dân cư 60
3.3.4.1 Kiến trúc cảnh quan nhà ở 60
3.3.4.2 Kiến trúc cảnh quan các công trình trong KDC 62
3.4 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư theo hướng xây dựng nông thôn mới huyện Cao Phong đến năm 2020 66
3.4.1 Các dự báo cho định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư 66
3.4.1.1 Căn cứ pháp lý 66
3.4.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 67
3.4.1.3 Quan điểm sử dụng đất KDC 71
3.4.2 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư 71
3.4.2.1 Định hướng phát triển đô thị đến năm 2020 72
3.4.2.2 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư nông thôn 73
3.4.3 Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng trong khu dân cư 77
3.4.4 Giải pháp thực hiện 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết Luận 85
2 Kiến Nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8HĐND Hội đồng nhân dân
KDC Khu dân cư
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NTM Nông thôn mới
THPT Trung học phổ thông
THCS Trung học cơ sở
TN&MT Tài nguyên và môi trường
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng các loại đất năm 2013 49
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất KDC nông thôn năm 2013 52
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất đô thị năm 2013 53
Bảng 3.4 : Sự phân bố các điểm dân cư trên địa bàn huyện Cao Phong 54
Bảng 3.5 : Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư nông thôn huyện Cao Phong năm 2013 theo chỉ tiêu nhóm A 57
Bảng 3.6 : Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư nông thôn huyện Cao Phong năm 2013 theo chỉ tiêu nhóm B 57
Bảng 3.7 : Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư nông thôn huyện Cao Phong năm 2013 theo chỉ tiêu nhóm C 58
Bảng 3.8 : Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư nông thôn huyện Cao Phong năm 2013 theo chỉ tiêu nhóm D 58
Bảng 3.9 : Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư nông thôn huyện Cao Phong năm 2013 theo chỉ tiêu nhóm E 59
Bảng 3.10 : Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư nông thôn huyện Cao Phong năm 2013 60
Bảng 3.11 : Dự báo dân sô huyện Cao Phong đến năm 2020 71
Bảng 3.12 : Định hướng các vị trí quy hoạch đất ở đô thị 72
Bảng 3.13 : Định hướng các vị trí quy hoạch đất ở nông thôn 76
Bảng 3.14: Định hướng phát triển đất cơ sở văn hóa đến năm 2020 79
Bảng 3.15: Định hướng phát triển đất cơ sở y tế đến năm 2020 81
Bảng 3.16: Định hướng phát triển đất cơ sở giáo dục đến năm 2020 82
Bảng 3.17: Định hướng phát triển đất thể dục thể thao đến năm 2020 80
Bảng 3.18: Định hướng phát triển chợ đến năm 2020 83
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển, Đảng và nhà nước đang có rất nhiều biện pháp, chính sách đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp sánh ngang với các cường quốc năm châu Hiện nay đã có khá nhiều khu đô thị, khu công nghiệp mọc lên nhằm thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên với ¾ diện tích nước ta là đồi núi, với nhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc lại có bản sắc, văn hóa riêng và phần lớn dân cư vẫn sinh sống và sản xuất ở khu vực nông thôn Cuộc sống ở nông thôn lại khác xa so với thành thị, đời sống nhân dân vất vả chủ yếu gắn liền với sản xuất nông nghiệp, công cụ sản xuất thô sơ lạc hậu, chủ yếu dựa trên sức lao động của con người đã tạo ra khá nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế
Là một huyện miền núi phía bắc, Cao phong cũng có đầy đủ các đặc điểm như trên, một huyện miền núi nằm giữa tỉnh Hòa Bình có địa hình tương đối hiểm trở được bao bọc bởi các dãy núi đá có độ cao từ 170 – 342 m Huyện Cao Phong bao gồm 1 thị trấn và 12 xã, có vị trí chiến lược quan trọng với tuyến đường huyết mạch quốc lộ 6 chạy qua, là cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị giữa các tỉnh đồng bằng Sông Hồng và thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Tây bắc tổ quốc Nơi đây cũng là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc anh em như Mường, Dao, Kinh…trong đó dân tộc Mường chiếm 75,5% dân số của huyện
Do các đặc trưng của điều kiện tự nhiên và xã hội đó mà hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện Cao Phong phân bố rải rác, manh mún, cơ sở hạ tầng nhìn chung còn yếu và thiếu nhiều… gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản
lý, tuyên truyền của chính quyền địa phương Mặt khác, công tác quy hoạch điểm dân cư hầu như lại chưa được chú trọng dẫn đến sự phân bố dân cư một cách tự phát, không theo quy hoạch Do đó, trong tương lai để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế cần phải có định hướng chiến lược lâu dài về phân bố, phát triển các điểm dân cư nông thôn để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn
Trang 11Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực
trạng và định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư theo hướng xây dựng nông thôn mới huyện Cao Phong – tỉnh Hòa Bình”
2 Mục đích, yêu cầu
2.1 Mục đích
+ Nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc tổ chức sử dụng đất, xây dựng và phát triển hệ thống điểm dân cư đô thị và nông thôn trên địa bàn huyện Cao Phong – tỉnh Hòa Bình
+ Định hướng phát triển mạng lưới điểm dân cư theo hướng xây dựng nông thôn mới, đô thị hoá khu trung tâm, góp phần cải thiện môi trường dân sinh
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển hệ thống điểm dân cư
1.1.1 Những khái niệm về điểm dân cư
- Cơ cấu dân cư:
Cơ cấu cư dân là toàn bộ các điểm dân cư của một nước, một tỉnh trong vùng kinh tế, phân bố trong không gian có phân công liên kết chức năng và hài hoà cân đối trong mỗi điểm và giữa các điểm dân cư trong một đơn vị lãnh thổ (Quyền Thị Lan Phương, 2006)
Như vậy, cơ cấu dân cư là một cấu trúc tổng hợp và tương đối bền vững,
là một hình thái tổ chức của cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu vùng Các điểm dân cư phân biệt với nhau về quy mô và cấp hạng dựa trên sự tổng hợp các mối quan hệ phân công chức năng trong toàn bộ cơ cấu cư dân của quốc gia trong một vùng Vì vậy, trong quy hoạch cơ cấu dân cư phải lưu ý đến các mối quan hệ tương hỗ trong nội tạng cơ cấu của từng điểm dân cư cũng như cơ cấu của toàn bộ trong một nhóm các điểm dân cư cụ thể
- Điểm dân cư đô thị:
Dân cư đô thị là một điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị (Trần Đình Hiếu, 2006)
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương Đô thị bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn
Mỗi nước có quy định riêng về điểm dân cư đô thị Việc xác định quy mô tối thiểu của điểm dân cư đô thị phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội của nước
đó và tỷ lệ phần trăm dân phi nông nghiệp của đô thị đó
- Điểm dân cư nông thôn:
+ Theo quan điểm xã hội học:
Điểm dân cư nông thôn là địa bàn cư tụ có tính chất cha truyền con nối của người nông dân (xóm, làng, thôn, buôn, ấp) đó là một tập hợp dân cư sinh
Trang 13sống chủ yếu theo quan hệ láng giềng, nó được coi là những tế bào của xã hội người Việt từ xa xưa đến nay (Vũ Thị Bình, 2006)
+ Theo Luật Xây dựng năm 2003:
Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm
vi một khu vực nhất định bao gồm trung tâm xã, thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn) được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán và các yếu tố khác
