Đánh Giá Khu Hệ Cá Vùng Cảnh Quan Khu Vực Dự Án Hành Lang Xanh, Tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 1Vực Dự Án Hành Lang Xanh, Tỉnh Thừa Thiên Huế
Dự án Hành lang xanh: Báo cáo kỹ thuật số 5
Trang 3Các bản đồ địa lý trong tài liệu này không hàm ý của các tác giả hoặc WWF về địa vị pháp lý của bất kỳ quốc gia, lãnh thổ, vùng hoặc thẩm quyền hay ranh giới nào
Tác giả, người biên soạn và WWF không chịu trách nhiệm cho bất kỳ một sai sót nào của tài liệu
do biên dịch tài liệu này sang các ngôn ngữ khác
Xuất bản: WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam
Bản quyền: WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam và Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế
Việc tái bản bất kỳ phần nào của ấn phẩm này vì mục đích giáo dục, bảo tồn hay phi lợi nhuận khác
có thể được thực hiện không cần xin phép trước mà chỉ nêu đầy đủ nguồn cung cấp thông tin
Sao chép các ảnh tư liệu cho bất kỳ mục đích nào không được phép khi không có sự đồng ý của tác giả và người gữ bản quyền
Tái bản để kinh doanh hay vì mục đích thương mại khác không được thực hiện nếu không xin phép trước các nhà giữ bản quyền
Trích dẫn: Võ Văn Phú, Trần Thuỵ Cẩm Hà và Hồ Thị Hồng (2006) Đánh giá khu hệ cá vùng cảnh quan rừng Hành Lang Xanh, Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế, Việt Nam Báo cáo số 5:
Dự án Hành Lang Xanh, WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam và Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế
Biên tập: Chris Dickinson, Văn Ngọc Thịnh và Danny Lenain
Ảnh trang bìa: WWF © WWF Greater Mekong
Tài liệu được lưu dữ tại:
Dự án Hành lang xanh – WWF WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh Thừa Thiên Huế 39 Xuân Diệu
18 Đoàn Hữu Trưng, Thành phố Huế Quận Tây Hồ
www.huegreencorridor.org www.panda.org/greatermekong
Trang 4DỰ ÁN HÀNH LANG XANH: GÓP PHẦN VÀO MỤC TIÊU BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TOÀN CẦU TẠI MỘT CẢNH QUAN HIỆU SUẤT
BÁO CÁO KỸ THUẬT SỐ 5:
Đánh Giá Khu Hệ Cá Vùng Cảnh Quan Hành Lang Xanh, Tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam
Tác giả:
Võ Văn Phú 1, Trần Thuỵ Cẩm Hà 1, Hồ Thị Hồng 1
Cơ quan/ tổ chức:
1 Khoa Sinh học, Đại học Khoa học Huế
Báo cáo này là kết quả của Dự án “Hành lang xanh: Góp phần vào mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu tại một cảnh quan hiệu suất”, Dự án nhận được sự tài trợ của Ngân hàng thế giới - Quỹ môi trường toàn cầu, Số: TF052526, WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam, Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Thừa Thiên Huế và SNV - Tổ chức phát triển Hà lan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 6
TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN HÀNH LANG XANH 7
TÓM TẮT 8
1.0 GIỚI THIỆU 9
1.1 Tổng Quan và Lịch Sử Nghiên Cứu Cá 9
2.0 MỤC TIÊU VÀ MỤC ĐÍCH KHẢO SÁT 9
2.1 Mục Tiêu của Dự Án 9
2.2 Mục Đích của Các Chuyến Khảo Sát 9
3.0 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 Kế Hoạch Thu Mẫu 10
3.2 Mô Tả Khu Vực Nghiên Cứu 11
3.2.1 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Nhất - Khe Lạnh, Xã Dương Hoà, Huyện Hương Thuỷ .11
3.2.2 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Hai - Chà Măng, Xã Thượng Lộ, Huyện Nam Đông 11
3.2.3 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Ba - La Ma, Xã Hương Sơn, Huyện Nam Đông 12
3.2.4 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Tư - Trà Vệ, Xã Hương Nguyên, Huyện A Lưới 12
3.2.5 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Năm – Xã A Roàng, Huyện A Lưới 13
3.2.6 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Sáu - Hồng Vân, Huyện A Lưới 14
3.3 Phương Pháp Chọn và Thu Mẫu 14
4.0 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16
4.1 Thu Thập Mẫu Vật 16
4.2 Thành Phần Các Loài Cá 16
4.3 So Sánh Các Địa Điểm Điều Tra 17
4.4 Các Loài Cá Kinh Tế 17
4.5 Các Phân Tích về Loài Ưu Thế 18
4.6 Các Loài Quan Trọng 19
4.6.1 Các Loài Quý Hiếm 19
4.6.2 Loài Mới Được Công Bố 19
5.0 THẢO LUẬN 19
5.1 So Sánh với Các Khu Hệ Cá Khác 19
5.2 Các Mối Nguy Cơ Đe Doạ đối với Công Tác Bảo Tồn 21
5.3 Kết Luận 21
5.4 Một Số Đề Xuất 22
6.0 TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 23
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.0 Vùng dự án Hành lang xanh 10
Hình 2.0 Bản đồ thu mẫu cá khu vực Hành lang xanh 15
DANH SÁCH BẢNG Bảng 1.0 Lịch trình chuyến đi khảo sát thực địa nghiên cứu cá 10
Bảng 2.0 Toạ độ các điểm nghiên cứu 13
