Trong các nguồn vốn đầu tư cho XDCB, nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước NSNN luôn luôn đóng vai trò hết sức quan trọng bởi đó chính là biểu hiện của sức mạnh Nhà nước, ý chí của Nhà nước tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-*** -
TRẦN ĐỨC THUẦN
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ BẢN CHO NÔNG NGHIỆP TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
TRẦN ĐỨC THUẦN
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CHO NÔNG NGHIỆP TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60 62 01 15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐÌNH THAO
HÀ NỘI, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 18 tháng 9 năm 2014
Tác giả
Trần Đức Thuần
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài Học viện
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh
tế & Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hết lòng giúp
đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại Học viện
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS-TS Trần Đình Thao, giảng viên Bộ môn Phân tích Định lượng, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ, công chức các huyện và các sở, ban, ngành có liên quan của tỉnh Hà Nam, các Ban Quản lý
dự án, nhà thầu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Hà Nội, ngày 18 tháng 9 năm 2014
Tác giả
Trần Đức Thuần
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
PHẦN1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHÂN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Tổng quan về hoạt động đầu tư và dự án đầu tư 4
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về đầu tư 4
2.1.2 Dự án đầu tư 8
2.2 Đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản 12
2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư XDCB 12
2.2.2 Nguồn vốn đầu tư XDCB và dự án đầu tư XDCB 16
2.3 Quản lý vốn đầu tư XDCB trong nông nghiệp từ ngân sách
Nhà nước 20
2.3.1 Khái niệm và đặc điểm vốn đầu tư cơ bản từ Ngân sách
Nhà nước 20
2.3.2 Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 27
2.3.3 Các quy định pháp lý trong quản lý vốn XDCB trong
nông nghiệp 45
Trang 6PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50
3.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Hà Nam 50
3.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Hà Nam 50
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 54
3.1.3 Tiềm năng, lợi thế và khó khăn, thách thức 60
3.2 Phương pháp nghiên cứu 63
3.2.1 Thu thập số liệu 63
3.2.2 Tổng hợp và xử lý số liệu 63
3.2.3 Phương pháp phân tích 63
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 64
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 66
4.1 Kết quả đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Nam 66
4.1.1 Huy động vốn đầu tư cho phát triển 66
4.1.2 Tạo dựng cơ sở hạ tầng 68
4.1.3 Công tác quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng cơ bản 69
4.1.4 Tác động của đầu tư đến phát triển kinh tế - xã hội 70
4.2 Thực trạng Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho
Nông nghiệp 73
4.2.1 Các căn cứ pháp lý có liên quan 73
4.2.2 Lập kế hoạch đầu tư 74
4.2.3 Tổ chức thực hiện 79
4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư XDCB từ NSNN ở
Hà Nam 95
4.3.1 Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng 95
4.3.2 Nhân tố con người 96
4.4 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý XDCB từ NSNN tại
Hà Nam 97
4.4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 97
4.4.2 Hoạch định chiến lược đầu tư phát triển 100
Trang 74.4.3 Đổi mới công tác kế hoạch đầu tư 101
4.4.4 Nâng cao chất lượng lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư 104
4.4.5 Thực hiện nghiêm túc Luật đấu thầu 108
4.4.6 Nâng cao kỷ luật và chất lượng quyết toán vốn đầu tư 109
4.4.7 Đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn đầu tư 111
4.4.8 Chống thất thoát vốn Nhà nước trong đầu tư và xây dựng 113
4.4.9 Đổi mới công tác cán bộ quản lý dự án và khai thác sử dụng 118
4.4.10 Nâng cao trình độ cán bộ quản lý vốn đầu tư XDCB 120
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121
5.1 Kết luận 121
5.2 Kiến nghị 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 126
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách và đầu tư trên địa bàn
tỉnh Hà Nam giai đoạn 2009 - 2013 59 Bảng 3.2 So sánh cơ cấu kinh tế Hà Nam với cả nước năm 2009
và năm 2013 59 Bảng 4.1 Nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tỉnh Hà Nam thời
kỳ 2009 - 2013 67 Bảng 4.2 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2009 – 2013 theo ngành
kinh tế 67 Bảng 4.3 GDP và tốc độ tăng trưởng GDP thời kỳ 2009 - 2013 70
Bảng 4.4: Lực lượng lao động giữa các khu vực thuộc các ngành kinh
tế thời kỳ 2010- 2013 tỉnh Hà Nam 71 Bảng 4.5: Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh 72
Bảng 4.6 Các Loai quy hoạch tại tỉnh Hà Nam (2000-2020) 75
Bảng 4.7: Kế hoạch đầu tư XDCB hàng năm cho ngành nông nghiệp
(2009 – 2013) 77 Bảng 4.8 Giao chỉ tiêu kế hoạch đầu tư các công trình XDCB cho nông
nghiệp giai đoạn 2009-2013 78 Bảng 4.9 Kết quả thẩm định các DA XDCB mới hàng năm ngành NN
(2009 – 2013) 82 Bảng 4.10: Giá trị sau đấu thầu các dự án đầu tư XDCB ngành NN
(2009 – 2013) 83 Bảng 4.11: Hình thức đầu thầu các dự án đầu tư XDCB ngành NN
(2009 – 2013) 84 Bảng 4.12: Giá trị các gói thầu đầu tư XDCB ngành nông nghiệp giai
đoạn 2009 – 2013 phân theo hình thức thầu 85 Bảng 4.13: Số năm chậm thực hiện các dự án đầu tư XDCB ngành NN
(2009 – 2013) 86 Bảng 4.14: Kết quả thực hiện công tác quyết toán giai đoạn 2009 –
2013 87 Bảng 4.15: Kết quả thanh toán vốn cho các dự án đầu tư XDCB cho
nông nghiệp phân theo nguồn, giai đoạn 2009- 2013 88
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Quy trình quản lý vốn đầu tư XDCB của Nhà nước 28 Hình 2.2 Trình tự thực hiện một dự án đầu tư 29 Hình 2.3 Quy trình lập kế hoạch và phân bổ nguồn vốn đầu tư xây
dựng cơ bản theo quy định của Nhà nước 39 Hình 3.1 Bản đồ Hành chính tỉnh Hà Nam 51
Trang 10PHẦN1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là nhiệm vụ chiến lược, một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền vững cho một đất nước cũng như trong từng địa phương
Đầu tư XDCB thu hút sự quan tâm đặc biệt của mọi quốc gia, hấp thụ
sử dụng nguồn vốn lớn của mọi tầng lớp nhân dân và đương nhiên kèm theo
đó hàng loạt các chính sách, bộ máy ra đời nhằm quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế nhất Trong các nguồn vốn đầu tư cho XDCB, nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước (NSNN) luôn luôn đóng vai trò hết sức quan trọng bởi đó chính là biểu hiện của sức mạnh Nhà nước, ý chí của Nhà nước trong định hướng và hành động cụ thể vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, chống mọi nguy cơ tụt hậu và giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Hà Nam là tỉnh đồng bằng sông Hồng, cửa ngõ phía Nam thủ đô Hà Nội, kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực, song sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ còn cao trong nền kinh tế của tỉnh Hà Nam là một trong số các tỉnh được Thủ tướng Chính phủ Quyết định quy hoạch diện tích đất trồng lúa
