BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- --- TRẦN THỊ THU HẰNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
TRẦN THỊ THU HẰNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
TRẦN THỊ THU HẰNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ DƯƠNG NGA
HÀ NỘI, năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ đều đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập, nghiên cứu đề tài "Giải pháp nâng cao vai trò
lãnh đạo của TCCSĐ trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam", chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình và
có hiệu quả của Khoa kinh tế và Phát triển Nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Huyện ủy, UBND huyện; Đảng ủy và UBND các xã; cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đến nay đề tài đã hoàn thành Với sự kính trọng và tình cảm chân thành, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài Đặc biệt là Tiến sỹ - Nguyễn Thị Dương Nga, Trưởng Bộ môn Phân tích Định lượng, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong việc hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, UBND huyện, các Ban xây dựng Đảng của Huyện ủy, các phòng chuyên môn của UBND huyện Lý Nhân; xin cảm ơn Đảng ủy, UBND các xã; xin cảm ơn các đồng chí cán bộ, đảng viên
và nhân dân trong huyện đã giúp đỡ, cộng tác cùng chúng tôi để đề tài được thực hiện kịp tiến độ theo kế hoạch
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả khả năng của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp tham gia đóng góp ý kiến Trân trọng biết ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Thu Hằng
Trang 52.2.1- Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay: 30
Trang 62.2.2- Thực trạng vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong xây dựng Nông thôn mới tại một số địa phương trong cả nước: 33
4.1- Thực trạng tổ chức cơ sở Đảng trên địa bàn huyện Lý Nhân 58 4.2- Vai trò lãnh đạo xây dựng NTM của các tổ chức cơ sở Đảng trên địa
4.2.1- Việc ban hành Nghị quyết lãnh đạo và công tác tuyên truyền vận động
4.2.3- Công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng nông thôn mới: 83 4.2.4- Công tác động viên, khen thưởng trong xây dựng NTM: 85 4.3- Các yếu tố ảnh hưởng tới vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong
4.3.1- Công tác tuyên truyền vận động của các tổ chức cơ sở Đảng: 87 4.3.2- Công tác ban hành Nghị quyết lãnh đạo của TCCSĐ: 88
4.3.4- Công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở Đảng: 91
Trang 74.4- Các giải pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam 93 4.4.1- Quan điểm của Huyện ủy về nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm xây dựng
4.4.2- Các giải pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong xây dựng Nông thôn mới:……… 95
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình sử dụng đất đai huyện Lý Nhân qua 3 năm 2011 – 2013 41 3.2 Tình hình dân số và lao động của Huyện Lý Nhân từ 2011 - 2013 43 3.3 Giá trị và cơ cấu GTSX của huyện Lý Nhân qua 3 năm 2011 - 2013 47 3.4 Thông tin về các xã đang thực hiện xây dựng nông thôn mới
4.1 Số lượng các TCCSĐ trên địa bàn huyện Lý Nhân năm 2013 58 4.2 Số lượng đảng viên tại các TCCSĐ và các xã điều tra - năm
4.3 Số lượng đảng viên theo giới tính, độ tuổi và trình độ học vấn
4.4 Thực trạng chất lượng TCCSĐ tại huyện Lý Nhân - năm 2013 63 4.5 Thực trạng chất lượng đảng viên tại huyện Lý Nhân năm 2013 64 4.6 Thực trạng chất lượng TCCSĐ và chi bộ đảng tại 8 xã điều
4.7 Hiện trạng và mục tiêu hoàn thiện HTCT cơ sở huyện Lý
4.9 Các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng nông thôn mới được
ban hành tại các xã điều tra và huyện Lý Nhân 69 4.10 Đánh giá về việc ban hành Nghị quyết của các TCCSĐ trong
4.11 Việc triển khai dẫn thực hiện các Nghị quyết về xây dựng
Trang 94.12 Tuyên truyền vận động và hướng dẫn thực hiện các Nghị
quyết về xây dựng nông thôn với nhân dân 73 4.13 Đánh giá việc hướng dẫn triển khai các Nghị quyết của 74 4.14 Đánh giá việc thực hiện quy chế hoạt động của TCCSĐ trong
4.15 Thực trạng trình độ đội ngũ cán bộ xã, thị trấn huyện Lý
4.16 Đánh giá công tác tổ chức con người và phân công thực hiện
nhiệm vụ trong xây dựng nông thôn của TCCS Đảng 78 4.17 Đánh giá của cán bộ và người dân về kỹ năng và đạo đức của
4.18 Đánh giá về kiến thức xây dựng NTM của cán bộ tại các
4.19 Đánh giá của cán bộ về công tác kiểm tra, giám sát trong xây
4.20 Đánh giá về công tác tuyên truyền vận động của TCCS Đảng
4.21 Trình độ của đội ngũ cán bộ tại các TCCSĐ được điều tra 90 4.22 Thực tế nhu cầu đi học nâng cao trình độ, năng lực của đội
4.23 Đánh giá của cán bộ về sự phối kết hợp của MTTQ và các
đoàn thể chính trị trong xây dựng NTM tại các xã điều tra 105
Trang 104.4: Kết quả đạt được trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng
4.5: Vấn đề về công tác tuyên truyền vận động 88
Trang 11DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CN - TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
Trang 131 MỞ ĐẦU
1.1- Tính cấp thiết của Đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Hơn Tám thập kỷ qua, Đảng đã đảm đương sứ mệnh lãnh đạo nhân dân vượt qua bao khó khăn, thử thách, hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, trong hệ thống 4 cấp của Đảng thì tổ chức cơ sở Đảng là cấp cuối cùng, với nhiều loại hình khác nhau, được thiết lập ở các cơ sở dân cư, đơn vị công tác và đơn vị sản xuất, là hạt nhân chính trị ở cơ sở trực tiếp đưa đường lối của Đảng đến với dân, lãnh đạo nhân dân tổ chức cuộc sống trên mỗi địa bàn dân cư, đơn vị công tác và đơn vị sản xuất, là cấp hành động thực tiễn rõ nét nhất Song, như thế không có nghĩa cơ sở đảng chỉ thụ động thực hiện chỉ thị của tổ chức đảng các cấp trên cơ sở, mà còn có nhiệm vụ tổng kết thực tiễn, kiểm nghiệm sự đúng - sai của các chủ trương, chính sách rồi phản hồi ý kiến của đảng viên và quần chúng lên các cấp cao hơn Thực tiễn đã chứng minh, nơi nào tổ chức cơ
sở Đảng rệu rã, ở đó kinh tế kém phát triển, nội bộ mất đoàn kết, chính trị bất
ổn định,… ngược lại ở đâu cơ sở Đảng vững mạnh, ở đó kinh tế phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, dân chủ được đảm bảo, niềm tin của quần chúng đối với Đảng được tăng lên
