1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

16 5K 38

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCA, MỞ ĐẦU...1 B, NỘI DUNG...2 I, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH...2 1, Cạnh tranh không lành mạnh...2 2, Quảng cáo nhằm

Trang 1

MỤC LỤC

A, MỞ ĐẦU 1

B, NỘI DUNG 2

I, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 2

1, Cạnh tranh không lành mạnh 2

2, Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 3

II, QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 4

1, Quảng cáo so sánh 4

2, Quảng cáo bắt chước 5

3, Quảng cáo gây nhầm lẫn 6

4, Các hành vi quảng cáo vi phạm pháp luật khác 7

5, Hình thức xử lí đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 8

III, THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VỀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MANH 9

IV, BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG QUY ĐỊNH VỀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 13

1, Bất cập trong quy định của pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 13

2 Hướng hoàn thiện quy định pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 15

III KẾT LUẬN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

DANH MỤC PHỤ LỤC THAM KHẢO 18

A, MỞ ĐẦU

Trong thời đại công nghệ số, quảng cáo đóng vai trò rất quan trọng đối với

Trang 2

các doanh nghiệp Việc hàng hóa, dịch vụ có được người tiêu dùng biết đến và

sử dụng hay không phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược quảng cáo của từng doanh nghiệp Xét dưới góc độ người tiêu dùng, quảng cáo giúp họ nắm bắt được sản phẩm, thông tin thị trường, để từ đó đưa ra những quyết định tiêu dùng hợp lý Rất tiếc là trong thời gian qua, vì nhiều động cơ khác nhau, một số quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh vẫn được một số đài, báo truyền phát, đăng tải gây thiệt hại đối với người tiêu dùng Nguy hiểm hơn là những loại quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn liên quan đến các loại hàng hóa, dịch vụ trong lĩnh vực y tế như thuốc, mỹ phẩm, vaccine, thiết bị y tế, thực phẩm chức năng và các dịch vụ khám chữa bệnh, giải phẫu thẩm mỹ…Luật Cạnh tranh 2004 được xem là một bước tiến quan trọng, từng bước tiệm cận với hệ thống pháp luật quốc tế Tuy nhiên, sau khi Luật đi vào thực tế, nhiều vấn đề gây tranh cãi và đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng cũng như của các bên liên quan, nhất là trong hoạt động quảng cáo Để tìm hiểu sâu

thêm vấn đề, em xin chọn đề bài : “Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam

về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” Trong quá trình làm bài do

hiểu biết còn hạn chế, nên bài làm của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến góp ý của thầy cô để hướng nhìn của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!

B, NỘI DUNG

I, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH

MẠNH VÀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH

MẠNH

1, Cạnh tranh không lành mạnh

1.1, Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh

Luật cạnh tranh Việt Nam đưa ra định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh tại khoản 4 điều 3 như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.”

Bên cạnh các nguyên tắc định tính về cạnh tranh không lành mạnh, Luật cạnh tranh cũng đưa ra danh sách các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm tại Điều 39, bao gồm: chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trong kinh doanh; gièm pha doanh nghiệp khác; gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử của hiệp hội; bán hàng đa cấp bất chính; các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh do Chính phủ quy định

Trang 3

1.2, Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh do các

chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện, nhằm mục đích lợi nhuận Trên thị trường cạnh tranh, mỗi hành vi kinh doanh của doanh nghiệp cũng chính là hành

vi cạnh tranh trong tương quan với doanh nghiệp khác Để thu lợi nhuận doanh nghiệp buộc phải cạnh tranh với đối thủ trong cùng lĩnh vực nhằm thu hút khách hàng về phía mình Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường

Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi có tính chất đối lập,

đi ngược lại các thông lệ tốt, các nguyên tắc đạo đức kinh doanh,, có thể hiểu là những quy tắc xử sự chung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường Đặc điểm này phần nào thể hiện nguồn gốc tập quán pháp của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh được hình thành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế xã hội

Thứ ba, hành vi cạnh tranh bị kết luận là không lành mạnh và cần phải ngăn

chặn khi nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho các đối tượng khác Đặc điểm này mang nhiều ý nghĩa về tố tụng và đặc biệt được chú ý khi việc xử

lí cạnh tranh không lành mạnh tại nhiều quốc gia được tiến hành trong khuôn khổ kiện dân sự và gắn liền với yêu cầu bồi thường thiệt hại