1.1.2 Phân loại hệ thống điểm dân cư
1.1.2.1 Phân loại đô thị
Nhằm phục vụ cho công tác quản lý hành chính về đô thị cũng như để xác định cơ cấu và định hướng phát triển đô thị, đô thị được phân chia thành nhiều loại khác nhau Thông thường việc phân loại đô thị dựa theo tính chất, quy mô và
vị trí của nó trong mạng lưới đô thị quốc gia (Nguyễn Thế Bá, 2004)
Ở nước ta, theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân loại đô thị Hệ thống đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV, loại V Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đảm bảo tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương
1.1.2.2 Phân loại hệ thống điểm dân cư nông thôn
Phân loại điểm dân cư cần căn cứ vào những đặc điểm cơ bản sau: Điều kiện sống và lao động của dân cư; Chức năng của điểm dân cư; Quy mô dân số, quy mô đất đai trong điểm dân cư; Vị trí điểm dân cư trong cơ cấu cư dân; Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 4418 quy định phương pháp đánh giá và phân loại điểm dân cư nông thôn như sau:
* Mạng lưới điểm dân cư hiện trạng được phân thành 3 loại:
Trang 14- Loại 1: Là các khu dân cư chính, tồn tại lâu dài và phát triển gần những làng bản được quy hoạch xây dựng mới hoặc cải tạo để trở thành khu dân cư chính của hệ thống dân cư chung trên địa bàn lãnh thổ toàn huyện, được ưu tiên quy hoạch và xây dựng đồng bộ Các khu dân cư này có các trung tâm sản xuất
và phục vụ công cộng chung của xã
- Loại 2: Là các khu dân cư phụ thuộc, phát triển có giới hạn Các khu dân
cư này có mối quan hệ hoạt động sản xuất và sinh hoạt gắn chặt với các khu dân
cư chính
- Loại 3: Là những xóm, trại, ấp nhỏ không có triển vọng phát triển, không thuận lợi cho tổ chức sản xuất và đời sống, trong tương lai gần cần có biện pháp
và kế hoạch di chuyển theo quy hoạch
1.1.3 Căn cứ pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư
1.1.3.1 Hệ thống các văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương
Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
Luật xây dựng năm 2003 ;
Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020;
Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050;
Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn năm 2010-2020;
Quyết định số 1738/QĐ-TTg ngày 20/9/2010 của Thủ tướng chính phủ thành lập Thường trực Ban chỉ đạo trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
Trang 151.1.3.2 Hệ thống các tiêu chuẩn ngành
Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 về Quy hoạch xây dựng (thay thế Nghị định số 91/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ ban hành Điều lệ quản lý quy hoạch đô thị);
Quyết định số 682/BXD ngày 14/02/1996 của Bộ Xây dựng về việc ban hành Quy chuẩn xây dựng (trong đó có Quy chuẩn quy hoạch xây dựng khu dân
cư nông thôn);
Quyết định số 03/2008/QĐ-BXD ngày 31/3/2008 của Bộ Xây dựng về ban hành quy định nội dung thể hiện bản vẽ, thuyết minh đối với nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng;
Thông tư số 07/BXD/TT-BXD ngày 07/4/2008 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng;
Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
Thông tư số 21/2009/TT-BXD ngày 03/6/2009 của Bộ Xây dựng về lập, thẩm định, phê duyệt, quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn;
Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc ban hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn;
Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng
về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn; Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị
Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011 về Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới
Trang 161.1.4 Những nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống điểm dân cư
1.1.4.1 Nguyên tắc phát triển không gian đô thị
- Tuân thủ quy hoạch vùng lãnh thổ về địa lý và phát triển kinh tế:
Mỗi đô thị đều phải gắn bó với sự phát triển của toàn vùng vì quy hoạch vùng đã cân đối sự phát triển cho mỗi điểm dân cư trong vùng lãnh thổ
- Triệt để khai thác các lợi thế của điều kiện tự nhiên:
Những đặc trưng của cảnh quan thiên nhiên là cơ sở để hình thành cấu trúc không gian đô thị Các giải pháp quy hoạch, đặc biệt là trong cấu trúc chức năng cần phải tận dụng triệt để các điều kiện tự nhiên, nhằm cải thiện nâng cao hiệu quả của cảnh quan môi trường đô thị và hình thành cho đô thị một đặc thù riêng hòa hợp với thiên nhiên ở địa phương đó
- Phù hợp với tập quán sinh hoạt truyền thống sinh hoạch của địa phương
và dân tộc:
Mỗi địa phương, mỗi dân tộc có một phong tục tập quán khác nhau Đó là vốn tri thức bản địa quý giá cần được khai thác và kế thừa để tạo cho mỗi đô thị một hình ảnh riêng của dân tộc và địa phương mình
Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị còn phải hết sức lưu ý đến vấn đề
cơ cấu tổ chức của các khu ở, khu trung tâm đô thị và các khu đặc trưng khác như khu vực danh lam thắng cảnh, khu vực lịch sử, khu vực tâm linh tôn giáo…
- Kế thừa và phát huy thế mạnh của hiện trạng:
Cần phải kết hợp và phát huy mọi tiềm năng giữa cái cũ và cái mới trong
đô thị, giữa truyền thống và hiện đại, đặc biệt chú ý đến công trình kiến trúc có giá trị, các khu phố cổ truyền thống
- Phát huy vai trò của khoa học kỹ thuật tiên tiến:
Thiết kế quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị phải đảm bảo phát huy tốt các mặt về kỹ thuật đô thị, trang thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biết là giao thông đô thị Cần đảm bảo thực hiện các quy chế và chỉ tiêu về kinh tế kỹ thuật xây dựng Phải tuân thủ các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về xây dựng phát triển đô thị, hiện đại hóa các trang thiết bị
kỹ thuật, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc
Trang 17- Tính cơ động và hiện thực của đồ án quy hoạch:
Bất kỳ một đồ án nào khi thiết kế cũng phải đề cập đến khả năng thực thi của nó và trong từng giai đoạn Muốn thực hiện được ý đồ phát triển tốt thì tính
cơ động và linh hoạt của đề án phải rất cao, có nghĩa là trước những hiện tượng đột biết về đầu tư xây dựng hoặc những chủ trương mới của chính quyền về xây dựng đô thị thì hướng phát triển cơ bản và lâu dài của đô thị vẫn được đảm bảo (Nguyễn Thế Bá, 2004)
1.1.4.2 Nguyên tắc phát triển hệ thống điểm dân cư nông thôn
- Dựa trên những cơ sở phương hướng, nhiệm vụ, phát triển sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ), đồng thời phải phục vụ thiết thực cho các kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương
- Phù hợp với quy hoạch bố trí lao động, dân cư trên địa bàn huyện và phải xem xét đến quan hệ với các điểm dân cư lân cận, phải phối hợp chặt chẽ với các quy hoạch chuyên ngành khác có liên quan như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch giao thông, quy hoạch đồng ruộng
- Phải xuất phát từ tình hình hiện trạng, khả năng về đất đai, nhân lực, vốn đầu tư, theo phương châm: “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đồng thời phải phù hợp với điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậy, thủy văn…), phù hợp với các truyền thống, tập quán tiến bộ về sản xuất và sinh hoạt chung của từng vùng, từng dân tộc