Trang 14Nước ta đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, công cuộc đổi mới được đẩy mạnh một cách toàn diện và sâu sắc trong bối cảnh Quốc tế và trong nước đầy biến động, đòi hỏi Đảng ta phải nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình, nhằm đáp ứng những yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng đã xác định mục tiêu là xây dựng NTM Quán triệt
Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương lần thứ Bảy (Khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng NTM với mục tiêu, nhiệm vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình XD NTM trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước Ngày 28 tháng 10 năm 2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành chương trình hành động về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và chương trình mục tiêu Quốc gia về XD NTM Đây là chương trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng Chương trình được thể hiện theo năm nhóm nội dung: Nhóm về quy hoạch, nhóm về hạ tầng KT - XH, nhóm về kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm về văn hóa - xã hội - môi trường và nhóm về HTCT Công việc ấy bắt đầu từ TCCSĐ, bởi đó là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Đảng Điều đó đối với huyện Lý Nhân càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa chiến lược để xây dựng và hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia XD nông thôn mới Thời gian qua, trên địa bàn huyện Lý Nhân bên cạnh những tổ chức cơ
sở Đảng không ngừng cố gắng khắc phục mọi khó khăn vươn lên nhằm thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM thì vẫn còn một
số cơ sở đảng còn nhiều hạn chế khuyết điểm: chưa xác định rõ nhiệm vụ xây dựng NTM trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, đề ra chủ trương lãnh đạo còn
Trang 15chung chung chưa thật sự đi vào những vấn đề bức xúc cần tập trung giải quyết, nên nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; chất lượng hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị cơ sở còn nhiều yếu kém; phương thức lãnh đạo của Cấp uỷ cơ sở đối với HTCT cũng như hoạt động của Chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân chưa có nhiều đổi mới; trình độ, năng lực của cán bộ cấp ủy - nhất là cán bộ cơ sở còn hạn chế, thiếu tận tâm; một bộ phận người dân và cán bộ cơ sở, còn ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của cấp trên; quyền làm chủ của người dân chưa được tôn trọng, không ít nơi mất đoàn kết; nhiều vấn đề nổi cộm, bức xúc chưa được giải quyết kịp thời; đời sống của nhân dân còn khó khăn, Để góp phần vào việc nâng cao vai trò lãnh đạo của TCCSĐ trong xây dựng nông thôn mới
Từ góc nhìn ở địa phương, cơ sở chúng tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam”
1.2- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1- Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng trong công tác xây dựng Đảng nói chung và trong xây dựng nông thôn mới nói riêng tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện trong thời gian tới
1.2.2- Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong công tác xây dựng Đảng nói chung và trong xây dựng nông thôn mới nói riêng
- Đánh giá thực trạng vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
Trang 16- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của TCCSĐ trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
- Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
1.3- Câu hỏi nghiên cứu
- Việc nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong công tác
xây dựng nông thôn mới có tầm quan trọng như thế nào?
- Thực trạng vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam?
- Yếu tố nào tác động và ảnh hưởng tới vai trò lãnh đạo của TCCSĐ trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam?
- Các giải pháp đưa ra nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của TCCSĐ trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam?
1.4- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò lãnh đạo của TCCSĐ trong công tác xây dựng Đảng nói chung và trong xây dựng NTM nói riêng
1.4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung phân tích, đánh giá vai trò lãnh
đạo của các TCCSĐ trong công tác xây dựng Đảng nói chung và trong xây dựng Nông thôn mới nói riêng trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
* Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện trên phạm vi địa bàn huyện Lý
Nhân, tỉnh Hà nam
* Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát ở 3 năm đầu nhiệm kỳ 2010 -
2015 (2011, 2012, 2013) của Đại hội Đảng bộ huyện Lý Nhân Định hướng
và giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2015 - 2020
Trang 172 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
đó Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học về
tổ chức - nhân sự Đó là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của
tổ chức Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng và dẫn dắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức
Trên thực tế, thuật ngữ “lãnh đạo” và “quản lý” thường hay đi cùng
nhau và đôi khi được coi là như nhau song đây là hai khái niệm khác biệt Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (chủ biên Hoàng Phê) đưa ra khái niệm đơn giản về lãnh đạo là “đề ra chủ trương và tổ chức động viên thực hiện” Từ điển Hán ngữ của Trung Quốc cũng cho rằng “Lãnh đạo là soái lĩnh và dẫn đạo tiến lên theo một hướng nhất định” Từ điển Wikipedia Việt Nam dẫn rằng “Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học
về tổ chức - nhân sự Đó là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong
đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng và dẫn dắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức”
Giáo sư Đỗ Quốc Sam (2012) cho rằng: Lãnh đạo là chỉ đường, vạch lối, nhìn xa trông rộng hướng tới mục tiêu cuối cùng Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối, nguyên lý, sách lược Lãnh đạo là quan tâm đến những vấn
Trang 18đề mang tính chiến lược, các mục tiêu lâu dài; có thể gắn với các khía cạnh trừu tượng của cuộc sống Lãnh đạo thuộc lĩnh vực chính trị, người lãnh đạo
