1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học vần, nhằm nâng cao chất lượng học tiếng việt lớp một

32 651 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 343 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào thế kỷ XXI, thế kỉ mở đầu một thiên nhiên kỉ mới, đất nước chúng ta bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những thay đổi quan trọng trong kinh tế, xã hội, giáo dục đòi hỏi nhất thiết phải nâng cao chất lượng giảng dạytrong nhà trường nói chung và bậc tiểu học nói riêng. Tronggiai đoạn hiện nay,xu hướng của sự đổi mới phương pháp dạy học ở bậc tiểu học là làm sao để giâo viên không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn là người tổ chức, định hướng cho học sinh hoạt động, để học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân vào việc chiếm lĩnh kiến thức mới. Như chúng ta đã biết Tiếng Việt vừa là môn học tiếng mẹ đẻ vừa là công cụ giúp học sinh giao tiếp và tiếp thu các môn học khác tốt hơn ( Các em có đọc thông, viết thạo, hiểu được nội dung văn bản thì mới nắm được thông tin và giải quyết được vấn đề mà văn bản nêu ra). Môn Tiếng Việt lớp một là môn học khởi đầu giúp các em chiếm lĩnh công cụ mới dể sử dụng trong học tập và giao tiếp, đó là chữ viết. Môn tiếng việt lớp một còn giúp học sinh hình thành nếp học như: cách cầm sách đọc đúng tư thế, cách ngắt, nghỉ ( hơi) đúng chỗ, cách trả lời câu hỏi, cách nhận xét bạn đọc, cách cầm bút; giúp học sinh có kĩ năng nghe nói một số câu đơn giản; bước đầu có những hiểu biết về cuộc sống; giúp các em yêu quý việc học tập. Đây chính là nền móng cho các em học tốt môn Tiếng Việt ở các lớp trên. Chính vì vậy dạy tốt môn Tiếng Việt ở lớp một ( phân môn Học vần Tập đọc) là điều cực kì quan trọng. Với những lí do nêu trên, tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm: Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ Học vần, nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt lớp Một.

Trang 1

I- LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI:

Bước vào thế kỷ XXI, thế kỉ mở đầu một thiên nhiên kỉ mói, đất nước chúng tabước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá Những thay đổi quan trọng trongkinh tế, xã hội, giáo dục đòi hỏi nhất thiết phải nâng cao chất lượng giảng dạytrongnhà trường nói chung và bậc tiểu học nói riêng

Tronggiai đoạn hiện nay,xu hướng của sự đổi mới phương pháp dạy học ở bậctiểu học là làm sao để giâo viên không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn là người

tổ chức, định hướng cho học sinh hoạt động, để học sinh huy động vốn hiểu biết vàkinh nghiệm của bản thân vào việc chiếm lĩnh kiến thức mới

Như chúng ta đã biết Tiếng Việt vừa là môn học tiếng mẹ đẻ vừa là công cụgiúp học sinh giao tiếp và tiếp thu các môn học khác tốt hơn ( Các em có đọc thông,viết thạo, hiểu được nội dung văn bản thì mới nắm được thông tin và giải quyếtđược vấn đề mà văn bản nêu ra)

Môn Tiếng Việt lóp một là môn học khỏi đầu giúp các em chiếm lĩnh công cụmới dể sử dụng trong học tập và giao tiếp, đó là chữ viết Môn tiếng việt lớp mộtcòn giúp học sinh hình thành nếp học như: cách cầm sách đọc đúng tư thế, cáchngắt, nghỉ ( hoi) đúng chỗ, cách trả lòi câu hỏi, cách nhận xét bạn đọc, cách cầm bút;giúp học sinh có kĩ năng nghe nói một số câu đơn giản; bước đầu có những hiểubiết về cuộc sống; giúp các em yêu quý việc học tập Đây chính là nền móng chocác em học tốt môn Tiếng Việt ở các lớp trên Chính vì vậy dạy tốt môn Tiếng Việt ởlóp một ( phân môn Học vần - Tập đọc) là điều cực kì quan trọng

Với những lí do nêu trên, tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm:

" Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ Họcvần, nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt lóp Một"

II- MỤC ĐÍCH CỦA ĐÈ TÀI:

- Nghiên cứu thực trạng về việc dạy học Tiếng Việt lóp một phần Học vần Phân

tích những thuận lọi và khổ khăn khi dạy và học Tiếng Việt ở lớp 1 phần Học vần

- Tìm ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động cho họcsinh trong tiết Học vần lóp Một

III- KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

- Học sinh lớp 1, đặc biệt là học sinh lớp 1A2 trường tiểu học Thị trấn Than

Uyên - Huyện Than Uyên

IV- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

- Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ Học

vần, nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt lớp Một

V- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt Một

( phần Học một) để tìm ra nguyên tắc sắp xếp chương trình ; nghiên cứu cơ sở líluận của việc dạy học phát huy tính tích cực

- Phương pháp điều tra quan sát.

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm

VI- GIỚI HẠN NGHIEN CỨU:

Nghiên cứu việc dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 phần Học vần tại trường Tiểu họcthị trấn huyện Than ũyên từ năm 2008 đến nay

Trang 2

PHẦN NỘI DUNGI- Cơ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐE PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực, CHỦ ĐỘNGCỦA HỌC SINH.