- Đảm bảo yêu cầu về quốc phòng, chống bão lụt và bảo vệ môi trường
- Cần xét đến triển vọng phát triển trong tương lai, phải đáp ứng các yêu cầu sản xuất và đời sống trong giai đoạn trước mắt, đồng thời phải có phương hướng quy hoạch dài hạn từ 15 đến 20 năm
- Kết hợp chặt chẽ giữa cải tạo và xây dựng mới, triệt để tận dụng những
cơ sở cũ có thể sử dụng được vào mục đích sản xuất và phục vụ đời sống (Quyền thị Lan Phương, 2006)
Trang 181.2 Thực trạng và xu thế phát triển hệ thống điểm dân cư một số nước trên thế giới
1.2.1 Thái Lan
Thái Lan là một nước nông nghiệp lớn trong vùng Đông Nam Á, là nước
có khối lượng nông sản xuất khẩu khá lớn Cả nước có khoảng 53.000 làng xóm, trải qua nhiều kế hoạch phát triển 5 năm, trong đó chú trọng đến sự phát triển các vùng nông thôn Chính phủ đã xây dựng nhiều dự án phát triển các khu vực nông thôn với sự tham gia của các Bộ, ngành liên quan, nhờ đó mà đời sống của nông dân đã được cải thiện đáng kể
Chính sách kinh tế của Thái Lan là ưu tiên phát triển giao thông, đặc biệt
là giao thông đường bộ, cung cấp nước tưới tiêu trong nông nghiệp và nước sinh hoạt nông thôn Việc đầu tư xây dựng giao thông, thủy lợi nông thôn phần lớn tập trung vào các vùng có tiềm năng lớn trong sản xuất Tuy nhiên vẫn còn một
số làng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, thiếu nước sinh hoạt và chưa có đường giao thông cho ô tô tới khu trung tâm Mặc dù đã phát triển hệ thống giao thông nông thôn trên phạm vi toàn quốc nhưng sự phân hóa giàu nghèo trong nông thôn ngày càng lớn Đó là những vấn đề gây bức xúc mà đến nay Thái Lan vẫn phải đương đầu để vượt qua (Vũ Thị Bình, 2006)
1.2.2 Trung Quốc
Trung Quốc là nước nông nghiệp lâu đời, đất rộng, người đông Dân số trên 1,3 tỷ người, trong đó dân số nông thôn chiếm xấp xỉ 80% Đơn vị cơ sở ở nông thôn Trung Quốc là làng hành chính (traditional village) Làng truyền thống chia thành hai hay nhiều làng hành chính Toàn quốc có trên 800.000 làng hành chính, mỗi làng có 800 - 900 dân Trong chiến lược hiện đại hoá đất nước, việc phát triển các cộng đồng nông thôn có ý nghĩa quan trọng (Nguyễn Thế Bá, 2004) Qua các bước thăng trầm lịch sử phát triển nông thôn Trung Quốc đã tìm
ra được hướng đi thích hợp, đó là con đường công nghiệp hoá nông thôn Hệ thống các xí nghiệp hương trấn khuyến khích hình thành và phát triển thông qua các chính sách của Chính phủ Các xí nghiệp này do những người nông dân lập
ra và trực tiếp quản lý, nó đã góp phần khép kín quá trình sản xuất ở các vùng
Trang 19nông thôn từ việc thu mua nông sản, thực phẩm, các nguyên liệu địa phương tiến tới sản xuất, chế biến và tiêu thụ Các xí nghiệp này thu hút lực lượng lao động chưa có việc làm Những người nông dân rời bỏ nghề nông nhưng không rời bỏ quê hương làng mạc Khẩu hiệu ly nông bất ly hương đã trở thành mô hình hấp dẫn của người nông dân nông thôn Trung Quốc
Hiện nay, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa là một công trình có
hệ thống mang lại lợi ích cho hàng trăm triệu nông dân, đồng thời cũng là một quá trình lâu dài Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu dẫn đường, Chính phủ hỗ trợ, nông dân xây dựng Giải quyết trước mắt vấn đề nước sinh hoạt cho hàng trăm triệu nông dân; cải tạo và xây dựng mới 1,2 triệu km đường giao thông ở nông thôn; hoàn thiện hệ thống dịch vụ y tế khám, chữa bệnh ở nông thôn và chuyển dịch việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn Đồng thời với những công việc trên, trong việc xây dựng nông thôn mới, Trung Quốc còn
áp dụng các biện pháp thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục và y tế khám, chữa bệnh ở khu vực nông thôn (Nguyễn Thế Bá, 2004)
1.2.3 Hàn Quốc
Hàn Quốc là nước có diện tích tự nhiên chủ yếu là đồi núi, địa hình chia cắt mạnh, chỉ có khoảng 22% tổng diện tích đất có thể canh tác Trong quá khứ, làng truyền thống ở Hàn Quốc chủ yếu nằm dọc theo các con sông suối, các thung lũng có địa hình bằng phẳng và các tuyến giao thông chính Điểm dân cư thường nhỏ và nằm rải rác, nhà ở bố trí phân tán không có định hướng từ ban đầu khi mới hình thành điểm dân cư
Hiện nay, việc quy hoạch phát triển làng trực tiếp do cộng đồng dân cư trong làng cùng bàn bạc và xây dựng dưới sự giúp đỡ về kỹ thuật của các nhà chuyên môn do chính quyền cử đến Quan điểm quy hoạch phát triển làng là hiện đại, tiện ích cho sinh hoạt và phát triển sản xuất của người dân nhưng phải đảm bảo duy trì phát triển cảnh quan môi trường và bản sắc văn hóa Các yếu tố cơ bản để đạt mục đích trên là:
Trang 20- Cải tạo cấu trúc không gian của các điểm dân cư trên cơ sở kinh tế xã hội hiện tại, đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường
- Cải tạo tổ chức và nâng cao mức độ phục vụ văn hoá và đời sống
- Nâng cao tiêu chuẩn nhà ở
- Cải thiện cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, nước, công trình phúc lợi,…)
- Giữ gìn ưu thế cơ bản của các điểm dân cư nông thôn là mối quan hệ trực tiếp của chúng với thiên nhiên
Giữ nguyên hiện trạng, cải tạo từng phần là hình thức đặc trưng của quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc Khi dự kiến cải tạo một làng người ta cân nhắc sử dụng một cách hợp lý nhất các công trình hiện có và các nhà ở có giá trị, tìm ra và phát triển mối quan hệ mật thiết giữa cấu trúc hình thái của làng với môi trường tự nhiên xung quanh nó Thành phần cơ bản của một làng cải tạo là trung tâm công cộng, đảm bảo mối liên hệ trực tiếp với các khu nhà ở, khu sản xuất với khu nghỉ ngơi giải trí Giao thông trong làng cũng được lưu ý, đường vận chuyển hàng hoá thường được đặt bên ngoài làng Đường trục chính của làng dẫn tới các đầu mối giao thông khu vực, nối các khu chức năng với nhau và với các khu trung tâm công cộng (Đỗ Đức Viêm, 1997)
1.2.4 Vương quốc Anh
Khác với phần lớn các nước ở lục địa Châu Âu, nông thôn nước Anh hầu như không bị chiến tranh tàn phá, các điểm dân cư nông thôn truyền thống có sức hấp dẫn mạnh mẽ với những người dân sống trong các thành phố lớn và các khu công nghiệp tập trung Mức độ “ôtô hoá” và mạng lưới giao thông rất phát triển, rút ngắn khoảng cách về thời gian từ chỗ ở đến nơi làm việc
Quy mô làng xóm của nước Anh thường từ 300 - 400 người, khoảng
100-150 hộ sinh sống Tuy dân số ít nhưng đầy đủ các công trình văn hoá, xã hội Trong các khu dân cư có đường giao thông dẫn đến từng nhà, không khí trong lành, phong cảnh đẹp và yên tĩnh Chính vì vậy mà nhiều người dân muốn bỏ chỗ
ở không thoải mái trong các căn hộ khép kín nơi đô thị đi tìm chỗ ở lý tưởng nơi miền quê Do sự di chuyển một bộ phận dân cư ở các thành phố về sống ở nông thôn mà cơ sở dịch vụ văn hoá, xã hội của làng quê truyền thống được cải thiện,
Trang 21nó trở thành các khu ngoại ô của đô thị lớn hay khu công nghiệp Đây là xu hướng khác hẳn so với các nước khác trên thế giới
Quy hoạch xây dựng phát triển mạng lưới đô thị và nông thôn của nước Anh được công nhận là thành công nhất thế giới, từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ
19 đã có nhiều nhà kiến trúc sư người Anh nghiên cứu về lĩnh vực này:
William Morris là một kiến trúc sư, nhà nghệ sỹ đã có quan điểm xây dựng đô thị đó là xây dựng phân tán trên toàn bộ đất nước các điểm dân cư nhỏ Ông xác minh cho phương án của mình rằng điện là nguồn động lực cơ bản cho mọi hoạt động, sẽ đi đến tất cả các điểm dân cư trong toàn quốc và đến tận mọi nhà cho nên ở đó sẽ là chỗ ở vô cùng lý tưởng và là nơi làm việc của mọi người Ngoài ra lý luận về xây dựng các điểm dân cư mang tính chất đô thị - nông thôn được đề cao như Thành Phố Vườn, thành phố vệ tinh của kiến trúc sư Eberezen Howard là một cống hiến lớn cho lý luận phát triển đô thị thế giới
Thành phố vườn của Eberezen Howard đề sướng năm 1896 trong đó đề cập tới vấn đề thay đổi cơ cấu tổ chức và phương hướng giải quyết về không gian của thành phố
Lý luận thành phố vườn và thành phố vệ tinh của Eberezen Howard đã có ảnh hưởng lớn trên thế giới, đặt nền tảng phát triển cho lý luận quy hoạch đô thị hiện đại (Đỗ Đức Viêm, 1997)
1.2.5 Cộng Hoà SEC
Nét đặc trưng của các điểm dân cư nông thôn của Cộng hoà Séc là có sẵn một mạng lưới rất dày các điểm dân cư nhỏ bé, manh mún Theo thống kê có 14.234 đơn vị hành chính xã Diện tích trung bình mỗi xã là 8,9 km2 Mỗi xã trung bình có 4 làng thì tổng số điểm dân cư có tới 55.000 – 60.000 điểm Trong
số đó có khoảng 35% là các điểm dân cư có quy mô dân số dưới 500 người Các điểm dân cư ban đầu đơn thuần chỉ tham gia sản xuất nông nghiệp Ngày nay số người làm nông nghiệp chỉ chiếm 18% trong tổng số dân và nông nghiệp đã được cơ giới hoá do vậy sản xuất nông nghiệp tăng lên Dân cư sống ở các vùng nông thôn, làm việc trong các xí nghiệp ở thành phố phần lớn không di chuyển chỗ ở Nguyên nhân là họ đã có nhà ở nông thôn, họ vẫn tận dụng được
Trang 22hoa màu trên mảnh đất vườn và chi phí cho cuộc sống gia đình đỡ tốn kém hơn
ở thành phố Mặt khác, nhờ có mạng lưới giao thông phát triển nên việc đi lại thuận tiện
Theo thống kê, số người làm việc trong các ngành sản xuất và dịch vụ trong thành phố sống trong các KDC cách xa nơi làm việc lên tới 52,2%; số người ở chỗ gần nơi làm việc chỉ chiếm 47,8% (với bán kính khoảng cách dưới
10 km) Cự ly giữa khu làm việc với nơi nhà ở trong phạm vi 60 km người lao động vẫn đi về hàng ngày Vấn đề xây dựng mạng lưới giao thông nông thôn hợp
lí với chất lượng cao và đều khắp rất được chú ý (Đỗ Đức Viêm, 1997)
* Nhận xét chung về thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư các nước trên thế giới
Qua nghiên cứu tình hình phát triển KDC của một số nước trên thế giới từ châu Á sang châu Âu cho ta thấy muốn phát triển nông thôn phải xây dựng cơ sở
hạ tầng và mạng lưới đường giao thông phát triển hợp lý, phải quy hoạch hệ thống làng xã một cách hợp lý cùng với việc xây dựng trung tâm làng xã trở thành hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá và là môi trường thuận lợi cho việc tiếp thu văn minh đô thị vào nông thôn Mặt khác muốn quản lý sự di dân hàng loạt từ vùng nông thôn vào đô thị, ngăn cản sự phình to quá cỡ của các thành phố lớn nhất thiết phải “công nghiệp hoá nông thôn” Công nghiệp hoá nông thôn còn mang lại sự thay đổi lối sống nông thôn truyền thống sang lối sống văn minh đô thị - thành thị hoá nông thôn Để đạt được điều đó, việc phát triển hạ tầng kỹ thuật luôn luôn giữ vai trò hàng đầu, hệ thống giao thông luôn giữ vai trò trọng yếu trong việc phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Trong thời gian gần đây, các nước Đông Nam Á có rất nhiều cố gắng đưa
ra các chương trình phát triển nông thôn để phát triển kinh tế và ổn định xã hội Các vùng nông thôn được đầu tư cơ sở hạ tầng, mạng lưới đường giao thông phát triển, dịch vụ công cộng được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện Tuy vậy, chưa có nước nào đạt được mục tiêu cuối cùng là xoá bỏ đói nghèo, nâng chất lượng sống ở vùng nông thôn ngang với đô thị Do vậy mỗi nước cần phải tìm ra một mô hình phát triển nông thôn phù hợp với điều kiện cụ thể của mình
Trang 231.3 Tổng quan về phát triển khu dân cư ở Việt Nam
1.3.1 Một số vấn đề cơ bản về khu dân cư và xu hướng phát triển
1.3.1.1 Khái quát chung
Theo nhà sử học Nguyễn Quang Ngọc, nghiên cứu về điểm dân cư ở nông thôn trước hết phải nói đến làng Làng vốn là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người Việt xuất hiện từ rất sớm Chính quyền trung ương đã dựa vào làng Việt truyền thống, biến làng thành một đơn vị quan hệ xã hội Qua bao nhiêu biến đổi phức tạp của lịch sử phát triển, làng vẫn tồn tại và vẫn giữ được bản sắc riêng của mình Ngày nay xã là đơn vị hành chính có quyền lực về mọi mặt nhưng làng vẫn là cốt lõi tinh thần và vật chất của xã Như vậy, khi nói đến “Làng” là đã chứa đựng một cách tương đối hoàn chỉnh một đơn vị cấu thành cơ bản ở nông thôn (Đỗ Đức Viêm, 1997)
1.3.1.2 Phân bố không gian các điểm dân cư truyền thống
Sự phân bố các điểm dân cư trên các vùng lãnh thổ nước ta không đồng đều Quá trình hình thành và phát triển điểm dân cư phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu, địa hình ) và điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán của mỗi vùng, trong đó các yếu tố về điều kiện tự nhiên giữ vai trò rất quan trọng Đặc trưng về mạng lưới dân cư trên các vùng thể hiện như sau:
* Vùng trung du và miền núi: Phổ biến ở rìa phía vùng trung du và miền núi phía Bắc, các huyện trung du miền núi của các tỉnh Duyên Hải Tây Nguyên Địa hình cơ bản là đồi gò, núi cao hay vùng cao nguyên rộng lớn là nơi bậc thềm cao ráo, lưới sông suối phân bố tương đối đều, nước sinh hoạt chủ yếu lấy từ giếng khơi hay nguồn nước mặt tuỳ theo vùng Đồng cao thích hợp cho việc trồng cạn Nhà ở thường tập trung trên mặt thềm bằng phẳng, có vườn rộng để trồng cây lâu năm, nhà ở giữa vườn Vì thế nhà ở thưa, thành những xóm nhỏ, khoảng cách giữa các xóm cũng khá xa Tại nơi có đồi gò thì nhà ở tập trung ở chân đồi, gò, để dành đất cho canh tác Nhà ở gần nhau hơn, tập trung hơn, bao quanh đồi nếu là những đồi riêng lẻ, còn nếu là dải đồi rộng giáp núi thì nhà hay bám lấy phía thông ra các cánh đồng Đường đi lối lại dễ dàng nên phần lớn là đường mòn, không có những trục đường rõ rệt, trừ khi làng nằm dọc các dòng
Trang 24sông, suối Đất đai khô ráo, bạc màu, nhiều nơi có đá ong, năng suất cây trồng không cao, kinh tế nông nghiệp không phồn thịnh, nhà ở đơn sơ, nhỏ bé Có nơi
là đất lâm trường, nông trường (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007)
* Vùng đồng bằng: Làng, thôn cũng nằm trên các bậc thềm để tránh lụt, quy mô tương đối lớn, đông vui, các điểm dân cư cách nhau khoảng 2 - 4 km, rải tương đối đều trên diện tích đất đai, mỗi điểm bao gồm 4-6 làng sát cạnh nhau Làng đã có luỹ tre bao quanh, nhà cửa khang trang, đình chùa to, đẹp, giao thông giữa các làng thuận tiện
+ Đồng bằng Bắc Bộ: là nơi tập trung dân cư với mật độ cao nhất trong cả nước Các điểm dân cư nông thôn ở đây đều là các làng xóm được hình thành lâu đời trong quá trình phát triển của lịch sử đất nước, người dân đắp đê, trị thuỷ để sản xuất lúa nước
Về mặt tổ chức xã hội: trong suốt quá trình phát triển lịch sử xã hội các đơn vị cơ sở căn bản vẫn duy trì theo các làng xóm truyền thống nên đa số các điểm dân cư nông thôn đều rất ổn định
Sự phân bố các điểm dân cư nông thôn tương đối tập trung và được liên hệ với nhau bằng mạng lưới đường bộ liên huyện, liên xã được hình thành từ lâu và thường xuyên được tu bổ nâng cấp