là nhà chính trị Là dùng biện pháp động viên, thuyết phục, gây ảnh hưởng dựa vào đạo lý là chính Lãnh đạo tác động đến ý thức của con người
Trong khi đó, quản lý lại khá khác biệt theo các khía cạnh: Quản lý là
tổ chức và điều khiến các hoạt động theo các yêu cầu đạt được mục tiêu cuối cùng Quản lý chú trọng những yêu cầu có tính chất chiến thuật, có mục tiêu
cụ thể và thường là ngắn hạn Quản lý thường phải xử lý các vấn đề thực tế Quản lý là sử dụng các biện pháp tổ chức chặt chẽ, dựa vào các ràng buộc của pháp chế, thể chế, có ý nghĩa cưỡng chế Quản lý là sử dụng con người như một nguồn lực
Mặc dù vậy, lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn là hai khái niệm đối lập nhau mà có nhiều điểm tương đồng và bổ sung cho nhau Một công việc quan trọng cấp quốc gia hay doanh nghiệp cũng cần cả lãnh đạo và quản lý
Lý do là hai chức năng này đều phục vụ cho tổ chức đạt mục đích cuối cùng
Giáo sư Đỗ Quốc Sam cho rằng: Trong tiến trình thực hiện một đường lối hay một chủ trương quan trọng, hai quá trình lãnh đạo và quản lý thường
bổ sung cho nhau, đan xen nhau Quá trình lãnh đạo (xác định mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược, tổ chức động viên…) thường đi trước và chiếm nhiều thời gian hơn trong giai đoạn đầu của việc thực hiện các đường lối; còn quá trình quản lý (kế hoạch, tổ chức, kiểm tra,…) thường chiếm nhiều thời gian hơn ở giai đoạn sau - khi tiến trình thực hiện đi vào thực tế
Trong bối cảnh nước ta, thể chế chính trị tổng thể là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Nhà nước quản lý giữ vai trò làm phương tiện để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý quốc gia
và xã hội Sự lãnh đạo của Đảng giữ vị trí then chốt trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân và dẫn dắt chính quyền nhà nước quản lý đất nước
Trang 192.1.1.2- Chức năng của nhà lãnh đạo
Trong bất kỳ tổ chức nào nói chung, nhà lãnh đạo được xác định từ vị trí, nhiệm vụ và hoạt động của họ đối với tổ chức đó và có thể xuất hiện ở mọi cấp trong cơ cấu tổ chức của tổ chức Ví dụ trong một doanh nghiệp thì nhà lãnh đạo có thể là lãnh đạo toàn bộ doanh nghiệp có tổng giám đốc, giám đốc, lãnh đạo phòng có trưởng phòng, lãnh đạo nhóm làm việc có trưởng nhóm Thông thường họ có vị trí dẫn đầu tại cấp độ lãnh đạo mà họ đảm nhiệm trong
tổ chức Vị trí lãnh đạo cao nhất của tổ chức là người đại diện cho tổ chức trước pháp lý Trách nhiệm của một người lãnh đạo bao gồm:
- Đại diện cho các bên liên quan lãnh đạo tổ chức
- Xác định tầm nhìn, chỉ đạo thực hiện thông qua sứ mệnh hoặc mục đích của tổ chức Một trong các yếu tố quan trọng cho lãnh đạo thành công là nhà lãnh đạo phải xây dựng được viễn cảnh hấp dẫn mà tổ chức có thể đạt được trong tương lai Chỉ khi xác định được tầm nhìn, họ mới có thể hướng tổ chức của mình đi theo con đường nào Jack Welch cựu Tổng Giám đốc GE từng nói: “Người lãnh đạo tài giỏi nhất phải là người có thể tạo dựng một tầm nhìn rõ ràng và khuyến khích mọi người cùng thực hiện nó” Còn trong cuốn sách kinh điển về quản lý của mình, Dynamic Administration (Quản lý năng động), Mary Parker Follet đã nhận xét về khía cạnh sống còn này của lãnh đạo khi nói “Nhà lãnh đạo thành công nhất là người nhìn thấy một bức tranh khác khi nó còn chưa thành hình”
- Xây dựng chiến lược thực hiện tầm nhìn: Nhà lãnh đạo phải đưa ra được phương hướng, tổ chức và tập hợp sức mạnh từ các thành viên riêng lẻ trong tổ chức thành một khối thống nhất, để thực hiện tầm nhìn đề ra
- Chiến lược phát triển cần linh hoạt, phù hợp với sự phát triển của tổ chức
và bối cảnh
- Thực hiện công việc của một nhà quản lý cấp cao như: Xây dựng, thực thi chiến lược, lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, lực của công ty Kiểm
Trang 20tra, đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu của tổ chức, theo dõi và giám sát các hoạt động, đặc biệt các hoạt động liên quan kết quả, hiệu quả hoạt động của tổ chức
- Cung cấp thông tin và hướng dẫn thực hiện cho các cán bộ quản lý khác tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và các thay đổi trong chiến lược
- Đối với nhân viên, nhà lãnh đạo cần gây ảnh hưởng, truyền cảm hứng cho nhân viên thông qua chia sẻ, truyền đạt tầm nhìn của mình tới tất cả mọi người trong tổ chức và bằng nhiệt huyết, uy tín của mình lôi kéo nhân viên hành động để thực hiện tầm nhìn Người lãnh đạo cần khuyến khích, động viên mọi ngươi phát huy hết khả năng của mình, cùng làm việc với họ để đạt được mục tiêu lâu dài
- Phát triển các tài năng: Xây dựng được một đội ngũ nhân viên tài năng chính là điều kiện tiên quyết cho nhà lãnh đạo dẫn tổ chức của họ đi tới thành công
- Trao quyền: Tin tưởng và trao quyền cho cấp dưới chính là cách thực hiện quyền lực hiệu quả nhất của nhà lãnh đạo
- Xây dựng, phát triển văn hóa tổ chức: Người lãnh đạo cần xác lập được văn hóa tổ chức, đặc biệt trong các doanh nghiệp và hướng mọi thành viên theo những giá trị văn hóa đó Nhà lãnh đạo cần xác định môi trường làm việc phù hợp để mọi thành viên có thể phát huy được hết khả năng của mình, xây dựng được những quy tắc ứng xử giữa các cá nhân, giữa cấp trên - cấp dưới, bên trong - bên ngoài của tổ chức
2.1.1.3- Các phương pháp lãnh đạo
Trên cơ sở nhận thức về yếu tố con người trong tổ chức, lý thuyết nhu cầu, động cơ thúc đẩy và tính cách của người lãnh đạo, sẽ hình thành các phương pháp lãnh đạo của họ Cách thức tác động có hiệu quả trong phát huy
sự tự nguyện, chủ động, nhiệt tình và sáng tạo của các thành viên trong công việc chính là phương pháp lãnh đạo Có ba phương pháp cơ bản sau:
Trang 21(1)- Phương pháp kinh tế: Tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế để khuyến khích nhân viên làm việc tốt hoặc đe dọa trừng phạt về kinh tế ví dụ như khoán, thầu, lương, thuế Phương pháp này có thể cho nhân viên quyền tự do lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất
(2)- Phương pháp hành chính: Tác động thông qua các hệ thống quản lý
và kỷ luật của tổ chức như các nội quy, quy chế, yêu cầu đối tượng quản lý phải chấp hành; ví dụ như đi làm đúng giờ, không làm việc cá nhân trong giờ hành chính