1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học và việc giúp học sinh phát huy

tính tích cực , chủ động trong giờ học Tiếng Việt

Học sinh Tiểu học ở lứa tuổi từ 6 -11 tuổi đang ở giai đoạn pháttriển rấtmạnh mẽ về thể chất và tư duy Các em đọc sách, học bài, nghe giảng rất dễ hiểunhưng cũng sẽ quên ngay khi chúng không tập trung cao độ Chính vì vậy phải tạo

ra hứng thú trong học tập và phải được tập luyện, ôn tập thường xuyên

Học sinh Tiểu học rất dễ xúc động và rất thích tiếp xúc với các sự vật hiện tượng.Trẻ rất hiếu động , ham hiểu biết cái mới nên rất dễ hình thành cảm xúc mới Dovậy trong dạy học giáo viên phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy học , đưa học sinh đitham quan , đi thực tế , tăng cường thực hành, thực nghiệm , tổ chức các trò choixen kẽ

Trẻ dễ xúc động nhưng hình ảnh lại chưa bền vững dễ mất đi vì tính mục đíchchưa cao Trẻ rất hiếu động nên chóng chán , do vậy trong giờ dậy giáo viên phảigây chú ý cho học sinh nhiều xúc cảm đọng lại thông qua bài học và các hoạt độngkhác để củng cố, khắc sâu kiến thức

Học sinh trường Tiểu học thị trấn Than Uyên rất hiếu động , thíchkhám pháđiều mới lạ , nhưng cũng chóng chán Khả năng tập trung , chú ý của các em chưacao Nhiều em còn phát âm sai các tiếng có phụ âm n, 1, b , V , t, th Một số em cònđọc ngọng dấu hỏi và dấu ngã

2 Mục tiêu dạy Tiếng Việt ở Tiểu học.

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Viêt ( Đọc ,

viết, nghe , nói) Để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứatuổi

- Thông qua việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt; về tự nhiên , xãhội và con người; về văn hoá , văn học của Việt Nam và nước ngoài

- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp

của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủnghĩa cho học sinh

Mục tiêu dạy Tiếng Việt ở Tiểu học rất chú trọng đến việc hình thành kĩ năng sửdụng Tiếng Việt, do vậy việc hướng dẫn học sinh lớp 1 các kĩ năng thực hành TiếngViệt( Đọc , viết, nghe , nói) là điều rất quan trọng

3. Mục tiêu của chương trình Tiếng Yiệt lớp 1

ở lớp Một , mục tiêu dạy học tiếng Việt được cụ thể hoá thành những yêu cầu cơbản về kiến thức và kĩ năng đối với học sinh lớp 1 như sau:

- Đọc đúng và rõ ràng bài văn đơn giản (Khoảng 30 tiếng / phút).Hiểu nghĩa

của các từ ngữ thông thường và nội dung thông báo của câu văn, đoạn văn

- Viết đúng chữ viết thường,chép đúng chỉnh tả đoạn văn(khoảng 30 chữ /15 phút).

- Nghe hiểu lời giảng và lời hướng dãn của giáo viên.

- Nói rõ ràng, trả lời được câu hỏi đơn giản.

4. NỘỈ dung chương trình và sách giáo khoa phần Học vần lớp 1

4.1. NỘ dung chương trình:

Phần này gồm 103 bài (83 bài thuộc tập một và 20 bài thuộc tập hai), với 3 dạng cơbản sau:

Trang 3

- Làm quen với cấu tạo đơn giản của tiếng qua âm và chữ (thể hiện qua âm e, bcùng các dấu thanh)

- Học âm và chữ thể hiện âm mới.

- Ôn tập nhóm âm hoặc nhóm vần.

Từ bài 1 đến bài 27,học sinh đã được học toàn bộ âm và các chữ cái ghi âm của Tiếng Việt, được làm quen với âm tiết mở

Từ bài 29 đến bài 90, học sinh được học các âm và các chữ thể hiện vần mới ia, ua,

ưa theo trình tự vần kết thúc bằng bán âm (i ,y ,o , u);vần kết thúc bằng phụ âmvang (m, n, ng, nh);vần kết thúc bằng phụ âm không vang(p, t, c, ch); Học cũngđồng thời được làm quen với các kiểu âm tiết mới là âm tiết nửa mở, nửa khép vàkhép

Từ bài 90 đến bài 103,học sinh được ôn lại một lần nữa các âm và các chữ thể hiệncác âm của Tiếng Việt qua việc học một loại vần mói Vần có âm đầu vần là u hoặco

4.2. Cấu trúc sách giáo khoa:

* Dạng bài dạy âm(vần) mới:

Trang chẵn: Đầu tiên làv âm (vần ) mới; tiếng chứa âm (vần ) mới; tiếp đến trangminh hoạ từ mới; từ mới; từ ứng dụng ;cuối cùng là nội dung phần luyện viết.Trang lẻ: Đầu tiên là tranh minh hoạ và nội dung câu ứng dụng rồi đến tên chủ đề

và tranh minh hoạ chủ đề luyện nói

Các chữ ghi âm, tiếng từ và tranh minh hoạ đều được in màu sắc đẹp, hợp với tâm

lí của học sinh lớp Một giúp các em hứng thú học tập và nắm nội dung bài học mộtcách chủ động Ngoài ra, từng phần của bài học còn có kí hiệu sử dụng sách( bằngcác hình cụ thể: em bé đọc, viết, nói, kể chuyện ) giúp học dễ dàng phân biệt phầnnào để đọc, viết, luyện nói và kể chuyện

Tiết một thường học hết trang chẵn, tiết hai học trang lẻ và luyện viết ở vở tập viết

5. Phương pháp dạy học tích cực

Chúng ta đều biết rằng quá trình dạy học gồm hoạt động có quan hệ hữu cơ: Hoạtđộng dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Cả hai hoạt động này đềuđược tiến hành nhầm thực hiện mục đích giáo dục

Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức Hoạt động này chi

có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực chủ động, tự giác vói một động

cơ nhận thức đúng đắn Luôn luôn phát huy tích cực, chủ động trong hoạt độnghọc tập của học sinh ở mỗi tiết học, đó chính là dạy học tích cực

5.1. Những dấu hiệu cơ bảncủa dạy học nhằm phát huy tính tích cựccủa học sinh:

- Coi trọng việc tổ chức các hoạt động của học sinh.