Bảng 3.0 Địa điểm thu mẫu và số mẫu vật thu được ở mỗi địa điểm điều tra, khu vực Hành lang xanh, tỉnh Thừa Thiên Huế 16
Bảng 4.0 Cấu trúc khu hệ cá khu vực Hành lang Xanh chỉ ra số lượng họ, giống và loài và tỷ lệ của chúng 17
Bảng 5.0 Các loài cá kinh tế ở khu vực Hành lang xanh 18
Bảng 6.0 Hai loài cá quý hiếm ở khu vực Hành lang xanh (Sách Đỏ Việt Nam, 2000) 19
Bảng 7.0 Các loài cá mới được công bố trong vòng vài năm trở lại đây 19
Bảng 8.0 So sánh thành phần loài cá khu vực Hành lang xanh với các khu hệ cá phụ cận 20
Bảng 9.0 Hệ số gần gũi (S) của cá khu vực Hành Lang Xanh so với các vùng phụ cận 20
DANH SÁCH MỤC LỤC Phụ lục 1.0 Các loại cá ở cảnh quan Hành lang xanh 24 Phụ lục 2.0 Ảnh các loài cá đã thu được ở khu vực Hành Lang Xanh, Tỉnh Thừa Thiên Huế 32
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ
GEF Quỹ Môi trường toàn cầu
HLX Dự án Hành lang xanh
ST & TNSV Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
IUCN Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới
BTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
VQG Vườn Quốc gia
NN & PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này là một trong hợp phần của Dự án Hành lang xanh nhằm đáp ứng các mục tiêu
bảo tồn toàn cầu trong một cảnh quan hiệu suất Dự án này là một sáng kiến cách đây 4 năm
bắt đầu từ tháng 6 năm 2004 do WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện Dự án nhận được sự tài trợ của Ngân hàng thế giới
- Quỹ môi trường toàn cầu (TF052526), WWF, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và SNV - Tổ chức phát triển Hà Lan
Chúng tôi xin được nhân cơ hội này bày tỏ lời cảm ơn đến các cơ quan đoàn thể và các cá nhân đã giúp đỡ, hỗ trợ và tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình khảo sát thực địa tại Thừa Thiên Huế và viết báo cáo tại Hà Nội Dự án Hành lang xanh tại Thừa Thiên Huế, đặc biệt Ông Hoàng Ngọc Khanh – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Giám đốc Dự án Hành lang xanh tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Ts Chris Dickinson - Cố vấn trưởng Dự án, Ông Văn Ngọc Thịnh - Điều phối viên Dự án, Ông Lê Văn Đông, cô Trần Thị Thanh Tâm - Cán bộ văn phòng
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn ông Tyson Roberts, chuyên gia Ngư loại học; ông Bùi Hữu Mạnh và ông Nguyễn Trần Vỹ, các thành viên tham gia Dự án Hành lang xanh tại TT Huế đã đóng góp nhiều ý kiến trong quá trình thu thập, phân tích và chụp ảnh mẫu vật
Chúng tôi cám ơn các cán bộ Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế, các Hạt kiểm lâm A Lưới, Nam Đông và Hương Thủy; Các cán bộ Lâm trường Hương Giang, Trạm kiểm lâm Trà Lệnh; Các anh ở Đồn biên phòng 637, Đồn 627 ở A Lưới đã tận tình giúp đỡ nhóm khảo sát và cung cấp các thông tin có liên quan Chúng tôi cảm ơn sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, cán bộ dẫn đường ở các địa phương Nam Đông, Hương Thủy và A Lưới, nơi chúng tôi đến cắm trại, điều tra và thu thập mẫu vật
Chúng tôi xin chân thành cám ơn Phòng Bảo tàng động vật có xương sống của Viện Sinh thái
và Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ quốc gia, Bảo tàng Động vật Quốc gia
Hà Nội Đặc biệt chúng tôi chân thành cảm ơn GS.TS Mai Đình Yên, Đại học Quốc gia Hà Nội là chuyên gia đầu ngành về ngư loại học, đã tư vấn và giám định kiểm tra các mẫu vật về
cá
Chúng tôi xin bày tỏ sự quan tâm giúp đỡ về phương tiện, thiết bị, thời gian và điều kiện làm việc, phân tích mẫu vật của Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học, Ban Chủ nhiệm khoa Sinh học, các cán bộ Phòng Tài nguyên - Môi trường của Trường Đại học Khoa học Huế
Trang 9
TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN HÀNH LANG XANH
Dự án Hành lang xanh: đáp ứng các mục tiêu bảo tồn toàn cầu trong một cảnh quan hiệu suất
là một sáng kiến 4 năm bắt đầu từ tháng 6 năm 2004 do WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện Dự án nhận được sự tài
trợ của Ngân hàng thế giới - Quỹ môi trường toàn cầu, WWF, ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và SNV - Tổ chức phát triển Hà Lan Mục tiêu chính của dự án là nhằm bảo vệ và duy trì đa dạng sinh học cao của các khu rừng trong cảnh quan Hành lang xanh Khu vực này
đã được xác định thông qua các đánh giá bảo tồn cảnh quan có hệ thống như là một trong những ưu tiên bảo tồn cao nhất ở vùng Trung Trường Sơn vì nó hỗ trợ cho một số khu rừng thấp còn lại cuối cùng ở Việt Nam và là nơi cư trú của nhiều loài đặc hữu và đang bị đe dọa như Sao la (Tordoff et al., 2003; MARD, 2004)
