Nếu là một nhà đầu tư, đứng trước một quyết định đầu tư vào một Doanh nghiệp nào đó thì bạn quan tâm đến Yấn đề gì đầu tiên. Hay với tư cách là một nhà quản lý Doanh nghiệp thì bạn mong muốn điều gì ở doanh nghiệp của mình. Chắc chắn rằng bất cứ ai ở địa vị đó cũng không mong muốn gì hơn là Doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả. Vậy thì làm thế nào tin tưởng rằng Doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả? Hoạt động kiểm toán ra đời từ đáp ứng nhu cầu đó. Để có thể đảm bảo hoạt động của Doanh nghiệp là có hiệu quả thì các nhà lãnh đạo phải mời các chuyên gia kiểm toán đến để thực hiện kiểm toán cho Doanh nghiệp của mình. Biện pháp này rất có hiệu quả tuy nhiên chi phí lại tốn kém và lại không thể thực hiện một cách thường xuyên được. Bên cạnh đó có một biện pháp khác là Doanh nghiệp tự thiết lập một bộ phận chuyên trách thực hiện nhiệm vụ kiểm soát các hoạt động của các bộ phận. Biện pháp này giúp Doanh nghiệp đảm bảo hiệu quả hoạt động trong từng khâu công việc mà chi phí lại không tốn kém như biện pháp trên.
Trang 1Luận văn tốt ngiệp
Để có thể đảm bảo hoạt động của Doanh nghiệp là có hiệu quả thì các nhà lãnh đạo phải mời các chuyên gia kiểm toán đến để thực hiện kiểm toán cho Doanh nghiệp của mình Biện pháp này rất có hiệu quả tuy nhiên chi phí lại tốn kém và lại không thể thực hiện một cách thường xuyên được Bên cạnh
đó có một biện pháp khác là Doanh nghiệp tự thiết lập một bộ phận chuyên trách thực hiện nhiệm vụ kiểm soát các hoạt động của các bộ phận Biện pháp này giúp Doanh nghiệp đảm bảo hiệu quả hoạt động trong từng khâu công việc
mà chi phí lại không tốn kém như biện pháp trên
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, cùng với tiến trình công nhiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì việc thiết lập Hệ thống kiểm soát nội bộ đang trở thành một Yấn đề càn thiết hơn bao giờ hết đặc biệt đối với các Doanh nghiệp có qui mô lớn, các tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty
Là một sinh viên chuyên ngành kiểm toán, ngay từ đàu đã rất tâm đắc với các Yấn đề về việc xây dụng và thiết lập Hệ thống kiểm soát nội bộ trong Doanh nghiệp Được thực tập tại Tổng công ty Công trình giao thông 5 - Cicenco 5 là một cơ hội tốt cho em được tiếp tục học hỏi sâu thêm về vấn đề này và cũng chính YÌ thế mà em quyết định chọn đề tài “ Hoàn thiện Hệ thống kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực xây lắp thiết kế tại Tổng công ty Công trình giao thông 5 - Cicenco 5“ làm Luận văntốt nghiệp của mình Luận vănbao gồm 3 phàn:
Phần 1 Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Doanh nghiệp
Trình bày các Yấn đề liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại Doanh nghiệp
Phần 2 Thực trạng Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty Công trình
Trang 2Luận văn tốt ngiệp
giao thông 5 - Cicenco 5nói chung và trong lĩnh Yực xây lắp thiết kế nói riêng
Trình bày về cách thức tổ chức Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công
ty Công trình giao thông 5 - Cicenco 5và cách thức tổ chức quản lý trong lĩnh vực xây lắp thiết kế
Phần 3 Giải pháp hoàn thiện tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công
ty Công trình giao thông 5 - Cicenco 5
Trong qúa trình thực tập em đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các thầy cô giáo trong khoa kế toán đặc biệt là thầy Phan Trung Kiên và các cô các chú trong ban tài chính kế toán, các cô các chú trong Tổng công ty Công trình giao thông 5 - Cicenco 5 RPMU tại Tổng công ty Qua đây em xin gửi lời chân thành cảm om tới các thày giáo cùng các bác trong ban tài chính kế toán của Tổng công ty đã giúp đỡ em hoàn thành Luận vănnày
Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Thanh Tâm
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THÓNG KIỂM SOÁT NỘI Bộ
TAI CÁC DOANH NGHIÊP•
1 Kiểm soát trong quản lý
1.1 Khái niệm kiểm soát trong quản lý
Quản lý là quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất Quá trình này bao gồm nhiều chức năng và có thể chia thành nhiều pha (giai đoạn): ở giai đoạn định hướng càn có những dự báo về nguồn lực và mục tiêu càn và có thể đạt tới, kiểm tra lại các thông tin về nguồn lực và mục tiêu, xây dựng các chương trình, kế hoạch Sau khi các chương trình, kế hoạch đã được kiểm tra
có thể đưa ra các quyết định cụ thể để tổ chức thực hiện, cần kết hợp các nguồn lực theo phương án tối ưu, đồng thời thường xuyên kiểm tra diễn biến
và kết quả của các quá trình để diều hoà các mối quan hệ, điều chỉnh các định mức và mục tiêu trên quan điểm tối ưu hoá kết quả hoạt động
Trang 3Luận văn tốt ngiệp
Như vậy là kiểm tra kiểm soát không phải là một pha hay một giai đoạn của quá trình quản lý mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình này Bởi vậy kiểm tra kiểm soát được hiểu là một chức năng của quản lý Hay nói cách khác kiểm soát là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập nhằm mục đích để xem xét và đánh giá các hoạt động của một tổ chức với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó
Vậy kiểm soát nội bộ là gì? kiểm soát nội bộ cũng là một loại kiểm soát tức cũng có nghĩa là một chức năng thẩm định nhưng chức năng này được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó và cũng YỚi tư cách là một sự trợ giúp đối YỚi các tổ chức đó
Quá trình kiểm soát là rất cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, của một tổ chức hay của toàn Xã hội Kiểm soát được xem là một hoạt động của tổ chức hay là một bộ phận của bất kỳ hoạt động có tổ chức nào đó nên nó tồn tại ở hầu hết các cấp độ tổ chức và nó thu hút được sự quan tâm của nhiều người trong tổ chức đó Kiểm soat tồn tại như một khâu độc lập của quả trình quản lý nhưng đồng thời nó lại là một bộ phận xuyên suốt của quá trình đó
Cũng như tất cả các bộ phận khác, mội bộ phận được thiết lập và hoạt động đều có mục đích của nó Và chức năng kiểm soát được thiết lập nhằm mục đích giúp tổ chức, giúp các bộ phận thực hiện được các mục tiêu của mình
1.2 Phân loại kiểm soát
Kiểm soát là chức năng thẩm định nói chung nhưng do mục tiêu của các hoạt động được kiểm soát khác nhau, do yêu càu của các nhà quản lý trong từng trường hợp khác nhau nên cũng có tương ứng các cách tiến hành kiểm soát khác nhau do đó mà cũng có tương ứng nhiều loại kiểm soát khác nhau Nhìn chung kiểm soát có thể chia làm 3 loại:
• Kiểm soát hướng dẫn
• Kiểm soát “có” “ không”
• Kiểm soát sau hành động
> Kiểm soát hướng dẫn
Là loại kiểm soát mà thông qua định dạng các sự kiện giúp chúng ta có hành động trung gian góp phần đạt những mục tiêu lớn hom những việc trung gian đó rất rõ ràng hoặc rất rộng nhưng đặc điểm chung là nó cảnh báo chúng
ta càn có một hoạt động quản lý kịp thời nhằm mục tiêu đưa hoạt động đang được kiểm soát đó đạt được những mục tiêu mong muốn
Trang 4Luận văn tốt ngiệp
> Kiểm soát “cỏ” “không”
Là loại kiểm soát nhằm vào chức năng bảo vệ chúng ta một cách máy móc hay nói cách khác là giúp chúng ta bảo đảm đạt được những kết quả mong muốn YỚi hình thức đơn giản nhất nó có thể là một tiêu thức kiểm soát chất lượng mà thông qua đó chỉ có sản phẩm đúng đặc điểm kỹ thuật mới có thể qua được Hay nói cách khác kiểm soát có thể là một sự thông qua bắt buộc của một loại hình kinh doanh từ đó đảm bảo rằng một cá nhân cụ thể phải thực hiện việc tóm lược hoạt động có liên quan Việc thiết kế những nhiệm vụ của tổ chức cũng có thể tạo ra những cơ hội đảm bảo cần thiết qua sự đánh giá những quyết định kinh doanh chủ yếu và hành động thực hiện Nhân tố chung là có một kế hoạch kiểm soát lập sẵn hoắc có một cách sắp đặt để trong điều kiện bình thường sẽ mặc nhiên giúp vào một hành động bảo vệ hoặc cải tiến
> Kiểm soát sau hành động
Loại kiểm soát thứ ba này trùng YỚi hai loại kiểm soát đã trình bày ở trên, nhưng nó được phân biệt là hành động kiểm soát xảy ra sau, và tiến hành theo hình thức có hiệu quả nhất trong hoàn cảnh hiện thời Hoạt động đó có thể là sửa chữa một sản phẩm hoặc thay đổi một chủ trương hay một tiến trình Hoặc là hành động có thể thải hồi hay tái tuyển một nhân viên Hoạt động sau
sự việc có thể là đã làm ngay hay phải nghiên cứu thêm và triển khai Ở đây, kiểm soát càn được hiểu là xem xét lại quá khứ nhưng bao giờ cũng hướng vào cải tiền tương lai
2 Hê thống kiểm soát nôi bô•
2.1 Quan điểm của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC)
Theo quan niệm này thì “Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống những chính sách và thủ tục nhằm 4 mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp
ỉỷ, bảo đảm hiệu quả của các hoạt động”
Theo đó, kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để
Trang 5Luận văn tốt ngiệp
tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đề
ra của đơn vị
• Bảo vệ tài sản của đơn vị:
Tài sản của đơn vị được bảo vệ bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản
vô hình và các tài sản phi vật chất khác như sổ sách kế toán, các tài liệu quan trọng của doanh nghiệp
• Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin:
Thông tin muốn nói ở đây chính là thông tin kinh tế tài chính do bộ máy
kế toán xử lý và tổng hợp Thông tin này cần được bảo đảm độ tin cậy bởi vì
nó là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của nhà quản lý Các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác
và tin cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ và khách quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế tài chính
• Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được tuân thủ đúng mức
• Bảo đảm hiệu quả của các hoạt động và năng lực quản lỷ
Các quá trình kiểm soát trong một đom vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa
sự lặp lại không càn thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và
sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong Doanh nghiệp
Bên cạnh đó, định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả hoạt động trong doanh nghiệp được thực hiện với cơ chế giám sát của Hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp
Tóm lại có thể khái quát rằng quan niệm này xem xét khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ theo con mắt quan sát của kế toán nên nó hướng về các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
2.2. Quan điểm của các kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA)