- Tạo điều kiện để học sinh tìm tòi, tiếp nhận tri thức.

- Tạo điều kiện để học sinh chủ động.

- Chú ý hình thành khả năng tự học của học sinh.

5.2. Tác dụng của dạy học phát huy tính tích cực của học sinh:

- Hợp với quy luật hoạt động học tập; Phát huy tính độc lập sáng tạo, hình thànhthói quen tự học

- Năng cao hiệu quả và chất lượng dạy học, đảm bảo tính toàn diện, cụ thể là làm

cho học sinh:

Trang 4

+ Nắm vững, hiểu sâu và bền vững hơn về kiến thức.

+ Luôn củng cố và phát triển cách học của mình

+ Giúp học sinh có tinh thần trách nhiệm, ý thức tập thể

- Đồ dùng dạy học được trang trí tương đối đầy đủ đến từng giáo viên và họcsinh (Tranh ảnh minh hoạ tù ứng dụng,tranh luyện nói, tranh kể chuyện và bộthực hành TiếngViệt, của giáo viên và học sinh)

- Được sự quan tâm của Bộ -Sở -Phòng Giáo dục và đặc biệt là trực tiếp Ban giám

hiệu của nhà trường qua tâm đến việc đổi mới phương pháp (Tổ chức các tiết dạythực hành, chốt lại quy trình tiết dạy, các băng đĩa hình minh hoạ, cách dạy từngdạng bài cụ thể )

- Việc học tập của học sinh hiện nay cũng được các bậc phụ huynh rất quan tâm.

- Việc học tập là điều mới lạ với học sinh lóp 1 nên các em rất tò mò, hào hứng

được học, được tìm hiểu

2. Khó khăn:

- Số lượng kiến thức dạy trong một bài học vần còn nhiều, thời gian một tiết học

35 phút

- Từ Tiếng Việt có nhiều nghĩa, quy tắc chính tả còn phức tạp, một số từ đọc gần

giống nhau lại có cách viết khác nhau

- Học sinh lớp Một còn bỡ ngỡ.

- Sức ép của các bậc cha mẹ HS đối vói giáo viên và nhà trường

- Trường tiểu học Thị trấn Than Uyên nằm ở trung tâm huyện nhưng mặt bằng

dân trí chưa đồng đều Sự quan tâm của cha mẹ không nhiều, nên học sinh cònchưa manh dạn, một số em còn nhút nhát khi tham gia các hoạt động học tập

3. Đánh giá thực trạng về tính tích cực,chủ động của học sinh trong giờ họcvần

Trang 5

3.1. Đánh giá thực trạng

Qua một số tiết dạy đầu năm học, nhất là giờ học vần của lớp 1A2 Trường tiểu họcThi trấn Than Uyên,tôi nhận thấy tính tích cực, chủ động của học sinh còn kém, thểhiện qua một số dấu hiệu sau đây:

-Học sinh tìm từ còn chậm và số lượng ít, hay tìm từ giống nhau hoặc giống sáchgiáo khoa (chỉ có khoảng 40% số học sinh tìm được từ mới)

-Học sinh chưa có ý thức lắng nghe và làm theo sự hướng dẫn của cô( chỉ cókhoảng 50% các em chăm chú lắng nghe và làm theo sự hướng dẫn của cô)

* Ví dụ dạy bài 7: ê - v: Sau khi học chủ đề luyện nói" bế bé ", tôi hỏi: Mẹ rất vất vảchăm sóc chúng ta Chúng ta phải làm gì cho cha mẹ vui lòng? Thì chỉ có khoảng 6-8 em giơ tay

-Học sinh đọc còn kếm, viết kém ( chiếm 25% ) Đó là các em: Phạm Tiến Đạt, CầmVăn Minh,Ngà Tuấn Đạt, Đỗ Hoàng Anh,Từ Kiều Anh, Nguyễn Đức Hậu,Vũ LâmHùng học sinh lớp 1A2, trường tiểu học Thị trấn Than Uyên

3.2. Nguyên nhân của thực trạng

* Về phía giáo viên:

- Còn nặng nề về cung cấp các kiến thức, chưa chú ý đến việc tạo điều kiện giúp

cho học sinh tự tìm tòi tiếp thu kiến thức

- Chưa chú ý động viên học sinh mạnh dạn, tích cực học tập.

* Về phía học sinh:

- Các em đang quen với nếp vui choi tương đối tự do, thoải mái tuỳ theo hứng thú

của mình Nhưng khi đi học, các em phải làm việc trong một tập thể có nội quy, kỉluật, có hướng dẫn học tập có trách nhiệm, nghĩa vụ rõ ràng

- Các em còn hay đãng trí, khó tập trung chú ý lâu, nhất là khi phải chú ý các đối

tượng trừu tượng, ít hấp dẫn

- Từ thực trạng trên, tôi thấy cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng

tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong tiết Học Vần lớp 1

III. MỘT số BIẸN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực, CHỦ ĐỘNGCỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC VẦN LỚP MỘT

Dạy học tích cực tạo cho các em phương pháp học tập tích cực Chinh vì vậy tôi

đã đề ra cá biện pháp thực hiện như sau:

Biện pháp 1: Sử dụng đồ dùng dạy học

Đồ dùng dạy học là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạyhọc.trong quá trình dạy học, học sinh nhận thức bài học dưới sự tổ chức, dẫn dắt củagiáo viên có sự hỗ trợ của các đồ dùng dạy học đồ dùng dạy học đảm bảo cho họcsinh lĩnh họi tốt nhất các biểu tượng, quy tắc, hình thành kĩ năng, kĩ xảo

Đối với học sinhtiểu học nói chung, học sinh lóp 1 nói riêng đồ dùng dạy học đặcbiệt quan trọng vì nó giúp các em quan sát sự vật, hiện tượng một cách trực quan

cụ thể, giúp học sinh nhận thức sâu hơn nội dung bài học, hình thành tốt kĩ năng,

kĩ xảo

1. Các loại đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt lớp Một:

- Tranh ảnh (Tranh vẽ, tranh sưu tầm, tranh động, tranh trong sách giáo khoa )

Trang 6

2. Tác dụng của việc sử dụng đồ dùng dạy học:

- Đảm bảo được các thông tin chủ yếu về các hiện tượng, sự yật liên quan đến nội

dung bài học

- Làm tăng hứng thú nhận thức của học sinh.