Mục tiêu chính của dự án là nhằm bảo vệ và duy trì giá trị bảo tồn cảnh quan Hành lang xanh, một khu vực mang tính quan trọng toàn cầu hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng do khai thác và săn bắt phi pháp và các mối de dọa phát triển không bền vững Mục tiêu thứ yếu là thiết lập một mô hình có thể nhân rộng cho việc bảo vệ và duy trì các giá trị bảo tồn toàn cầu trong các cảnh quan rừng đa dụng với tầm quan trọng chiến lược đối với bảo tồn đa dạng sinh học
Dự án tiến hành các cơ chế can thiệp và các phương pháp kịp thời nhằm đạt được lợi ích nhiều mặt từ việc quản lý rừng trong các cảnh quan hiệu suất để đẩy lùi mối đe dọa đa dạng sinh học chính trong khu vực Hành lang xanh Điều này bao gồm việc xác định các ưu tiên bảo tồn và phục hồi rừng thông qua các đánh giá về đa dạng sinh học có hệ thống và lập bản
đồ rừng Đặc biệt dự án sẽ cải thiện chất lượng quản lý và lập kế hoạch đất và tài nguyên nhằm tăng cường cấp độ bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp một cảnh quan hiệu suất Để đạt được điều này, dự án sẽ làm việc với các cán bộ lâm nghiệp, các cộng đồng địa phương và các cán bộ cấp tỉnh bao gồm cả những nhà lập kế hoạch phát triển
Các kết quả chính của phương pháp cộng tác này sẽ là công tác lập kế hoạch khoanh vùng bảo tồn và các thoả thuận bảo tồn có sự tham gia Các công cụ này sẽ đảm bảo rằng những người
ra quyết định về môi trường và xã hội sẽ tiến đến xem xét tất cả các cấp độ từ cấp xã trở lên Ngoài ra, chúng cũng sẽ là công cụ trong việc giảm thiểu mối đe dọa đối với các khu vực bên ngoài các khu rừng đặc dụng khỏi các kế hoạch và các chiến lược đối kháng và sẽ đảm bảo các mục tiêu bảo tồn có thể đạt được ở Hành lang xanh Điều này sẽ nhằm thúc đẩy việc nhận biết một cảnh quan hiệu suất nơi mà các cộng đồng địa phương hưởng lợi thông qua công tác bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên được cải thiện và không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các hoạt động pháp triển không thích hợp ở cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia
Liên lạc:
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm WWF Dự án Hành lang xanh
Thừa Thiên Huế WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam
huespam@vnn.vn www.huegreencorridor.org
Trang 10TÓM TẮT
Báo cáo đánh giá thành phần loài khu hệ cá của vùng cảnh quan rừng khu vực Dự án Hành lang xanh, tỉnh Thừa Thiên Huế Điều tra thực địa được thực hiện như một trong các hợp phần của chương trình đánh giá cảnh quan vùng dự án Hành lang xanh nhằm xác định giá trị
đa dạng sinh học của vùng cảnh quan rừng Khảo sát thực địa tiến hành tại 3 huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế từ 23.4.2005 đến 12.06.2005
Khảo sát thực địa tiến hành tại 22 điểm khác nhau thuộc 6 vùng nghiên cứu Đó là Khe Chà Măng, khe La Ma tại huyện Nam Đông, xã Dương Hòa và các tuyến suối liên đới ở huyện Hương Thủy và các khu vực Trà Lệnh, Trà Vệ và Hồng Vân ở huyện A Lưới Các tuyến khảo sát có độ dài từ 0,5 – 3,5 km
Kết quả đã ghi nhận có 79 loài có mặt ở 6 điểm nghiên cứu Nam Đông có 17 loài ở khe Chà Măng, 21 loài ở khe La Ma và 31 loài ở Hương Thủy (xã Dương Hòa) Tại vùng A Lưới có 43 loài ở Trà Vệ, 22 loài ở Trà Lệnh và 28 loài ở Hồng Vân Kết quả bước đầu cho thấy rằng, thành phần loài đa dạng nhất là vùng Trà Vệ thuộc huyện A Lưới Các tài liệu tham khảo để sử dụng trong phân loại cá ở miền Trung còn nhiều hạn chế, vì vậy cần có nhiều phân tích chi tiết hơn về sự phân loại các các nhóm loài và đặc biệt tập trung vào một số nhóm loài có thể có thêm nhiều phụ loài hoặc loài mới Trong số các loài cá thu được, có 2 loài có tên trong Sách
Đỏ Việt Nam (2000) và phát hiện lại 7 loài mới cho khoa học đã được công bố trong vài năm trở lại đây (Kottelat, M 2001) Trong số này cũng bao gồm 22 loài cá thu thập được xếp vào loài có giá trị kinh tế cao cho cộng đồng địa phương biểu thị tầm quan trọng của việc bảo tồn nguyên vẹn các vùng sinh thái đầu nguồn
Mặc dù các nghiên cứu trước đây còn nhiều giới hạn, chúng tôi cũng sử dụng để so sánh với các khu hệ cá khác ở miền Trung Việt Nam Ở vùng cảnh quan rừng Hành lang xanh có 79 loài, so sánh với các nghiên cứu của khu hệ cá Vườn Quốc gia Bạch Mã (57 loài), Khu Bảo tồn Dackrong (72 loài) và sông Hương (121 loài) Cho đến nay, có một số nghiên cứu về khu