để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia (với diện tích 33.500 ha) Thời gian qua cùng với cả nước, tỉnh Hà Nam đã có nhiều cố gắng và thu được một số kết quả trong phát triển kinh tế và đầu tư xây dựng cơ bản Nhiều dự án đầu
tư xây dựng cơ bản đã hoàn thành và từng bước phát huy hiệu quả, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Tuy nhiên so với mặt bằng chung của cả nước, Hà Nam là tỉnh có xuất phát điểm và tích lũy từ nội lực kinh tế thấp Tổng ngân sách dành cho đầu tư XDCB còn thấp, công tác quản lý, sử dụng vốn đầu tư XDCB luôn thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, nhất là trong giai đoạn hiện nay, Hà Nam
Trang 11đang trong quá trình đẩy mạnh tốc độ phát triển công nghiệp hóa- hiện đại hóa, kinh tế phát triển cao và bền vững
Thực tiễn vốn đầu tư XDCB cần rất lớn, trong khi các nguồn lực, nhất
là nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cho XDCB còn hạn hẹp, công tác quản lý vốn đầu tư XDCB nói chung và đầu tư XDCB cho nông nghiệp nói riêng từ NSNN là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cần thiết Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá, đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB cho nông nghiệp từ vốn NSNN là vấn đề cấp thiết Xuất phát từ yêu cầu thực
tế đó và yêu cầu thực tế tại địa phương tôi đã chọn đề tài: “Tăng cường quản
lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho nông nghiệp từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam” làm luận văn tốt nghiệp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư XDCB cho nông nghiệp từ NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Nam, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam
- Các cơ chế chính sách liên quan
Trang 12- Một số cơ quan, đơn vị có liên quan quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB cho nông nghiệp từ NSNN
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
a) Về không gian: đề tài được tiến hành trên địa bàn tỉnh Hà Nam b) Về thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 8/2013 đến tháng 10/2014
c) Về nội dung: Tập trung vào một số lĩnh vực trong quản lý đầu tư XDCB cho nông nghiệp từ NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian
từ năm (2009 – 2013) và định hướng đến năm 2020
Trang 13PHÂN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Tổng quan về hoạt động đầu tư và dự án đầu tư
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về đầu tư
2.1.1.1 Khái niệm về đầu tư
Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nhằm thu được lợi ích trong
tương lai, không phân biệt hình thức thực hiện, nguồn gốc của vốn Mọi hoạt động có các đặc trưng này đều được coi là hoạt động đầu tư
Đầu tư trên giác độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế quốc dân của một nước, hoặc một vùng, một tỉnh, thành phố Các hoạt động mua bán, phân phối lại, chuyển giao tài sản giữa các cá nhân, các tổ chức không phải là đầu tư đối với nền kinh tế Đầu tư có thể tiến hành theo những phương thức khác nhau: Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp
- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và
tham gia quản lý hoạt động đầu tư (Luật Đầu tư – Năm 2005) đầu tư trực tiếp có hai hình thức:
+ Đầu tư dịch chuyển: Là hình thức đầu tư mà ở đó chỉ liên quan đến việc tăng hoặc giảm quy mô của từng nhà đầu tư cá biệt, nó không ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hoặc giảm quy mô vốn trên toàn xã
+ Đầu tư phát triển: Là hình thức đầu tư mà ở đó có liên quan đến
sự tăng trưởng quy mô vốn của nhà đầu tư và quy mô vốn trên phạm vi toàn xã hội Điển hình của đầu tư phát triển là đầu tư vào khu vực sản xuất, dịch vụ, đầu tư vào yếu tố con người và đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội Đó là quá trình chuyển hóa vốn bằng tiền thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất kinh doanh mới, thông qua việc mua sắm, lắp đặt thiết bị, máy móc, xây dựng nhà cửa vật kiến trúc và tiến hành các công việc có liên quan đến sự phát huy tác dụng của các cơ sở vật chất
kỹ thuật do hoạt động của nó tạo ra
Trang 14- Đầu tư gián tiếp: Là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền
ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình, chứng khoán, trái khoán
…) hoặc lãi suất tùy thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công
ty phát hành Theo phương thức đầu tư này, người bỏ vốn đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý và điều hành dự án Đầu tư gián tiếp không tạo
ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư, vì vậy, phương thức đầu tư này còn gọi là đầu tư tài chính
Hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm duy trì những tiềm lực sẵn có hoặc tạo thêm tiềm lực mới để mở rộng quy mô hoạt động của các ngành sản xuất, dịch vụ, kinh tế, xã hội nhằm tăng trưởng và phát triển nền kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần cho mọi thành viên trong xã hội
Đầu tư XDCB dẫn đến tích lũy vốn, xây dựng thêm nhà cửa và mua sắm thiết bị có ích, làm tăng sản lượng tiềm năng của đất nước và về lâu dài đưa tới sự tăng trưởng kinh tế Như vậy, đầu tư XDCB đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng tới sản lượng và thu nhập
Vì vậy, đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế đưa các loại nguồn vốn để sử dụng vào XDCB nhằm mục đích sinh lợi
2.1.1.2 Các đặc trưng của hoạt động đầu tư
- Là hoạt động bỏ vốn
Nên quyết định đầu tư thường và trước hết là quyết định việc sử dụng các nguồn lực mà biểu hiện cụ thể dưới các hình thức khác nhau như tiền, đất đai, tài sản, vật tư thiết bị, giá trị trí tuệ
Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi Dưới các hình thức khác nhau, nhưng vốn có thể xác định dưới hình thức tiền tệ, vì vậy các quyết định đầu tư thường được xem xét từ phương diện tài chính (tốn phí bao nhiêu vốn, có khả năng thực hiện không, có khả năng thu hồi được
Trang 15không, mức sinh lợi là bao nhiêu …) Nhiều dự án có thể khả thi ở các phương diện khác (kinh tế, xã hội) nhưng không khả thi về phương diện tài chính và vì thế cũng không thể thực hiện trên thực tế
- Là hoạt động có tính chất lâu dài
Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác, đầu tư luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài Do tính lâu dài nên mọi sự trù liệu đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố Chính điều này là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến trong mọi nội dung phân tích, đánh giá của quá trình thẩm định dự án
- Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai
Đầu tư vào một phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại,
để đánh đổi lấy lợi ích tương lai (vốn để đầu tư không phải là các nguồn lực