- Đảm bảo tính trực quan, tạo cho học sinh tiếp cận nội dung bài học.

- Tạo điều kiện mở rộng nội dung SGK cho học sinh.

- Tạo điều kiện cho học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kĩ

năng,kĩ xảo

3 Một số lưu ý khi sử dụng đồ dùng dạy học:

Việc sử dụng đồ dùng dạy học cần:

- Gắn với nội dung của bài học.

- Phù hợp với hình thức dạy học bộ môn.

- Phù hợp với kế hoạch bài học: + Đúng mục đích.

+ Đúng lúc, đúng chỗ

- Khi sử dụng: + Cần đinh hướng cho HS quan sát

+ Khai thác triệt để đồ dùng dạy học

Đồ dùng dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện yêu cầu đổi mớiphương pháp dạy họ Sử dụng đồ dùng dạy học hợp lí, có hiệu quả sẽ góp phầnnâng cao chất lượng dạy học Sau đay là một vài cách sử dụng đồ dùng dạy họctrong giờ học vần lớp 1

4.1. Cách sử dụng tranh ảnh, mô hình, vật thật

a Sử dụng tranh ảnh, mô hình, vật thật để giải nghĩa từ.

* Ví dụ dạy bài 9: o - b

Sau khi hướng dẫn học âm -tiếng - từ mới o -bò - bò.Giáo vien giới thiệu ảnh

" con bò" để học sinh tái hiện về hình ảnh con vật (nếu chưa biết ).Giáo viên có thểnói thêm đôi nét sơ lược: Con bò thường ăn cỏ, được nuôi để kéo cày dùng trongviệc nhà nông

* Ví dụ dạy bài 40: iu - êu

Để giảng từ " Cái phễu ",giáo viên cái phễu ra và hỏi: Cái phễu dùng để làm gì?

- HSTL: Cái phễu dùng để rót chất lỏng như rượu, nước mắm vào chai cho khỏi

rớt ra ngoài

Sử dụng tranh, mô hình, vật thật khi giải nghĩa từ giúp học sinh mường tượng ra

sự vật hay hoạt động được nói đến trong từ khoá, từ ứng dụng, hiểu đúng hơn về

sự vật, hoạt động

b.Sử dụng tranh ảnh để minh hoạ câu ứng dụng.

* Ví dụ dạy bài 40: iu -êu

Khi học câu ứng dụng: Cây bưởi cây táo nhà bà đều sai tñu quả

Giáo viên treo tranh: " vườn cây nhà bà " và nói: Đây là bức tranh vẽ cảnh vườn câynhà bà Các em hãy quan sát bức tranh và cho cô biết: Quả của các cây trong vườnnhà bà như thế nào? -Học sinh trả lòi: Quả của các cây trong vườn nhà bà đều rấtnhiều quả Giáo viên chỉ tranh nói: " Các cây trong vườn nhà bà đều sai trĩu quả "

và giảng thêm: Sai trĩu quả cây rất nhiều quả, đến nỗi trĩu cả cành xuống

Sử dụng tranh ảnh khi dạy câu ứng dụng, giúp học sinh hiểu thêm về nội dungcâu ứng dụng

c Sử dụng tranh ảnh để giúp học sinh tái hiện nội dung ở phần luyện nói.

* Ví dụ dạy bài 33: ôi - oi: Khi dạy chủ đề luyện nói " Lễ hội " giáo viên có thể tiếnhành theo các bước:

Trang 7

- GV yêu cầu học sinh đọc chủ đề luyện nói ừong SGK ( Lễ hội); Tìm tiếng chứa

vần ôi (tiếng hội)

- Hướng dãn học sinh quan sát tranh minh hoạ (SGK) sau đó treo tranh minh hoạ:

Lễ hội đền Hùng (Phú Thọ), Hội Lim (Bắc Ninh), Hội chọi trâu (Hải Phòng), Hộiđua voi (Tây Nguyên) Dể giới thiệu thêm nội dung có thể mở rộng về chủ đềluyện nói (Một vài cảnh lễ hội ở các vùng khác nhau)

- Gợi mở bằng câu hỏi để học sinh luyện nói theo chủ đề.

- Nhận xét kết quả luyện nói của học sinh ( chú ý biểu dương học sinh nói được

các ý mở rộng so với tranh minh hoạ ứong SGK nhưng vẫn hướng vàochủ đề Lễ

- HS mở SGK, đọc tên nhân vật trong câu chuyện: Hổ

- GV gợi mở: Câu chuyện hôm nay nói về hai nhân vật Mèo và Hổ Nội dung câu

chuyện cho ta thấy Hổ là con vật như thế nào, các em hãy chú ý lắng nghe

- GV kể chuyện 2 lần có kết hợp minh hoạ tranh.