Mật độ các điểm dân cư cao, quy mô mỗi điểm dân cư cũng tương đối lớn + Đồng bằng Nam Bộ: Mật độ các điểm dân cư không cao, quy mô không lớn, tính ổn định của các điểm dân cư này cũng thấp hơn vùng đồng bằng Bắc Bộ Các hộ dân cư nông thôn sống ít tập trung nên cũng gây trở ngại cho việc hình thành các mạng lưới công trình dịch vụ, phúc lợi công cộng cho khu vực nông thôn.Về giao thông đi lại đường bộ gặp nhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa lũ, phát triển mạnh giao thông đường thuỷ trên các kênh rạch
+ Vùng duyên hải miền Trung: Là những dải đồng bằng nhỏ ven biển, đất đai kém màu mỡ, năng suất cây trồng thấp, ngoài việc sản xuất nông nghiệp cư dân có thêm nghề đánh cá và làm muối Mật độ các điểm dân cư thưa, quy mô nhỏ Cơ sở hạ tầng kém phát triển, giao thông đi lại khó khăn
Trang 25* Vùng ven sông ven biển: Thường chạy song song với sông, ngăn cách với sông bởi hệ thống đê cao đối với đồng bằng Bắc bộ, rộng và trong làng đồng bằng có nhiều sống đất cao Đây cũng là vùng bị bão lụt đe doạ nhiều, nhưng cũng là nơi đất đai màu mỡ Làng tập trung trên các sống đất cao, nên to lớn và
có hình dáng kéo dài Như thế ưu điểm quần cư không rải đều trên diện tích đất đai mà có hướng chạy dài rõ rệt, hoặc theo dòng sông mới, hoặc theo dòng sông
cũ và quy mô cũng không đều, có nơi rất dày đặc đến trên chục làng, nơi thưa chỉ
có 2 - 3 làng, tuỳ kích thước của sống đất (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007)
Kiểu làng bố trí trên bãi triều nhà thường tập trung thành hai dãy dọc hai
bờ kênh, xây dựng thấp nhưng khá chắc chắn, nếu lợp rạ hay cói thì mái cũng được đè chặt cẩn thận Nhà ở sít nhau, vườn hẹp không như trên các cồn cát Nằm ở các đảo bãi triều, ba bề là sông, một bề là biển, thuỷ triều lên xuống hàng ngày, nước mặn Muốn xây dựng điểm quần cư phải đắp đê bao quanh và đê phải kiên cố vì ảnh hưởng của biển mạnh, đặc biệt là vào mùa mưa bão Các làng nằm rải rác, nhưng do mạng lưới kênh rạch chằng chịt mà làng nào cũng ở ven dòng nước Làng không to, nhưng nhà cửa thì chắc chắn, thường là xây gạch kiên cố đối với miền Bắc và đơn giản, kết cấu xây dựng nhẹ đối với miền Nam
Qua các kiểu quần cư vùng nông thôn nói trên ta thấy quan hệ giữa môi trường tự nhiên và cấu trúc làng xã thể hiện rõ rệt Tại những nơi địa hình thấp, làng nhỏ và rải khá đều, còn tại những nơi cao thấp không đều thì làng tập trung
ở chỗ cao như trên các sống đất, các dải cồn, nhiều làng có quy mô lớn Nơi đất tốt, mật độ điểm quần cư cao có tới 1,5 - 2 điểm/km2 vì dễ thâm canh tăng vụ, còn nơi đất xấu, bạc màu mật độ điểm quần cư thấp 0,3 - 0,5 điểm/km2 (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007)
1.3.1.3 Một số hình thức bố cục của các điểm dân cư truyền thống
- Điểm dân cư dạng phân tán: Các điểm dân cư dạng này thường có quy
mô nhỏ thường gặp ở các vùng núi nơi có mật độ dân số thưa, điều kiện trồng cấy ít thuận tiện, mang đậm nét của hình thức sản xuất tự cung tự cấp
Trang 26- Điểm dân cư theo tuyến: Tiền thân là những điểm dân cư nhỏ bám dọc theo 2 bên đường hoặc bên sông sau đó do quá trình phát triển của dân cư, các điểm dân cư lấn dần ra nối tiếp thành tuyến dài
- Điểm dân cư dạng phân nhánh: Tại giao điểm của các con sông hoặc đường giao thông, các điểm dân cư phát triển theo dạng tuyến gặp nhau hình thành nên dạng phân nhánh
- Điểm dân cư theo dạng mảng: ở những vùng đất trù phú, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, trải qua quá trình phát triển lâu dài nhiều điểm dân cư nhỏ quy tụ lại thành điểm dân cư theo dạng mảng lớn Hình thức này khá phổ biến
ở vùng đồng bằng sông Hồng (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007)
1.3.2 Thực trạng kiến trúc cảnh quan khu dân cư nông thôn
Hầu hết các công trình kiến trúc có giá trị tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam đều nằm ở các làng xã Đó là những ngôi đình làng, ngôi chùa và gần đây là những nhà thờ nằm sau luỹ tre làng, là trung tâm chứa đựng mọi sinh hoạt văn hoá của cộng đồng dân cư sống trong làng xã
Đời sống ngày càng được cải thiện dẫn đến sự thay đổi trong bộ mặt nhà
ở, đến trang trí nội thất của người dân vùng nông thôn Tỷ lệ nhà ngói, nhà kiên
cố rất cao, ước khoảng trên 80%, số hộ nông dân đã có nhà riêng lợp ngói, nơi có
tỷ lệ cao có thể tới 95%, tại nông thôn hiện có các nhà mái bằng 2-3 tầng kiên cố,
có kiến trúc gần gũi với thành thị
Hiện nay bên cạnh các loại nhà ở dân gian, truyền thống như đã nêu trên; Kiến trúc nông thôn các vùng có các dạng nhà hình ống, thường ở những trục đường chính, những khu đất giãn dân, những khu ven đô thị Nhà ở có xu hướng chuyển dịch ra gần các trục đường chính thuận tiện cho giao thông và kinh doanh dịch vụ Bố cục không gian nhà theo chiều dọc, ảnh hưởng nhiều phố thị Loại nhà trên góp phần cải thiện điều kiện ở, phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ của một bộ phận dân cư, song nó làm mất đi nét dân gian Đây là một giải pháp tình thế phát sinh do quá trình phát triển không có kiểm soát của một bộ phận dân
cư nông thôn để tiếp ứng với nền kinh tế thị trường
Trang 27* Các tiêu chí phân loại nhà:
- Nhà kiên cố: Gồm các loại nhà biệt thự, nhà xây nhiều tầng hoặc các căn
hộ trong nhà xây nhiều tầng, nhà lắp ghép cấu kiện bê tông cốt thép nhiều tầng, nhà xây mái bằng
- Nhà bán kiên cố: Gồm ngôi nhà có tường xây, ghép gỗ, khung gỗ và có mái lợp bằng ngói, tôn, tấm lợp hoặc xây dựng bằng các vật liệu tương đương
- Nhà khung gỗ lâu bền, mái lá: Gồm những ngôi nhà có khung chịu lực làm bằng gỗ có niên đại sử dụng trên 15 năm, mái lợp bằng tranh, tre, nứa, lá, giấy dầu
- Nhà đơn sơ: các loại nhà ở không thuộc một trong hai nhóm trên
Các công trình công cộng ở làng không chỉ là cổng làng, đường làng, giếng làng mà còn là nhà văn hoá, nhà uỷ ban, nhà trẻ, trường học, trạm xá…ngoài ra là các không gian, các quỹ vật thể khác như: làng, chợ làng và cây
đa, bến nước…
Nhìn chung, các công trình kiến trúc công cộng trong làng xã thường không to lớn trừ một số công trình đặc bịêt (nhà thờ và một số đình chùa của những làng có điều kiện đặc biệt)
Ngày nay cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và sự tăng trưởng dân số tuyệt đối tại khu vực nông thôn, kiến trúc nông thôn đã được phát triển với 4 nội dung chính:
+ Ngói hoá và kiên cố hoá nhà ở nông thôn bằng nguồn lực tự có của nhân dân thay thế dần dần nhà tranh vách đất
+ Phát triển các công trình dịch vụ công cộng như trường học, nhà trẻ, đường làng ngõ xóm và các công trình tiện ích công cộng
+ Cải tạo, trùng tu, nâng cấp các công trình di sản văn hoá, tôn giáo, tưởng niệm…
+ Xây dựng phát triển các thị tứ mới ở các vùng nông thôn giữ vai trò là trung tâm xã, tiểu vùng hoặc cụm xã, là đầu mối thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở khu vực nông thôn theo hướng: “ly nông bất ly hương” đã tạo
ra một bộ mặt kiến trúc mới cho khu vực nông thôn
Trang 28Vào những năm cuối của thập kỷ 70, hưởng ứng Nghị quyết IV và sau này
là Nghị quyết V của Ban chấp hành Trung ương Đảng, cùng với việc quy hoạch đồng bộ xây dựng địa bàn cấp huyện theo các lĩnh vực khác nhau như bố trí lại sản xuất, xây dựng công trình hạ tầng, các công trình phục vụ công cộng, nhà ở cũng được nghiên cứu theo hướng “ cải tạo mạng lưới dân cư trên địa bàn huyện, tổ chức đời sống ở nông thôn” công việc nghiên cứu về nhà ở lúc này chia làm hai loại:
+ Nhà ở tại huyện lỵ, thị trấn đưa ra một số mẫu “thiết kế giống các thành phố”
+ Nhà ở tại các làng xã nông thôn thì chỉ chú trọng đến nhà ở nông thôn đơn thuần nông nghiệp
Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về nhà ở nông thôn cho nhiều vùng khác nhau nhưng trong đó có đồ án nhà ở cho vùng cói Thái Bình của nhóm tác giả Trần Trọng Chi: “Đồ án đã nghiên cứu giải quyết đồng bộ, có hệ thống việc tổ chức cuộc sống cộng đồng ở nông thôn vùng cói bắt đầu từ ngôi nhà ở, với giếng nước, nhà vệ sinh, sân vườn, chuồng chăn nuôi rồi đến các công trình văn hoá…” Sau Nghị quyết 10, nông dân được nhận khoán ruộng và hoàn toàn tự chủ trong sản xuất kinh doanh Tất cả những cơ sở vật chất phục vụ cho việc sản xuất theo hộ gia đình cho đến nay được phát huy hết tác dụng, nhà ở nông thôn lại phải nâng cấp cải tạo mở rộng để phù hợp với hướng sản xuất, nhà ở không gian kiểu mới - kiểu phi nông nghịêp
Thực tiễn trong vài năm gần đây, nhà ở nông thôn đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ kể cả về số lượng và chất lượng, nhiều làng xã phát triển kinh
tế nhiều thành phần, thu nhập cao đã xây dựng nhiều nhà ở 2 - 3 tầng Nhiều nhà kiểu biệt thự đầy đủ tiện nghi, không gian sinh hoạt ngăn nắp hợp lý trên toàn bộ khuôn viên đất ở đã tạo những nét mới làm thay đổi bộ mặt kiến trúc làng quê truyền thống
Trang 291.3.3 Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển khu dân
cư theo hướng xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình phát triển, các điểm dân cư (đô thị và nông thôn) ở nước
ta phần lớn được hình thành và phát triển một cách tự phát gây tình trạng xây dựng lộn xộn, manh mún, không thống nhất, không đồng bộ, sử dụng đất không hiệu quả làm khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước đối với đất khu dân cư đồng thời cũng gây khó khăn cho việc tu sửa cải tạo và xây dựng mới Chính vì vậy, hiện nay Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản về quy định và quản lý trong quy hoạch và phát triển khu dân cư
1.3.3.1 Những quy định về quản lý đất đai
Quản lý đất đai theo quy hoạch đã được ghi cụ thể trong Luật Đất đai hiện hành Trong phạm vi điểm dân cư nông thôn bao gồm các loại đất phân theo các mục đích sử dụng như: đất ở; đất nông nghiệp (đất vườn, ao thả cá trong khuôn viên của hộ gia đình và có thể có một số đất nông nghiệp khác nằm xen kẽ trong dân cư, do UBND xã quản lý sử dụng); đất lâm nghiệp (nếu có); đất chuyên dùng; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng (nếu có)
Theo quy định của Luật Đất đai, Nhà nước thống nhất quản lý các loại đất
và giao cho hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức sử dụng theo đúng mục đích và
1.3.3.2 Những quy định về quản lý quy hoạch xây dựng
Quy hoạch xây dựng cho khu vực nông thôn là công việc được triển khai thực hiện đối với từng điểm dân cư nông thôn kể cả điểm dân cư nông thôn là trung tâm xã, thị tứ, trung tâm cụm liên xã Công tác quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn bao gồm quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn mới
và quy hoạch cải tạo xây dựng phát triển các điểm dân cư nông thôn hiện có
Trang 30Phương án quy hoạch xây dựng và phát triển một điểm dân cư nông thôn mới, hoặc quy hoạch cải tạo xây dựng một điểm dân cư nông thôn hiện có, sau khi đã được phê duyệt sẽ trở thành căn cứ để triển khai công tác xây dựng Đồng thời nó cũng là cơ sở pháp lý cùng với hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước làm căn cứ để quản lý công tác cải tạo, xây dựng và kiểm soát quá trình thay đổi làm cho điểm dân cư được phát triển theo đúng ý đồ đã được xác định Việc quản lý quy hoạch trước hết là đối với việc sử dụng đất đai cho thiết
kế đường xá, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật
và môi trường nông thôn Cần phải quản lý tốt và triển khai cải tạo hoặc xây dựng từng bước các phần đất này theo đúng mục đích mới có thể thực hiện được mục tiêu phát triển lâu dài các điểm dân cư
Đối với đất ở của từng hộ gia đình trong điểm dân cư hiện có, khi tiến hành quy hoạch cải tạo nếu có những kiến nghị về điều chỉnh đất đai cần có phương án đền bù thoả đáng khi trưng dụng đất phục vụ lợi ích công cộng hoặc dồn đổi giữa các chủ sử dụng đất với nhau Để thực thi các giải pháp này cần có
sự phân tích vận động đối với chủ sử dụng đất thông qua hoạt động của cơ quan chính quyền và các tổ chức xã hội khác
1.3.3.3 Những quy định về định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư
* Định hướng phát triển đô thị
- Ngày 23/01/1998 Thủ tướng chính phủ có Quyết định số TTg phê duyệt định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 Ngày 07 tháng 04 năm 2009, Thủ tướng chính phủ có Quyết định số 445/QĐ-TTg Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 Theo đó: + Hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 phát triển theo từng giai đoạn bảo đảm sự kế thừa các ưu điểm của định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1998, phù hợp với các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo từng thời kỳ và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 3110/1998/QĐ-+ Định hướng phát triển chung không gian đô thị cả nước theo hướng bảo đảm phát triển hợp lý các vùng đô thị hóa cơ bản giữa 6 vùng kinh tế - xã hội quốc gia, giữa miền Bắc, miền Trung và miền Nam; giữa phía Đông và phía Tây; gắn với việc phát triển các cực tăng trưởng chủ đạo và thứ cấp quốc gia, đồng thời bảo đảm phát triển theo mạng lưới, có sự liên kết tầng bậc theo cấp, loại đô thị + Từ nay đến 2015 ưu tiên phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng đô thị lớn và các khu kinh tế tổng hợp đóng vai trò là cực tăng trưởng chủ đạo cấp quốc gia; từ năm 2015 đến 2025 ưu tiên phát triển các vùng đô thị hóa cơ bản, giảm thiểu sự phát triển phân tán, cục bộ; giai đoạn từ năm 2026 đến năm
2050 chuyển dần sang phát triển theo mạng lưới đô thị
+ Định hướng tổ chức không gian hệ thống đô thị cả nước: Mạng lưới đô thị, các đô thị trung tâm các cấp được phân bố hợp lý trên cơ sở 6 vùng kinh tế xã hội quốc gia; Các đô thị lớn, cực lớn; Các chuỗi và chùm đô thị
+ Định hướng tổ chức hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị quốc gia; Bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái đô thị; Định hướng phát triển kiến trúc cảnh quan đô thị…
- Ngày 05/5/2004 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số TTg phê duyệt định hướng phát triển nhà ở đến năm 2020 Theo đó, khuyến khích phát triển nhà ở căn hộ chung cư cao tầng một cách hợp lý phù hợp với điều kiện cụ thể của từng đô thị để góp phần tăng nhanh quỹ nhà ở, tiết kiệm đất đai, tạo diện mạo và cuộc sống văn minh đô thị theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
76/2004/QĐ-Nhà ở đô thị phải được xây dựng phù hợp với quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chẩn và các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng nhà ở do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành; hình thành các tiểu khu nhà ở, khu dân cư tập trung vừa
và nhỏ, phân bố hợp lý, không tập trung dân cư qúa đông và các thành phố lớn Phấn đấu đạt chỉ tiêu bình quân 15m2 sàn/người vào năm 2010 và 20m2sàn/người vào năm 2020 (Bộ Xây Dựng, 2004)