để dành), vì vậy luôn luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai Rõ ràng rằng, nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu
tư chỉ trong điều kiện lợi ích thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện nay, họ tạm thời phải hy sinh (không tiêu dùng hoặc không đầu tư vào nơi khác)
- Là hoạt động mang nặng rủi ro
Các đặc trưng nói trên đã cho thấy hoạt động đầu tư là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và lại thực hiện trong một thời gian dài, không cho phép nhà đầu tư lượng tính hết những thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính Vì vậy, chấp nhận rủi ro như là bản năng của nhà đầu tư Tuy nhiên nhận thức rõ điều này nên nhà đầu tư cũng có những cách thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế để khả năng rủi ro, để sự sai khác so với dự tính là ít nhất
2.1.1.3 Vai trò của đầu tư
Có vai trò hết sức quan trọng, nó được thể hiện thông qua tác động
Trang 16kép: vừa là nguồn động lực để phát triển kinh tế - xã hội, lại vừa là công cụ
để điều tiết, điều chỉnh kinh tế và định hướng trong xã hội
2.1.1.4 Chi phí đầu tư
Một cách chung nhất, mọi nguồn lực (tiền vốn, đất đai, tài nguyên, tài sản, lao động, trí tuệ…) được sử dụng cho hoạt động đầu tư (bao gồm việc tạo ra tài sản cố định (TSCĐ), phương tiện và các điều kiện để đảm bảo hoạt động bình thường) Theo Nguyễn Ngọc Mai (1998) chi phí đầu tư được phân ra làm hai loại căn cứ vào bản chất của chi phí gồm:
phụ trợ, tiện ích khác và các chi phí trước vận hành
Phần chi phí trước vận hành, tuy không trực tiếp tạo ra tài sản, phương tiện phục vụ cho hoạt động đầu tư, nhưng là các chi phí gián tiếp hoặc liên quan đến việc tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư Các chi phí này thường gồm các khoản sau:
- Chi phí cho công tác chuẩn bị ban đầu, phát hiện dự án: Điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án …
- Chi phí cho tư vấn, khảo sát, thiết kế, giám sát trong quá trình triển khai thực hiện dự án …
Vốn lưu động ban đầu: Là các chi phí để tạo ra tài sản lưu động (TSLĐ)
ban đầu, các điều kiện để dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế kỹ thuật dự tính Vốn lưu động ban đầu gồm các khoản sau:
- Dự trữ sản xuất (vật tư, vật liệu, nhiên liệu … cho một chu kỳ sản xuất kể cả dự trữ bảo hiểm cần thiết)
Trang 17- Dự trữ cho bán thành phẩm, thành phẩm tồn kho
- Các khoản thuộc quỹ tiền mặt
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, điều kiện của từng dự án mà có thể có hoặc không có; có nhiều hoặc ít nhu cầu về vốn lưu động ban đầu
2.1.1.5 Kết quả đầu tư
Kết quả đầu tư là những biểu hiện của mục tiêu đầu tư dưới dạng các lợi ích cụ thể Kết quả đầu tư có thể biểu hiện ở các dạng sau:
- Kết quả tài chính: Là các lợi ích về tài chính thu nhận được từ dự
án biểu hiện bằng giá trị theo giá thị trường
- Kết quả kinh tế: Là các lợi ích về kinh tế biểu hiện bằng giá trị tính theo giá kinh tế
- Kết quả xã hội: Kết quả biểu hiện dưới dạng các lợi ích xã hội (trình
độ dân trí, khả năng phòng chống bệnh tật, đảm bảo môi trường…) Kết quả xã hội biểu hiện khá phong phú và thường không thể đo lường một cách
rõ ràng
2.1.1.6 Hiệu quả của đầu tư
Hiệu quả trực tiếp: Đem lại lợi ích cho người bỏ vốn đầu tư của nền kinh tế, trong từng ngành, từng vùng
Hiệu quả gián tiếp: Được đánh giá khi xem xét phạm vi chung với nền kinh tế vận động theo cơ chế thi trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển và tăng sức cạnh tranh trên thị trường Nhà nước thể hiện vai trò quản lý bằng việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp từng giai đoạn
phát triển và mục tiêu cần đạt được về kinh tế - xã hội
2.1.2 Dự án đầu tư
2.1.2.1 Khái niệm
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị Sự chuẩn bị này được thể
Trang 18hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư), có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo dự án đã được soạn thảo với chất lượng tốt
Dự án là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp) (Nghị định số 16/2005/NĐ-CP; Nghị định số 112/2006/NĐ-CP và
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP)
Nói một cách ngắn gọn, dự án đầu tư là tập hợp các đối tượng được hình thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định (các lợi ích) trong một khoảng thời gian nhất định
Một dự án đầu tư bao gồm 4 vấn đề chính sau đây:
- Mục tiêu của dự án: Bao gồm mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài Đó chính là sự tăng trưởng phát triển về số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ hay các lợi ích kinh tế xã hội khác cho chủ đầu tư hoặc các chủ thể
xã hội khác
- Các kết quả: Đó là các kết quả cụ thể, có thể định lượng được, được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án
- Các hoạt động của dự án: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong khuôn khổ dự án để tạo ra các kết quả nhất định Những nhiệm vụ hoặc hoạt động này gắn với một thời gian biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của
dự án
- Các nguồn lực của dự án: Đó chính là các nguồn lực về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động dự án Các nguồn lực này được biểu hiện dưới dạng giá trị chính là vốn đầu tư của dự án
2.1.2.2 Phân loại dự án đầu tư
Có nhiều cách phân loại dự án đầu tư tuỳ theo mục đích và phạm vi
Trang 19xem xét Ở đây chỉ nêu cách phân loại liên quan tới yêu cầu công tác lập, thẩm định và QLDA đầu tư trong hệ thống văn bản pháp quy, các tài liệu quản lý hiện hành (Chính phủ, Nghị định số 16/2005/NĐ-CP; Nghị định số 112/2006/NĐ-CP và Nghị định số 12/2009/NĐ-CP):
- Theo nguồn vốn: Theo nguồn vốn có thể chia dự án thành dự án
đầu tư bằng vốn NSNN; Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh; vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác; dự án được đầu tư bằng các nguồn vốn hỗn hợp …
- Theo luật chi phối: Dự án được chia ra thành dự án đầu tư theo
Luật đầu tư; theo Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (FDI) …
- Theo hình thức đầu tư: Tự đầu tư, liên doanh, hợp đồng hợp tác
kinh doanh, BOT, BTO, BT …
- Theo các hình thức thực hiện đầu tư: Xây dựng, mua sắm, thuê …
- Theo lĩnh vực đầu tư: Dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phát
triển cơ sở hạ tầng, văn hoá xã hội …
- Phân loại theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư
+ Đối với đầu tư trong nước gồm, 4 loại: Dự án quan trọng cấp quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng
+ Đối với dự án đầu tư nước ngoài, gồm 3 loại A, B và loại được phân cấp cho các địa phương
2.1.2.3 Chu kỳ của dự án đầu tư
Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động
Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành đầu tư
Nội dung các bước công việc của mỗi giai đoạn của các dự án không