- GV gợi ý học sinh quan sát từng tranh, giúp câu chuyện thêm hấp dẫn;kích

thích được trí tưởng tượng của các em Dựa theo tranh, các em hình dung rakhông gian, thời gian xảy ra câu chuyện, sắp xếp các ý của câu chuyện, tự nhớ lạinội dung để kể

4.2. sử dụng các đồ dùng dạy học khác

a Sử dụng mẫu chữ trong dạy tập viết:

* Ví dụ dạy viết chữ: h

- Giáo viên đưa mẫu chữ h

- Yêu cầu học sinh nhận xét độ cao của chữ h; phân tích chữ h gồm mấy nét? Là

+ Ghép tiếng khoá con, sàn

Cuối tiết 1, giáo viên cho học sinh tự tìm và ghép tiếng, (có nghĩa) mang vần đãhọc nhưng không xuất hiện trong SGK Việc làm này giúp các em luyện tập thựchành để vận dụng kiến thức ,kĩ năng đã học một cách tích cực và sáng tạo

+ vần on: bón, đòn, gọn, lon ton

+ vần an: can, cạn, cản, bạn, lan can, đàn ngan, bàn tán

Sử dụng bộ thực hành Tiếng Việt không những giúp học sinhnắm được cấu tạocủa từ, viết được từ mà còn phát triển tư duy, các em được sử dụng tát cả các giácquan như mắt nhìn, tay cầm do đó các em sẽ ghi nhớ lâu; không những thế việc sửdụng bộ thực hành Tiếng Việt còn làm giảm bớt sự khô khan của việc tìm từ màcòn làm lớp học thêm sinh động

c. Sử dụng sách giáo khoa:

Trang 8

Ngoài việc cho học sinh quan sát tranh ảnh, mẫu chữ trên bảng, thì việc khai tháccác kênh hình, kênh chữ trong SGK là việc làm rất cần thiết Sách giáo khoa là một

đồ dùng học tập không thể thiếu được trong mỗi tiết học

Việc hướng dãn các em biết cách sử dụng SGK, giúp các em phát huy được tínhtích cực chủ động trong học tập; phat triển năng lực tự học - tạo nền móng cho việchọc ở các lớp trên Việc dùng SGK còn giúp các em tiếp cận trực tiếp với văn bản,hiểu đúng văn bản

Sách giáo khoa còn giúp viên tiện lợi hơn trong việc thiết kế các hoạt động dạy họctheo hướng đổi mới phương pháp dạy học

* Yí dụ: Khi dạy đọc từ (câu) ứng dụng, giáo viên có thể cho học sinh đọc theo nhóm đôi các từ, câu trong sách giáo khoa, để nhiều em được luyện đọc hơn hay khi luyện nói, học sinh có thể dựa vào tranh ảnh trong sách giáo khoa để nói theo đinh hướng của tranh trong sách giáo khoa

Biện pháp 2: Sử dụng hệ thống câu hỏi

1. Tầm quan trọng của việc sử dụng câu hỏi:

Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học giúp phát huy trí lực của học sinh; là cơhội để giáo viên hiểu học sinh của mình

-Làm giờ học đỡ đơn điệu, tạo mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò

- Giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh nội dung phù hợp với các đối tượng học sinh;

đưa ra những câu hỏi gợi ý tuỳ theo câu trả lòi của học sinh mà không thoát lykhỏi mục tiêu bài học

- Trẻ em ham hiểu biết, hiếu động, việc đưa câu hỏi sẽ giúp các em suy nghĩ và

hứng thú khi được trả lời ý kiến của mình

2. Khi thiết kế câu hỏi, cần chú ý những điểm sau:

- Xuất phát từ mục đích yêu cầu của nội dung bài, giáo viên xây dựng hệthống

câu hỏi chính và câu hỏi phụ kèm theo

- Câu hỏi phải có nội dung rõ ràng, dễ hiểu, chính xác phù hợp với trình độ của

học sinh

- Câu hỏi phải thể hiện phân hoá đối tượng học sinh, tạo điều kiện cho học sinh

yếu kém được trả lời, phát huy tính tích cực của tất cả học sinh trong lớp

- Sắp xếp câu hỏi từ dễ đến khó.

3. Các loại câu hỏi thường sử dụng

3.1. Câuhỏi yêu cầu tái hiện:

* Ví dụ dạy bài 66: uôm - ươm

Sau khi học xong bài, giáo viên hỏi: Hôm nay các em học hai vần mới nào?

- HS trả lời: Hôm nay con học hai vần là vần uôm và vần ươm.

3.2. Câuhỏi yêu cầu so sánh

* Ví dụ dạy bài 66: uôm - ươm

Sau khi học xong vần ươm, giáo viên yêu cầu học sinh so sánh vần uôm và vầnươm

3.3. Câuhỏi yêu cầu suy luận

* Ví dụ dạy bài 37: Ôn tập, phần kể chuyện " Cây kế

Sau khi học xong câu chuyện, giáo viên hỏi: "Vì sao người em trở nên giàu có?" -HSphải suy luận từ các sự việc để ừả lòi: Ngưòi em hiền lành, chăm chỉ nên trở nên

Trang 9

giàu có.

* Ví dụ dạy bài 27: Ôn tập

Sau khi hình thành xong bảng ôn vần, để học sinh phân biệt khi nào viết gh, khinào viêt g Giáo viên hỏi: Nhìn vào bảng ôn tập, ta thấy gh đứng trước âm nào?Còn g đứng trước âm nào?

Học sinh phải quan sát bảng ôn để nêu được gh đứng trước âm (i, e, ê ), còn gđứng trước các âm còn lại

Câu hỏi suy luận dùng để yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân sự việc,vậndụng kiến thức vào bài học, khái quát hoá kiến thức

3.4 Câu hỏi yêu cầu liên hệ.

* Ví dụ bài 7: ê - v: khi học chủ đề luyện nói " bế bé " giáo viên hỏi:

+ Mẹ thường làm gì khi bế bé? Còn em bé nũng nịu mẹ như thế nào?