(3)- Phương pháp giáo dục tư tưởng: Tác động vào nhận thức, tâm lý, tình cảm của đối tượng quản lý nhằm nâng cao tự chủ, nhiệt tình của họ trong công việc
Trên thực tế không thể chỉ sử dụng một phương pháp duy nhất mà thường kết hợp cả ba phương pháp trên do mỗi phương pháp chỉ phát huy ưu điểm và tác dụng trong mỗi hoàn cảnh với đối tượng cụ thể
2.1.1.4- Các phong cách lãnh đạo
Phong cách lãnh đạo của một cá nhân là dạng hành vi của người đó thể hiện các nỗ lực ảnh hưởng tới hoạt động của những người khác; là cách thức làm việc của nhà lãnh đạo và là hệ thống các dấu hiệu đặc trưng của hoạt động quản lý của nhà lãnh đạo, được quy định bởi các đặc điểm nhân cách của họ Có ba phong cách lãnh đạo cơ bản:
(1)- Phong cách lãnh đạo chuyên quyền, độc đoán: Kiểu quản lý mệnh lệnh độc đoán được đặc trưng bằng việc tập trung mọi quyền lực vào tay một mình người quản lý, người lãnh đạo - quản lý bằng ý chí của mình, trấn áp ý chí và sáng kiến của mọi thành viên trong tập thể Người lãnh đạo chuyên quyền là người thích ra lệnh và chờ đợi sự phục tùng, là người quyết đoán, ít
có lòng tin vào cấp dưới Họ thúc đẩy nhân viên chủ yếu bằng đe doạ và trừng phạt Đặc điểm chủ yếu của phong cách này là nhân viên ít thích lãnh đạo, họ
Trang 22chỉ làm việc có hiệu quả làm việc cao khi có mặt lãnh đạo, không khí trong tổ chức khá phụ thuộc vào cá nhân lãnh đạo
(2)- Phong cách lãnh đạo dân chủ: Đặc trưng bằng việc người quản lý
biết phân chia quyền lực quản lý của mình, tranh thủ ý kiến cấp dưới, đưa họ tham gia vào việc khởi xướng và thảo luận các quyết định Người lãnh đạo theo phong cách dân chủ thường tham khảo ý kiến của cấp dưới về các hành động và quyết định được đề xuất và khuyến khích sự tham gia của họ Người lãnh đạo dân chủ luôn có lòng tin và hy vọng vào cấp dưới Đặc điểm nổi bật
là tạo ra những điều kiện thuận lợi để cho những người cấp dưới được phát huy sáng kiến, tham gia vào việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, đồng thời tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực trong quá trình quản lý Không khí trong tổ chức thân thiện hơn, định hướng nhóm thay vì cá nhân; năng suất và hiệu quả công việc cao, kể cả không có mặt của lãnh đạo
(3)- Phong cách lãnh đạo tự do: Người lãnh đạo theo phong cách tự do
rất ít sử dụng quyền lực của họ và dành cho cấp dưới mức độ tự do cao Họ xem vai trò của họ chỉ là người giúp đỡ các hoạt động của thuộc cấp bằng cách cung cấp thông tin và hành động như một đầu mối liên hệ với môi trường bên ngoài Với phong cách lãnh đạo này, nhà lãnh đạo sẽ cho phép các nhân viên được quyền ra quyết định, nhưng nhà lãnh đạo vẫn chịu trách nhiệm đối với những quyết định được đưa ra Đặc điểm chung là nhân viên có thể ít thích lãnh đạo, không khí trong tổ chức thân thiện, định hướng nhóm thay vì cá nhân; năng suất và hiệu quả công việc có thể thấp và người lãnh đạo vắng mặt thường xuyên
2.1.1.5- Lãnh đạo và cầm quyền
Ngoài hai khái niệm lãnh đạo và quản lý, có khái niệm thứ ba liên quan
là “cầm quyền” Đảng ta là đảng cầm quyền Lãnh đạo là đề ra mục tiêu và chiến lược lâu dài và đãn dắt toàn thể nhân dân phấn đấu thực hiện chiến lược
và đạt mục tiêu đó, trong khi đó, cầm quyền là một hình thức của lãnh đạo
Trang 23song đối tượng lãnh đạo giới hạn ở hoạt động chính quyền quốc gia, ở công việc quản lý đất nước, nói cách khác là lãnh đạo công việc quản lý đất nước Theo Giáo sư Đỗ Quốc Sam, cầm quyền là một hình thức lãnh đạo, không phải là quản lý, với chức năng chủ yếu là dẫn dắt chính quyền thực hiện những chính sách và chủ trương của Đảng tiến tới đạt được mục tiêu cuối cùng đề ra Để hoàn thành nhiệm vụ của Đảng, tổ chức đảng thường có nhiều cấp: tổ chức cấp ủy làm nhiệm vụ lãnh đạo, lồng ghép trong bộ máy nhà nước, các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, các đoàn thể và tổ chức dân sự có các tổ chức Đảng, Đoàn, Ban cán sự,… làm nhiệm vụ chỉ đạo trực tiếp Ngoài
ra còn có một kênh quan trọng là chọn những cán bộ có đạo đức và năng lực vào các vị trí chủ chốt của bộ máy chính quyền để đảm bảo các chủ trương, chính sách của cơ quan lãnh đạo có sức thuyết phục đối với cơ quan nhà nước Giáo sư Đỗ Quốc Sam nhận định rằng cầm quyền là sự lãnh đạo đối với
bộ máy chính quyền
2.1.2- Đảng và Tổ chức cơ sở Đảng:
2.1.2.1- Khái niệm và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tổ chức cơ sở Đảng
Tổ chức cơ sở Đảng là đơn vị cơ sở (xã, phường, thị trấn, cơ quan, hợp
tác xã, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an
và các đơn vị cơ sở khác) có từ 3 đảng viên chính thức trở lên
* V ị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng: Trung thành với học thuyết
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta từ khi thành lập cho đến nay luôn khẳng định vị trí quan trọng và trách nhiệm nặng nề của TCCSĐ Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930) khẳng định chi bộ (nhà máy, công sở, nhà buôn, trường học ) là “Căn bản tổ chức của Đảng” Điều lệ Đảng do Đại hội lần thứ I thông qua chỉ rõ: “Căn bản về đường lối tổ chức
của Đảng là chi bộ sản nghiệp (nhà máy, mỏ, đồn điền, công xưởng, công sở,
trại lính, ) tất cả các viên làm trong một sản nghiệp đều phải vào trong chi
Trang 24bộ đó Các đảng viên khác như trí thức, tiểu thương gia, người đi ở, thì phải lấy chỗ ở của họ làm gốc mà tổ chức ra chi bộ đường phố; ở các làng thì tổ chức ra chi bộ và làng xã”
Để có một danh từ thống nhất cho các chi bộ cơ sở và Đảng bộ cơ sở
có nhiều chi bộ, Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (năm 1976) gọi các chi bộ, Đảng bộ cơ sở bằng một danh từ chung là tổ chức
cơ sở Đảng Về vị trí và tầm quan trọng của TCCSĐ, Điều lệ Đảng do Đại hội Đảng lần thứ IV thông qua khẳng định: “Các tổ chức cơ sở Đảng lập thành nền tảng của Đảng, nối liền Đảng và các cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng với quần chúng công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, là nơi giáo dục, rèn luyện, kết nạp và sàng lọc đảng viên, nơi đào tạo cán bộ cho Đảng, nơi xuất phát để cử ra cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng, nơi trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng vào quần chúng và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách ấy”.