hệ cá vùng sông Hương đã cho kết quả số loài nhiều hơn vùng Hành lang xanh Tuy vậy, khu vực Hành lang xanh được xem là khu hệ cá có tính đa dạng Nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến giá trị đa dạng sinh học trong khu vực Dự án Hành lang xanh cũng được đưa ra, bao gồm những hoạt động đánh bắt cá trái phép và làm suy thoái hệ sinh thái do hoạt động phát triển cộng đồng Thêm vào đó, nghiên cứu đã chứng minh rằng một số thành phần loài của khu hệ
cá được cho rằng có phân bố trong vùng này, nhưng nghiên cứu thì không tìm thấy sự có mặt của chúng Điều này có thể do ảnh hưởng của sự tác động về hoạt động nông nghiệp trong quá khứ và chất độc màu da cam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ
Nghiên cứu cũng đã đưa ra đề xuất nên thực hiện nghiên cứu khảo sát khu hệ cá nhiều hơn nữa và sự phân loại các mẫu vật chưa thể định loại hết để khẳng định giá trị và độ chính xác của nó trong vùng Hành lang xanh Thêm vào đó, chiến lược quản lý bền vững cá nước ngọt cần được đẩy mạnh ở các vùng trọng điểm để đảm bảo nguồn lợi được quản lý bền vững Các tác động ảnh hưởng đến nguồn lợi cá cần được kiểm soát như nạn đào đãi vàng, thu lượm phế liệu chiến tranh
Trang 11
1.0 GIỚI THIỆU
1.1 Tổng Quan và Lịch Sử Nghiên Cứu Cá
Các công trình nghiên cứu cá nội địa ở nước ta được đề cập từ rất sớm Tuy nhiên những công trình nghiên cứu thực sự có hệ thống về cá nước ngọt mới được bắt đầu từ nửa cuối thế
kỷ XIX và hầu hết là của các tác giả người nước ngoài như: Sauvage (1877, 1878, 1881, 1884, ); G Tirant (1883, 1885, 1929, ); Pellegrin (1906, 1907, 1923, 1928, 1932, 1934, ) Công trình đầu tiên nghiên cứu về phân loại cá nước ngọt ở Việt Nam là của H.E Sauvage được công bố năm 1881 Đó là tác phẩm “ Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu”, đã mô tả một
số loài cá ở Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc nước ta P Chevey (1930, 1932,
1935, 1936, 1937) có nhiều công trình nghiên cứu về cá ở các sông suối miền Bắc Việt Nam Một công trình tổng hợp về cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam là công trình của P Chevey và
J Lemasson “Góp phần nghiên cứu về các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” đã giới thiệu 17 họ, 98 loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam
Sau giải phóng, công tác nghiên cứu được tiếp tục do chính các nhà khoa học Việt Nam tiến hành nhưng chủ yếu chỉ ở các thuỷ vực nội địa như sông, suối, hồ chứa, ao ruộng, đầm, với các mức độ khác nhau ở các vùng sinh thái Đông Bắc, Tây Bắc Các thủy vực vùng miền Trung còn rất nhiều điểm trắng chưa được điều tra Ở miền Nam cũng có một số công trình do cán bộ khoa học người Việt Nam và người nước ngoài thực hiện như Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964); Fourmanvir (1965); M.Yamamura (1966), Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Tuý Hoa (1972), Y Taki (1975) Ở vùng nước ngọt miền Trung, công trình đầu tiên được biết đến là của G Tirant (1929) về khu hệ cá sông Hương - Huế công bố 70 loài trong
đó có 5 loài mới Sau năm 1975 có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài cũng như đặc điểm sinh học Khu hệ cá vùng TT Huế (Võ Văn Phú, Hoàng Đức Đạt, …( 1978, 1980) Nguyễn Hữu Dực (1994): Cá sông suối Tây Nguyên (82 loài), Võ Văn Phú (1995): Cá đầm phá Thừa Thiên Huế (163 loài), Võ Văn Phú, Trần Hồng Đĩnh (2001): Khu hệ cá đầm Lăng
Cô (151 loài); Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Việt Cường, Thạch Mai Hoàng (2003): Cá khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa (78 loài); Võ Văn Phú (2004): Khu hệ cá Vườn Quốc gia Bạch Mã (57 loài); Võ Văn Phú (2005): Đa dạng sinh học cá sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế (121 loài) (Võ Văn Phú, 2005)
Nhìn chung, những nghiên cứu về cá ở Việt Nam đang được đẩy mạnh trong những năm qua Tuy nhiên, ở Thừa Thiên Huế, những nghiên cứu về cá chỉ mới tập trung chủ yếu ở các con sông suối lớn như sông Hương và hệ thống đầm phá Những nghiên cứu trước đây về thành phần các loài cá ở các lưu vực sông, suối vùng rừng núi cao chỉ mới là những nghiên cứu sơ
sử dụng đa mục đích đem lại lợi ích quan trọng cho việc bảo tồn đa dạng sinh học
2.2 Mục Đích của Các Chuyến Khảo Sát
Mục tiêu của quá trình khảo sát là để ghi nhận và thu thập thành phần loài cá ở các thủy vực sông suối tại ba huyện Hương Thủy, A Lưới và Nam Đông ở khu vực rừng cảnh quan Hành lang xanh của tỉnh Thừa Thiên Huế Bên cạnh đó, chúng tôi còn thu thập thêm những thông