Trang 20giống nhau, tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư (sản xuất kinh doanh hay kết cấu hạ tầng, sản xuất công nghiệp hay nông nghiệp …), vào tính chất tái sản xuất (đầu tư chiều rộng hay chiều sâu), đầu tư dài hạn hay ngắn hạn, … Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo thuận lợi cho việc tiến hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp
Trong 3 giai đoạn, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại, ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là ở giai đoạn vận hành kết quả đầu tư Do đó, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất lượng, vấn đề chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là quan trọng nhất Trong quá trình soạn thảo dự án phải dành đủ thời gian và chi phí theo đòi hỏi của các nghiên cứu
Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5 – 15% vốn đầu tư của dự án Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc
sử dụng tốt 85 - 99,5% vốn đầu tư của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư (đúng tiến độ, không phải phá đi làm lại, tránh được những chi phí không cần thiết khác …) điều này cũng tạo cơ sở cho quá trình hoạt động của dự
án thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi (đối với các dự án sản xuất kinh doanh), nhanh chóng phát huy hết năng lực phục vụ dự kiến (đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ xã hội)
Trong giai đoạn 2, vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả Ở giai đoạn này, 85 - 99,5% vốn đầu tư của dự án được chi ra và tồn tại trong suốt những năm thực hiện đầu tư Đây là những năm vốn không sinh lời Thời gian thực hiện đầu tư càng kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn Lại thêm những tổn thất do thời tiết gây ra đối với vật tư, thiết bị chưa hoặc đang được thi công, đối với các công trình đang được xây dựng dở dang
Trang 21Đến lượt mình, thời gian thực hiện đầu tư lại phụ thuộc nhiều vào chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản lý quá trình thực hiện đầu
tư, quản lý việc thực hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu
2.2 Đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản
2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư XDCB
2.2.1.1 Khái niệm đầu tư XDCB
Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng
mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hoá hay khôi phục các tài sản cố định (TSCĐ)
Đầu tư XDCB là một loại hình đầu tư trong đó việc bỏ vốn được xác định rõ và giới hạn trong phạm vi tạo ra những sản phẩm công trình xây dựng Đó là cơ sở vật chất kỹ thuật hoặc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế như
hệ thống giao thông vận tải, hồ, đập thuỷ lợi, trường học, bệnh viện,…
Trang 22Bên cạnh những vai trò đã nêu trên về đầu tư, đầu tư XDCB là hoạt động có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, là nhân tố quan trọng làm thay đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.2.1.2 Đặc điểm của đầu tư XDCB
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển do vậy nó cũng mang những đặc điểm của đầu tư phát triển, đó là:
+ Đầu tư XDCB là một hoạt động bỏ vốn, đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư lớn, có thể ứ đọng trong thời gian dài do vậy quyết định đầu
tư thường trước hết là quyết định tài chính, thể hiện ở các chỉ tiêu: Tổng mức đầu tư, nguồn vốn đầu tư, cơ cấu tài chính, khả năng hoàn vốn, thời gian thi công và hoàn thành công trình
Đầu tư XDCB là hoạt động có tính chất lâu dài, kết quả của đầu tư XDCB là những sản phẩm có giá trị lớn, thậm chí có những dự án kéo dài hàng chục năm do vậy nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Đây là một điểm khác biệt so với những loại hình đầu tư khác Do tính chất lâu dài nên phải trù liệu dự tính được những thay đổi ảnh hưởng đến những quá trình thực hiện dự án Cũng vì giá trị công trình rất lớn nên người
sử dụng không thể "mua" toàn bộ công trình trong một lúc mà phải "mua" từng phần (từng hạng mục hay bộ phận công trình hoàn thành) Việc cấp vốn đầu tư XDCB phải phù hợp với đặc điểm này Điều đó được thể hiện qua việc chủ đầu tư tạm ứng và thanh toán từng phần cho nhà thầu trong quá trình thi công xây lắp
+ Sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc, nên chi phí cho mỗi sản phẩm thường là khác nhau Đây là một đặc điểm cần được lưu ý trong quá trình quản lý vốn đầu tư Quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xác định cho từng công trình
+ Đầu tư XDCB là hoạt động mang tính rủi ro cao do thời gian đầu tư
Trang 23dài, hoạt động phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên Do vậy, đầu tư XDCB phải thực hiện nghiêm ngặt các bước: Chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư; nghiệm thu bàn giao giai đoạn Để tránh rủi ro, ở mỗi giai đoạn đều có khâu kiểm tra kỹ lưỡng Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, người quyết định đầu tư phải thẩm định dự án đầu tư trước khi phê duyệt; Ở giai đoạn thực hiện đầu
tư, chủ đầu tư phải thẩm định thiết kế kỹ thuật (hoặc bản vẽ thi công), thẩm định dự toán; Ở giai đoạn nghiệm thu, người quyết định đầu tư phải thẩm định và phê duyệt báo cáo quyết toán Các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng sẽ được khai thác ở ngay nơi mà
nó được tạo dựng, cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư Vì vậy cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phù hợp với kế hoạch, quy hoạch tổng thể để khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, địa phương
+ Hoạt động đầu tư XDCB rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, diễn ra không chỉ ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau Vì vậy khi tiến hành hoạt động này cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bệnh cạnh đó phải quy định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư
2.2.1.3 Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vai trò và ý nghĩa của xây dựng cơ bản có thể nhìn thấy rõ từ sự đóng góp của lĩnh vực này trong quá trình tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh
tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, cải tạo sửa chữa lớn hoặc khôi phục các công trình hư hỏng hoàn toàn Cụ thể hơn, xây dựng cơ bản là một trong những lĩnh vực sản xuất vật chất lớn của nền kinh tế quốc dân, cùng các ngành sản xuất khác, trước hết là ngành công nghiệp chế tạo và ngành công công nghiệp vật liệu xây dựng, nhiệm vụ của ngành xây dựng là
Trang 24trực tiếp thực hiện và hoàn thành khâu cuối cùng của quá trình hình thành tài sản cố định (thể hiện ở những công trình nhà xưởng bao gồm cả thiết bị và công nghệ lắp đặt kèm theo) cho toàn bộ các lĩnh vực sản xuất của nền kinh
tế quốc dân và các lĩnh vực phi sản xuất khác Ở đây nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị xây dựng là kiến tạo các kết cấu công trình để làm vật bao che, nâng đỡ lắp đặt máy móc cần thiết để đưa chúng vào sử dụng Công trình xây dựng có ý nghĩa rất lớn về mặt kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội, nghệ thuật
- Về mặt kỹ thuật: Các công trình sản xuất được xây dựng lên là thể