Các định nghĩa của viện kế toán viên công chứng (IACPA) ở Mỹ về Kiểm soát nội bộ liên quan đến từng lĩnh Yực cụ thể Trong phàn thực hành kiểm toán Kiểm soát nội bộ được định nghĩa như sau:
“Kiểm soát nội bộ gồm kế hoạch tổ chức và tất cả những phương pháp,
biện pháp phổi hợp được thừa nhận dùng trong kỉnh doanh để bảo vệ tài sản của tổ chức, kiểm tra độ chính xác và độ tin cậy của các thông tin kế toán,
Trang 6Luận văn tốt ngiệp
thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khích lệ bám sát những chủ trương quản
lỷ đã đề ra ”
Theo quan niêm này thì hệ thống kiểm soát nội bộ cũng có xu hướng thiên về phục vụ các mục tiêu của doanh nghiệp gần YỚi quan niệm của liên đoàn kế toán quốc tế
2.3 Quan điểm của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA)
Theo VSA 400 Hệ thống kiểm soát nội bộ được định nghĩa như sau ”
Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quỉ định và các thú thục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quỉ định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừavà phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cảo tài chính trung thực và hợp lỷ; nhằm bảo vệ, quản lỷ và
cỏ hiệu quả tài sản của đom vị Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ thụckiểm soát ”
Trong đó:
Hê thống kế toàn' Là các qui định về kế toán và các thủ tục kế toán mà
đơn vị được kiểm toán áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính
Môi trườns kiểm soát: Là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và
hoạt động của thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc đối với Hệ thống kiểm soát nội bộ trong đom vị
Thủ tuc kiểm soát: Là các quy chế và thủ tục do ban lãnh đạo đơn vị
thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đom vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể
Theo quan niệm này thì hệ thống kiểm soát nội bộ được mô tả theo con mắt của các kiểm toán viên độc lâp là những người bên ngoài doanh nghiệp và
nó cũng hướng đến phục vụ các mục tiêu của các kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán tại đom vị đó
3 Sự cần thiết phải thiết ỉập Hệ thống kiểm soát nội bộ trong Doanh nghiệp
Như phàn trên đã đề cập, chúng ta đã biết tàm phàn nào tằm quan trọng của việc thiết lập Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Doanh nghiệp Vậy việc đó nó quan trọng như thế nào và YÌ sao ta lại phải thiết lập Hệ thống kiểm soát nội
Trang 7Luận văn tốt ngiệp
bộ Trong phần này chúng ta sẽ làm rõ hơn về Yấn đề đó
3.1 Yêu cầu của quản lý
Nói đến từ “quản lý” hay “nhà quản lý” sẽ gợi nhiều cách nghĩ cho nhiều người khác nhau Nhưng tổng quát nhất có thể hiểu quản lý là quá trình
sử dụng nguồn lực có hiệu quả Định nghĩa này thừa nhận rằng quản lý là một quá trinh tích cực, nó chăm lo đến các nguồn lực (bao gồm cả nguồn nhân lực
và nguồn phi nhân lực) YỚi mục tiêu cuối cùng là sử dụng các nguồn lực đó theo cách hiệu quả nhất có thể Tối đa hoá việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và các nhà quản lý muốn đạt được kết quả tốt nhất có thể được và họ phải
có cách làm tốt nhất để đạt được mong muốn đó
Quản lý được coi như là một chuỗi các quá trình có liên hệ với nhau Các quá trình đó bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, cung cấp các nguồn lực để thực hiện kế hoạch, điều hành thực hiện kế hoạch và kiểm soát
• Lập kế hoạch quản lỷ:
Bao gồm toàn bộ việc lập kế hoạch từ những quyết định ở mức cao nhất
về các mục đích và mục tiêu chủ yếu đến những chiến lược và các chủ trương
hỗ trợ ở mức thấp hơn, đến các trình tự và phương pháp ở mức thấp hơn nữa cho việc thực hiện các nghiệp vụ cụ thể Lập kế hoạch quản lý cũng là căn cứ cho tất cả các quá trình khác
• Tổ chức thưc hiên kế hoach:•
• •Quá trình này phải chia công việc của tổ chức thành nhiều phần sau đó phối hợp các phàn này YỚi nhau sao cho toàn bộ công việc của tổ chức được hoàn thành Nó giúp cho mỗi người trong tổ chức biết họ phải làm gì và ai là người có trách nhiệm giúp đỡ họ thực hiện công việc đó Quá trình này được xây dựng dựa trên cơ sở của việc lập kế hoạch chung nói trên
• Cung cấp các nguồn lực:
Đây là quá trình cung cấp các nguồn lực càn thiết nó bao gồm việc mua sắm các nguồn lực vật chất như máy móc thiết bị và các loại vật tư cung ứng
và việc tuyển dụng, phát triển nhân lực Đặc biệt hoạt động chuẩn bị nguồn lực
về con người được các nhà quản lý hết sức quan tâm
• Điều hành quản lỷ:
Đây là quá trình khi công việc được tiến hành trong thực tế Nó bao
Trang 8Luận văn tốt ngiệp
gồm 3 loại hoạt động hỗ trợ làm cơ sở cho việc thực thi các nghiệp vụ được giao: hướng dẫn, phối hợp, chỉ đạo thực hiện kế hoạch
• Kiểm soát:
Việc hoàn thành công việc hiện tại không trành khỏi bị ảnh hưởng của những điều kiện thay đổi và năng lực con người không đồng đều Do đó, chúng ta phải thấy được những sai lệch so YỚi kế hoạch và xử lý những chỗ sai lệch đó một cách có hiệu quả Việc kiểm soát là một tiểu qúa trìnhcần thiết giúp chúng ta đạt được một cách tốt nhất những mục tiêu đã xây dựng
Trong kinh doanh, mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là lợi nhuận và mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng đến mục tiêu đó Các nhà quản lý luôn luôn làm mọi cách để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Bên cạnh đó như chúng ta đã biết, kiểm soát là một chức năng thẩm định các hoạt động của doanh nghiệp, nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện một cách tốt nhất các mục tiêu của mình, chính YÌ thế mà hiện nay người ta có xu hướng đưa hoạt động kiểm soát vào gắn liền YỚi từng khâu trong quá trình quản lý mà chúng ta chỉ có thể đạt được điều đó thông qua hoạt động của bộ phận kiểm soát nội bộ Vì vậy, việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ đang ngày càng cần thiết đối với các doanh nghiệp
3.2 Quan hệ giữa kiểm soát và quá trình quản lý tổng thể
Như chúng ta đã biết, chức năng kiểm soát bắt đàu bằng việc xác định các mục tiêu và kết thúc khi đạt các mục tiêu đó Với việc thực hiện công tác quản lý hay nói cách khác là thực hiện các giai đoạn của quá trình quản lý thì chức năng kiểm soát đó chủ yếu là xem xét tính hiệu quả của các hành động thực hiện mà nhờ đó các chiến lược được chuyển thành các hành động cụ thể
để đạt được các mục tiêu và kết quả đã đặt ra Điều đó cũng rất thiết thực để xem xét kỹ hom các chức năng của kiểm soát tương quan như thế nào với các giai đoạn chủ yếu của quá trình quản lý là lập kế hoach, tổ chức thực hiện, cung cấp nguồn lực và quản trị
3.2.1 Quan hệ với lập kế hoạch:
Lập kế hoạch liên quan đến việc xác định các mục tiêu hoàn chỉnh cho công ty cả trên góc độ tổng thể và từng bộ phận cấu thành tổ chức Những mục tiêu tổng thể và bộ phận cung cấp những luận điểm hỗ trợ cho các hoạt động
Trang 9Luận văn tốt ngiệp
kiểm soát Việc lập kế hoạch đày đủ và toàn diện làm cơ sở cho chức năng kiểm soát, chúng ta biết là quản lý thấy rõ nhu cầu phải lập kế hoạch tốt điều
đó cũng nhấn mạnh rằng đất kỳ ai quan tâm tới việc phát triển hoặc cải tiến hiệu quả kiểm soát cần phải chú ý tới cả tính đầy đủ của việc lập kế hoạch và hiệu qủa mà việc lập kế hoạch thực sự đem lại Do đó mối quan tâm đầu tiên của chúng ta là việc lập kế hoạch thật tốt cho toàn công ty
3.2.2 Quan hệ với việc tổ chức:
Tổ chức là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý, thông qua việc
tổ chức mà các công việc được giao, được uỷ quyền, được hạch toán Với cách nhìn nhận này tổ chức tạo lập tiến trình cho kiểm soát, hơn thế nữa, trách nhiệm trong việc tổ chức của các cá nhân hay nhóm là xây dựng các mục tiêu
và đo lường các kết quả của các hoạt động, điều này có nghĩa là nếu chúng ta muốn kiểm soát có hiệu quả thì chúng ta phải quan tâm cải tiến kế hoạch tổ chức hoàn hảo và những việc bố trí tổ chức theo kế hoạch đó
3.2.3 Quan hệ với việc cung cấp các nguồn lực:
Các việc mua sắm, quản lý và sử dụng những nguồn lực đều có những vấn đề cần thiết để kiểm soát Đặc biệt là kiểm soát trong lĩnh vực cung cấp nguồn lực con người, cũng như toàn bộ quá trình quản lý, kiểm soát là một bộ phận, là quá trình do con người làm, những con người đã được chọn lọc, huấn luyện và quản lý Hom nữa ở đau có nhà quản lý giỏi thì ở đó chức năng kiểm soát cũng được quản lý với một hình thức hiệu quả hơn Vì vậy, kiểm soát tốt phải bao gồm tất cả các mặt chủ yếu của chức năng quản lý đội ngũ và nhân sự
3.2.4 Quan hệ với việc điểu hành:
Trong giai đoạn điều hành quản lý, các nhà quản lý phải ra chỉ thị, giám sát nhân viên, phối hợp công việc và chỉ đạo ở giai đoạn này các nhà quản lý cũng điều hành hệ thống kiểm soát và có những hành động cần thiết khi việc thực hiện kế hoạch quản lý có thay đổi Cách thức điều hành trực tiếp này có thể hỗ trợ hoạt động kiểm soát tuy nhiên đôi khi nó lại cản trở công việc kiểm soát Như vậy, muốn kiểm soát tốt phải cộng tác tốt với những nhà quản lý có trách nhiệm để công việc ở đây đảm bảo là hỗ trợ những nhu cầu kiểm soát
3.3 Phạm vi quan tâm của hệ thống kiểm soát nội bộ
Như đã trình bày ở phần trên, hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống các
Trang 10Luận văn tốt ngiệp
chính sách và thủ tục nhằm 4 mục tiêu: Bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của các hoạt động của đơn vị Chính YÌ thế mà phạm vi quan tâm của hệ thống kiểm soát nội bộ là tất cả các hoạt động ở các lĩnh vực của các cấp khác nhau của đơn vị: Từ những hoạt động về tuyển dụng nguồn nhân lực, vật lực đến những hoạt động liên quan đến việc áp dụng, điều khiển các nguồn lực đó vào việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp; tò hoạt động của các nhà quản lý cho đến các hoạt động của các nhân viên cấp dưới Tuy nhiên mức độ quan tâm của ban lãnh đạo của đơn vị đối YỚi các lĩnh vực khác nhau là khác nhau và nó cũng quyết định đến kiểm soát hoạt động đó
TỔ CHỨC HỆ THỐNG KIÊM SOÁT NỘI Bộ TẠI CÁC DOANH
NGHIỆP
Khái quát về tồ chức hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp
Thiết kế và thưc hiên kiểm soát
hệ thống và việc theo dõi hệ thống, ở đây chúng ta tập trung ngay vào công việc cụ thể và những người liên quan Cũng ở đây, ta càn tới kỹ năng quản trị
và nhận định để giải quyết những tình thế phát sinh ngoài dự kiến và về những vấn đề không tránh được về con người
Sự cần thiết phải hoà nhập kiểm soát vào hoạt động quản lý
Một Yấn đề liên quan chặt chẽ YỚi dự kiến và thực hiện nói trên là
Trang 11Luận văn tốt ngiệp