+ Mẹ rất vất vả, con có thể làm gì để giúp đỡ mẹ?

4. Khi nêu câu hỏi cho học sinh giáo viên cần chú ý:

- Thu hút sự chú ý của học sinh.

- Sau khi nêu câu hỏi, giành thời gian cho học sinh suy nghĩ.

- Chú ý phân bố hợp lý số học sinh được chỉ đinh trả lòi.

- Chú ý khuyến khích những học sinh rụt rè, chậm chạp.

Biện pháp 3: Tổ chức M Trò chơi học tập "

Trò choi học tập là hình thức học tập thông qua trò chơi Hình thức này rất phùhợp với lứa tuổi học sinh lớp Một, giúp các em tránh được những căng thẳng thầnkinh do phải đột ngột thay đổi cách học ở mẫu giáo (choi là hoạt động chủ đạo)

"Học mà choi, choi mà học " tạo cho các em hứng thú và niềm tin trong học tập,duy trì được khả năng chú ý của các em trong tiết học

1. Tác dụng của trò chơi học tập

- Trò chơi học tập không chỉ nhằm giải trí mà còn góp phần củng cố tri thức, kĩ

năng học tập cho học sinh

- Viẹc sử dụng trò choi học tập trong quá trình dạy học nhằm làm cho việc tiếp thu

tri thức, rèn kĩ năng bớt đi khó khan, có thêm sự sinh động, hấp dẫn, phát huy tính

tự giác, tích cực của học sinh, rèn cho học sinh tính manh dạn,tính thi đua, tính kỉluật do đó hiệu quả học tập cuả học sinh cao hơn

2. Điều kiện đảm bảo cho sự thành công của việc sử dụng trò chơi tronghọc tập

- Nội dung trò choi phải gắn với mục tiêu của bài học.

- Luật choi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.

- Điều kiện và phương tiện tổ chức trò choi phong phú, hấp dẫn.

- Sử dụng trò choi đúng lúc, đúng chỗ.

- Kích thích sự thi đua giánh phần thắng cho các em bên tham gia.

3. Cách tổ chức trò chơi học tập

- Giới thiệu tên trò chơi, hướng dãn cách choi, thòi gian choi và phổ biến luật chơi

(Có thể tiến hành nhiều cách khác nhau nhưng yêu cầu giáo viên nói ngắn gọn rõràng, dễ hiểu, sao cho tất cả học sinh nắm được cách chơi)

- Cho học sinh chơi thử (nếu cần ).

- Tiến hành chơi ( giáo viên điều khiển trò choi phải nắm vững tiến trình và theo

dõi chặt chẽ )

- Đánh giá kết quả chơi ( động viên là chủ yếu ) Nhận xét thái độ của người tham

dự và rút kinh nghiệm

4. Các hình thức trò choi thường sử dụng trong giờ học vần

4.1. Loại 1: Trò chơi tô chữ trên tranh

+ Mục đích: Nhận được dạng chữ ghi âm, ghi vần mới, đọc tiếng có âm(vần) mới

Trang 10

+ Cách chơi: Một hoặc một nhóm hai em dùng bút chì màu tô vào chữ có âm hoặcvần mới học; sau khi tô, học sinh phải nói rõ ô chữ ở hình vẽ nào (gọi tên con vật,

đồ vật, người trong hình vẽ ) có chữ ghi âm (vần) mới 5 học sinh tô đúng và xongsớm sẽ chi đinh nói kết quả và nhận thưởng

+ Chuẩn bị và tổ chức: Giáo viên sao chép hình ảnh một số con yật, đổ yật,người có tên gọi là từ chứa âm (vần) mới Nên sao cả một vài hình ảnh của người,vật mà tên gọi không có âm, vần mói để học sinh lựa chọn Ghi tên gọi dưới mỗihình, kẻ khung cho từng chữ ghi mỗi tên gọi Chụp các hình này vào một tranggiấy rồi nhân bản cho mỗi học sinh hoặc một nhóm một bản để chơi

Minh hoạ bài 12: i - a

* Nên dùng trò choi này ở những bài đầu của phần học âm và chữ cái

4.2 Loại 2: Trò chơi thi ghép vần, tiếng,từ.

+ Mục đích: Nhớ mặt chữ ghi vần mới, ghép vần mới vói phụ âm đầu và thanh đểtạo tiếng mới; đọc trơn; nêu ý nghĩa của tiếng hoặc từ tìm được

+ Cách choi: Giáo viên tổ chức cho học sinhchoi ghép vần, tiếng từ, theo nội dungbài học, có chú ý dẫn dắt, mở rộng vốn từ và vốn hiểu biết của học sinh

* Ví dụ bài 44: on - an, sau khi học xong bài GV cho học sinh ghép tiếng ngoài bài

có chứa vần on, vần an theo hai dãy ( dãy 1 ghép tiéng chứa vần on, dãy 2 ghéptiếng chứa vần an) vào bảng gài HS ghép xong, GV yêu cầu học sinh từng tổ gắn

từ lên bảng hỏi thêm để từng em nêu rõ tiêng tìm được có trong từ (hoặc cụm từ)nào, như: man (lan man), than (than đá), đan (đan lưói), gan (gan dạ), tan (tan học),bán (bán hàng) Tổ nào ghép được nhiều từ đúngvà hay sẽ là tổ chiến thắng

* Nên tổ chức cho cả lớp cùng choi, trò choi này nên dùng cho các bài học âm,vần mới ở cuối tiết 2

4.3 Loại 3:Trò chơi hái hoa

+ Mục đích: Luyện nhẩm đánh vần nhanh để đọc trơn cả tiếng, cả từ dùng từ đãhọc để tạo từ ngữ hoặc câu ngắn