Trang 32* Định hướng khu dân cư nông thôn
- Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn khẳng định quan điểm: “Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ
và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt”
- Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn năm 2010-2020 Theo đó, mục tiêu chung: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật
tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới) và đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới) Thời gian thực hiện Chương trình: từ năm 2010 đến năm 2020, trên địa bàn nông thôn toàn quốc
Phát triển nhà ở nông thôn phải đảm bảo phù hợp với điều kiện sản xuất, đặc điểm tự nhiên và tập quán sinh hoạt của từng vùng, sử dụng có hiệu quả quỹ đất sẵn có và khuyến khích phát triển nhà nhiều tầng để tiết kiệm đất, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang đất ở
Trang 33Khuyến khích huy động nội lực của hộ gia đình, cá nhân khu vực nông thôn tự cải thiện chỗ ở kết hợp với sự giúp đỡ hỗ trợ của cộng đồng, dòng họ, các thành phần kinh tế
Phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành chương trình hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số và các hộ thuộc diện chính sách Phấn đấu hoàn thành việc xóa bỏ nhà ở tạm (tranh, tre, nứa, lá) tại các khu vực nông thôn vào năm 2020 Diện tích nhà ở bình quân tính theo đầu người đạt 14m2 sàn/người, nhà ở nông thôn có công trình phục vụ sinh hoạt và sản xuất dịch vụ phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường
Dự kiến đến năm 2020, diện tích nhà ở bình quân đạt 18m2/người, tất cả các điểm dân cư nông thôn đểu có hệ thống cấp, thoát nước đảm bảo tiêu chuẩn quy định
1.3.3.4 Định hướng phát triển kiến trúc cảnh quan
Ngày 03/9/2002 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 112/2002/QĐ-TTg phê duyệt định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2020 Theo đó:
- Ở khu vực đô thị
Phát triển và hình thành tổng thể kiến trúc ở khu vực đô thị trên cơ sở phân bố và phát triển hệ thống đô thị theo Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 1998
Tổng thể kiến trúc của mỗi vùng và đô thị phải có bản sắc riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế, tự nhiên, dân số - xã hội, trình độ khoa học, kỹ thuật, truyền thống văn hóa lịch sử của địa phương và các đồ án quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Tổng thể kiến trúc của mỗi đô thị phải kết hợp hài hoà giữa cải tạo với xây dựng mới; đổi mới môi trường văn hóa kiến trúc truyền thống, nhưng không làm mất đi bản sắc riêng
Hình thành kiến trúc đô thị phải coi trọng nguyên tắc gắn công trình riêng
lẻ với tổng thể kiến trúc của đô thị; đảm bảo kết hợp hài hoà giữa quá khứ với
Trang 34hiện tại và tương lai Mọi việc cải tạo, xây dựng mới trong đô thị phải tuân thủ các quy định về quản lý kiến trúc và quy hoạch xây dựng đô thị
- Ở khu vực nông thôn
Phát triển kiến trúc tại các làng, xã có liên quan trực tiếp với cơ cấu quy hoạch chung của các đô thị phải được dựa trên quy hoạch chi tiết xây dựng, có sự tham gia của dân cư và cộng đồng; lưu ý giữ lại những di sản kiến trúc, thiên nhiên của làng, xã; bổ sung những chức năng còn thiếu, kết hợp hiện đại hóa kết cấu hạ tầng Công trình mới được tạo lập phải tuân thủ các quy định về quản lý kiến trúc và quy hoạch xây dựng đô thị
Hình thành tổng thể kiến trúc tại các thị tứ, trung tâm xã, cụm xã trên cơ sở tuân thủ các quy định của quy hoạch xây dựng; khuyến khích phát triển các công trình xây dựng ít tầng, mái dốc, kế thừa hình thức kiến trúc truyền thống, gắn bó hài hoà với khung cảnh thiên nhiên, phù hợp với điều kiện khí hậu của địa phương Kiến trúc làng mạc được thực hiện theo quy hoạch tổng thể đến khuôn viên ngôi nhà của từng gia đình Xây dựng nông thôn đồng bộ về kiến trúc lẫn hạ tầng
kỹ thuật đảm bảo môi trường sinh thái và phát triển bền vững Phát triển không gian kiến trúc nông thôn cần phù hợp với sự phát triển kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, chăn nuôi, phát triển ngành nghề truyền thống, kinh tế, du lịch, văn hóa Trong những năm tới, kiến trúc nông thôn được hình thành và phát triển theo 3 hướng sau:
Hướng hòa nhập vào không gian đô thị: xu hướng này diễn ra cùng với quá trình phát triển và mở rộng không gian đô thị ra các vùng ngoại ô, làm cho một số điểm dân cư nông thôn bị mất đi, một số khác sắp xếp lại, số còn lại được bảo tồn trong cơ cấu quy hoạch đô thị
Hướng phát triển kiến trúc với việc hình thành các thị trấn, thị tứ giữ vai trò là trung tâm xã, cụm xã, các thị trấn, thị tứ gắn với vùng nông nghiệp trước khi xây dựng đều phải lập quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết
Hướng cải tạo, chỉnh trang và phát triển kiến trúc tại các làng xã: Việc phát triển kiến trúc tại các làng, xã thuộc các vùng nông nghiệp cần lưu ý bảo tồn được các truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán riêng biệt của từng địa phương
Trang 35- Phát triển kiến trúc các thể loại công trình
Phát triển kiến trúc các thể loại công trình theo phương châm: thích dụng,
mỹ quan, bảo vệ môi trường sinh thái và kinh tế, đáp ứng nhu cầu tinh thần và vật chất của con người, xã hội; đảm bảo tính dân tộc và tính hiện đại, quán triệt nguyên tắc phát triển bền vững, tạo lập môi trường sống tốt đẹp cho mọi người, phát huy hiệu quả tổng hợp kinh tế, xã hội và môi trường trong thiết kế, thi công
và quản lý sử dụng công trình, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, vươn lên đạt trình độ tiên tiến quốc tế
Kiến trúc nhà ở phải đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng môi trường cư trú, thoả mãn các yêu cầu sinh hoạt đa dạng của dân cư; phấn đấu đến năm 2020 thực hiện được các chỉ tiêu cơ bản phát triển nhà ở
Kiến trúc công cộng phải thể hiện tổng hợp các yếu tố quy hoạch, cảnh quan đô thị, văn hóa nghệ thuật, kỹ thuật đạt tới trình độ tiên tiến trong khu vực Kiến trúc công nghiệp phải coi trọng việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến trong
và ngoài nước đối với tổ chức không gian, môi trường sản xuất và quản lý Các công trình công nghiệp lớn phải đạt trình độ tiên tiến trên thế giới
Nâng cao chất lượng thiết kế điển hình kiến trúc; tiêu chuẩn hoá cấu kiện xây dựng; thực hiện công nghiệp hóa và thương mại hóa cung cấp sản phẩm cho thị trường xây dựng
Kiến trúc công trình ngầm phải được coi trọng trong quy hoạch, thiết kế xây dựng; quán triệt nguyên tắc kết hợp sử dụng trong thời bình và thời chiến; hình thành hệ thống không gian công cộng ngầm gắn kết với trên mặt đất
1.3.4 Một số công trình nghiên cứu về phát triển hệ thống điểm dân cư ở Việt Nam
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển khu dân cư và những quy định của Nhà nước về quản lý, quy hoạch xây dựng phát triển hệ thống điêm dân cư, nhiều nhà khoa học đã có những ứng dụng nghiên cứu trong lĩnh vực này
Ngay từ những năm 70, việc quy hoạch đô thị và nông thôn Bộ Xây dựng
đã có nhiều đồ án quy hoạch cải tạo phát triển các điểm dân cư trên địa bàn vùng huyện trong xu hướng cải tạo từng bước các điểm dân cư nông thôn, các chòm
Trang 36xóm nhỏ được gộp lại tạo thành các điểm dân cư tương đối lớn, tập trung, thuận tiện cho việc xây dựng các công trình công cộng phúc lợi