phạm vi mà các biện pháp kiểm soát có thể hoà nhập YỚi các trình tự và hành động quản lý bình thường, điều mà chúng ta phải luôn tự nhủ rằng không coi những biện pháp kiểm soát là những hoạt động phụ thêm và tách rời Thay vào
đó, chúng ta tìm được mục đích kiểm soát của chúng ta thông qua quá trình hoạt động bình thường
Sở dĩ chúng ta nên làm như vậy là YÌ nếu làm như vậy chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí và loại trừ bớt bực tức cho những người trực tiếp hay gián tiếp bị kiểm tra Ví dụ như nều chấp nhận được một bộ phận cụ thể từ một tổ của phân xưởng sản xuất có thể tự động xác định được liệu nó có phù họp trong dây truyền lớn hơn không mà không cần phải có một nhóm thanh tra trung gian nào nữa tương tự như vậy, chúng ta cứ xem việc xử lý kiểm soát như là quan hệ quản lý bình thường chứ không phải là một vấn đề tách biệt Các chuyên gia kiểm soát bao giờ cũng có những thuận lợi như vậy để thực hiện kiểm soát, coi kiểm soát như một hoạt động thông thường
Qui mô bảo vệ và xây dựng
Khi xem xét chức năng kiểm soát người ta còn xem xét qui mô bảo vệ
và xây dựng của chúng và cố gắng tối đa hoá qui mô đó Một phạm vị khá lớn của kiểm soát thực hiện là để phục vụ mục tiêu bảo vệ cho các nhà quản lý cấp cao hom và tránh những sai sót ở mức thấp hơn Một số việc kiểm soát phải có một trong những mục đích chính là đề phòng những loại hành động nào đó mà chúng nhà quản lý cấp cao không muốn ví dụ như là sử dụng sai một bất đông sản của công ty hay những cam kết quá mức được phép hoặc lập sai một tờ khai nào đó Những việc kiểm soát là để bảo vệ vì quản lý cấp trên cũng muồn biết những loại việc đang triển khai để họ có những hành động khắc phục hoặc sửa chữa kịp thời
Trong một số trường hợp, kiểm soát chú trọng vào khả năng xây dựng, lúc đó kiểm soát như là một hoạt động hướng dẫn đối YỚi lĩnh vực hoạt động của chúng ta Ví dụ một kiểm soát hình thức thử nghiệm sở thích của người tiêu dùng có thể giúp chúng ta làm ra những loại sản phẩm mới hoặc trình bày những sản phẩm hiện có theo kiểu dáng mới khác theo thị hiếu của người tiêu dùng Cách xây dựng này thực hiện được YÌ có phần chú trọng vào các mặt tích cực thường có của các hoạt động, mang tính chất bảo vệ ngay từ lúc đầu
Trang 12Luận văn tốt ngiệp
có thể minh hoạ bằng việc thoả mãn người tiêu dùng và danh tiếng của công ty
là kết quả của các biện pháp thanh tra kiểu bảo vệ điều đó cũng có thể được hiểu theo một hình thức rộng hơn là nó sẽ khuyến khích tốt hơn những người
bị kiểm soát YÍ dụ kiểm soát thực hiện lợi nhuận của một chi nhánh thay cho việc kiểm soát hoạt đông chi tiết Trong trường hợp khác, tính chất xây dựng
có thể thông qua sự hiểu biết kỹ hơn và việc xử lý tế nhị của kiểm soát Trong tất cả những tình huống đó, mục tiêu của chuyên viên kiểm soát là đề cập đến những nhu cầu của bảo vệ ở một hình thức mà tránh nhấn mạnh vào hướng đó, vào tiềm năng xây dựng đó
Phân tích rủi ro đối với các muc tiêu bảo vê
Như đã phân tích ở trên, chúng ta thấy rõ việc đánh giá kiểm soát nội bộ bao gồm hai mục tiêu là bảo vệ và xây dựng Thực chất của lợi ích sóng đôi như vậy rất quan trọng đối với các nhà quản lý của doanh nghiệp, đối với các kiểm toán viên nội bộ _ là người tìm cách phục vụ toàn bộ lợi ích quản lý Ngoài ra, việc đánh giá công việc kiểm soát còn phải đặt trong mối quan hệ với các mục tiêu cải tiến rộng hom là xây dựng, đó là loại đánh giá ở trình độ cao hom và công phu hom nhất là khi các mục tiêu cải tiến bao hàm khả năng sinh lời của tập đoàn đã được tăng Nhưng các mục tiêu bảo vệ căn bản là rất quan trọng và càn được đề cập thích đáng Như thường xảy ra, việc đánh giá của kiểm soát nội bộ về các mục tiêu bảo vệ tự nó đặc biệt làm cho việc phân tích rủi ro có tổ chức và khoa học hơn
Việc đánh giá rủi ro cho các mục tiêu bảo vệ trực tiếp xoáy vào:
• Tính chất phạm vi và ảnh hưởng của từng loại khiếm khuyết tiềm ẩn
• Tính khả thi và chi phí của công việc kiểm soát thực tế
Loại đánh giá này tất nhiên phải làm riêng cho từng loại công ty và theo các tình huống hoạt động khác nhau Nhưng khi đánh giá như vậy nên xem càn loại kiểm soát gì? phạm vi kiểm soát để có lợi cho kinh doanh Nhưng điều làm phức tạp cho việc đánh giá sau là thường có mâu thuẫn giữa việc làm giảm tốn thất với nhu càu rộng thêm của quản lý và các mục tiêu
Tất cả diều đó có nghĩa là phân tích rủi ro tôt hay không về mặt quản lý còn tuy thuộc vào phạm vi được thừa nhận và đánh giá của các mục tiêu quản
lý có liên quan
Trang 13Luận văn tốt ngiệpVẩn đề phản ứng của con người với kiểm soát
Trang 14Luận văn tôt ngiệp
r
Con người liên quan đến quá trình kiểm soát và nó đòi hỏi con người phải rất khéo léo khi giải quyết các mối quan hệ Trong khi thực hiện, triển khai một hệ thống kiểm soát có hiệu lực thì thấy có các Yấn đề: Nguồn gốc chủ yếu của các vấn đề là hầu hết ai cũng có bản năng hành động độc lập và tự
do Thực tế cho thấy rằng con người phải làm gì đó khiến họ có khuynh hướng
ác cảm YỚi một việc kiểm soát thậm chí phản đối Mức độ chấp nhận đối với những việc kiểm soát phần lớn tuỳ thuộc vào chính con người_ sự thông minh,
có kinh nghiệm, Yốn văn hoá, tình cảm vững bền Nhưng chúng ta có thể nói rằng xu hướng thông thường là con người bực bội YỚi kiểm soát và ít nhiều chống lại điều đó phụ thuộc nhiều vào cách thức kiểm soát được triển khai chúng diễn ra và được điều khiển như thế nào Do đó, trong sự cố gắng của chúng ta làm công việc kiểm soát có hiệu quả, chúng ta cần phải có sự hiểu biết về sự phản ứng bình thường đó của con người và làm mọi việc càn thiết có thể để tối thiểu hoá những phiền toái
Chúng ta có thể xử lý như thế nào với những cản trở của con người với kiểm soát? có những giải pháp sau để giải quyết những mâu thuẫn đó:
• Tăng uy tín của toàn công ty
• Cách trình bày
• Tính hợp pháp của nguồn gốc
• Sự tham gia
• Cách điều hành
Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ
Để đáp ứng nhu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của các đom vị và tổ chức càn xây dụng và không ngừng củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ YỚi bốn yếu tố chính: Môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin (hệ thống kế toán), các thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ
Để có thể hiểu rõ hệ thống kiểm soát nội bộ của tổng công ty như thế nào và hoạt động ra sao, trước tiên chúng ta phải tìm hiểu về các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ
Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát là khái niệm bao gồm toàn bộ các nhân tố bên
Trang 15Luận văn tốt ngiệptrong và bên ngoài của đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ
Theo VSA 400 môi trường kiểm soát là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và hành động của các thành viên hội đồng quản trị,ban giám đốc đối với hệ thống kiểm soát nội bộ và vai trò của hệ thống kiểm soát trong đơn vị
Môi trường kiểm soát có ảnh hưởng đến hiệu quả của các thủ tục kiểm soát trong doanh nghiệp Môi trường kiểm soát mạnh sẽ hỗ trợ đáng kể cho các thủ tục kiểm soát cụ thể ngược lại môi trường kiểm soát mà yếu thì các thủ tục kiểm soát cũng khó có thể phát huy hiệu quả được
Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát nói chung chủ yếu liên quan đến quan điểm thái độ và nhận thức cũng như hành động của các nhà quản lý trong doanh nghiệp, trên thực tế tính hiệu quả của các hoạt động kiểm tra kiểm soát trong các hoạt động của một tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào các nhà quản
lý tại doanh nghiệp đó Nếu các nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra kiểm soát là quan trọng và không thể thiếu được đối với mọi hoạt động của đơn vị thì mọi thành viên trong đom vị đó sẽ có nhận thức đúng đắn về hoạt động kiểm tra kiểm soát và tuân thủ mọi qui đinh cũng như chế độ đề ra Ngược lại, nếu hoạt động kiểm tra kiểm soát bị coi nhẹ từ phía các nhà quản lý thì chắc chắn các qui chế về hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ được vận hành một cách có hiệu quả bởi các thành viên của đom vị
Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát bao gồm:
Các đặc thù về quản lỷĩ
Nói đến các đặc thù về quản lý tức là đề cập tới các quan điểm khác nhau trong điều hành hoạt động doanh nghiệp của các nhà quản lý Các quan điểm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các qui định và cách thức tổ chức kiểm tra kiểm soát trong doanh nghiệp, bởi YÌ chính các nhà quản lý và đặc biệt là các nhà quản lý cao cấp nhất sẽ phê chuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ áp dụng tại các doanh nghiệp
Trang 16Luận văn tốt ngiệptrong toàn doanh nghiệp Một cơ cấu tổ chức hợp lý còn góp phần ngăn ngừa
có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động tài chính kế toán của doanh nghiệp
Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ hoạt động và các lĩnh vực của doanh nghiệp sao cho không bị chồng chéo hoặc bỏ trống: tức là phải thực hiện sự phân chia tách bạch giữa các chức năng, bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộ phận, tạo khả năng kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau trong các bước thực hiên công việc
Chính sách nhân sự
Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên
và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát cũng như là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của doanh nghiệp, nếu nhân viên có năng lực và tin cậy thì nhiều quá trình kiểm soát có thể không cần thực hiện mà vẫn đảm bảo được các mục tiêu đề ra của kiểm soát nội bộ Bên cạnh đó, mặc dù doanh nghiệp có thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc thì hệ thống kiểm soát nội bộ không thể phát huy hiệu qủa
Tóm lại, với những lý do nêu trên, các nhà quản lý doanh nghiệp cần có những chính sách cụ thể và sự rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, xắp xếp đề bạt khen thưởng, kỷ luật nhân viên, việc đào tạo bố trí cán bộ và đề bạt nhân sự phải phù hợp với năng lực chuyên môn và phẩm chất địo đức, đồng thời phải mang tính kế tục và liên tiếp
Công tác kế hoạch:
Hệ thống kế hoạch và dự toán bao gồm các kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, thu chi quĩ, kế hoạch hay dự toán đầu tư, sửa chữa tài sản cố định đặc biệt là kế hoạch tài chính gồm những ước tính cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự luân chuyển tiền trong tương lai, là những nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát, nếu việc lập và thực hiện kế hoach được tiến hành khoa học và nghiêm túc thì hệ thống kế hoạchvà dự toán đó sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu Vì vậy trong thực tế các nhà quản lý thường quan tâm, xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoach đã lập nhằm phát hiện những Yấn đề bất thường và xử lý, điều chỉnh kế hoạch kịp thời
Uỷ ban kiểm soát
Trang 17Luận văn tốt ngiệp
Uỷ ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của đơn vị như thành viên của hội đồng quản trị nhưng không kiêm nhiệm các chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát
Ưỷ ban kiểm soát đặt ra để thực hiện những nhiệm vụ: giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty, kiểm tra giám sát công việc của kiểm toán viên nội
bộ, giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính, dung hoà các bất đồng nếu có giữa ban giám đốc YỚi các kiểm toán viên bên ngoài
Môi trường bên ngoài:
Môi trường kiểm soát chung của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ và phong cách điều hành của cac nhà quản lý cũng như sự thiết kế và vận hành các qui chế và thủ tục kiểm soát nội bộ
Nhóm các nhân tố bên ngoài bao gồm: sự kiểm soát của các cơ quan chức năng nhà nước, ảnh hưởng của cac đối tác làm ăn, môi trường pháp lý, đường lối phát triển đất nước
Như vậy môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ các nhân tố có ảnh hưởng đến quá trình thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp trong đó nhân tố chủ yếu và quan trọng là nhận thức về hoạt động kiểm tra, kiểm soát và điều hành hoạt động của các nhà quản lý doanh nghiệp
đó, thoả mãn các chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt đông kế toán Một
hệ thống kế toán hoạt động hữu hiệu phải đảm bảo các mục tiêu kiểm soát chi tiết:
r
Trang 18Luận văn tốt ngiệp
Thủ tục kiểm soát là các qui chế và các thủ tục do nhà quản lý thiết lập
và thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu quản lý cụ thể
Theo VSA 400 thủ tục kiểm soát là các qui chế và thủ tục do ban lãnh đạo của đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được các mục tiêu quản lý cụ thể
Các thủ tục kiểm soát chủ yếu trong doanh nghiệp bao gồm:
• Lập, kiểm tea, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan đến đơn vị
• Kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán
• Kiểm tra chương trinh ứng dụng và môi trường tin học
• Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết
• Kiểm tra phê duyệt các tài liệu kế toán
Tính có thật Cơ câu kiêm soát không cho phép ghi chép những nghiệp
vụ không có thật vào sổ sách của đơn vị mà ngược lại mọi nghiệp vụ đã được ghi chép vào sổ sách kế toán của đơn
vị đều phải đảm bảo là đã xảy ra
Sự phê chuân Đảm bảo mọi nghiệp vụ xảy ra đêu được phê chuân họp
lý, đúng qui cách đúng thẩm quyền
Tính đây đủ Đảm bảo việc phản ánh trọn vẹn (đây đủ) các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh tức là các nghiệp vụ kinh tế nếu đã phát sinh thì đều được ghi sổ
Sự đánh giá Đảm bảo không có sai phạm gì trong việc tính toán các
khoản giá và phí
Sự phân loại Đảm bảo các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo sơ đô tài
khoản và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế toán
Tính đúng kỳ Bảo đảm việc ghi sô các nghiệp vụ phát sinh được thực
hiện kịp thời theo quy định
2.3 Các thủ tuc kiểm soát •
Trang 19Luận văn tốt ngiệp
• Đối chiếu số liệu nội bộ YỚi bên ngoài
• So sánh đối chiếu số liệu nội bộ YỚi bên ngoài
• So sánh đối chiếu số liệu kiểm kê thực tế YỚi số liệu trên sổ kế toán
• Giới hạn việc tiếp cận trực tiếp YỚi các tài sản và các tài liệu kế toán
• Phân tích so sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán, số liệu kế hoạch đã lập
Các thủ tục kiểm soát được thiết lập trong đom vị dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: Phân công phân nhiệm rõ ràng, nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc uỷ quyền phê chuẩn và ngoài ra còn một số nguyên tắc khác nữa Cụ thể về vấn đề này sẽ được xem xét rõ hơn ở phần sau
2.4 Kiểm toán nôi bô•
•Kiểm toán nội bộ là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó với tư cách
là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó
Bộ phận kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị
để tiến hành kiểm tra và đánh giá các hoạt động trong đơn vị phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ trong doanh nghiệp hay có thể nói kiểm toán nội bộ là một loại hình kiểm soát có tổ chức mà chức năng là đo lường và đánh giá hiệu quả của những kiểm soát khác
Bộ phận kiểm toán nội bộ là một nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ Nó cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành chính sách và thủ tục kiểm soát, bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có những thông tin kịp thời, sát thực về mọi hoạt động của doanh nghiệp,
về chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm điều chỉnh và
bổ xung các qui chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả Tuy nhiên, bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ phát huy tác dụng nếu:
• về tổ chức:
Bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ để không giới hạn phạm vi hoạt động của nó đồng thời phải được giao một quyền hạn tương đối rộng rãi và hoạt động tương đối độc lập YỚi phòng kế toán và các bộ phận hoạt động được kiểm tra
• về nhân sự:
Bộ phận kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn những nhân viên có năng lực
Trang 20Luận văn tốt ngiệpKiểm toán nội bộ được thiết lập trong doanh nghiệp YỚi nhiệm vụ đầu tiên là đáp ứng những nhu cầu nghiệp vụ rất cơ bản và được xác định rố ràng Mối quan tâm đặc biệt từ đầu của quản lý là liệu tài sản của đơn vị có được bảo vệ tốt không, các qui tắc, qui phạm của công ty có được tuân thủ không và
sổ sách tài chính có được ghi chép đày đủ không, điều rất quan trọng nữa là phát hiện gian lận và giữ gìn mọi thứ nguyên vẹn Tóm lại có thể nói rằng bộ phận kiểm toán nội bộ được thiết lập trong đom vị nhằm tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt đông phục vụ yêu càu quản trị nội bộ của đơn vị
Thiết ỉập hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp
Để thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ cho doanh nghiệp tức là chúng ta phải thiết lập từng các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ có nghĩa là chúng ta phải thiết lập các yếu tố: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát và bộ phận kiểm toán nội bộ
Thiết lập môi trường kiểm soát
Như đã trình bày ở phàn trên, môi trường kiểm soát bao gồm các nhân
tố bên trong và nhân tố bên ngoài Để có thể thiết lập được một hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu quả thì điều đàu tiên chúng ta phải thiết lập được một môi trường kiểm soát tốt
Trước tiên chúng ta quan tâm đến các nhân tố thuộc bên trong của môi trường kiểm soát tức là các yếu tố liên quan đến đặc điểm quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch Những yếu tố này được thiết lập hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của doanh nghiệp, của các nhà quản lý doanh nghiệp
Thiết lập cách thức quản lý của doanh nghiệp:
Doanh nghiệp phải thiết lập một cách thức quản lý của riêng mình, xácđịnh riêng cho mình một mô hình quản lý, một cách thức quản lý phù hợp vớiđặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp YỚi lĩnh vực hoạt độngcủa doanh nghiệp
Thiết lập cơ cẩu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức cũng là một nhân tố quan trọng góp phần tạo ra môi trường kiểm soát tốt Để tạo ra được một môi trường kiểm soát tốt khi thiết lập
cơ cấu tổ chức phải chú ý đến những nguyên tắc sau:
Thiết lập được sự điều hành và sự kiểm soát trên toàn bộ các lĩnh vực
Trang 21Luận văn tốt ngiệphoạt động của doanh nghiệp, không bỏ sót lĩnh vực nào đồng thời không có sự chồng chéo giữa các bộ phận
Thực hiên phân chia tách bạch giữa các chức năng: xử lý nghiệp vụ, ghi chép sổ sách và bảo quản tài sản
Đảm bảo được sự độc lập tương đối giữa các bộ phận nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng
Như vậy là doanh nghiệp phải bố trí, xắp xếp, tổ chức phân quyền trong
bộ máy hoạt động như thế nào để thuận tiện cho các hoạt đông của mình nhất
mà không bị gò bó trong một khuôn mẫu của bất kỳ một mô hình nào cả
Các mô hình quản lý có thể áp dụng thường là mô hình quản lý tập trung , mô hình quản lý phân tán hay là mô hình quản lý nửa tập trung nửa phân tán Nhưng áp dụng một mô hình nào đó vào doanh nghiệp để phù họp là quan trọng nhưng cái quan trọng hom cả đó là nhà quản lý của doanh nghiệp
đó phải biết lựa chọn, bố trí, xắp xếp như thế nào đó mà phù hợp với các đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp mình và phải luôn có sự biến đổi phù hợp với điều kiện thời đại mới
Để thiết lập được một mô hình hoàn toàn phù hợp YỚi doanh nghiệp không phải là chuyên dễ YÌ vậy các nhà quản lý doanh nghiệp phải không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức để tìm ra được cái đúng, cái hay trong thời đại mới mà áp dụng
Xây dựng chính sách nhân sự:
Chất lượng của đội ngũ nhân viên luôn là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất tới chất lượng của tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp Trong bất cứ hoạt động nào của Xã Hội cũng vậy nhân tố con ngươi luôn là vấn đề cần thiết và bức xúc của các doanh nghiệp nói riêng và của toàn Xã Hội nói chung
Trong việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp thì con người cũng là nhân tố trung tâm, là chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi kiểm soát, thực hiện các thủ tục kiểm soát nên chất lượng hoạt đông của hệ thống kiểm soát nội bộ phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng của nhân viên kiểm soát bởi YÌ ngay cả khi doanh nghiệp có thiết kế và vận hành các thủ tục, chính sách kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc và thiếu trung thực về phẩm chất đạo đức thì hệ thống kiểm soát nội bộ không thể phát huy hiệu quả Vì vậy, đào tạo con người luôn được các doanh nghiệp quan tâm và các doanh nghiệp phải thường xuyên có những chính sách
cụ thể và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, xắp xếp, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật
Trang 22Luận văn tốt ngiệplực chuyên môn và phẩm chất đạo đức đồng thời phải mang tính kế tục và liên tiếp.