+ Cách chơi: HS tự chọn cho mình một bông hoa giấy gắn trên cành rồi tự giơ bônghoa ra đọc từ ghi ở mặt giấy phía ừong Đọc xong học sinh phải nói một cụm từhoặc một câu trong đó có các từ đã học

+ Chuẩn bị và tổ chức: cắt khoảng 10 đến 20 bông hoa giấy gắn vào một cànhcây,trên mỡi bông hoa ghi một từ có âm hoặc vần mới học Sau khi học sinh háimột bông hoa thì cần đổi vị trí gắn bông hoa đó

* Nên tổ chức cho cả lớp cùng chơi, ừò choi này nên dùng cho các bài học âm, vầnmới và các bài ôn tập

4.4 Loai 4: trò choi nhìn ra xung quanh + Mục đích: Luyên nhớ vần mới, tìm nhanh các tiếng có vần mới, đọc và viết các tiếng, từ đó.

+ Cách chơi: HS quan sát trong không gian lớp học xem có đổ yật nào, ngưòi nào,chữ viết nào trên tường, trên bảng có từ chứa vần mói học Viết những từ tìm đượclên bảng đen của lớp rồi đọc các từ này cho cả lớp cùng nghe kết hợp với việc chivật hoặc người mà từ đó gọi tên Ai tìm được nhiều từ nhất sẽ được thưởng

+ Chuẩn bị và tổ chức: Bố trí nhiều vật, tranh ảnh, hình vẽ những người và yật cótên gọi là từ chứa vần mới học treo trên các bức tường của lớp học

ngã ba đường ngôi nhà ngói

Trang 11

* Nên tổ chức cho cả lớp cùng chơi, trò chơi này có thể dùng ở các bài học âm,vần mới và bài ôn tập.

4.5.Loại 5: Trò chơi viết thư

+ Mục đích: Luyện tập những từ chứa âm, vần mới học để tạo lời nói; viết ra đượcmột cách chính xác

+ Cách choi: Nhóm 3-4 cùng choi Em đầu tiên viết một tiếng có nghĩa (có thể là từđơn) vào một mẩu giấy rồi gấp lại đưa cho bạn bên cạnh, bạn này viết tiếp mộthoặc vài tiếng ở trước hoặc ở sau từ đã có rồi chuyển thư cho bạn cuối cùng viếtxong phần mình thì ghi câu đó lên bảng Nhóm nào có câu đúng và dài nhất sẽđược nhận phần thưỏng

* Nên tổ chức cho cả lớp cùng choi, trò chơi này có thể dùng ở các bài học âm,vần mới và bài ôn tập hoặc trong các tiết hoạt động tập thể

Trên đây là minh hoạ một vài trò choi mà tôi đã áp dụng Trong quá trình áp dụngtôi nhận thấy để trò choi có hiệu quả, ngoài việc chuẩn bị trò choi thì việc lựa chọnsao cho phù hợp với nội dung bài cũng là điều quan trọng

Biện pháp 4: Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học

1 Các hình thức tổ chức luyện đọc, luyện viết, luyện nói trong tiết học vần:

1.1.Luyện đọc:

Đọc thành tiếng (Trên bảng lớp, trong sách giáo khoa, ở bìa ghép chữ hay "bảngquay âm - vần tiếng" ),đọc nhẩm - đọc thầm (qua sử dụng vở bài tập Tiếng Việt 1,trong SGK ), với các hình thức: đọc theo cá nhân -theo tổ -theo nhổm - cả lớp

1.2.Luyện viết:

Viết vào bảng tay, viét trên bảng lớp, viết trong vở tập viết

1.3.Luyện nói:

Nói câu, nói theo chủ đề với các hình thức: Nói cá nhân - nói trong nhóm

2 Tác dụng của việc vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học.

- Tạo môi trường thuận lợi cho việc giao tiếp, cho việc rèn luyện 4 kĩ năng sửdụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói)

- Tạo điều kiện cho mọi học sinh đều luyện đọc, luyện viết, luyện nói.

- Tạo điều kiện cho các em cách làm việc tập thể theo nhóm, học cách phối hợpvới bạn bè trong học tập

- Học sinh được luyện tập kĩ năng đọc, viết theo nhiều hình thức.

học tập trong quá trình dạy học

- Tổ chức dạy học theo nhóm chỉ thích hợp với các nội dung học tập cần có

sự thảo luận, bàn bạc giữa học sinh với nhau Tránh lạm dụng chia nhómmột cách hình thức, không cần thiết, không hiệu quả, mất thòi gian

- Giáo viên cần đưa ra mệnh lệnh rõ ràng (chia nhóm nhỏ, lớn); giap việc cụ

thể cho từng nhóm, phân công nhiệm vụ cho các em

* Ngoài các biện pháp trên, tôi còn sử dụng hình thức động viên, khen thưỏng:+ Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng rất thích được khen.+ Hình thức khen thưởn tạo không khí lớp học than thiện, cỏi mở

+ Kích thích sự hứng thú, ham học hơn ở các em

+ Giúp học sinh tự tin hơn trong học tập

Trang 12

Để động viên học sinh tích cực hơn trong học tập, giáo viên cần:

- Kiên trí, kiên nhãn trứoc những vứng mắc của học sinh.

- Cần thể hiện sự gần gũi vơi học sinh.

- Luôn có thái độ ghi nhận những tiến bộ của học sinh.