Theo Luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành, một hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh phải thỏa mãn ba điều kiện trên, nhưng theo em, trong tương lai chúng ta nên bỏ đặc điểm thứ ba Mục đích của Luật cạnh tranh là để bảo vệ cạnh tranh, chỉ cần có đặc điểm thứ nhất và đặc điểm thứ hai thì có thể coi đó

là hành vi nhằm cạnh tranh không lành mạnh mà không cần phải gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại, bởi việc xác định nó trên thực tế không dễ dàng, hơn nữa, việc quy định như vậy có thể dẫn đến việc bỏ sót các hành vi có bản chất là hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhưng lại không có đặc điểm thứ ba.

2, Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

2.1, Khái niệm quảng cáo

Theo Điều 2, Luật Quảng cáo:

“ Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự, chính sách xã hội, thông tin cá nhân.” Trong đó:

Dịch vụ có mục đích sinh lợi là dịch vụ nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức,

cá nhân cung ứng dịch vụ; dịch vụ không có mục đích sinh lợi là dịch vụ vì lợi ích của xã hội không nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân cung ứng dịch

Trang 4

vụ

Sản phẩm quảng cáo bao gồm nội dung và hình thức quảng cáo được thể

hiện bằng hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng

và các hình thức tương tự

2.2, Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một hành vi trong số các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được ghi nhận tại Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2014 : “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.”

Theo quy định Luật cạnh tranh 2014 không có quy định nào định nghĩa cụ thể quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh nhưng tại Điều 45 có liệt kê danh

sách những hành vi bị cấm khi các doanh nghiệp hoạt động quảng cáo: “1 So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; 2 Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng; 3 Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung sau đây: a) Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công; b) Cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; c) Các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác 4 Các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm.” Các nhà lập pháp vẫn hay đưa ra một danh sách liệt kê các hành

vi thay cho một khái niệm cụ thể, việc liệt kê này cụ thể hóa những hành vi bị coi là quảng cáo nhằm cạnh tranh không lanh mạnh Tạo cơ sở pháp lí cho việc thực hiện và kiểm tra hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp

II, QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỀ

QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

1, Quảng cáo so sánh

Có thể hiểu một cách đơn giản quảng cái so sánh là quảng cáo trong đó có nội dung so sánh giữa hàng hóa, dịch vụ, khả năng kinh doanh của một doanh nghiệp với đối tượng cùng loại của một hay một số doanh nghiệp cạnh tranh khác Quảng cáo so sánh cũng là nội dung truyền thống của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh, quá trình phát triển và hoàn thiện các quy định về quảng cáo so sánh phản ánh những đặc thù của quá trình phát triển pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh nói chung

Trong suốt thời kì dài, hành vi quảng cáo so sánh bị cấm tuyệt đối Tuy nhiên, hành vi quảng cáo so sánh từ chỗ bị cấm đã dần được chấp nhận trong thực tiễn thương mại Tính chất không lành mạnh của hành vi quảng cáo so sánh

Trang 5

được đánh giá theo hai hướng: lợi dụng tên tuổi, uy tín, lợi thế cạnh tranh của người khác hoặc công kích, hạ thấp uy tín đối thủ cạnh tranh

Quảng cáo so sánh là dạng quảng cáo nhăm cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong pháp luật cạnh tranh của rất nhiều nước tuy nhiên, nếu pháp luật đa số các nước có cách đánh giá thống nhất về các hành vi quảng cáo gian dối và quảng cáo bắt chước, thì đối với quảng cáo so sánh hiện có một số quan điểm trái ngược giữa việc cấm triệt để hay cho phép một cách hạn chế quảng cáo so sánh Việt Nam là một trong số ít các quốc gia có quy định cấm quảng cáo so sánh trong pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên khoản 1 Điều 45 chỉ cấm hành vi quảng cáo so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ Tính chất trực tiếp thể hiện ở chỗ nội dung quảng cáo đề cập một loại hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh hoặc đối thủ cạnh tranh đã cung cấp hàng hóa, dịch vụ đó Sự