Bên cạnh đó thì việc đào tạo nâng cao chất lượng hoạt đông của đội ngũ nhân viên kiểm soát cũng càn phải được quan tâm và luôn thực hiện
Thiết kế công tác kế hoạch:
Doanh nghiệp nên tổ chức công tác kế hoạch trong các hoạt đông của mình từ hoạt động sản xuất kinh doanh cho đến các kế hoạch về thu chi quĩ, kế hoạch sửa chữa lớn tài sản cố định
Thực tế cho thấy có kế hoạch hoá mọi công việc thì chúng ta mới thực hiên các hoạt đông có hiệu qủa được và chúng ta mới có thể dễ dàng đánh giá các hoạt động của mình Tuy nhiên, khi thực hiên các kế hoach đặt ra thì chúng ra không nên quá cứng nhắc, gò bó theo kế hoạch mà chỉ nên xem kế hoạch đó như một định hướng cho hoạt đông của mình mà thôi
Thiết lập uỷ ban kiểm soát
Uỷ ban kiểm soát là bộ phận không thể thiếu được nếu chúng ta thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Uỷ ban kiểm soát được thành lập bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp như thành viên của hội đồng quản trị nhưng không kiêm nhiệm các chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về kiểm soát Uỷ ban kiểm soát được thiết lập để làm các nghiệp vụ:
• Giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty
• Kiểm tra và giám sát công việc của Kiểm toán viên nội bộ
• Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính
• Dung hoà những bất đồng nếu có giữa ban giám đốc YỚi các Kiểm toán viên bên ngoài
Trên đây là phần trình bày về các yếu tố bên trong thuộc môi trường kiểm soát của doanh nghiệp Bên cạnh đó còn có những yếu tố thuộc môi trường bên ngoài như sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của nhà nước, ảnh hưởng của đường lối phát triển của đất nước Những yếu tố này doanh nghiệp không thể làm thay đổi chúng được nhưng lại chịu ảnh hưởng rất lớn của chúng, đối YỚi những nhân tố này thì doanh nghiệp phải tự điều chỉnh mình để phù hợp YỚi các chính sách của Nhà nước
Thiết lập hệ thống kế toán
Hệ thống kế toán trong một doanh nghiệp bao gồm hệ thống chứng tò kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp cân đối kế toán Vì
Trang 23Luận văn tốt ngiệpvậy thiết lập hệ thống kế toán tức là phải thiết lập các yếu tố cơ bản của hệ thống kế toán
Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán:
Chứng từ kế toán là phương tiện để ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến các nội dung nghiệp vụ kinh tế Hệ thống chứng từ kế toán qui định trong chế độ kế toán hiện hành bao gồm hai
trên cơ sở hệ thống chứng từ kế toán(Cả bắt buộc và hướng dẫn) các doanh nghiệp phải tổ chức xử lý và xây dựng trình tự luân chuyển chứng tò bảo đảm việc ghi chép kịp thời, tránh chồng chéo, trùng lắp và thuận tiện cho việc kiểm tra, đối chiếu, bảo quản lưu trữ các chứng từ
Tỗ chức hệ thống tài khoản kế toán:
Tài khoản kế toán được sử dụng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng nội dung kinh tế và mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng kế toán
Hiện nay, Bộ tài chính có các hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp khác nhau:
• Hệ thống tài khoản kế toán dùng cho các doanh nghiệp nói chung(Quyết định 1141/1995/QĐ/BTC)
• Hệ thống tài khoản áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 24Luận văn tốt ngiệpkinh tế phát sinh phải định khoản phù hợp YỚi bản chất, kết cấu tài của tài khoản đó và quan hệ đối ứng cũng phải phù hợp
Tổ chức hệ thống bảng tổng hợp cân đối kế toán:
Hệ thống bảng tổng hợp cân đối kế toán là một bộ phận cẩu thành trong chế độ kế toán doanh nghiệp Nhà nước có qui định thống nhất về nội dung, phương pháp thời gian lập và gửi đối với những báo cáo kế toán định kỳ (bắt buộc) đó là những báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính phản ánh một cách tổng quát về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, tình hình kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và một số tình hình khác càn thiết cho các đối tượng quan tâm, sử dụng thông tin kế toán YỚi những mục đích khác nhau để ra được các quyết định phù hợp
Hệ thống các báo cáo tài chính qui định cho các doanh nghiệp phải lập hiện nay thực hiện theo quyết định 167 qui định về chế độ báo cáo tài chính trong doanh nghiệp và bao gồm:
• Bảng cân đối kế toán
• Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
• Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
• Thuyết minh báo cáo tài chính
Ngoài các báo cáo tài chính bắt buộc phải lập như trên thì trong doanh
Trang 25Luận văn tốt ngiệpnghiệp còn phải lập một số các báo cáo kế toán khác liên quan đến tình hình quản lý, sử dụng tài sản, tình hình chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, các báo cáo nhanh phục vụ thiết thực cho nhu cầu quản trị nội bộ doanh nghiệp_
đó là hệ thống các báo cáo quản trị
Trước yêu cầu của công tác quản lý trong nền kinh tế thị trường, công việc của những người làm công tác kế toán doanh nghiệpkhông chỉ dừng lại
ở việc phản ánh, ghi chép và tổng hợp số liệu các chứng từ kế toán vào sổ kế toán chi và trình bày các thông tin trên các báo cáo kế toán mà đòi hỏi phải biết phân tích các báo cáo kế toán Thông qua việc phân tích các báo cáo kế toán để
có những kiến nghị, đề xuất cho lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra các giải pháp hữu hiệu, các quyết định thích hợp cho việc điều hành, quản lý và định hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời gian trước mắt cũng như chiến lược phát triển lâu dài
Tóm lai : Việc xây dụng hoàn thiện hệ thống kế toán trong các doanh
nghiệp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động cuả hệ thống kiểm soát nội bộ
Để nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung và
hệ thống kế toán nói riêng thì các doanh nghiệp phải thực hiện đúng những yêu cầu, nhiệm vụ, chức năng của mình nhằm cung cấp thông tin một cách trung thực, minh bạch và công khai và chấp hành tốt những chính sách, chế độ về quản lý kinh tế, tài chính nói chung, các chế độ, thể lệ qui định về kế toán nói riêng càn phải thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra kế toán trong nội bộ doanh nghiệp theo đúng nội dung, phương pháp kiểm tra
Công tác kiểm tra kế toán trong các doanh nghiệp thường được tiến hành theo những nội dung sau:
Kiểm tra kế toán ghi chép, phản ánh lên chứng từ, tài khoản và sổ sách
kế toán đảm bảo việc thực hiện đúng chính sách chế độ quản lý tài chính, chế
độ, thể lệ kế toán
Kiểm tra việc tổ chức, chỉ đạo công tác kế toán trong doanh nghiệp, việc thực hiện trách nhiệm, quyền hạn của kế toán trưởng, kết quả công tác của bộ máy kế toán, mối quan hệ công tác giữa bộ phận kế toán và các bộ phận quản
lý chức năng khác ữong doanh nghiệp
Công tác kiểm tra kế toán trong nội bộ doanh nghiệp do Giám đốc và kế toán trưởng chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo Trong bộ máy kế toán của doanh nghiệp nên tổ chức riêng bộ phận kiểm tra kế toán hoặc phân công nhân viên chuyên trách kiểm tra kế toán Việc kiểm tra có thể được tiến hành với tất cả
Trang 26Luận văn tốt ngiệpnội dung hoặc từng nội dung riêng biệt Tuỳ theo yêu cầu mà có thể kiểm tra định kỳ, đột xuất hoặc bất thường
Phương pháp kiểm tra kế toán được áp dụng chủ yếu là phương pháp đối chiếu: Đối chiếu số liệu giữa các chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo kế toán với nhau, giữa số liệu kế toán của doanh nghiệp với các số liệu của các doanh nghiệp khác có liên quan, về mặt lý thuyết, trình tự tiến hành kiểm tra cần bắt đầu từ dưới lên : từ chứng từ đến sổ sách kế toán và cuối cùng là báo cáo kế toán Tuy nhiên để giảm bớt khối lượng công việc kiểm tra, rút ngắn thời gian kiểm tra mà vẫn đảm bảo được tính đúng đắn khách quan của công tác kiểm tra và thu hẹp phạm vi kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm Trên thực tế thường tiến hành kiểm tra theo trình tự ngược lại, từ trên xuống, tò các báo cáo
kế toán sau đến sổ kế toán chi tiết và cuối cùng là các chứng từ
Kiểm tra kế toán có ý nghĩa quan trọng trong công tac quản lý, công tác
kế toán của doanh nghiệp nhằm phát hiện, ngăn ngừa những hiện tượng, vi phạm chính sách, chế độ quản lý và kế toán Do vậy, công tác kiểm tra phải được thường xuyên tiến hành theo đúng chế độ qui định Kết quả kiểm tra kế toán phải được lập biên bản hoặc trình bày trong báo cáo kiểm tra Trong các biên bản hoặc báo cáo kiểm tra phải bao gồm các nội dung: nội dung tiến hành kiểm tra, phạm vi và thời gian tiến hành kiểm tra, kết luận, nhận xét, đề nghị của ban kiểm tra kế toán
Thiết lập các thủ tục kiểm soát
Như đã trình bày ở phần trên, thủ tục kiểm soát là các căn qui chế và các thủ tục do nhà quản lý thiết lập và thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu quản
lý cụ thể
Theo VSA 400 Thủ tục kiểm soát là các qui chế và thủ tục do ban lãnh đạo đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể
Việc thiết lập các thủ tục kiểm soát là công việc cần thiết mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải làm Việc thiết lập các thủ tục kiểm soát trong doanh nghiệp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
• Nguyên tắc phân công phân nhiệm rõ ràng:
Theo nguyên tắc này, trách nhiệm và công việc cần được phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều người trong bộ phận Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hoá trong công việc, sai sót ít xảy ra và khi xảy ra thì dễ phát hiện do có sự kiểm tra chéo
Trang 27Luận văn tốt ngiệp
• Nguyên tắc bất kiêm nhiệm:
Nguyên tắc này qui định sự tách ly trách nhiệm thích hợp về trách nhiệm trong các nhiệm vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn Ví dụ trong tổ chức nhân sự không thể bố trí kiêm nhiệm các nhiệm vụ phê chuẩn và thực hiện, thực hiện và kiểm soát, ghi sổ tài sản và bảo
vệ tài sản
• Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn:
Theo sự uỷ quyền của các nhà quản lý, các cấp dưới được giao cho quyết định và giải quyết một số công việc trong một phạm vi nhất định Quá trình uỷ quyền được tiếp tục mở rộng ở các cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn không làm mất tính tập trung của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, để tuân thủ tốt các quá trình kiểm soát, mọi nghiệp vụ kinh
tế phải được phê chuẩn đúng đắn sự phê chuẩn được thực hiện qua hai loại: phê chuẩn chung và phê chuẩn cụ thể Sự phê chuẩn chung được thực hiên thông qua việc xây dựng các chính sách chung về những hoạt động cụ thể cho cán bộ cấp dưới tuân thủ Ví dụ việc xây dựng và phê chuẩn bảng giá bán sản phẩm cố định, xây dụng hạn mức tín dụng cho khách hàng Sự phê chuẩn cụ thể được thực hiện theo từng nghiệp vụ cụ thế riêng biệt
Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên các thủ tục kiểm soát còn phải đảm bảo rằng việc qui định chứng từ sổ sách phải đày đủ, quá trình kiểm soát vật chất đối với tài sản, sổ sách và đảm bảo thực hiện kiểm soát độc lập đối với việc thực hiện các hoạt động của đơn vị
Tóm lai : Thủ tục kiểm soát là một trong những nhân tố cơ bản của hệ
thống kiểm soát nội bộ Nó là cơ sở giúp các quá trình kiểm soát được thực hiện có hiệu quả hom YÌ thế nhất thiết phải xây dựng hệ thống các thủ tục kiểm soát trong doanh nghiệp cùng YỚi quá trình xây dựng và thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ
Xây dựng bộ phận kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp
Mọi hoạt động của doanh nghiệp nói chung và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ nói riêng đều xuất phát từ kết quả của một nhu cầu nảy sinh Chúng ta có thể hiểu rõ hom bản chất của hoạt động đang tồn tại nếu chúng ta biết phần nào về những điều kiện thay đổi trong quá khứ đã tạo ra nhu cầu cho hoạt động đó
Trang 28Luận văn tốt ngiệp
Bộ phận kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp cũng không nằm ngoài qui luật chung đó Tức là bộ phận kiểm toán nội bộ xuất hiện và hoạt động là để đáp ứng một nhu cầu nào đó của doanh nghiệp mà sau đây chúng ta sẽ rõ hơn
A Ả 4 A 4 r
vê vân đê đó
Hiện nay, trong các doanh nghiệp số lượng các nghiệp vụ của doanh nghiệp ngày càng có khối lượng nhiều và phức tạp nên người quản lý cấp cao không thể dễ dàng tiếp xúc YỚi các nghiệp vụ đó để kiểm tra hoạt động một cách vừa ý nhất Cách tốt nhất cho các nhà quản lý là thiết lập một bộ phận chuyên trách thực hiện chức năng đó Bộ phận đó chính là bộ phận kiểm toán
/V • 1 _ /V
nội bộ
Để thiết lập bộ phận kiểm toán nội bộ chúng ta phải quan tâm đến các mặt sau:
Đào tạo đội ngũ kiểm toán viên nội bộ:
Nhân viên của bộ phận kiểm toán nội bộ phải đảm bảo rằng nghiệp vụ thành thạo và quá trình đào tạo của kiểm toán viên nội bộ phải đủ Kiến thức,
kỹ năng, và kỷ luật để thực hiện các hoạt động kiểm toán
Các kiểm toán viên nội bộ phải tuân thủ chuẩn mực đạo đứcnghềnghiệp và phải khéo léo ứng xử, tiếp xúc với mọi người và trao đổi thông tin
có hiệu quả, không ngừng học tập trau dồi trình độ nghiệp vụ và các kiểm toán viên nội bộ còn phải thực hiện thận trọng nghề nghiệp đúng mực khi tiến hành các cuộc kiểm toán nội bộ
Qui định về phạm vi công việc của kiểm toán nội bộ
Phạm vi công việc của kiểm toán viên nội bộ bao gồm những việc kiểm toán phải thực hiện tuy nhiên trong thực tế thì ở các doanh nghiệp Ban giám đốc và hội đồng quản trị sẽ là người đưa ra những định hướng chung về phạm
vi công việc và những hoạt động về phạm vi kiểm toán
Nhìn chung thì phạm vi công việc của hệ thống kiểm soát nội bộ tậptrung vào các mục tiêu sau:
• Tính xác thực và tính toàn vẹn của thông tín:
Kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra tính xác thực và tính toàn ven của thông tin tài chính và thông tin nghiệp vụ và các phương tiện đã xử dụng để xác định, định lượng, phân loại và báo cáo thông tin đó
Các hệ thống thông tin cung cấp số liệu cho việc ra các quyết định kiểm soát đáp ứng các yêu cầu bên ngoài Do vậy kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra hệ thống thông tin là thích hợp để xác minh rằng:
Trang 29Luận văn tốt ngiệp
Sổ sách báo cáo tài chính và điều hành có thông tin chính xác, đáng tin cậy, kịp thời, hoàn chỉnh và hữu ích Việc kiểm soát sổ sách ghi chép và báo cáo có đầy đủ và hiệu lực không
• Thiết lập chính sách, kế hoạch, thủ tục, pháp luật và các Qui định
Kiểm toán viên nội bộ phải thẩm tra các hệ thống đã thiết lập để đảmbảo sự tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, pháp luật, và các qui định có ảnh hưởng quan trọng tới các nghịp vụ và các báo cáo
Ban giám đốc chịu trách nhiệm thiết lập các hệ thống đã được thiết kế nhằm đảm bảo sự tuân thủ các yêu càu về chính sách, kế hoạch thủ tục và pháp luật qui định phải thực hiện
• Đảm bảo việc bảo vệ tài sản của doanh nghiệp
Kiểm toán viên nội bộ thẩm tra các biện pháp bảo vệ tài sản và khi cần thì thẩm tra sự tồn tại của tài sản đó
Kiểm toán viên nội bộ phải thẩm tra các biện pháp sử dụng để bảo vệ tài sản tránh tổn thất do các hành vi trộm cắp, hoả hoạn, sử dụng sai, hoặc bất hợp pháp và thẩm tra sự vạch tràn của các yếu tố này
• Đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực đảm bảo và có hiệu quả
Kiểm toán viên nội bộ phải đánh giá tính tiết kiệm và tính hiệu quả củacác nguồn lực được sử dụng
Ban giám đốc chịu trách nhiệm đưa ra những chuẩn mực điều hành để định lượng việc sử dụng các nguồn lực tiết kiệm và có hiệu quả của một hoạt động và kiểm toán viên nội bộ thì chịu trách nhiệm xem: các chuẩn mực tác nghiệp có được thiết lập để đo lường và tiết kiệm có hiệu quả không; các chuẩn mực đã được thiết lập có rõ ràng và có được thực hiện không; những sai lệch so với chuẩn mực tác nghiệp có được xác định, phân tích và báo cáo cho người có trách nhiệm để sửa sai không
Việc kiểm toán viên liên quan đến việc sử dụng nguồn lực tiết kiệm và
có hiệu quả phải xác định trên những tình trạng như: cơ sở vật chất không được tận dụng tối đa, công việc không năng suất, các thủ tục tốn kém, thừa hoặc thiếu nhân viên
• •Thưc hiên các muc tiêu muc đích đề ra cho các hoat đông hoăc
chương trình
Ban giám đốc chịu trách nhiệm đề ra các mục tiêu và mục đích cho các hoạt động hoặc chương trình, triển khai và thực hiện các thủ tục kiểm soát và đạt tới kết quả mong muốn đối YỚi các hoạt động hoặc chương trình Kiểm
Trang 30Luận văn tốt ngiệptoán viên nội bộ phải khẳng định những mục tiêu và mục đích có nhất quán với mục tiêu và mục đích của tổ chức không, chúng có được đáp ứng không
Kiểm toán viên nội bộ có thể hỗ trợ ban giám đốc triển khai các mục tiêu, mục đích và các hệ thống bằng cách xác định các giả thiết cơ bản có xác đáng không, thông tin chính xác, hiện thời và thích hợp có đang được sử dụng không; những công việc kiểm soát phù hợp có được đưa vào các hoạt động hoặc chương trình không
Thiết kế qui trình công việc kiểm toán
Kiểm toán viên nội bộ chịu trách nhiệm lập kế hoạch và thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, chịu sự kiểm tra, giám sát và phê chuẩn
Qui trình công việc của kiểm toán viên nội bộ bao gồm: lập kế hoạch kiểm toán, kiểm tra và đánh giá các thông tin, thông báo kết quả, theo dõi thực hiện công việc kiểm toán
• Lập kế hoạch kiểm toán:
Kiểm toán viên nội bộ phải lập kế hoạch cho một cuộc kiểm toán và kế hoạch kiểm toán phải được lập bằng văn bản và phải bao gồm:
> Xây dựng các mục tiêu kiểm toán và phạm vi công việc
> Thu thập các thông tin cơ bản về các hoạt động càn được kiểm toán
> Xác định nguồn càn thiết để thực hiện công việc kiểm toán
> Liên hệ với những người cần biết về cuộc kiểm toán
> Khi thích hợp thực hiện một cuộc khảo sát tại chỗ để làm quen với
những công việc kiểm soát sẽ được kiểm toán, để xác định những lĩnh vực trọng điểm kiểm toán và mời những bộ phận được kiểm toán nhận xét và kiến nghị
> Viết chương trình kiểm toán
> Xác định kết quả kiểm toán sẽ được thông báo như thế nào, khi nào