- Đối với các em kém, giáo viên nên lắng nghe và động viên các em trinh bày,

tránh nôn nóng Khi các em có tiến bộ về một mặt nào đó, giáo viên khenngay Có thể thưởng bằng hình thức : Tặng cho bạn một tràng pháo tay đểkhích lệ các em

- Đối vơi học sinh ít nói, thụ động giáo viên nên đặt câu hỏi dễ, động viên các

em cùng tham gia Khi các em trả lời được chỉ cần một ý nhỏ giáo viên cũngkhen ngay và đông viên em đó tiếp tục phát huy

- Đối với các em khá giỏi nên khuyến khích, gợi mở bằng những câu hỏi khái

quát hơn

- Giáo viên nên tổ chức thi viết chữ đẹp theo tháng, treo bài viết đẹp trên lóp

để động viên các em đó và các em khác cũng lấy đó làm gương

GIÁO ÁN MINH HOẠ:

Bài 44: iu -êu

I Mục đích - yêu cầu:

- Học sinh đọc được: iu, êu, lưỡi rìu, cái phễu, từ và câu ứng dụng trong bài.

- Học sinh viết được iu êu, lưỡi rìu, cái phễu.

- Luyện nói từ 2 - 4 câu theo chủ đề luyện nói: Ai chịu khó?

II.Đồ dùng dạy học:

- Giáo viên: Tranh minh hoạ cây nêu, vườn quả, ai chịu khó, chữ mẫu, cáiphễu, mô hình lưỡi rìu

- Học sinh: Bộ thực hành Tiếng Việt, bảng

con ra Hoạt động dạy học chủ yếu:

Tiết 1

T.gian dự

kiến NỘI DUNG CÁC

H ’ Đ DAY HOC PHƯƠNG PHÁP - HÌNH THỨC Tố CHỨC CÁC

HOAT ĐÔNG DAY HOC TƯƠNG ÚNG

Ghi chú ĐDDH

5 phút I Kiểm tra bài cũ - Viết:

rau cải lau sậy châu chấu

sáo sậu

-Đọc từ: rau cải, lâu sậy,

- Giáo viên đọc cho học sinh viết vàobảng con theo 3 dãy ( mỗi dãy 1 từ)

- GV nhận xét sửa lỗi

- HS đọc cá nhân ( 4-5 HS) kết hợp

Bảngcon

Trang 13

BTHT V

Bộ TH

Mô hình lưỡi rìu

Cái phễu

tranh

phân tích tiếng

- 1HS đọc; cả lớp đọc đồng thanh

- GV nhận xét chung

- GV nói: Hôm nay cô dạy các con

vần: iu, êu và viết bảng

- GV đưa mô hình cái rìu và hỏi: "

Đố các con biết đây là cái gì? HSTL: Cái rìu

- GV hỏi tiếp: Rìu dùng để làm gì?

HS TL: Dùng để chặt cây, chặt củi

-GV giảng kết hợp chỉ trên mô hình:

Đây là phần cán rìu thường làmbằng gỗ, còn đây là phần lưỡi rìulàm bằng thép và được mài sắc,dùng để chặt cây, chặt củi

Hôm nay chúng ta học từ mới thứnhất là từ lưỡi rìu

- Từ lưỡi rìu có mấy tiếng là tiếng

nào? Tiếng nào chứa vần vừa học?

- 4 HS đọc cá nhân, tổ, nhóm đọc

đồng thanh(tương tự) So sánh iu và êuCái phễu dùng để làm gì?

Cái phễu dùng để rót chất lỏng nhưrượu, nước mắm vào chai chokhỏi rớt ra ngoài

sáo sậu, châu chấu

Chào mào có áo mầu

nâu Cứ mùa ổi tới tự

bay về

II Bài mới

2 phút 1 Giới thiẹu bài mái: iu,

êu

10 phút 2 Dạy vần

a Vần iu

Giới thiệu vần iu

Giói thiệu tiếng: rìu

Giới thiệu từ khoá

Lưỡi rìu

b Vần: êu

Tiếng: phễu

Từ: cái phễu

5-7 3 Viết bảng: iu,êu, lưỡi

phút rìu, cái phễu

Trang 14

tiếng nói thơ ngây của em bé Cây

nêu: Theo phong tục của một số

đổng bào dân tộc, vào những ngày

tết, ngưòi ta thường cắm một cây tre

cao trước nhà Trên thường có treo

trầu cau và bùa để cầu bình an trong

một năm Cây đó chính là cây nêu

Kêu gọi: Lòi yêu cầu động viên mọi

người cần làm một việc gì đó Ví dụ

trường chúng ta đang kêu gọi HS

hãy giữ vệ sinh không ăn quà vặt để

đề phòng bệnh tả

Trang 15

- GV gắn nội dung câu ứng dụng

yêu cầu HS đọc thầm và gạch dưóitiếng chứa vần vừa học

- Đánh vần, đọc trơn: Trĩu, đều

- GV hướng dẫn cách đọc

GV treo tranh: " vườn cây nhà bà "

và nói: Đây là bức tranh vẽ cảnhvườn cây nhà bà Các con hãy quansát bức tranh và cho cô biết: Quảcủa các cây trong vườn nhà bà nhưthế nào? HS trả lời: Quả của các câytrong vườn nhà bà đều rất nhiềuquả GV chỉ ừanh nói: Các cây trongvườn nhà bà đều sai tnu quả vàgiảng thêm: Sai trĩu quả cây rấtnhiều quả đến nỗi triu cả cànhxuống

- Đọc theo tổ - đồng thanh - thi đọc

cá nhân

- GV hướng dẫn

- HS viết vở

Ngày đăng: 10/09/2015, 12:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình con ong Hình cái lá Hình Hình - Đề tài một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học vần, nhằm nâng cao chất lượng học tiếng việt lớp một
Hình con ong Hình cái lá Hình Hình (Trang 10)
Hình con ong Hình cái lá Hình Hình - Đề tài một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học vần, nhằm nâng cao chất lượng học tiếng việt lớp một
Hình con ong Hình cái lá Hình Hình (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w