Các Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ V, VI vẫn giữ nguyên Từ Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII đã viết gọn là: Các chi bộ đảng
cơ sở (gọi chung là tổ chức cơ sở đảng), lập thành nền tảng của Đảng
Điều lệ Đảng được thông qua tại các kỳ Đại hội Đảng lần thứ VIII,
IX, X, XI về vị trí, vai trò của TCCSĐ khẳng định: tổ chức cơ sở đảng (chi bộ
cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở
* Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng: Điều lệ Đảng Cộng
sản Việt Nam (Khoá XI) thông qua ngày 19 tháng 01 năm 2011 quy định:
- Chức năng: Tổ chức cơ sở Đảng (chi bộ cơ sở, Đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở
- Nhiệm vụ của TCCSĐ: Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả Xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc
Trang 25tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng hoạt động Đảng, thực hiện tự phê bình
và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ, kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm
lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều
lệ Đảng Đảng uỷ cơ sở được Cấp uỷ cấp trên trực tiếp uỷ quyền thì được quyết định kết nạp và khai trừ đảng viên
2.1.2.2- Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức cơ sở Đảng
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tổ chức cơ sở Đảng:
Từ nghiên cứu lịch sử xã hội loài người và giải phẫu toàn bộ xã hội tư bản chủ nghĩa, Mác - Ănghen đã rút ra những vấn đề có tính quy luật về sự phát triển của xã hội loài người và sáng tạo nên chủ nghĩa xã hội khoa học Một trong những luận điểm quan trọng trong tư tưởng của các ông là: Muốn tiến hành cách mạng để lật đổ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, thì cần phải
thiết lập được chính đảng của giai cấp công nhân Từ nhận thức đó, các ông
đã gia nhập Đồng minh những người chính nghĩa năm 1847 và sau đó cải tổ
tổ chức này thành Đồng minh những người cộng sản Năm 1846, Mác thay mặt công nhân Đức tham gia Hội nghị thành lập Hội liên hiệp công nhân quốc
tế (Quốc tế I), biến nó thành vũ khí tổ chức phục vụ các mục tiêu chính trị của giai cấp công nhân thế giới
Trang 26Một trong những nguyên tắc trọng yếu của đảng công nhân được các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học nêu lên là phải được tổ chức chặt chẽ thành một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức Các cơ quan lãnh đạo của Đảng được bầu cử một cách dân chủ và họ có thể bị bãi miễn nếu không hoàn thành nhiệm vụ tổ chức trao; mọi thành viên trong Đảng được bình đẳng, tự do thảo luận những vấn đề sinh hoạt, tranh luận trong khuôn khổ tổ chức Nhiều chi bộ cơ sở hợp thành một công xã gồm từ ba đến hai mươi thành viên, đó là “hạt nhân” của công tác chính trị của Đảng trong quần chúng lao động
Kế thừa những tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học về chính đảng vô sản, V.I.Lênin đã phát triển quan điểm về vị trí, vai trò của tổ chức đảng trong quá trình xây dựng và lãnh đạo Đảng Bôn Sê Vích Nga Người chỉ rõ rằng, việc thành lập các tổ chức cách mạng trong các xí nghiệp, nhà máy là nhiệm vụ đầu tiên, cấp bách của Đảng công nhân dân chủ
- xã hội Nga, Lênin coi chi bộ là nơi rèn luyện, phân công công tác, quản lý, sàng lọc đảng viên để họ luôn luôn là người chiến sĩ tiên phong của giai cấp Chi bộ còn là nền tảng của quần chúng là hạt nhân chính trị của các tập thể lao động Người yêu cầu mỗi chi bộ phải là điểm tựa để tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động và tổ chức thực hiện trong quần chúng Sau khi cách mạng thắng lợi, Đảng cầm quyền lãnh đạo xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Đảng trở thành lãnh tụ chính trị của toàn xã hội Các TCCSĐ không ngừng tăng lên
về số lượng và đa dạng về nội dung hoạt động, V.I.Lênin xác định rõ hơn vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phương thức lãnh đạo của các TCCSĐ Người nhấn mạnh: “Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, phải làm công tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ
ấy phải thông qua công tác muôn hình muôn vẻ đó mà rèn luyện bản thân
Trang 27mình, rèn luyện đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống” V.I.Lênin
đã xác định rõ những chức năng, nhiệm vụ trọng yếu của chi bộ đảng: thực hiện chức năng hạt nhân lãnh đạo toàn diện ở cơ sở; thực hiện nhiệm vụ
“muôn hình muôn vẻ” trên các mặt trận tư tưởng và tổ chức; phải gắn liền với
“mọi loài” và “mọi tầng lớp quần chúng lao động” để lãnh đạo và qua đó rèn luyện bản thân Đảng; liên hệ chặt chẽ với Trung ương Đảng và các cơ quan lãnh đạo cấp trên Để giữ vững bản chất của một Đảng cách mạng chân chính, Lênin phê phán gay gắt những biểu hiện tự do, cục bộ, tuỳ tiện ở từng
tổ chức đảng địa phương và cơ sở, là nguy cơ phá vỡ tính tập trung thống nhất của tổ chức đảng và nhà nước Xô Viết Người viết: “Tôi cần phải vạch rõ cái
xu hướng không thể chối cãi được nhằm bênh vực chế độ tự trị, chống lại chế
độ tập trung, là một đặc điểm có tính nguyên tắc của chủ nghĩa cơ hội trong các vấn đề tổ chức” Mặt khác, Người yêu cầu “phải đem hết sức lực ( ) để phát huy một tính chủ động lớn hơn ở cơ sở” Đặc biệt, chuyển từ Chính sách
cộng sản thời chiến sang chính sách kinh tế mới là một bước đột phá lớn trong
tư duy nhận thức của Đảng cầm quyền lãnh đạo kinh tế V.I.Lênin cho rằng, trách nhiệm đó không chỉ là của Ban Chấp hành Trung ương, mà của tổ chức
cơ sở đảng và mỗi đảng viên Chỉ tiêu cơ sở tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước mới đạt kết quả cao nhất
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức cơ sở Đảng:
Vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về chính đảng
vô sản, Hồ Chí Minh đã có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam Trong hành trình tìm đường cứu nước, mối quan tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là bằng cách nào để tập hợp được lực lượng dân tộc thành một khối đoàn kết, thống nhất đấu tranh giải phóng dân tộc Câu hỏi đó
đã được giải đáp khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin không những đã chỉ ra mục tiêu, lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, mà còn cung cấp một khoa
Trang 28học về tổ chức lực lượng giai cấp và dân tộc để thực hiện cuộc cách mạng Đó
là muốn làm cách mạng thì “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”
Ngay từ khi bắt đầu xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Điều lệ vắn tắt của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng ngày 03 tháng 02 năm 1930 đã chỉ rõ cách thức tổ chức Đảng từ Trung ương xuống đến chi bộ Trong đó, “Chi bộ gồm tất cả đảng viên trong một nhà máy, một công xưởng, một hầm mỏ, một sở xe lửa, một chiếc tàu, một đồn điền, một đường phố, ”