và cho những đối tượng nào
> Nhận được sự phê duyệt kế hoạch kiểm toán từ cấp có thẩm quyền
• Kiểm tra và đánh giá thông tin
Kiểm toán viên nội bộ phải thu thập, phân tích, giải thích chọn lọc thông tin để xác minh kết quả kiểm toán Do vây các doanh nghiệp phải thiết lập một qui trình kiểm tra và đánh giá thông tin cho các Kiểm toán viên thực hiện
Qui trình thu thập thông tin của doanh nghiệp đặt ra cho các kiểm toán viên nội bộ thực hiện phải đảm bảo được các nhu cầu sau:
Trang 31Luận văn tốt ngiệp
> Thông tin thu thập phải liên quan đến mục tiêu và phạm vi kiểm toán
> Thông tin phải đày đủ, cơ yếu, thích hợp và hữu ích tạo ra cơ sở
vững chắc cho những phát hiện và kiến nghị kiểm toán
> Các thủ tục kiểm toán, phương pháp trắc nghiêm, phương pháp chon
mẫu được áp dụng phải phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp
> Phải giám sát được quá trình thu thập thông tin của các Kiểm toán
viên
> Thiết lập hệ thống hồ sơ kiểm toán hợp lý và phải đảm bảo việc thực
hiện đúng theo những qui đinh đó của các Kiểm toán viên
• Thiết kế hệ thống báo cáo kiểm toán
Kiểm toán viên nội bộ phải báo cáo công việc kiểm toán của họ do vậy
mà doanh nghiệp cũng phải thiết lập hệ thống các báo cáo để cho các Kiểm toán viên thực hiện nhiệm vụ của mình
Hệ thống báo cáo kiểm toán được thiết lập trong doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu càu sau:
> Báo cáo phải khách quan, rõ ràng, súc tích, có tính xây dựng và kịp
thời
> Báo cáo phải trình bày mục đích, phạm vi và kết quả của cuộc kiểm
toán và báo cáo cũng phải trình bày ý kiến của Kiểm toán viên
> Báo cáo phải có phần ghi nhận ý kiến của bộ phận được kiểm toán và
kết luận cuối cùng của cuộc kiểm toán
Thiết lập bộ phận quản lý kiểm toán nội bộ
Cũng như tất cả các bộ phận khác, doanh nghiệp cũng cần phải thiết lập
bộ phận phụ trách quản lý bộ phận kiểm toán nội bộ Bộ phận này được thiết lập phải công bố mục đích, quyền hạn và trách nhiệm của bộ phận kiểm toán nội bộ; phải lập kế hoạch và thực thi trách nhiệm của bộ phận kiểm toán nội bộ; phải soạn thảo những chính sách và thủ tục để hướng dẫn nhân viên kiểm toán thực hiện; phải xây dựng một chương trình tuyển chọn và phát triển nguồn nhân lực của bộ phận kiểm toán nội bộ
QUI TRÌNH KIÊM SOÁT
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập trong doanh nghiệp đồng thời với nó là qui trình kiểm soát cũng được thiết lập theo Đối với từng loại nghiệp
vụ cụ thể thì qui trình kiểm soát được thiết kế khác nhau song nhìn chung thì qui trình kiểm soát của các doanh nghiệp được thiết lập bao gồm bẩy bước cơ
Trang 32Luận văn tốt ngiệp
> Xác định và triển khai các mục tiêu
> Đo lường các kết quả thực hiện
> So sánh thành tích cụ thể YỚi các mục tiêu
> Phân tích nguyên nhân chênh lệch
> Xác định hành động quản lý thích hợp
> Thực hiện hành động quản lý
> Tiếp tục đánh giá lại
Mỗi một giai đoạn qui định những công việc cụ thể cần thực hiện, sau đây chúng ta sẽ làm rõ những Yấn đề này:
Xác đỉnh và triển khai các muc tiêu•
•Khi triển khai việc kiểm soát có ý nghĩa trước hết chúng ta phải tự hỏi chúng ta kiểm soát cái gì?, câu hỏi này càn đặt ra cho toàn bộ công ty và cho mỗi cấp hoạt động nghiệp vụ Và khi chúng ta nói đến một mặt đặc thù của hoạt động nghiệp vụ thì chúng ta càn liên hệ từng nhu càu với các nghiệp vụ khác lớn hom của từng công ty Sau đó chúng ta phải quan tâm đến các vấn đề:
Trước tiên là xác định được những nguồn lực chủ yếu đối với nghiệp vụ được kiểm soát là gì, đánh giá tính trọng yếu của các yếu tố ảnh hưởng đến nghiệp vụ kiểm soát, xem xét giá trị của các nguồn lực khác trong quan hệ lẫn nhau và quan hệ YỚi các nguồn lực khác trong công ty khác như thế nào cả về giá trị cũng như về tác động nghiệp vụ Tiếp theo phải xác định được những nguồn chi phí chủ yếu thực hiện nghiệp vụ, nguồn chi phí chủ yếu là gì và những nguồn chi phí nào thì có thể kiểm soát được Bên cạnh các vấn đề về chi phí thì các kiểm soát viên còn phải quan tâm đến các vấn đề về chủ chốt của nghiệp vụ được kiểm soát là gì, kết hợp cả việc xem xét nhu cầu cần được kiểm soát đối với từng nghiệp vụ ở đây là gì và xem xét xem kiểm soát có nhất quán YỚi chủ trương phân cấp trách nhiệm hay không
Sau khi xác đinh được các vấn đề chủ chốt của nghiệp vụ thì các kiểm soát viên cần phải biết được mục tiêu của quá trình kiểm soát được xác định như thế nào và xây dựng các mục tiêu cụ thể ra sao Việc xây dựng các mục tiêu cụ thể sẽ phải dựa trên các số liệu về quá khứ, các nhân tố ảnh hưởng ở hiện tại và sự ảnh hưởng của các điều kiện ngoại cảnh đến nghiệp vụ được kiểm soát
Trang 33Luận văn tốt ngiệpNhững vấn đề về đo lường
Những mục tiêu đã được đo lường rồi thì bây giờ là đo lường việc thực hiện các mục tiêu đó Ở giai đoạn này việc thực hiện đo lường phải đảm bảo nhất quán YỚi cơ cấu mục tiêu, phải chính xác, phải định thời gian cụ thể và hợp lý, và có thể sử dụng những tính toán sơ bộ xử lý số liệu đo lường được
Những vấn đề vế so sánh thành tích thực tế vói mục tiều
Những vấn đề nổi lên trong việc so sánh thành tích với mục tiêu thu hut tất cả những Yấn đề liên quan đến đo lường đã nói ở trên Tuy nhiên chúng ta cấn chú ý tới một số vấn đề: Việc trình bày các số liệu thực tế và số liệu trong mục tiêu đặt ra phải rõ ràng, dễ nhìn, dễ so sánh Và phải lưu ý đến các vấn đề
về điều kiện thực hiện nghiệp vụ trong thực tế so với điều kiện trong mục tiêu
dự toán đưa ra để tìm hiểu nguyên nhân của sự chênh lệch đồng thời phải đưa
ra được những dự kiến trong tương lai nếu có thể
Phân tích nguyên nhân chênh lệch
Đến giai đoạn này chúng ta xem xét và giải thích tại sao lại có sự chênh lệch giữa số liệu thực tế với số liệu được xây dựng trong mục tiêu Tìm hiểu cái gì là những nhân tố gây ra và cái gì là ảnh hưởng của các nhân tố đến việc thực hiện các mục tiêu
Những vấn đề càn xem xét ở đây bao gồm: Phạm vi của công việc phân tích, xác định thời gian phân tích và nhận biết những nguyên nhân gây ra sự chênh lệch mà mình có thể kiểm soát
Xác định hành động quản lý thích hợp
Sau khi phân tích tìm hiểu được các nguyên nhân của sự chênh lệch thì các kiểm soát viên phải xác đinh được hành động quản lý thích hợp để phục vụ tốt nhất cho lợi ích của công ty Khi xác định các hành động vế quản lý thích hợp thì cần quan tâm đến các vấn đề như phải đánh giá được nguyên nhân ữọng yếu của sự chênh lệch, phải xác định thời gian cụ thể cho những hành động, phải đánh giá được những mâu thuẫn của những nhân tố trái ngược nhau
và giải quyết hợp lý để có thể tăng phần kiểm tra phục vụ cho lợi ích của công ty
Thực hiện hành động quản lý
Trang 34Luận văn tốt ngiệp
là thực hiện hành đông đó Do vậy doanh nghiệp phải xác định được ai là người thực hiện hành động đó và hành động phải được thực hiện như thế nàoNgười thực hiện hành động thường là các giám sát viên có trách nhiêm hoặc đôi khi là các nhân viên thực hiện Nhưng bất kỳ ai thực hiện hành động này đều phải đảm bảo đúng chức năng nhiêm vụ và phải được sự kiểm soát của các giám sát viên hoặc của các nhà quản lý
Những vấn đề về tiếp tục đánh giá
Chúng ta biết rằng các nghiệp vụ của doanh nghiệp thường được lặp đi lặp lại do đó các vấn đề về kiểm soát cũng không bao giờ kết thúc Những hành động kiểm soát trước cứ hoà vào những chu trình kiểm soát tiếp diễn sau Đối với các kiểm soát viên thì càn phải xem xét, đánh giá các hoạt động với một thái độ học tập, một thái độ mong muốn cải tiến các nghiệp vụ và phải luôn chuẩn bị các thông tin phản hồi tức là cho biết hành động kiểm soát có tác dụng như thế nào và chúng ta phải làm gì để cải tiến nghiệp vụ cũng như là cải tiến kiểm soát
ĐÁNH GIÁ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG KIÊM SOÁT NỘI Bộ DƯỚI CON MẮT CỦA CÁC NHÀ QUẢN LÝ
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập và hoạt động trong doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các mục tiêu quản lý của doanh nghiệp, cũng như bất cứ một Yấn đề nào khác hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại trong nó những
ưu điểm và nhược điểm cố hữu
Ưu điểm của hê thống kiểm soát nôi bô
Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp doanh nghiệp củng cố được nề nếp quản
lý, khai thác và triển khai các sáng kiến nhằm nâng cao năng lực quản lý của doanh nghiệp Góp phần bảo vệ tài sản của đơn vị và bảo đảm độ tin cậy của các thông tin trong đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc ngăn chặn, phát hiện, sửa chữa các sai phạm có thể
có tồn tại trong doanh nghiệp
Nhươc điểm của hê thống kiểm soát nôi bô
Trang 35Luận văn tốt ngiệpchi ra cho hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ Bởi YÌ hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp chỉ nhằm mục tiêu quản lý chứ không phải là mục tiêu sản xuất kinh doanh cho nên yêu cầu đặt ra là chi phí cho kiểm soát nội bộ không vượt quá lợi ích mà hệ thống đó đem lại.