Trang 12tin về sinh thái học, giá trị kinh tế của nhiều loài cá bằng cách phỏng vấn người dân địa phương và cán bộ Kiểm lâm
Mục tiêu của Dự án không những góp phần cung cấp một số dẫn liệu ban đầu về thành phần loài cá nước ngọt sông, suối ở các thủy vực vùng núi mà còn thu thập dữ liệu liên quan giá trị bảo tồn sinh học Kết quả này được sử dụng để xác định các khu vực quan trọng đối với bảo tồn đa dạng sinh học và làm cơ sở khoa học nhằm xây dựng kế hoạch hành động của Dự án
Hình 1.0 Vùng dự án Hành lang xanh
3.1 Kế Hoạch Thu Mẫu
Thời gian thu mẫu kéo dài trong 40 ngày từ ngày 23/04/2005 đến ngày 18/06/2005 ở các huyện Nam Đông, Hương Thuỷ, A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế (Bảng 1.0) Chuyến đi khảo sát của nhóm nghiên cứu được tiến hành tại 6 địa điểm chính nằm trong khu vực Dự án Hành lang xanh thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế (Hình 2.0) Các địa điểm khảo sát dọc theo các tuyến suối có sinh cảnh khác nhau tiêu biểu cho khu hệ cá
Bảng 1.0 Lịch trình chuyến đi khảo sát thực địa nghiên cứu cá
Ngày Địa điểm khảo sát Tuyến suối khảo sát
23/04/2005 Suối Chà Măng
24/04/2004 Suối Chà Măng
25/05/2005
Thượng Lộ - Nam Đông
Khe nhỏ ngược suối Chà Măng 09/05/2005
10/05/2005 Ngược khe Lạnh
11/05/2005 Tiếp tục phần dưới khe Lạnh
12/05/2005 Tiếp tục phần dưới khe Lạnh
13/05/2005 Tiếp tục phần dưới khe Lạnh
15/05/2005
Dương Hòa - Hương Thủy
Khe Re 18/05/2005
Trang 13Ngày Địa điểm khảo sát Tuyến suối khảo sát
28/05/2005 Ngược khe La Ma (tính từ điểm cắm trại)
Amoong và Khe A Moong (Dưới cầu Amoong)
05/06/2005 Tiếp Khe Amoong (Dưới cầu Amoong)
06/06/2005
A Roàng - A Lưới
Khe Apát 07/06/2005
10/06/2005 Suối A Hu - Thôn A5
11/06/2005
Hồng Vân - A Lưới
Suối A Hu - Thôn A5
3.2 Mô Tả Khu Vực Nghiên Cứu
3.2.1 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Nhất - Khe Lạnh, Xã Dương Hoà, Huyện Hương
Thuỷ
Địa điểm khảo sát trong rừng nên ít bị tác động của con người Mặc dù khu vực này đã được khai thác gỗ bởi Lâm trường quốc doanh trong quá khứ, tuy nhiên, sông suối ở đây rất ít bị tác động từ con người
Điểm 1: Phía trên khe Lạnh, với độ cao trên 500 m Nước suối ở đây mát trong, chảy mạnh,
hai bên là đá tảng lớn, có nhiều nơi đá cao tạo thành chàng thẳng đứng và dốc Để vượt lên phía cao hơn chúng tôi phải leo bìm với nhiều dây leo do các rễ hay gốc cây tạo thành
Điểm 2: Khe Lạnh: Địa điểm cắm trại rất xa khe này chúng tôi mất hơn 2 tiếng đồng hồ đi bộ
và vượt qua nhiều “dông” mới đến được khe suối Thành phần loài cá ở khe Lạnh này rất phong phú Sinh cảnh phức tạp rừng nguyên sinh dày đặc dây leo xen lẫn với mây tre, các cây
gỗ lớn Nước ở đây sâu, lòng suối rộng, nền đá lớn
Điểm 3: Khe Rộng: Thời gian nghiên cứu ở đây không lâu, do điểm này có vị trí gần đường
di chuyển, mực nước thấp, suối nhỏ hẹp, nền chủ yếu là đá nhỏ và sỏi, hai bên bờ suối là cây bụi nhỏ
Điểm 4: Khe Re: Sinh cảnh đa dạng trong một phạm vi nhỏ hẹp, nền đá to, nước chảy mạnh nhưng xen lẫn với các vũng nước lớn có nền bùn cát và thực vật thuỷ sinh phát triển
3.2.2 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Hai - Chà Măng, Xã Thượng Lộ, Huyện Nam Đông Điểm 1: Khe suối Chà Măng: Chiều rộng suối lớn khoảng hơn 10 m, mực nước chảy mạnh và
sâu, nền đá tảng lớn Đáy sông còn có nhiều cát và sỏi nhỏ mịn nhưng giữa dòng lại có nhiều
Trang 14tảng đá lớn nhô ngay lên giữa sông Dạng sinh cảnh ở đây là rừng thứ sinh xen kẽ với những khoảnh rừng nguyên sinh còn sót lại
Điểm 2: Suối nhỏ phía trên khe Chà Măng: Đây cũng là nhánh suối nhỏ đổ vào suối lớn Chà
Măng Ở đây có lòng suối nhỏ hẹp, nền đá nhiều đoạn dốc và dòng chảy mạnh, bờ dốc đứng Ven bờ là những cây thân thảo và cây gỗ nhỏ Có một vũng nước với nhiều mùn bã hữu cơ do
sự phân huỷ của xác lá khô dày chừng 20-30 cm
3.2.3 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Ba - La Ma, Xã Hương Sơn, Huyện Nam Đông
Dòng suối bị chia làm hai bởi đường Hồ Chí Minh và con đường này đang nâng cấp và việc làm đường đã ảnh hưởng rất lớn đến những giá trị đa dạng sinh học do tác động đến thủy học,
sự ngập bùn và sự xói mòn
Điểm 1: Khe La Ma: Suối này ở phía bên kia đường Hồ Chí Minh so với khu vực cắm trại
Chúng tôi đi sâu vào suối xa khu vực làm đường Sinh cảnh ở đây là cây bụi nhỏ hoặc các cây
ưa sáng Tốc độ dòng chảy chậm, mực nước thấp, nền nhiều cát, sỏi nhỏ và đá cuội
Điểm 2: Ngược khe La Ma : Suối này ngược với khu vực cắm trại Vượt lên ngọn đồi cao rồi