hiện cụ thể của đường lối phát triển khoa học kỹ thuật của đất nước là kết tinh hầu hết các thành tựu khoa học kỹ thuật đã đạt được ở chu kỳ trước và sẽ góp phần mở ra một chu kỳ phát triển mới của khoa học và kỹ thuật ở giai đoạn tiếp theo
- Về mặt kinh tế: Các công trình được xây dựng lên là thể hiện cụ thể
đường lối phát triển kinh tế của nền kinh tế quốc dân, góp phần tăng cường
cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước, làm thay đổi cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, đẩy mạnh tốc độ và nhịp điệu tăng năng xuất lao động xã hội và phát triển của nền kinh tế quốc dân
- Về mặt chính trị và xã hội: Các công trình được xây dựng lên sẽ góp
phần mở rộng các vùng công nghiệp và các khu đô thị mới Việc hình thành các vùng công nghiệp, khu công nghiệp và các khu đô thị sẽ góp phần thu hút lao động vào các ngành công nghiệp, dịch vụ, từ đó gián tiếp nâng cao thu nhập cho người lao động và đặc biệt là lao động ở khu vực nông thôn
- Về mặt văn hóa và nghệ thuật: Các công trình được xây dựng lên
ngoài việc góp phần mở mang đời sống cho nhân dân, đồng thời còn làm phong phú thêm cho nền nghệ thuật của đất nước
- Về mặt quốc phòng: Các công trình được xây dựng lên góp phần tăng
cường tiềm lực quốc phòng của đất nước, mặt khác khi xây dựng chúng đòi hỏi phải tính toán kết hợp với vấn đề quốc phòng
Trang 252.2.2 Nguồn vốn đầu tư XDCB và dự án đầu tư XDCB
2.2.2.1 Nguồn vốn đầu tư XDCB
a) Khái niệm về nguồn vốn đầu tư XDCB
Đầu tư XDCB có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho xã hội, là yếu tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân mỗi nước, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Đặc trưng của XDCB là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt có những đặc điểm riêng, khác
với sản phẩm hàng hóa của các ngành sản xuất vật chất khác và vốn đầu tư
XDCB cũng có những đặc trưng riêng khác với vốn kinh doanh của các ngành khác
Theo điều 5, Điều lệ quản lý XDCB kèm theo Nghị định 385 – HĐBT
ngày 7/11/1990 thì: “Vốn đầu tư XDCB là toàn bộ chi phí để đạt được mục
đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí về thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác ghi trong tổng dự toán”
Như vậy, có thể hiểu vốn đầu tư XDCB là nguồn tiền được huy động đầu tư cho xây dựng cơ bản Hay nói cách khác vốn đầu tư XDCB là tổng chi phí bằng tiền để tái sản xuất tài sản cố định có tính chất sản xuất hoặc phi sản xuất
Ở mọi quốc gia, nguồn vốn đầu tư XDCB trước hết và chủ yếu được tích lũy từ nền kinh tế, tức phần tiết kiệm sau tiêu dùng (của cá nhân và Chính phủ) từ GDP Nguồn tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế xét về lâu dài là nguồn đảm bảo cho sự tăng trưởng ổn định, là điều kiện đảm bảo tính độc lập tự chủ quốc gia Tuy nhiên, ngoài nguồn tích luỹ nội bộ, các quốc gia có thể huy động nguồn vốn nước ngoài cho đầu tư XDCB
b) Phân loại nguồn vốn đầu tư XDCB
Căn cứ vào yêu cầu nghiên cứu và quản lý, vốn đầu tư xây dựng nói chung được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau như theo nguồn vốn, theo loại hình xây dựng, theo công dụng đầu tư, theo cấu thành vốn đầu tư
Trang 26hoặc theo giai đoạn đầu tư Từ đó có thể thấy nguồn vốn cho đầu tư phát triển nói chung và đầu tư XDCB nói riêng bao gồm những nguồn sau:
(1) Nguồn vốn trong nước: Đây là nguồn vốn có vai trò quyết định tới
sự phát triển kinh tế của đất nước, nguồn này chiếm tỷ trọng lớn và được quản lý chặt chẽ, nó được hình thành từ các nguồn sau:
- Nguồn vốn Ngân sách nhà nước: Gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, được hình thành từ sự tích luỹ của nền kinh tế và một số nguồn khác;
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư gồm: Vốn của nhà nước chuyển sang, vốn huy động từ các đơn vị kinh tế và các tầng lớp dân cư, dưới các hình thức vốn vay dài hạn của các tổ chức tín dụng Quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài;
- Nguồn vốn của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế khác
(2) Nguồn vốn nước ngoài: Nguồn vốn này có vai trò hết sức quan
trọng tác động đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, nhất là trong việc thực hiện các dự án đầu tư Nguồn này bao gồm cả đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (ODA) thông qua các hình thức liên doanh, liên kết hợp đồng hợp tác kinh doanh
2.2.2.2 Dự án đầu tư XDCB
a) Khái niệm về dự án đầu tư XDCB
Theo Luật Xây dựng: Dự án đầu tư xây dựng là một tập hợp các đề xuất liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định
Bất kỳ một dự án nào cũng phải trải qua một số giai đoạn phát triển nhất định, để đưa dự án qua các giai đoạn đó, đương nhiên ta phải bằng cách này hoặc cách khác quản lý được nó Quản lý dự án thực chất là quá trình lập
kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của
Trang 27dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ bằng phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép
Quản lý dự án là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các công việc và nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu đã định
b) Các loại dự án đầu tư XDCB
Căn cứ vào quy mô tính chất, dự án đầu tư XDCB bao gồm: Dự án
quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương cho phép đầu tư theo Nghị quyết 66/2006/NQ-QH của Quốc hội Còn lại phân thành 3 nhóm A, B,
C (Nghị định 12/NĐ-CP ngày 12/02/2009)
- Căn cứ theo nguồn vốn, dự án đầu tư XDCB bao gồm:
+ Dự án sử dụng nguồn vốn NSNN (bao gồm cả vốn ODA);
+ Dự án đầu tư từ nguồn vốn tín dụng đầu tư;
+ Dự án đầu tư từ nguồn vốn của doanh nghịêp;
+ Dự án đầu tư từ nguồn hỗn hợp: Giữa Nhà nước và các thành phần kinh tế khác
Hiện nay, do dự án đầu tư thường có quy mô lớn, nên xu thế là tồn tại những dự án được đầu tư bằng nguồn vốn hỗn hợp: Nhà nước và tư nhân, vốn trong nước và vốn nước ngoài
- Căn cứ theo phương thức thực hiện đầu tư: Tự đầu tư, liên doanh,
100% vốn nước ngoài, BOT, BT, BTO,…
- Căn cứ vào lĩnh vực đầu tư: Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực sản xuất
kinh doanh, dịch vụ, kết cấu hạ tầng, văn hoá, y tế, xã hội
2.2.2.3 Trình tự thực hiện dự án đầu tư XDCB
Trình tự thực hiện dự án đầu tư XDCB bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn
bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác
sử dụng
* Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
+ Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư;
Trang 28+ Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư;
+ Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng;
+ Lập Báo cáo đầu tư (Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi); lập dự án đầu
tư xây dựng công trình (Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật);
+ Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư
* Thực hiện dự án đầu tư bao gồm:
+ Xin giao đất hoặc thuê đất (đối với dự án có sử dụng đất);
+ Xin giấy phép xây dựng (nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng)
và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên);
+ Thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi (đối với dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi), chuẩn
bị mặt bằng xây dựng (nếu có);
+ Mua sắm thiết bị và công nghệ;
+ Thực hiện việc khảo sát, thiết kế xây dựng;
+ Lập thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình;
+ Đấu thầu các hợp đồng xây dựng, cung cấp thiết bị, lắp đặt, tư vấn,…
+ Tiến hành thi công xây lắp;
+ Kiểm tra và thực hiện các hợp đồng;
+ Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng;
+ Thanh toán khối lượng công trình hoàn thành
* Kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng:
+ Nghiệm thu, bàn giao công trình;
Trang 29+ Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình;
+ Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình;
+ Bảo hành công trình;
+ Quyết toán vốn đầu tư;
+ Phê duyệt quyết toán
2.3 Quản lý vốn đầu tư XDCB trong nông nghiệp từ ngân sách Nhà nước
2.3.1 Khái niệm và đặc điểm vốn đầu tư cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
2.3.1.1 Khái niệm
Vốn đầu tư XDCB từ NSNN: Là khoản vốn Ngân sách được Nhà nước dành cho việc đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội mà không có khả năng thu hồi vốn cũng như các khoản chi đầu tư khác theo quy định của Luật NSNN Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là một nguồn lực tài chính công rất quan trọng của Quốc gia Dưới giác độ là nguồn vốn đầu tư nói chung, vốn XDCB từ NSNN cũng như các nguồn vốn khác –
đó là biểu hiện bằng tiền của giá trị đầu tư, nghĩa là bao gồm toàn bộ chi phí
đầu tư Theo Luật Đầu tư (2005) “ Vốn đầu tư là tiền và tài sản hợp pháp
khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp”
2.3.1.2 Đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
Là một loại vốn đầu tư nên nó có các điểm giống với nguồn vốn đầu tư thông thường, ngoài ra vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn có những đặc điểm khác như sau:
- Khác với vốn kinh doanh của doanh nghiệp (là loại vốn được sử dụng với mục đích sinh lợi và có quá trình hoạt động vì lợi nhuận) vốn đầu tư XDCB từ NSNN về cơ bản không vì mục tiêu lợi nhuận mà được
sử dụng vì mục đích chung của đông đảo mọi người, lợi ích lâu dài cho một ngành, địa phương và cả nền kinh tế Vốn đầu tư XDCB tập trung chủ
Trang 30yếu để phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hoặc định hướng hoạt động đầu tư vào những ngành, lĩnh vực chiến lược Đây là một đặc điểm quan trọng, góp phần giải quyết việc sử dụng vốn đầu tư, để lựa chọn hình thức đầu
tư sao cho mang lại hiệu quả cao nhất Theo nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ thì vốn đầu tư XDCB hiện nay được phân cấp quản lý theo 4 loại: Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư (theo Nghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc hội); Các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm: Nhóm A (các
dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc lĩnh vực bảo vệ an ninh, quốc phòng, sản xuất chất độc hại – không kể mức vốn; dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghiệp điện, khai thác dầu, hóa chất, phân bón, thủy lợi, giao thông, y tế có tổng mức đầu tư từ 500 đến 1.500 tỷ đồng); nhóm B (các dự
án đầu tư xây dựng công trình thuộc lĩnh vực công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hóa chất - có tổng mức đầu tư từ 75 đến 1.500 tỷ đồng; thủy lợi, giao thông, y tế có tổng mức đầu tư từ 30 – 1.000 tỷ đồng); nhóm C (các
dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc lĩnh vực công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hóa chất - có tổng mức đầu tư dưới 75 tỷ đồng; thủy lợi, giao thông, y tế có tổng mức đầu tư từ 30 đến dưới 50 tỷ đồng) và được phân cấp đầu tư theo luật định
- Chủ thể sở hữu của nguồn vốn này là Nhà nước, do đó vốn đầu tư được Nhà nước quản lý và điều hành sử dụng theo các quy định của Luật NSNN, cũng như tuân thủ theo các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư, quản lý chi phí các công trình, các dự án
- Vốn đầu tư lấy nguồn từ NSNN do đó nó luôn gắn bó chặt chẽ với NSNN, được các cấp thẩm quyền quyết định đầu tư vào lĩnh vực XDCB cho nền kinh tế, cụ thể vốn đầu tư được cấp phát dưới hình thức các chương trình dự án trong tất cả các khâu cho đến khi hoàn thành và bàn giao công trình để đưa vào sử dụng
Trang 31- Đầu tư XDCB từ NSNN chủ yếu được tiến hành theo kế hoạch Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ
- Căn cứ vào khả năng thu hồi vốn trực tiếp của dự án đầu tư và tính chất nguồn vốn, hiện tại Nhà nước định ra ba hình thức đầu tư XDCB
từ NSNN đó là: Cấp phát đầu tư, tín dụng đầu tư và doanh nghiệp tự đầu tư + Hình thức cấp phát dành cho các dự án đầu tư không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc các lĩnh vực như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các dự án giao thông, thuỷ lợi, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng Quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các trạm thú y, động thực vật; nghiên cứu giống mới và cải tạo giống; các dự án xây dựng công trình, dự án quản lý Nhà nước, khoa học kỹ thuật; dự án bảo vệ môi trường sinh thái; dự án an ninh quốc phòng, các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, góp vốn cổ phần liên doanh bằng nguồn vốn đầu tư XDCB của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật; Một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân theo quyết định của Chính phủ; Các dự án quy hoạch ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn; Các chương trình, dự án phát triển kinh
tế - xã hội Tất cả nhu cầu vốn trên được cấn đối từ NSNN
+ Hình thức tín dụng đầu tư dành cho các dự án đầu tư xây dựng
hạ tầng kinh tế, các cơ sở sản xuất, kinh doanh tạo việc làm có khả năng thu hồi vốn; các dự án đầu tư cho một số ngành kinh tế quan trọng của Nhà nước trong từng thời kỳ (như điện, xi măng, sắt thép …); Các dự án đầu tư của ngành đảm bảo hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn Các nhu cầu vốn này một phần được NSNN bố trí theo chính sách từng thời kỳ, số còn lại là nguồn vốn tín dụng đầu tư của các ngân hàng
+ Hình thức doanh nghiệp tự đầu tư dành cho các dự án đầu tư mới hoặc mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp Nhà nước bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý theo hướng
Trang 32xoá bao cấp về vốn đầu tư, chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh, xu hướng hình thức cấp phát vốn đầu tư sẽ giảm, thay vào đó là hình thức tín dụng đầu tư sẽ tăng lên
- Đầu tư XDCB từ NSNN có điểm khác cơ bản với đầu tư bằng vốn không phải của Nhà nước là cơ chế quản lý Do chủ sở hữu vốn đầu tư phát triển của Nhà nước là Nhà nước, chủ đầu tư chỉ là người sử dụng vốn nên cần có cơ chế quản lý chặt chẽ đi liền với việc kiểm tra giám sát để hạn chế tiêu cực, thất thoát, lãng phí Còn vốn đầu tư không phải của Nhà nước, chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn đích thực nên cơ chế quản lý đơn giản, gọn nhẹ hơn