đề cập có thể bằng lời nói, chữ viết hoặc các yếu tố khác cấu thành nội dung quảng cáo như hình ảnh, âm thanh…, khiến người tiếp cận quảng cáo nhận thức biết về hàng hóa, dịch vụ và đối thủ cạnh tranh Những trường hợp ám chỉ, suy diễn sẽ không được coi là thuộc phạm vi so sánh trực tiếp

Về bản chất cạnh tranh không lành mạnh, như đã phân tích ở trên, hành vi quảng cáo so sánh có thể bị xem xét dưới góc độ lợi dụng uy tín hoặc công kích, gièm pha đối thủ cạnh tranh

Về nội dung, quảng cáo so sánh có thể bao gồm quảng cáo so sánh về giá và quảng cáo so sánh về đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ như tính năng, công dụng, chất lượng…

Về hình thức, quảng cáo so sánh có thể bao gồm so sánh tương đối và so sánh tuyệt đối Tuy nhiên hiện nay do quy định pháp luật chưa rõ ràng, còn nhiều quan điểm khác nhau về việc so sánh tuyệ đối ( sản phẩm tốt nhất, chất lượng nhất…) có được coi là so sánh trực tiếp với nghĩa đề cập tất cả các doanh nghiệp khác kinh doanh trong ngành hay không

2, Quảng cáo bắt chước

Khoản 2 Điều 5 Luật cạnh tranh quy định về quảng cáo bắt chước như sau:

“Cấm doanh nghiệp bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng”

Quảng cáo là sản phẩm sáng tạo, do đó việc sao chép nội dung, cách thức sản phẩm quảng cáo cũng đặt ra vấn đề về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiê, việc bảo hộ quyền tác giả chỉ quan tâm đến việc chống sao chép tác phẩm, có nghĩa là bắt chước tuyệt đối Một quảng cáo bắt chước được sử dụng để quảng cáo một hàng hóa, dịch vụ khác so với quảng cáo mẫu, do đó không thể là một sự bắt chước y hệt Thêm vào đó, trên thực tê người bắt chước thường có xu hướng thay đổi một số chi tiết nhất định nhằm tránh ấn tượng quá lộ liễu Do đó, một lần nữa trong trường hợp này pháp luật về cạnh tranh lại được sử dụng để giải quyết các nội dung liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

Trang 6

Tính chất không lành mạnh của quảng cáo bắt chước thể hiện chủ yếu ở việc lợi dụng thành quả đầu tư, lợi thế cạnh tranh của người khác, gây nhầm lẫn cho khác hàng Ảnh hưởng nhầm lẫn phát sinh từ quảng cáo bắt chước như sau:

- Nhầm lẫn về nguồn gốc: Khi tiếp nhận các quảng cáo giống nhau, người xem có thể ngộ nhận rằng hai loại hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo thuộc cùng một nhà sản xuất

- Nhầm lẫn về liên hệ: Rộng hơn trường hợp trên, ngay cả khi không nhầm lẫn hai loại hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo thuộc cùng một nguồn gốc, người tiếp nhận quảng cáo vẫn có thể cho rằng giữa hai nhà sản xuất có mối liên quan, liên hệ trong kinh doanh, thuộc cùng một tập đoàn, có quan hệ đối tác hay ủy thác, nhượng quyền…

Ngay cả khi người tiêu dùng không cho rằng giữa hai chủ thể quảng cáo có mối liên hệ kinh doanh tập trung, liên tục, họ vẫn có thể hiểu việc sử dụng quảng cáo tương tự thể hiện rằng một bên cho phép bên kia thực hiện theo thỏa thuận trong thời gian nhất định

Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh truyền thống còn xem xét quảng cáo bắt chước ở khía cạnh đặc thù là bắt trước mù quáng Đây là trường hợp đặc biệt của hành vi lợi dụng, trong đó tính không trung thực, không thiện chí thể hiện ở chỗ người bắt chước không có sự nghiên cứu, đầu tư, sáng tạo, mà chỉ biết sao chép mọt cách đơn giản thành quả của người khác

3, Quảng cáo gây nhầm lẫn

Quy định về quảng cáo gây nhầm lẫn tại khoản 3 Điều 45 Luật cạnh tranh, theo đó cấm doanh nghiệp đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung sau đây:

“- Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, người sản xuất, người gia công, nơi gia công;

- Cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành;

- Các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác.”