tụt dốc chúng tôi theo dòng suối đi sâu vào phía thượng nguồn Mực nước thấp, nước trong, mát, chảy trên đá tảng lớn mọc lên giữa suối nhiều rêu bám và trơn
Điểm 3: Khe 36: Lòng suối rộng, mực nước thấp, nền đá cuội, hai bên bờ chỉ là cây bụi nhỏ
Suối này cách địa điểm cắm trại khoảng 5 km
Điểm 4: Khe 38: Suối phía bên ngoài khe 36, sinh cảnh tương tự khe 36 nhưng có nhiều cây
gỗ nhỏ
3.2.4 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Tư - Trà Vệ, Xã Hương Nguyên, Huyện A Lưới
Khu vực này nằm giữa huyện Hương Trà và huyện A Lưới thuộc địa bàn xã Hương Nguyên Trạm Trà Vệ nằm ở ngã ba sông Trà Vệ và một khe suối nhỏ Rừng ở đây chủ yếu là rừng thứ sinh và đang phục hồi rừng nguyên sinh
Điểm 1: Xuôi khe chính Trà Vệ: Tốc độ dòng chảy chậm nhưng lòng suối rộng khoảng hơn
10 m nên lưu lượng nước rất lớn Hai bên bờ có nhiều cây bụi và gỗ nhỏ che phủ Nhưng cũng có nhiều đoạn có một bên là bờ còn bờ bên kia là đá dốc và dạng rừng thứ sinh Trên đường đi chúng tôi bắt gặp rất nhiều cư dân đãi vàng Ở vùng suối này tính đa dạng sinh học
về loài cá không cao
Điểm 2: Khe Tà Ve: Lòng suối nhỏ 3-5 m, nuớc đục màu do nền đáy chủ yếu là bùn, cát và
xác lá phân huỷ Hai bên bờ có nhiều khoai môn, chuối, dương xỉ
Điểm 3: Khe Tà Vương: Đi ngược với khe Trà Vệ Sinh cảnh suối này rất đa dạng Lòng suối
đá có nhiều cát có nhiều khoảng thực vật dày và thưa, cây gỗ lớn, vừa và nhỏ Có nhiều vũng nước lớn tốc độ dòng chảy chậm xen kẽ với những thác nước lớn, nước chảy mạnh, chiều rộng suối dao động mạnh từ 3-10 m
Điểm 4: Khe Rau Lác (ngược khe Trà Vệ) sinh cảnh cùng giống như khe Trà Vệ nhưng nước
ở đây trong, mát Hai bên bờ sinh cảnh đa dạng đất bằng phẳng nhiều cây gỗ đan xen với những tảng đá mẹ, nhiều cây bụi nhỏ
Trang 15Điểm 5: Khe Từ: Đây là khu vực dốc, nước chảy từ trên cao xuống các tảng đá lớn lâu năm
nên rất trơn và phủ đầy rêu Ven hai bên là những cây gỗ lớn có nhiều dây leo và rễ cao hơn
mặt đất
3.2.5 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Năm – Xã A Roàng, Huyện A Lưới
Địa điểm cắm trại ngay ở Trạm Kiểm lâm Trà Lệnh
Điểm 1: Nhánh trái thượng nguồn: Đá cuội nhỏ, mực nước thấp, ven bờ là những cây bụi nhỏ
ưa sáng nhưng càng đi sâu vào thì lòng suối càng hẹp lại, nước cao và nhiều đá tảng lớn, tốc
độ dòng chảy mạnh Sinh cảnh hai bên bờ là cây gỗ nhỏ và cây bụi
Điểm 2: Nhánh phải thượng nguồn: Có sinh cảnh tương tự nhánh trái của thượng nguồn
Điểm 3: Khe Bồi, dưới chân cầu A Moong: Qua một vịnh nước đứng lớn thì lòng suối hẹp
nước chảy mạnh nhưng không sâu Ven bờ một bên là đá mẹ phong hoá còn một bên và dạng
sông, có nhiều đá cuội nhỏ Có nơi thân cây gỗ đổ xuống tạo các hang, đây là nơi bắt gặp cá
Chình nhiều nhất với mực nước không sâu
Điểm 4: Khe Apat: Cắt ngang đường Hồ Chí Minh, theo cầu thang dọc vạch đá đứng Suối có
nhiều đá lớn nhưng bằng phẳng lẫn với nền cát đôi khi đan xen với nền bùn Rừng thuộc dạng
nguyên sinh với nhiều loại cây gỗ lớn nhỏ khác nhau và nhiều loài thân thảo, dương xỉ
Bảng 2.0 Toạ độ các điểm nghiên cứu
Khe Chà Măng Thượng Lộ
Trang 16TT Tuyến suối khảo sát Tọa độ Độ cao (m)
16 0 75432’ N
18 Tiếp Khe A Moong (Dưới cầu
3.2.6 Địa Điểm Nghiên Cứu Thứ Sáu - Hồng Vân, Huyện A Lưới
Điểm 1: Suối ALin: Nằm dọc theo thôn A Hộ, nền chủ yếu là đá cuội nhỏ và cát Ven bờ là
các cây bụi nhỏ ưa sáng
Điểm 2: Suối A Lung: Đây là đường dẫn nước của thôn, hai bên suối chủ yếu là đất do đá mẹ
phong hoá, nền đá tảng lớn và tốc độ dòng chảy mạnh Cuối dòng suối là một vũng nước sâu
và thác nước lớn
Điểm 3: Suối A Hu: Phía bên kia đường Hồ Chí Minh, ở thôn A Năm Đây là khu vực mang
nhiều tính chất thuỷ vực đồng bằng, nền bùn và cây cỏ hai bên bờ phát triển
3.3 Phương Pháp Chọn và Thu Mẫu
Để công việc nghiên cứu diễn ra theo đúng mục tiêu, với sự trợ giúp của lực lượng kiểm
lâm và nhân dân địa phương nơi nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã xem xét điều kiện tự
nhiên về thủy văn, khí hậu và từ đó, tiến hành chọn các tuyến có những điểm nghiên cứu đại
diện cho các loại hình thuỷ vực và khả năng thu được nhiều mẫu vật nhất Các tuyến thu
mẫu, tọa độ, đặc điểm thủy vực được trình bày chi tiết ở phần 2 (Mô tả khu vực nghiên
cứu)
Dự án được sự cho phép của Sở Thuỷ sản Thừa Thiên Huế nên chúng tôi được phép thuê
người để sử dụng máy chích điện trong đánh bắt Ngoài ra, chúng tôi còn dùng vợt bắt cá,
lưới bắt cá Thời gian thu mẫu và số lượng mẫu vật thu được ở các địa điểm thu mẫu được
trình bày chi tiết ở bảng 3.0 Do vậy mẫu vật thu được tương đối đầy đủ ở các địa điểm đánh