2.3.1.3 Vai trò của nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
Vai trò của vốn đầu tư XDCB từ NSNN là hết sức quan trọng, nó được thể hiện thông qua các tác động kép: Vừa là nguồn động lực để phát triển kinh tế - xã hội, lại vừa là công cụ để điều tiết, điều chỉnh nền kinh tế và định hướng trong xã hội thể hiện trên các mặt sau:
- Đầu tư XDCB từ NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước trực tiếp tác động đến quá trình kinh tế, xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Bằng việc cung cấp những dịch vụ công cộng như hạ tầng kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng … mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không được đầu tư; Các dự án đầu tư từ NSNN được triển khai ở các vị trí quan trọng then chốt nhất nhằm đảm bảo cho nền kinh tế - xã hội phát triển ổn định
- Đầu tư XDCB từ NSNN là công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế:
+ Về mặt cầu: Đầu tư XDCB trong đó có đầu tư từ NSNN sẽ tạo ra khả năng kích cầu tiêu dùng trong sản xuất, thúc đẩy lưu thông, tạo công
ăn việc làm, thu nhập
+ Về mặt cung: Khi các dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, năng lực
Trang 33mới của nền kinh tế tăng lên tác động làm tăng tổng cung trong dài hạn, kéo theo tăng sản lượng tiềm năng, giá cả sản phẩm giảm
- Đầu tư XDCB từ NSNN là công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ:
Thông qua đầu tư các chương trình dự án ở vùng sâu vùng xa về giao thông, y tế, giáo dục, thuỷ lợi … Giúp cho các vùng này có điều kiện giao thông, thuỷ lợi thuận lợi, nhân dân được giáo dục nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ tạo điều kiện phát triển vùng
Thông qua các dự án đầu tư phát triển của mình Nhà nước có thể điều chỉnh giúp ngành nghề này phát triển, hạn chế ngành nghề khác không có lợi
Ví như, để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020, Đảng, Nhà nước chủ trương tập trung vốn đầu tư vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm như: Dầu khí, Giao thông (đường bộ cao tốc, đường sắt, hành không, hàng hải), một số ngành công nghệ cao
- Đầu tư XDCB từ NSNN tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế
và cho toàn nền kinh tế phát triển; có vai trò định hướng hoạt động đầu tư trong nền kinh tế Vốn đầu tư XDCB từ NSNN được coi là vốn mồi để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển Chẳng hạn có đường giao thông thuận lợi thì thị trường hàng hoá có điều kiện phát triển,
cơ sở hạ tầng kinh tế phát triển sẽ tạo khả năng to lớn để thu hút vốn đầu
tư trong và ngoài nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá giáo dục, y
tế, du lịch …
- Đầu tư XDCB từ NSNN có vai trò mở đường cho sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân
Do các dự án đầu tư vào những lĩnh vực trên thường rất tốn kém, độ rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn thấp nên Nhà nước thường phải đầu tư
Trang 34bằng nguồn vốn NSNN như: Các dự án đầu tư cho phòng thí nghiệm trọng điểm, các trạm, trại nghiên cứu giống mới, các trường đại học, các bệnh viện, các trung tâm y tế dự phòng Có đầu tư của Nhà nước sẽ cung cấp các dịch vụ công tạo điều kiện nâng cao hiệu quả đầu tư của nền kinh
tế xã hội
Có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển vùng sâu, vùng xa, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, xa
2.3.1.4 Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
- Theo cấp ngân sách, vốn đầu tư XDCB từ NSNN gồm nguồn vốn
đầu tư từ ngân sách địa phương (NSĐP) và nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương (NSTW), (Nghị định số 16/2005/NĐ-CP; Nghị định số 112/2006/NĐ-CP và Nghị định số 12/2009/NĐ-CP), Luật Đầu tư số 59/2005/QH11, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật liên quan đến Đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12)
Nguồn đầu tư từ NSTW thuộc NSNN do các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan trực thuộc Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước (gọi chung là bộ) quản lý thực hiện Và nguồn vốn này chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số vốn đầu tư từ NSNN
Vốn đầu tư từ NSĐP thuộc NSNN do các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh) và các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (ngân sách cấp huyện) và các xã, phường, thị trấn quản lý (ngân sách cấp xã)
- Theo tính chất kết hợp nguồn vốn, vốn đầu tư XDCB từ NSNN gồm
nguồn ngân sách tập trung và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư (Nghị định
số 16/2005/NĐ-CP; Nghị định số 112/2006/NĐ-CP và Nghị định số 12/2009/NĐ-CP), (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Trang 35Luật Đầu tư số 59/2005/QH11, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật liên quan đến Đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12)
Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách tập trung là vốn đầu tư cho các dự
án bằng nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN do các cơ quan Trung ương và địa phương chịu trách nhiệm quản lý
Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư là loại vốn NSNN thuộc nhiệm
vụ chi thường xuyên cho các hoạt động sự nghiệp mang tính chất đầu tư như duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa các công trình giao thông, nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, lâm nghiệp và các chương trình quốc gia, dự án Nhà nước
- Theo nguồn vốn, vốn đầu tư XDCB từ NSNN được chia thành
vốn có nguồn gốc trong nước và vốn có nguồn gốc nước ngoài
Vốn NSNN có nguồn gốc trong nước: Là loại vốn NSNN nhưng dành
để chi cho đầu tư phát triển, chủ yếu để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước và các khoản chi đầu
tư phát triển khác theo quy định của pháp luật Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, nguồn vốn này được hình thành từ vốn vay trong dân cư và vay các tổ chức trong nước Nguồn hình thành của loại vốn này là từ thuế và các nguồn thu khác của Nhà nước như cho thuê tài sản,
Vốn đầu tư từ NSNN có nguồn gốc từ vốn ngoài nước: Cũng là vốn NSNN nhưng chủ yếu là vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) Đây là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức của chính phủ hoặc của các tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển theo hai phương thức: Viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại (tín dụng ưu đãi) Tuy nhiên trong một số trường hợp, nguồn vốn vay này được hình thành từ việc vay thương mại, thuê mua tài chính
Vốn đầu tư theo cơ chế đặc biệt như đầu tư cho các công trình an ninh, quốc phòng, công trình khẩn cấp (chống bão, lụt ), công trình tạm
Trang 362.3.2 Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
2.3.2.1 Quy trình chung về quản lý vốn đầu tư XDCB
a Vai trò và trách nhiệm quản lý vốn đầu tư XDCB
Quy trình quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước được khái quát hoá thông qua Hình 2.1, trong đó vai trò quản lý và trách nhiệm của từng