Mô hình “nhà ở và lô đất gia đình vùng nội đồng đã triển khai ở xã Đại Áng - huyện Thanh Trì - Hà Nội, mô hình giải quyết 2 vấn đề: Tiết kiệm và tận dụng đất đai có hiệu quả, cải thiện điều kiện vệ sinh ở gia đình và thôn xóm Bên cạnh đó còn có một số dự án về quy hoạch dân cư nông thôn nước ta
đó là:
- Quy hoạch huyện Đông Hưng - Thái Bình: Trong phương án quy hoạch này, từ 1.400 điểm dân cư trên toàn huyện được tổ chức lại còn khoảng 100 điểm dân cư, tổ chức thành 7 cụm xã Ở đó, xây dựng trạm, trại, kho tàng, xây dựng các công trình hạ tầng kiến trúc không gian ở được xây dựng hợp lý phù hợp tạo điều kiện cho phát triển dân cư trên địa bàn
- Quy hoạch sản xuất và xây dựng huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An (1997): Theo đồ án này, toàn bộ 360 điểm dân cư sẽ được bố trí gọn lại còn 54 điểm có quy mô từ 1000 - 5000 người, cứ 2 đến 3 điểm dân cư đủ dân số để xây dựng một trung tâm các công trình văn hoá phục vụ công cộng như: nhà trẻ, trường học, thư viện, nhà văn hoá… nhằm phục vụ tốt nhất cho đời sống nhân dân
- Năm 2008 có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Vũ Thị Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội thực hiện tại huyện Chí Linh - tỉnh Hải Dương Đề tài đã xây mạng lưới dân cư huyện Chí Linh đồng thời xây dựng 2
Bình-mô hình quy hoạch chi tiết trung tâm xã (Vũ Thị Bình, 2008)
Nhìn chung, những nghiên cứu ứng dụng này đã có ý nghĩa rất lớn trong quy hoạch mạng lưới dân cư của mỗi địa phương Tuy nhiên tính khả thi của các
đồ án này còn chưa cao, quy hoạch vẫn ở tầm khái quát, phần lớn chưa có quy hoạch chi tiết cho từng điểm dân cư Do vậy các điểm dân cư được bố trí vẫn manh mún, phân tán, chưa hợp lý, chưa đồng bộ, công tác xây dựng kiến trúc cảnh quan khu dân cư phát triển một cách tự phát có thể theo quy hoạch hoặc không theo quy hoạch gây khó khăn cho việc bố trí các công trình công cộng phục vụ cho các khu dân cư
Trang 37CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tiến hành trên địa bàn huyện Cao Phong - tỉnh Hòa Bình
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các điểm dân cư, thực trạng kiến trúc, cảnh quan nhà ở, các công trình công cộng, môi trường sinh thái và tình hình sử dụng đất trong khu dân cư đô thị và khu dân cư nông thôn huyện Cao Phong
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cao Phong có liên quan đến phát triển hệ thống điểm dân cư
- Điều kiện tự nhiên, bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, các nguồn tài nguyên
- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm: tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực trạng phát triển các ngành kinh tế; dân số, lao động, việc làm và thu nhập; thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
2.2.2 Khái quát chung về tình hình quản lý và sử dụng đất liên quan đến khu dân cư
- Tình hình quản lý đất đai liên quan đến khu dân cư
- Hiện trạng sử dụng các loại đất trong khu dân cư
2.2.3 Thực trạng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Cao Phong
- Hiện trạng sử dụng các loại đất trong khu vực đô thị và nông thôn
- Thực trạng phân bố mạng lưới dân cư
- Thực trạng kiến trúc cảnh quan trong xây dựng và phát triển điểm dân cư
- Phân loại hệ thống điểm dân cư
2.2.4 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Cao Phong
- Các dự báo cho định hướng phát triển mạng lưới dân cư
- Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư
- Xác định các giải pháp thực hiện
Trang 382.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nội dung trên của đề tài, chúng tôi đã sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu sau:
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
- Nguồn số liệu thứ cấp: Thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan nhà nước, các sở, các phòng ban trong huyện, các thư viện, trung tâm nghiên cứu Một số tài liệu cần thu thập: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện và các xã, niên giám thống kê của huyện, báo cáo QHSDD của huyện, tình hình phân bố dân cư, lao động trên địa bàn huyện, hệ thống các bảng biểu thống kê, kiểm kê đất đai, các văn bản pháp luật có liên quan đến tình hình sử dụng đất khu dân cư
- Nguồn số liệu sơ cấp: Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn những người có liên quan, thu thập số liệu trực tiếp tại
13 xã,thị trấn trên địa bàn huyện Cao Phong và khảo sát bổ sung thực địa
2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm EXCEL để xử lý Số liệu về thống kê đất đai
- Sử dụng các phần mềm Microstations để xây dựng bản đồ hiện trạng, bản đồ định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư
2.3.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Sau khi đã thu thập được các thông tin, tư liệu cần thiết cho đề tài, tiến hành thống kê, phân loại tài liệu theo từng phần nhất định để xử lý các dữ liệu phục vụ cho xây dựng báo cáo tổng hợp Sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp
và phân tích số liệu điều tra Kết quả của phương pháp này là xây dựng các bảng biểu cần thiết cho báo cáo tổng hợp Việc phân loại hệ thống điểm dân cư sẽ là căn cứ để đưa ra những định hướng cho phát triển hệ thống điểm dân cư trong tương lai một cách hợp lý
2.3.4 Phương pháp phân loại điểm dân cư
Dựa trên các tiêu chí của tiêu chuẩn Việt Nam số 4418 năm 1987 hướng dẫn lập đồ án quy hoạch xây dựng huyện và các tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Chính phủ về việc ban hành
Trang 39Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; căn cứ vào tình hình phân bố mạng lưới dân cư của huyện Cao Phong và đặc điểm, tính chất, quy mô của các điểm dân cư chúng tôi lựa chọn 5 chỉ tiêu cơ bản để phân loại điểm dân cư nông thôn như sau:
- Chỉ tiêu nhóm A: Đánh giá vai trò, ý nghĩa của điểm dân cư
- Chỉ tiêu nhóm B: Đánh giá quy mô diện tích của điểm dân cư
- Chỉ tiêu nhóm C: Đánh giá quy mô dân số của các điểm dân cư
- Chỉ tiêu nhóm D: Đánh giá chất lượng hệ thống giao thông trong điểm dân cư
- Chỉ tiêu nhóm E: Đánh giá mức sống của dân cư theo thu nhập và tỷ lệ
hộ nghèo của điểm khu dân cư
2.3.5 Phương pháp tính toán theo định mức
Tính toán nhu cầu sử dụng đất trong tương lai của các điểm dân cư theo quy định của Nhà nước và pháp luật
2.3.6 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện báo cáo tổng hợp đã có sự tham khảo ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực xây dựng kiến trúc cảnh quan, các chuyên gia về quy hoạch sử dụng đất… Nội dung báo cáo, định hướng phát triển khu dân cư đựơc các chuyên gia xem và góp ý kiến bổ sung
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Huyện Cao Phong là huyện mới được chia tách từ huyện Kỳ Sơn theo nghị định số 95/2001/NĐ- CP ngày 12/12/2001 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/3/2002
Là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hoà Bình, cách thành phố Hòa Bình gần 20km;
Phía Bắc giáp thành phố Hoà Bình và huyện Đà Bắc
Phía Đông giáp huyện Kim Bôi
Phía Tây và Tây nam giáp huyện Tân Lạc
Phía Đông nam giáp huyện Lạc Sơn
Sơ đồ 3.1: Vị trí địa lý huyện Cao Phong – tỉnh Hòa Bình
Tổng diện tích tự nhiên là 25.527,83 ha, gồm 12 xã và 1 thị trấn Cao Phong nằm trên trục đường Quốc lộ 6A chạy qua các xã Thu Phong, Bắc Phong,