Hành vi quảng cáo thứ ba được quy định tại Điều 45 là dạng hành vi quảng cáo vi phạm về canh tranh không lành mạnh phổ biến nhất Việc điều chỉnh quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn động chạm đến vấn đề cốt lõi của quảng cáo với tư cách là loại hình thông tin đặc biệt Đó là vấn đề về tính trung thực của thông tin Xét trên một khía cạnh, cả hai loại quảng cáo so sánh và quảng cáo bắt chước được nêu ở phần trên đều thể hiện khía cạnh gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh điều chỉnh hai dạng hành vi này bằng những chế định riêng do tác động đặc thù của nó lên đối tượng khá là những đối thủ cạnh tranh Ở chế định thứ ba này, đối tượng tác động của hành vi quảng cáo trực tiếp đặc ra là khách hàng và người tiêu dùng

Trang 7

nói chung, những người tiếp nhận quảng cáo và hành động theo những định hướng từ nội dung quảng cáo Không thể phủ nhận tác động rõ ràng của quảng cáo lừa dối hoặc gây nhầm lẫn đến các đối thủ cạnh tranh của nhà quảng cáo Khi khách hàng mua sản phẩm dựa trên thông tin sai lạc và vi vậy chịu thiệt hại kinh tế thì đồng nghĩa với việc đối thủ cạnh tranh đã mất những khách hàng này Có nhiều quan điểm khác nhau trong viêc phân biệt giữa quảng cáo gian dối

và quảng cáo gây nhầm lẫn Trên thực tế, đa số các quốc gia đã chọn giải pháp quy định hai dạng hành vi gian dối và hành vi gian dối và gây nhầm lẫn cùng trong một điều luật, với cách thức và chế tài xử lí giống nhau và Việt Nam cũng

đi theo hướng này

- Quảng cáo gian dối có thể hiểu là quảng cáo đưa ra nội dung thông tin sai lệch so với thức tế khách quan từ đó lừa dối người tiêu dùng

- Quảng cáo gây nhầm lẫn không đưa ra thông tin sai nhưng nội dung không đầy đủ, không rõ ràng hoặc bỏ sót, từ đó tạo sự hiểu lầm cho người tiêu dùng Điều 45 đã liệt kê tương đối nhiều nội dung quảng cáo có thể gian dối hoặc gây nhầm lẫn Tổng kết từ thực tiễn, các nội dung quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn rơi vào một trong các trường hợp sau đây:

- Gian dối, gây nhầm lẫn về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; bao gồm cả giá cả, chất lượng, đặc điểm, khả năng và tình trạng cung ứng;

- Gian dối, gây nhầm lẫn về uy tín, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp;

- Gian dối, gây nhầm lẫn về bản chất của giao dịch ( giao dịch mua bán nhưng làm người tiêu dùng hiểu nhầm thành tặng cho, sản phẩm sử dụng miễn phí…)

4, Các hành vi quảng cáo vi phạm pháp luật khác

Nội dung cuối cùng của Điều 45 tại khoản 4 quy định cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm Dễ thấy đây là một điều khoản “quét” điển hình theo đúng “truyền thống” của pháp luật Việt Nam Các điều khoản này thường được đưa vào để khắc phục thiếu sót có thể xảy ra trong khâu soạn thảo đồng thời lường trước được nhưng vấn đề có thể phát sinh Tuy nhiên, quy định này có thể làm phát sinh một số vướng mắc như: trong trường hợp các hành vi quảng cáo nhất định đã được văn bản pháp luật khác điều chỉnh, không nhất thiết phải một lần nữa đưa chúng vào phạm vi áp dụng của luật cạnh ttranh; trong nhiểu trường hợp, quảng cáo vi phạm pháp luật không đồng nhất với quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; quy định như trên có thể gây ra thêm những chồng lần trong lĩnh vực vốn đã có nhiều chồng lấn phức tạp này, chẳng hạn như giữa phạm vi điều chỉnh của Luật cạnh tranh với các văn bản pháp luật khác, giữa thẩm quyền xử lý của cơ quan cạnh tranh với thẩm quyền xử lý của các cơ quan khác [ ]

Trang 8

5, Hình thức xử lí đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Theo quy định tại điều 33 Nghị định 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh thì hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bị

xử lý như sau:

Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo sau đây: a) So sánh trực tiếp hànghóa, dịch vụ của mình với hànghóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; b) Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng

Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung: Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công; cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác

Ngoài việc bị phạt tiền quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Khoản 4 Điều 28 đó là: tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm

cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm; buộc cải chính công khai

So với mức tiền phạt được quy định tại Điều 35 Nghị định 120/2005 thì Điều 33 Nghị định 71/2014 đã có sự điều chỉnh theo hướng tăng mức tiền phạt lên khá cao Điều này có ý nghĩa tăng sự răn đe đối với những hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phù hợp với thực tiễn hiện nay Trong nghị định 120/2005 thì có hai mức tiền phạt đó là từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng và từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng

Ngoài ra, đối với những hành vi có dấu hiệu tội phạm quảng cáo gian dối theo điều 168 BLHS ( thiệt hại lớn, đã bị xử phạt hành chính…) Cục quản lý cạnh tranh sẽ chuyển toàn bộ hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

Khâu cuối cùng của quá trình xử lý các vụ việc cạnh tranh: Trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên Hội đồng cạnh tranh rường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Thương mại

Trang 9

III, THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VỀ

QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MANH

Thực tế cho thấy, sau hơn 10 năm đi vào cuộc sống, Luật Cạnh tranh 2004 vẫn thể hiện vai trò một cách mờ nhạt và hiệu quả đem lại chưa được như kỳ vọng Số liệu khảo sát năm 2013 của Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) cho thấy, trong số 500 doanh nghiệp được khảo sát, chỉ có 1,6% doanh nghiệp "hiểu rất rõ" Luật Cạnh tranh, trong khi đó có tới 92,8% doanh nghiệp (DN) "chưa hiểu rõ" về luật này Bên cạnh đó, Luật Cạnh tranh cũng bộc lộ nhiều điểm còn bất cập và khó khăn khi đưa vào thực tế áp dụng Trong đó có hoạt động quảng cáo, với tư cách là một phần vô cùng quan trọng đối với hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp Minh chứng là hoạt động quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đang ngày có xu hướng gia tăng Số vụ việc

bị điều tra liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tăng từ 20 vụ (năm 2010) lên tới 33 vụ (năm 2011) và 37 vụ (năm 2012), đứng đầu danh sách trong số các vụ việc điều tra về hành vi cạnh tranh quảng cáo không lành mạnh

Nguyên nhân phần lớn là do các DN mặc dù nắm rõ luật pháp nhưng vẫn cố tình vi phạm nhằm đạt được mục tiêu marketing của mình Nghịch lý nữa là một khi các DN lớn bị kiện hoặc điều tra về các vi phạm về cạnh tranh, các hệ thống thông tin đại chúng thường được lôi vào cuộc Cùng với việc rầm rộ đưa tin, thương hiệu và thông tin về sản phẩm/ dịch vụ của DN bị kiện xuất hiện khắp mọi nơi Người tiêu dùng tăng mức độ nhận diện thương hiệu và sản phẩm của doanh nghiệp bị kiện Lợi ích cho việc marketing dưới hình thức này thường áp dụng cho trường hợp doanh nghiệp có hành vi quảng cáo so sánh hoặc bắt chước

Hơn nữa, năng lực quản lý của Cục Quản lý cạnh tranh hiện vẫn còn yếu và thấp, cho nên số lượng các vụ việc do Cục khởi xướng còn hạn chế Thậm chí, sự nhận biết về các quy định của Luật Cạnh tranh đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng còn hạn chế do đó những vụ vi phạm nhỏ, xuất hiện trên các kênh phát sóng địa phương sẽ bị bỏ ngỏ, thiếu sự quản lý

Các vụ việc thực tế điển hình

* Vụ việc thứ nhất

Năm 2006, Viettel đã bị VNPT tố cáo quảng cáo vi phạm pháp luật, cạnh tranh không lành mạnh khi quảng cáo trên báo của tỉnh Bắc Cạn, Bình Thuận… Trong công văn gửi Bộ Bưu chính Viễn thông, VNPT, Sở Thương mại và