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề xây dựng TCCSĐ Người là kiến trúc sư thiết kế nên Đảng Cộng sản Việt Nam, vận dụng và phát triển học thuyết Mác - Lênin về chính đảng vô sản để xây dựng nên các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Vấn đề xây dựng chi bộ trong nhà máy, xí nghiệp, khu dân cư được
Hồ Chí Minh hết sức quan tâm và có những chỉ đạo kịp thời Nhờ sự chăm lo
đó, Đảng ta không ngừng vững mạnh từ Trung ương đến cơ sở, trở thành nhân tố quyết định lãnh đạo thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giữ vững chính quyền nhân dân trong những năm 1945 - 1946, lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thành công, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, mỗi lúc đến thăm đơn
vị cơ quan, trường học, bệnh viện, đơn vị sản xuất Hồ Chí Minh đều hết sức nhấn mạnh yêu cầu củng cố vai trò lãnh đạo của chi bộ và đã đưa ra tiêu chí đánh giá chi bộ “bốn tốt” là: “Đảng viên gương mẫu trong mọi công việc, liên
hệ chặt chẽ với quần chúng, nội bộ thật sự đoàn kết; chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, lãnh đạo tốt sản xuất và chiến đấu; một lòng một dạ phục vụ nhân dân, thiết thực chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của
Trang 29nhân dân; đối với Đảng thì củng cố tốt và phát triển tốt” Để các chi bộ ngày càng vững mạnh, Người yêu cầu phải phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, phát huy dân chủ rộng rãi trong Đảng và Huyện uỷ, Thành uỷ, Tỉnh uỷ cần phải đi sâu sát đến các chi bộ, cần phải giúp đỡ các chi bộ một cách thiết thực và thường xuyên Các Tỉnh uỷ, Thành uỷ, Huyện uỷ cần chỉ đạo riêng chi bộ để rút kinh nghiệm về XD chi bộ “bốn tốt”. Trước khi “từ biệt thế giới này”, trong Di chúc để lại, điều đầu tiên mà Người căn dặn cũng là “nói về Đảng”, trong đó có đoạn Người căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình” Có thể nói, quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về TCCSĐ được đúc kết là: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng, các chi bộ mạnh là Đảng mạnh”
2.1.3- Giới thiệu về chương trình nông thôn mới:
2.1.3.1- Sự ra đời của chương trình xây dựng nông thôn mới
Hội nghị BCH Trung ương Ðảng lần thứ 7 (khóa X) đã thảo luận và thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Đánh giá kiểm điểm sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân và đưa ra quan điểm mục tiêu thực hiện trong những năm tiếp theo như sau:
Thứ nhất, Về quan điểm: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí
chiến lược trong sự nghiệp CNH - HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ
sở và lực lượng quan trọng để phát triển KT - XH bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước
Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng
bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH - HĐH đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, XD NTM gắn với XD
Trang 30các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả HTCT và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng
xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và XD NTM, nâng cao đời sống nông dân
Thứ hai, Về mục tiêu:
(1)- Mục tiêu tổng quát: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ NTM Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí
Trang 31được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng KT - XH và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH - HĐH, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
(2)- Mục tiêu đến năm 2020: Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thủy sản đạt
3,5 - 4%/năm; sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn NTM khoảng 50% Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn, trước hết là hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn
bộ diện tích đất lúa 2 vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp, cấp thoát nước chủ động cho diện tích nuôi trồng thủy sản, làm muối; đảm bảo giao thông thông suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô
tô tới các thôn, bản; xây dựng cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và hạ tầng nghề cá; cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư, các cơ sở công nghiệp và dịch
vụ ở nông thôn; đảm bảo cơ bản điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao ở hầu hết các vùng nông thôn tiến gần tới mức các đô thị trung bình Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện
có hiệu quả, bền vững công cuộc xoá đói, giảm nghèo; nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình CNH - HĐH đất nước Nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, hoàn chỉnh hệ thống đê sông, đê biển và rừng phòng hộ ven biển, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, cụm dân cư đáp ứng yêu cầu phòng chống bão, lũ, ngăn
Trang 32mặn và chống nước biển dâng; tạo điều kiện sống an toàn cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và các vùng thường xuyên bị bão, lũ, thiên tai; chủ động triển khai một bước các biện pháp thích ứng và đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu Ngăn chặn, xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường nông thôn
2.1.3.2- Khái ni ệm Nông thôn
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nông thôn Có quan điểm cho rằng nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Cũng có quan điểm cho rằng dựa vào trình
độ phát triển cơ sở hạ tầng hoặc dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường
để xác định vùng nông thôn Theo Từ điển tiếng Việt: Nông thôn là danh từ
để chỉ khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông, phân biệt với thành thị Cũng có từ điển khái niệm Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp
Khái niệm về nông thôn trong văn bản chính thức của Bộ Nông nghiệp và PTNT tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT thì: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã Như vậy, Nông thôn là phần lãnh thổ sinh sống chủ yếu làm nghề nông của tập hợp dân
cư, tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội
và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã
2.1.3.3- Đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, giai đoạn 2010 - 2020
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ
Trang 33- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy
- An ninh tốt, quản lý dân chủ
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
2.1.3.4- B ộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
* Ý nghĩa của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới:
- Là cụ thể hóa đặc tính của xã NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH
- Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới
- Là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới của các địa phương trong thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới; đánh giá trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền xã trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
* Nội dung Bộ tiêu chí quốc gia Nông thôn mới:
Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg về Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí là: Tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch; tiêu chí về giao thông; tiêu chí về thủy lợi; tiêu chí về điện; tiêu chí trường học; tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa; tiêu chí chợ nông thôn; tiêu chí về bưu điện; tiêu chí về nhà ở dân cư; tiêu chí về y tế; tiêu chí về văn hóa; tiêu chí về môi trường; tiêu chí về
hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; tiêu chí về an ninh, trật tự xã hội Ngày 20 tháng 02 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 342/QĐ-TTg về sửa đối một số tiêu chí của bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Theo Bộ tiêu chí chỉ tiêu quốc gia, có 3 cấp độ: xã nông thôn mới, huyện nông thôn mới và tỉnh nông thôn mới, trong đó xã nông thôn mới có 19 tiêu chí cụ thể, còn đối với huyện nông thôn mới căn cứ vào tỷ lệ số xã thuộc
huyện đạt nông thôn mới (75% số xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới) và tỉnh nông thôn mới căn cứ vào tỷ lệ số huyện thuộc tỉnh đạt nông thôn mới (80%
số huyện đạt tiêu chí nông thôn mới)
Trang 34Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới: Được thể hiện tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong đó đã thống nhất nội dung, cách hiểu, cách tính toán và các quy chuẩn áp dụng đối với các tiêu chí nông thôn mới
2.1.3.5- Nguyên t ắc xây dựng nông thôn mới
Điều 2, Thông tư liên tịch số BTC, ngày 13 tháng 4 năm 2011 (liên Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính) về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng NTM như sau:
(1)- Các nội dung, hoạt động của chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 4 năm
2009 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 342/QĐ-TTg, ngày 20 tháng
02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đối một số tiêu chí của bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
(2)- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
(3)- Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
(4)- Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch XD NTM đã được cấp có thẩm quyền xây dựng
Trang 35(5)- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập
kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá
(6)- Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
2.1.4- Vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng nông thôn mới: 2.1.4.1- Vai trò lãnh đạo của Đảng
Theo PGS, TS Nguyễn Hữu Đổng và TS Ngô Huy Đức (2011), nội hàm khái niệm “Đảng lãnh đạo” trong quan điểm của Hồ Chí Minh đã được làm rõ qua các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, “Đảng lãnh đạo” là một khái niệm chỉ sự tác động, ảnh
hưởng của Đảng (qua các tổ chức đảng và đảng viên) đối với quần chúng nhân dân Tức chủ yếu chỉ nói đến sự lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng nhân dân Đảng lãnh đạo quần chúng nhân dân có nghĩa là Đảng phải làm sao trở thành lực lượng tiên phong trong dân chúng, vạch hướng, xác định được mục tiêu đúng đắn đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng cơ bản của đông đảo quần chúng nhân dân; đồng thời phải có được uy tín cao do làm tốt sứ mệnh
“người đày tớ trung thành của nhân dân” từ đó mà vận động, thuyết phục được quần chúng nhân dân ủng hộ, đi theo Đảng
Thứ hai, Đảng lãnh đạo là một khái niệm không gắn với quyền lực Tức
Đảng không dựa vào quyền lực (quyền lực được hiểu theo nghĩa có sự cưỡng bức,
ép buộc) trong sự ảnh hưởng, trong quá trình tác động của chủ thể lãnh đạo là Đảng đến đối tượng lãnh đạo là quần chúng nhân dân Sự lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng nhân dân có đặc điểm là sự vận động mang tính thuyết phục
Trang 36Thứ ba, khái niệm Đảng lãnh đạo được hiểu như một hình thức của
cuộc đấu tranh giai cấp cả trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính từ trong cuộc đấu tranh đó, Đảng đã tỏ ra là lực lượng “có sức hấp dẫn lớn”, được quần chúng nhân dân tin yêu, ca ngợi, tự nguyện suy tôn là lực lượng giữ địa vị lãnh đạo
2.1.4.2- Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng NTM
Mô hình nông thôn mới cấp xã được thực hiện theo phương châm dựa vào nội lực của cộng đồng địa phương Nhà nước hỗ trợ một phần trực tiếp cho các xã Đồng thời khơi dậy tinh thần và sức dân đóng góp tích cực tự giác vào xây dựng làng quê của mình Các hoạt động cụ thể của từng mô hình thí điểm do chính người dân ở đó bàn bạc dân chủ, công khai và quyết định trên
cơ sở các quy chuẩn của nhà nước có sự tư vấn của cán bộ chuyên môn; Các cấp uỷ Đảng và Chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn,
kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần cho người dân thực hiện vai trò làm chủ thông qua cộng đồng
Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội Trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường, vươn lên của nông dân; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú làm nền tảng tinh thần của giai cấp nông dân, tạo động lực cho quá trình xây dựng nông thôn mới
Thực hiện rà soát các chương trình, dự án có liên quan đến xây dựng nông thôn trên địa bàn Đối chiếu với tiêu chí nông thôn mới, nếu tiêu chí nào đang có chương trình, dự án triển khai nhưng mức đạt còn thấp do nguồn lực hạn chế thì bổ sung để đẩy nhanh tiến độ; tiêu chí nào chưa có chương trình,
dự án thì lập dự án mới
Trang 37Trong quá trình thực hiện, nếu có những chính cách, cơ chế không phù hợp, cản trở chủ trương phát huy nội lực và quyền tự quyết của cộng đồng thì được áp dụng cơ chế đặc thù Mỗi xã điểm xây dựng một đề án phát triển nông thôn mới tổng thể, làm cơ sở cho thực hiện Để đáp ứng yêu cầu xây dựng NTM từ nay đến năm 2015 và tiến tới năm 2020 đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở có đủ trình độ và năng lực để thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
2.1.4.3- Vai trò lãnh đạo của TCCSĐ trong xây dựng Nông thôn mới
(1)- Xây dựng Nghị quyết: TCCSĐ là nơi trực tiếp thực hiện đường
lối, chủ trương chính sách của Đảng, nhằm phát triển KT-XH địa phương cũng như vai trò quan trọng trong điều hành chỉ đạo XD NTM TCCSĐ là cầu nối, đồng thời là một khâu trọng yếu để duy trì mối liên hệ Đảng với nhân dân
- nền tảng sức mạnh của Đảng, bởi đây là tổ chức Đảng gần dân nhất, trực tiếp lãnh đạo nhân dân và nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân để phản ánh với lãnh đạo Đảng cấp trên, nhằm có các chính sách phát triển KT-XH phù hợp nhất Trong XD NTM, TCCSĐ đóng vai trò quan trọng trong mọi quyết định, đầu tư, họp bàn, thực hiện, giám sát, nghiệm thu, Do
đó vai trò cơ bản nhất của TCCSĐ trong XD NTM là xây dựng Nghị quyết và ban hành các văn bản chỉ đạo (ra quyết định) Quyết định của TCCSĐ chính
là con đường thực hiện hoá chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cấp cơ