bắt Tại hiện trường chúng tôi sử dụng thiết bị định vị, ghi chép đặc điểm của thuỷ vực và tiến
hành chụp ảnh hiện trường tại các điểm thu mẫu Mẫu vật được thu thập, chụp ảnh, phân loại,
xử lý sơ bộ và định hình bằng formol ngay tại chỗ Các mẫu vật được chụp ảnh đầy đủ
Sau thực địa, nhóm nghiên cứu đã đưa mẫu vật về Phòng Thí nghiệm Bộ môn Tài nguyên và
Môi trường, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Huế để tiến hành phân loại
Sau khi phân loại tại phòng thí nghiệm của Bộ môn Tài nguyên - Môi trường, Khoa Sinh học,
Trường đại học Khoa học Huế, chúng tôi còn so sánh mẫu vật với bộ mẫu vật chuẩn ở Bảo
tàng Động vật ở Đại học Quốc gia Hà Nội với sự giúp đỡ của Giáo sư Mai Đình Yên, chuyên
gia đầu ngành về phân loại học các loài cá nước ngọt trong công việc giám định mẫu
Trang 17Hình 2.0 Bản đồ thu mẫu cá khu vực Hành lang xanh
Trang 184.0 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thu Thập Mẫu Vật
Các khu vực thu mẫu điều tra được tiến hành ở 22 điểm trên địa bàn 3 huyện Nam Đông, Hương
Thuỷ, A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế Bảng 3.0 cung cấp những thông tin chi tiết về độ dài tuyến
suối khảo sát khu vực điều tra và số lượng mẫu vật thu được của nhóm nghiên cứu tại mỗi khu
vực nghiên cứu đó
Bảng 3.0 Địa điểm thu mẫu và số mẫu vật thu được ở mỗi địa điểm điều tra, khu vực Hành
lang xanh, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tuyến suối khảo sát Độ dài tuyến suối khảo sát (km) Thời gian thu mẫu Số mẫu vật thu được
Khe nhỏ ngược suối Chà Măng 0,8-1 8h-2h 23
Ngược Khe Lạnh 1 - 1,5 8h-1,5h 21
Tiếp tục phần dưới khe Lạnh 1,5 - 2,0 7,5h-5h 22
Tiếp tục phần dưới khe Lạnh 2,5 – 3 7,5h-4,5h 27
Tiếp tục phần dưới khe Lạnh 3 - 3,5 7,5h-4,5h 37
Xuôi khe La Ma (tính từ điểm cắm trại) 2,5 – 3 8h-3,5h 29
Ngược khe La Ma (tính từ điểm cắm trại) 1,5 – 2 8h-3,5h 22
Nhánh phải thượng nguồn- Ngược cầu Amoong 1,5 – 2 7h-5h 61
Nhánh trái thượng nguồn - Ngược cầu Amoong
và Khe A Moong (Dưới cầu Amoong) 2,0 - 3,0 7,5h-5h 57
Tiếp khe A Moong (Dưới cầu Amoong) 2,0 - 2,5 7,5h-4h 22
Khe Apát 0,5 - 0,8 8h-3h 22
Khe A Lin- Thôn A Hộ 3,5 – 4 8h-4h 40
Khe A Lung- Thôn A Hộ 2,5 - 3,0 8h-4h 32
Suối A Hu - Thôn A5 1 - 1,5 8h-1,5h 21
Suối A Hu - Thôn A5 1 - 1,5 8h-1,5h 38
4.2 Thành Phần Các Loài Cá
Qua các đợt khảo sát thực địa, nhóm nghiên cứu đã xác định được danh lục gồm 79 loài cá thuộc
13 họ, 38 giống trong 5 bộ khác nhau, trong đó họ cá Chép (Cyprinidae) có số lượng loài nhiều
nhất, với 48 loài (chiếm 70,9%)
Một số loài chưa thể định danh được đến taxon bậc loài, chỉ định danh đến bậc giống và định
danh trên cơ sở các đặc tính bên ngoài và các đặc điểm hình thái tương tự nhau (Oliver and
Beattie, 1992) Danh lục chi tiết về thành phần loài ở Phụ lục 1.0 Một số loài trong chúng cần
được các chuyên gia phân tích định loại bởi chúng có những đặc tính mà có thể do chúng là loài
mới hay phụ loài
Trang 19Bảng 4.0 Cấu trúc khu hệ cá khu vực Hành lang Xanh chỉ ra số lượng họ, giống và loài và
Sự đa dạng về các bậc taxon của khu hệ cá được xác định có liên quan đến tính phức tạp của các địa hình khác nhau trong một khu vực nghiên cứu nhỏ hẹp Bộ cá Vược (Perciformes) với 5 họ (38,5%), tiếp đến là bộ cá Chép (Cypriniformes) và bộ cá Nheo (Siluriformes) cùng có 3 họ (23,1%) và sau cùng là hai bộ cá Chình (Anguilliformes) và bộ Lươn (Synbranchiformes) mỗi bộ chỉ có 01 họ, 01 giống và 01 loài Họ cá Chép (Cyprinidae) với 48 loài (70,9%), tiếp đến là họ cá Bống trắng (Gobiidae) có 10 loài, họ cá Chạch đá (Balitoridae), 06 loài, họ cá Thia (Belontidae) với 04 loài, còn các họ khác còn lại mỗi họ chỉ có 1 – 2 loài (Phụ lục 1.0)
4.3 So Sánh Các Địa Điểm Điều Tra
Những so sánh sơ bộ các mẫu cá thu được cho thấy rằng thành phần loài có số lượng lớn tập trung ở các vùng khe suối núi cao, nước chảy mạnh (giàu oxi) và nền đáy của suối với cấu trúc
là sỏi, đá cuội, đá nhỏ phát triển trên nền đá gốc (dạng đá phiến và đá tảng lớn) Ở vùng nước đứng, nước chảy chậm có số lượng loài thấp hơn Các loài cá ao ruộng chỉ gặp ở một số ít địa điểm tại Trà Vệ - xã Hương Nguyên (huyện A Lưới)
Tại các khe Tà Vương, Tà Ve, Từ ở khu vực Trà Vệ - Hương Nguyên có nhiều các hang, hốc đá nhỏ và mực nước cạn, nền đáy phủ rêu, ít thu được mẫu đủ thành phần các loài cá Ở các thuỷ vực dạng nước đứng gặp các loài cá như: Chạch hoa (Cobitis), Chạch bùn (Micronemachilus),
Cá đục (Microphysogobio), Ở thuỷ vực nước đứng dạng ao hồ ở thôn A5 - Hồng Vân thường