Du lịch tỉnh Bắc Cạn nêu rõ, số báo Bắc Cạn ra ngày 6/1/2006 có đăng tin quảng cáo cho dịch vụ viễn thông của Viettel, trong đó có bảng so sánh với giá cước dịch vụ của VNPT để khách hàng thấy được ưu điểm dịch vụ của mình

"Viettel đã vi phạm nghiêm trọng các quy định về quảng cáo so sánh trong Luật

Trang 10

cạnh tranh Tuy nhiên, do họ mới vi phạm lần đầu nên chúng tôi chưa đề xuất phương án xử lý mà chỉ phản ánh lên các cấp có thẩm quyền", Giám đốc Bưu điện Bắc Cạn Nguyễn Thành Lưu khẳng định

Như vậy, có thể thấy quảng cáo ở trên chính là quảng cáo so sánh hàng hóa dịch vụ, là quảng cáo so sánh trực tiếp và đã vi phạm Luật Cạnh tranh

* Vụ việc thứ hai

Masan từng có quảng cáo về mì Omachi Quảng cáo này gây ấn tượng cho người tiêu dùng ăn mì gói bị nóng nhưng mì Omachi làm từ khoai tây, không lo

bị nóng Quảng cáo này có thể làm người tiêu dùng nghĩ rằng mì Omachi toàn bằng khoai tây, trong khi lượng khoai tây trong mì chiếm tỉ lệ bao nhiêu, 1%, 10%, 50% hay 99% thì Masan không nói rõ Những lời quảng cáo đánh trúng tâm lý tiêu dùng khiến giá cả và số lượng tiêu thụ loại mì này tăng theo cấp số nhân Các phương tiện truyền thông từng xôn xao việc nhãn hiệu mì Omachi quảng cáo 100% làm từ khoai tây, nhưng bên trong bao bì của gói mì, lượng bột khoai tây chỉ có 5% Điều này cũng khiến người tiêu dùng hoang mang một thời gian, rồi mọi việc lại chìm vào quên lãng Bên cạnh đó, PGS TS Nguyễn Duy Thịnh cũng cho rằng, các loại mì ăn liền chỉ được pha chế một lượng bột khoai tây nhất định Ngoài thành phần đó, có thể nhận thấy hàm lượng thành phần của

mì khoai tây so với mì khác không có sự khác biệt Thực tế, khoai tây cũng giống như loại củ quả cung cấp tinh bột khác, đều gây ra cảm giác nóng cho người sử dụng

Theo PGS TS Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, đại học Bách Khoa Hà Nội, để sản xuất mì gói, ngoài bột mì, nhà sản xuất còn đưa những loại bột khác vào thay thế như: ngô, sắn, thậm chí là bột gạo, bột từ củ như khoai tây Nhưng tất cả các loại bột ấy đều thua kém bột mì

vì hàm lượng gluten thấp

Theo Ths Trần Ngọc Hà, chuyên gia truyền thông - maketing, các nhà sản xuất đưa ra những khái niệm để người tiêu dùng nhầm lẫn, hay còn gọi là đánh tráo khái niệm, khiến người tiêu dùng tưởng rằng chất lượng tốt, nhưng thực ra, thành phần tốt thực lại rất ít

Công nghệ sản xuất mì gói thì ai cũng biết, đều làm từ bột mì và các chất phụ gia khác, nhưng nếu chỉ có một thành phần rất nhỏ như vậy mà quảng cáo nhiều lên thành một thông điệp quảng cáo không bình thường thì đây là đánh tráo khái niệm, làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn, để tin rằng mì được làm từ 100% khoai tây Bên cạnh đó, clip quảng cáo mì khoai tây Omachi cho người tiêu dùng nhận thức là ngoại trừ mì này, sử dụng loại khác đều bị nóng? Điều đó cho thấy quảng cáo này dựa trên sự sợ hãi của người tiêu dùng

Tóm lại, theo em, hành vi quảng cáo trên là quảng cáo gây nhầm lẫn cho khách hàng theo khoản 3 Điều 45 với thông tin gây nhầm lẫn như em đã phân tích ở trên

* Vụ việc thứ ba

Ngày đăng: 10/09/2015, 17:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

8,  Cục Quảng lý cạnh tranh, Báo cáo thường niên năm 2012, Bảng Thống - Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
8 Cục Quảng lý cạnh tranh, Báo cáo thường niên năm 2012, Bảng Thống (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w