sở Nghị quyết của cấp ủy vừa đảm bảo tính toàn diện việc lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị đồng thời lựa chọn những vấn đề nổi cộm, bức xúc, những vấn đề còn yếu kém để tập trung giải quyết Đảng ủy xã phải ban hành Nghị quyết về XD NTM, xác định rõ nội dung thực hiện, có lộ trình, huy động nguồn lực từ dân hợp lý Không bao biện làm thay việc chính quyền nhưng không buông lỏng lãnh đạo; có những chủ trương, định hướng cho hoạt động của Mặt trận và đoàn thể trong từng nhiệm vụ, trong từng thời gian
cụ thể Đồng thời phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân
Trang 38(2) Xây dựng quy chế hoạt động: TCCSĐ khối xã có vai trò là hạt nhân chính trị, thể hiện năng lực lãnh đạo toàn diện ở cơ sở, nhất là trong lãnh đạo xây dựng NTM, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp - dịch vụ, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, Diện mạo NTM đang là xu thế chủ đạo ở xã, là thể hiện việc khẳng định được sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của TCCSĐ thông qua việc làm cho KT-XH ở địa phương phát triển nhanh, đời sống nhân dân đi lên, HTCT vững mạnh, cán bộ và đảng viên đoàn kết một lòng để lãnh đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị Đảng ta đã đề ra chủ trương XD NTM nhằm PTNT một cách bền vững, các TCCSĐ là đơn vị trực tiếp thực hiện, do đó TCCSĐ có vai trò quyết định, định hướng việc phát triển KT-XH ở địa phương và đóng vai trò quan trọng trong sự thành công hay thất bại trong chương trình XD NTM Quy chế hoạt động của TCCSĐ có ảnh hưởng lớn tới quá trình lãnh đạo xây dựng NTM, vì vậy việc xây dựng và hoàn thiện quy chế, quy trình làm việc của Đảng ủy là một yêu cầu hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ trong xây dựng nông thôn mới
(3)- Xây dựng đội ngũ cán bộ: Thực tế khẳng định, đội ngũ cán bộ cơ
sở đóng vai trò rất quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng NTM Đây là những người trực tiếp đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng đến với người dân, đồng thời trực tiếp hướng dẫn người dân thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Do đó Cấp uỷ cần quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng và
sử dụng đội ngũ cán bộ ở cơ sở một cách đúng mức, để từ đó mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là một tuyên truyền viên đắc lực trong việc mang chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đi tuyên truyền, hướng dẫn và vận động nhân dân thực hiện Trong xây dựng NTM, trước hết phải thấy rõ, trách nhiệm này là của mọi đảng viên, nhưng các đồng chí cán bộ chủ chốt và cấp
uỷ viên phải chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên và toàn thể đảng bộ về vai trò của bản thân trong xây dựng NTM Tạo sự chuyển biến tích cực trong phát
Trang 39triển kinh tế, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định Vì vậy công tác cán bộ phải được cụ thể hóa bằng quy định theo phương châm: Quy định định lượng giảm bớt định tính, định hướng các khâu về công tác cán bộ như: Tuyển dụng, đánh giá, quy hoạch, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng (theo đúng yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI)
(4)- Trực tiếp kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện: Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng Đảng khẳng định: "Lãnh đạo mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo", bởi vậy hơn lúc nào hết, trong xây dựng NTM, công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng cần được tăng cường Đó là kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Đảng, đường lối chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng; kiểm tra thu chi ngân sách, bảo đảm thu đủ, chi đúng mục đích, tiết kiệm có hiệu quả; kiểm tra huy động vốn và cho vay vốn đúng chính sách, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả; kiểm tra khắc phục những những tiêu cực, tham ô, lãng phí, gây thất thoát tiền của, tài sản của nhà nước và nhân dân Thông qua kiểm tra mà phát hiện ưu điểm, những nhân tố mới, để phát huy hoặc phát hiện khuyết điểm để sửa chữa, xử lý sai phạm Trong xây dựng NTM các TCCSĐ phải sử dụng chương trình kế hoạch kiểm tra, đưa công tác kiểm tra vào nền nếp, có trọng tâm, trọng điểm, phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra của Đảng với kiểm tra nhân dân Tích cực đổi mới phương pháp kiểm tra, thanh tra Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc xem xét thi hành kỷ luật của Đảng
2.1.5- Các yếu tố ảnh hưởng tới vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong xây dựng Nông thôn mới:
2.1.5.1- Công tác tuyên truy ền vận động của các tổ chức cơ sở Đảng.
Các TCCSĐ thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Chú trọng giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ; giáo dục tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, tình lành nghĩa xóm Gắn với việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Trang 40Chí Minh và quy định của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên Tuy nhiên trong xây dựng NTM công tác tuyên truyền vận động của một số TCCSĐ còn nhiều lúng túng, không cụ thể, rõ ràng dẫn đến nhận thức nhiều người còn cho rằng xây dựng NTM là dự án của Nhà nước đầu tư nên có tâm lý trông chờ, ỷ lại và chưa tập trung huy động các nguồn lực tham gia xây dựng nông thôn mới
2.1.5.2- Công tác ban hành Ngh ị quyết lãnh đạo của các TCCSĐ
Một số TCCSĐ chưa quán triệt sâu sắc và vận dụng các quy định,
hướng dẫn của Trung ương, Tỉnh uỷ và Huyện uỷ vào xây dựng và ban hành nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy nên có việc còn chung chung, còn thiếu các mục tiêu và giải pháp cụ thể, phân công thực hiện còn chưa rõ ràng dẫn đến tình trạng có việc còn đùn đẩy trách nhiệm Nội dung, phương thức, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ chưa theo kịp sự phát triển, chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Nhiều nơi sinh hoạt Cấp uỷ, sinh hoạt Chi bộ chất lượng thấp Việc chỉ đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ của địa phương còn nhiều hạn chế, nhiều việc thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ sở nhưng lại đùn đẩy lên cấp trên
2.1.5.3- Công tác cán bộ
Đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế về năng lực nên trong quá trình triển khai các kế hoạch của cấp trên còn nhiều lúng túng, vướng mắc Tệ quan liêu, hách dịch với người dân của cán bộ cơ sở Tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên chưa được đề cao Tính cục bộ địa phương, sắp xếp người thân, dòng họ, gia đình vào các vị trí công tác nơi này, nơi khác còn đang tồn tại, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò lãnh đạo của TCCSĐ Bên cạnh
đó việc đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên là điều kiện rất quan trọng
để nâng cao chất lượng TCCSĐ và đội ngũ đảng viên của Đảng