gặp loài cá Chạch đuôi chình (Misgurnus anguillicaudata), Cá Diếc (Carassiuss auratus), các loài cá Thia cờ Macropodus opercularis, Macropodus sp, Ở những nơi đá tảng, có nhiều hang
hốc, có sự phân cắt lớn, nước chảy mạnh thường bắt gặp nhiều cá thể của các loài Cá chình (Anguillia), Cá sao (Poropuntius), Cá xanh (Onychostoma),
Ở hầu hết mọi điểm điều tra, nhóm nghiên cứu đều thu được mẫu vật các loài cá thuộc họ cá bám
đá Balitoridae, nhóm cá vốn được coi là sinh vật chỉ thị đặc trưng cho sông suối miền núi, nước chảy mạnh Như vậy, có thể nói rằng các khu vực nghiên cứu, điều tra đã đại diện cho các sinh cảnh vùng núi Các loài cá thường gặp như cá sao Poropuntius, Cá chạch sông Mastacembelus,
Cá bống trơn Schistura, Cá bám đá Sewellia, Cá quả Channa, Cá sỉnh Onychostoma, Cá thèo Silurus, Cá choạc Opsariichthys, Một số hệ sinh thái như khe ở La Ma, khu vực dọc tuyến đường Hồ Chí Minh bị tác động mạnh của hoạt động phát triển, bị đánh bắt nhiều nên số cá thể
và thành phần loài giảm sút nghiêm trọng
Trang 20Qua các cuộc phỏng vấn được biết người dân địa phương đánh bắt với các ngư cụ thông thường với số lượng cá không nhiều, nhưng kích thước cá bắt được giảm dần hàng năm Cá bắt được cỡ nhỏ, phần lớn cá chưa tới tuổi thành thục sinh dục Tại một số nơi như Trà Vệ, Hồng Vân còn phát hiện đã đánh bắt các loài cá kích thước nhỏ không có giá trị kinh tế như cá chạch suối, cá bám đá,
Theo thông tin thu thập được từ người dân địa phương, mật độ cá thể của các chủng quần cá đang bị suy giảm mạnh so với trước đây Một số loài cá có giá trị kinh tế cao như các loài cá Chình (Anguilla) đang bị khai thác triệt để và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Ngoài ra, một số loài cá khác bị khai thác rất nhiều như cá chày đất, cá ngạnh đỏ, cá chình mun, trước đây nhưng trong thời gian nghiên cứu chúng tôi không thu được cá thể nào
Bảng 5.0 Các loài cá kinh tế ở khu vực Hành lang xanh
Tên khoa học Tên Tiếng Việt
4.5 Các Phân Tích về Loài Ưu Thế
Sau khi thu mẫu, phân loại và phân tích các mẫu vật thu được qua các đợt điều tra chúng tôi có những nhận xét về sự phân bố của các loài ưu thế khác nhau ở các điểm thu mẫu Thành phần loài
ưu thế chủ yếu tập trung vào họ Cá chép (Cyprinidae) Ở các điểm thu mẫu nhiều loài thuộc họ này bắt gặp được với số lượng cá thể khá đông Chỉ một số loài trong họ cá Chép thích ứng với thủy
vực nước đứng như Cá Diếc (Carassius auratus), Cá Cấn (Puntius semifacsiolatus), có số lượng
không nhiều Sự khác nhau này có thể được giải thích do các yếu tố về địa lý, điều kiện tự nhiên, dòng chảy và mùn bã hữu cơ ở đáy
Thành phần loài giữa các vùng nghiên cứu có sự phân bố sai khác nhau đáng kể liên quan đến điều kiện tự nhiên, sự phân cắt địa hình Ví dụ như một số loài chỉ phân bố ở Hồng Vân - A
Lưới, các vùng khác vắng mặt như: Opsarius punchellus, Glyptothorax interpinalum, Hampala
Trang 21microleppidota, Osteochilus hasellti, Danio leptos, Neochillus stracheyi Các loài phân bố phổ
biến ở đồng bằng cũng chỉ bắt gặp Hồng Vân - A Lưới như Carassius auratus, Misgurnus
anguillicaudata, Oreochromis normalis, Puntius semifasiolatus
Loài phổ biến và mật độ phân bố của các loài cũng có sự khác nhau giữa các vùng Vùng Hương Thuỷ được đặc trưng bởi các loài Poropuntius, Garra, Vùng Nam Đông được đặc trưng với các loài Scaphiodonichthys, Onychostoma, Vùng A Lưới có nhiều loài nhất Danio, Onychostoma, Neochillus, Hemebarbus,
4.6.1 Các Loài Quý Hiếm
Theo sách Đỏ Việt Nam (2000), khu vực Hành lang xanh có 2 loài quý hiếm với các mức độ
khác nhau: Onychostoma laticeps bậc V (Vulturable) - Sẽ nguy cấp và Anguilla marmorata bậc
R (Rare) - Hiếm (Bảng 6.0)
Bảng 6.0 Hai loài cá quý hiếm ở khu vực Hành lang xanh (Sách Đỏ Việt Nam, 2000)
Tên khoa học Tên Việt Nam Mức độ
4.6.2 Loài Mới Được Công Bố
Trong tổng số 79 loài thu được, có 7 loài được phân loại như là loài mới trong các tài liệu phân loại hiện hành được công bố cách đây chỉ 6 năm trở lại.(Bảng 7.0) Đây cũng chính là những loài phân bố hẹp, chỉ tập trung ở vùng sông suối cao miền núi và chủ yếu tập trung ở các vùng Trung
bộ Việt Nam
Bảng 7.0 Các loài cá mới được công bố trong vòng vài năm trở lại đây
Tên khoa học Tên Việt Nam
5.1 So Sánh với Các Khu Hệ Cá Khác
So sánh cơ bản được đặt ra để so sánh số lượng taxon tương ứng giữa thành phần loài cá khu vực Hành lang xanh với các khu vực phụ cận (Bảng 8.0) Thành phần loài cá khu hệ Hành lang xanh