bộ phận được phân công rất rõ ràng và cụ thể Bao gồm
* Người quyết định đầu tư:
Người quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự án trước khi phê duyệt, ra quyết định đầu tư, bố trí vốn thực hiện dự án theo tiến độ, điều chỉnh tổng mức đầu tư, quyết định phát sinh ngoài dự án và hình thức quản lý dự án, phê duyệt giá trị quyêt toán
* Chủ đầu tư:
Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao quản lý sử dụng vốn
để đầu tư xây dựng công trình Chủ đầu tư có trách nhiệm tiếp nhận và sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm và có hiệu quả Chấp hành đúng quy định của pháp luật về chế độ quản lý tài chính Chủ đầu tư là người chịu trách nhiệm toàn diện trước người quyết định đầu tư và pháp luật
về chất lượng, tiến độ, chi phí vốn đầu tư xây dựng công trình và các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Chủ đầu tư có quyền thành lập ban quản lý dự án (theo quyết định thành lập ban quản lý dự án) hoặc thuê tư vấn quản lý dự án (theo hợp đồng ký kết với nhà thầu tư vấn quản lý dự án) Chủ đầu tư có trách nhiệm chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đó nhằm đảm bảo dự
án được thực hiện đúng nội dung và tiến độ đã được phê duyệt Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm lập hoặc thuê tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng công trình (trong trường hợp thuê tư vấn lập dự án đầu tư, chủ đầu tư vẫn là người chịu trách nhiệm báo cáo, giải trình dự án đầu tư trong bước thẩm định, đánh giá dự
án đầu tư)
Trang 37Hình 2.1: Quy trình quản lý vốn đầu tư XDCB của Nhà nước
Trường hợp chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án thì
tổ chức tư vấn đó phải có đủ điều kiện, năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự
án được thực hiện theo hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên
b Trình tự quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản
Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt trình tự thực hiện dự án đầu tư bao gồm 8 bước công việc, phân theo hai giai đoạn theo hình 2.2 dưới đây:
Thực hiện đầy đủ các yêu cầu về trình tự nêu trên là cơ sở để khắc phục những khó khăn, tồn tại do đặc điểm riêng của hoạt động đầu tư XDCB gây ra Vì vậy, những quy định về trình tự đầu tư xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng công trình, chi phí xây dựng
Trang 38công trình, khi hoàn thành xây dựng đưa vào sử dụng đối với nền kinh tế của vùng, của khu vực cũng như cả nước Do đó, việc chấp hành trình tự đầu tư và xây dựng có ảnh hưởng rất lớn vì có tính chất quyết định không những đối với chất lượng công trình, dự án đầu tư mà còn có thể gây ra những lãng phí, thất thoát, tạo sơ hở cho tham nhũng về vốn và tài sản trong hoạt động đầu tư, xây dựng, từ đó làm tăng chi phí xây dựng công trình, dự án, hiệu quả đầu tư thấp
Như vậy, việc thực hiện nghiêm túc trình tự đầu tư và xây dựng là một đặc trưng cơ bản trong hoạt động đầu tư, có tác động trực tiếp và gián tiếp như những nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong hoạt động đầu tư Vì vậy, ở mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư cần phải có giải pháp quản lý thích hợp để ngăn chặn các hiện tượng lãng phí, thất thoát, tham nhũng có thể xảy ra
Hình 2.2 Trình tự thực hiện một dự án đầu tư
Giai đoạn I Chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn II Thực hiện đầu tư
Thi công xây dựng, đào tạo cán bộ
Chạy thử, nghiệm thu, quyết toán
Đưa vào khai thác sử dụng
Trang 39c Nội dung quy trình chung về quản lý vốn đầu tư XDCB
* Quản lý vốn đầu tư XDCB ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, lập dự toán
đầu tư
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chủ đầu tư cần tập trung quản lý tổng chi phí của công trình xây dựng thể hiện bằng chỉ tiêu tổng mức đầu tư Tổng mức đầu tư là tổng chi phí dự tính để thực hiện toàn bộ quá trình đầu tư và xây dựng và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết định đầu tư
Các chỉ tiêu chính dùng để xác định tổng mức đầu tư:
1) Chi tiêu suất vốn đầu tư XDCB
2) Giá chuẩn của các công trình và hạng mục công trình XD thông dụng
3) Đơn giá dự toán tổng hợp
4) Mặt bằng giá thiết bị của thị trường cung ứng máy móc thiết bị hoặc giá thiết bị tương tự đã được đầu tư
5) Các chi phí khác tính theo % quy định của Nhà nước (thuế, chi phí lập và thẩm định dự án đầu tư )
* Quản lý vốn đầu tư XDCB ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư
Trong giai đoạn thực hiện đầu tư, quản lý vốn đầu tư XDCB tập trung vào việc quản lý giá xây dựng công trình được biểu thị bằng chỉ tiêu: Tổng
dự toán công trình, dự toán hạng mục công trình và các loại công tác xây lắp riêng biệt
Tổng dự toán công trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây dựng công trình thuộc dự án được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thi công
Quản lý việc giải ngân vốn đầu tư XDCB theo tiến độ thi công công trình, đây là nhân tố quan trọng bảo đảm công trình thi công đúng tiến độ, đồng thời theo dõi kiểm soát chi phí phát sinh trong quá trình thi công
Trang 40* Quản lý vốn ĐT XDCB ở giai đoạn kết thúc, đưa dự án vào khai thác, sử dụng
Nội dung công việc phải thực hiện khi kết thúc xây dựng gồm:
1) Nghiệm thu, bàn giao công trình
2) Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình
3) Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình
4) Bảo hành công trình
5) Quyết toán vốn đầu tư
6) Phê duyệt quyết toán
Tất cả các công trình xây dựng sau khi hoàn thành được nghiệm thu, quyết toán đưa dự án vào khai thác sử dụng Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm quyết toán vốn đầu tư, hoàn tất các thủ tục thẩm tra trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành theo quy định về đầu tư xây dựng hiện hành của Nhà nước Kết quả phê duyệt quyết toán vốn đầu tư công trình, dự án hoàn thành trong mọi hình thức: Đấu thầu hay chỉ định thầu hoặc tự làm đều không được vượt tổng dự toán công trình và tổng mức đầu tư đã được người có thẩm quyền quyết định đầu tư phê duyệt
2.3.2.2 Nguyên tắc quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN
Do những khó khăn và phức tạp trong quản lý, sử dụng, nên việc quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
- Quản lý, sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN phải tiết kiệm, hiệu quả bởi nguồn lực thì hữu hạn mà nhu cầu thì vô cùng Trong điều kiện Ngân sách cũng như mức độ tích luỹ của nền kinh tế còn thấp thì mỗi đồng vốn bỏ
ra càng phải thực sự hiệu quả
- Công khai minh bạch: Nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN là tài sản của dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Do vậy, người dân có quyền được biết Nhà nước đã chi tiêu thế nào để thuận lợi cho việc theo dõi, giám sát Công khai minh bạch ở đây là công khai việc phân bổ vốn đầu tư hàng năm cho các dự án đầu tư; công khai về tổng mức đầu tư, tổng dự toán được