Tiếp đến, chúng ta biết rằng phàn lớn công tác kiểm tra nội bộ thường tác động đến những nghiệp vụ lặp đi lặp lại mà ít khi tác động đến những nghiệp vụ bất thường cho nên khả năng không phát hiện ra các sai phạm ở những nghiệp vụ không thường xuyên là rất lớn
Bên cạnh đó đôi khi có những sai phạm xảy ra do chính các kiểm soát viên tức là do trình độ của các nhân viên kiểm soát còn non yếu hay là do nhân viên kiểm soát cùng với các nhà quản lý cấp cao lợi dụng đặc quyền của mìnhCũng có khi là do doanh nghiệp không cập nhật được các thông tin bên ngoài thường xuyên dẫn đến sự chậm trễ trong việc thay đổi các qui chế về quản lý cho phù hợp với tình hình mới Chính diều đó làm cho hoạt động của
hệ thống kiểm soát nội bộ không phát huy được hiệu quả của mình
Nhìn nhân hê thống kiểm soát nôi bô dưổi con mắt của các nhà
quản lý
Đối với các nhà quản lý của doanh nghiệp thì kiểm soát nội bộ được coi như một công cụ, một phương tiện giúp các nhà quản lý thực hiện công việc quản lý doanh nghiệp của mình được tốt hơn, giúp họ kiểm soát được mọi hoạt động của doanh nghiệp từ những hoạt động ở cấp YĨ mô đến cấp vi mô một cách thường xuyên nhất mà lại đảm bảo được các thông tin không bị rò ri ra bên ngoài
Trang 36Luận văn tôt ngiệp
PHẦN II: THựC TRẠNG HỆ THÓNG KIỂM SOÁT NỘI Bộ TẠI
TỔNG CÔNG TY CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5BTRONG LĨNH
vưc XÂY LẮP THIÉT KÉ
TỔNG QUAN VỀ CICENCO 5
Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng công ty
Tổng công ty Công trình giao thông 5 - Cicenco 5 tiền thân là liên hiệp các xí nghiệp đường sắt Việt Nam được thành lập theo quyết định số 34/2003/QĐ- TTg ngày 04/3/2003 của thủ tướng chính phủ về việc thành lập TỔNG CÔNG TY CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5 Quyết định này ra đời căn cứ vào Luật tổ chức chính phủ ngày 25/12/2001, Luật Doanh nghiệp nhà nước ngày 20/4/1995 và theo
đề nghị của Bộ Giao thông vận tải: Thành lập Tổng công ty Công trình giao thông
5 - Cicenco 5trên cơ sở tổ chức lại Liên hiệp đường sắt Việt Nam
Tổng công ty Công trình giao thông 5 - Cicenco 51à tổng công ty nhà nước, hoạt động kinh doanh và thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác, bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt do nhà nước giao, có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự theo luật định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vị số vốn do tổng công ty quản lý, có con dấu, có tài sản và có các quĩ tập trung, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và tại các ngân hàng trong nước và nước ngoài theo qui định của pháp luật, được tổ chức và hoạt động theo điều lệ của công ty
Tổng công ty Công trình giao thông 5 - Cicenco 5có tên giao dịch quốc tế là VIETNAM RAILWAYS
Viết tắt là VNR
Tổng công ty có trụ sở chính ở Hà Nội
Tổng công ty Công trình giao thông 5 - Cicenco 5 là Tổng công ty nhà nước
vì thế mà nó qui định nguồn vốn hoạt động của Tổng công ty là nguồn Yốn do nhà nước cung cấp (bao gồm Yốn cấp ban đầu và Yốn cấp bổ sung khi Nhà nước thấy
Trang 37Luận văn tốt ngiệpcần thiết phải hỗ trợ phát triển kinh doanh hoặc để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao bổ sung) và phần Yốn bổ sung từ lợi nhuận sau thuế của Tổng công ty.
Là một Tổng công ty nhà nước, cũng như tất cả các Tổng công ty nhà nước khác, đơn vị phải tổng hợp tất cả doanh thu, chi phí phát sinh trong kỳ của Tổng công ty và chi tiết cho từng đơn vị thành viên Các khoản doanh thu và chi phí được ghi nhận phải đảm bảo hợp lý hợp lệ (có đầy đủ hoá đơn chứng từ hợp lý hợp
lệ, hợp pháp)
Lợi nhuận thu được từ các hoạt động của Tổng công ty được phân phối theo qui định của nhà nước và việc phân phối lợi nhuận đối YỚi tất cả các doanh nghiệp nhà nước Cụ thể lợi nhuận từ các hoạt động của công ty được phân phối như sau:
• Nộp ngân sách thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật định
• Phần lợi nhuận thực hiện sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp: trích lập các quĩ theo qui định hiện hành của nhà nước và của Tổng công ty
Trong năm đàu tiên thành lập và hoạt động Tổng công ty đã đạt được nhiều thành tích đáng kể: tỷ lệ tăng trưởng cao trong cả năm; trong đó tỷ lệ quan trọng nhất là doanh thu có mức tăng trưởng 14,3%
So với năm 2002, các chỉ tiêu về vận tải hàng hoá, vận tải hành khách, đều đạt mức tăng trưởng cao hom (cao hơn mức tăng trưởng của năm 2002 so với năm 2001); tình hình tài chính khối vận tải khá lành mạnh do thu tăng, không bị khách hàng chiếm dụng, nợ đọng vốn, mức dư vay ngắn hạn ngân hàng thấp, đảm bảo tự chủ về tài chính và khả năng thanh toán Tổng công ty cũng đạt được các chỉ tiêu
đề ra về cân đối vốn, xây lắp thiết kế, về cơ sở hạ tàng đường sắt, về sản xuất công nghiệp (chế tạo, lắp ráp tàu ), về dịch vụ, vật tư, y tế, trường học về đổi mới công nghệ, an toàn và tăng trưởng, về tăng cường hợp tác quốc tế Bên cạnh đó Tổng công ty cũng rất quan tâm đến công tác xây dựng đảng và hoạt động đoàn thể: công tác chính trị tư tưởng, công tác tổ chức, công tác kiểm tra, công tác bảo
vệ chính trị nội bộ; công tác đoàn thanh niên Tổng công ty đã vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng váo thực tiễn của ngành, Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo toàn ngành thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ được đề ra Với sự đoàn kết, quyết tâm của cả Hệ thống chính trị, được cán bộ, đảng viên, công nhân viên toàn ngành hưởng ứng, đồng tâm hiệp lực nên về cơ bản năm 2003 nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, công tác xây dựng Đảng và hoạt động các đoàn thể đã đạt được những kết quả quan trọng
Trang 38Luận văn tốt ngiệpĐặc điểm hoạt động sản xuất kỉnh doanh của Tổng công ty
Tổng công ty lấy kinh doanh vận tải đường sắt làm nòng cốt và bao gồm các thành viên là doanh nghiệp hạch toán độc lập, doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, các đơn vị sự nghiệp có quan hê YỚi nhau về lợi ích kinh tế tài chính, công nghệ, thông tin đào tạo, nghiên cứu tiếp thị và các lĩnh vựu hoạt động trong Tổng công ty để tăng cường tích tụ tập trung phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các đom vị thành viên
và của Tổng công ty để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Tổng công ty giao vốn, góp vốn, đầu tư vốn và các nguồn lực khác cho các đơn vị thành viên cơ sở số vốn
và nguồn lực nhà nước giao cho Tổng công ty phù hợp YỚi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, phục vụ của tòng đơn vị thành viên và phương án sử dụng vốn được Hội đồng quản trị phê duyệt Các đom vị thành viên chịu trách nhiệm trước nhà nước và Tổng công ty về hiệu quả sử dụng Yốn và các nguồn lực nhà nước giao
Tổng công ty có nhiệm vụ thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trên các mặt:
Thực hiện nhiệm vụ kinh doanh vận tải đường sắt, vận tải đa phương thức trong nước và liên vận quốc tế
Sản suất và kinh doanh vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, thực phẩm
Kinh doanh bất động sản, du lịch khách sạn, xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch
vụ viễn thông và tin học
In ấn
Xuất khẩu lao động; hợp tác liên doanh, liên kết YỚi các tổ chức trong và ngoài nước trong hoạt động đường sắt và tiến hành các hoạt động kinh doanh khác theo pháp luật
Tổ chức nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công nhân đáp ứng nhu cầu phát triển ngành
Tổng công ty có trách nhiệm nhận và sử dụng có hiệu quả vốn, tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác do nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ phát triển
Trang 39Luận văn tốt ngiệpsản xuất kinh doanh.
Với những nhiệm vụ kinh doanh như vậy, Tổng công ty đã tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh theo các khối Tổng công ty có 8 khối kinh doanh bao gồm:
• Khối doanh nghiệp công ích
• Khối công nghiệp
• Khối vật tư, dịch vụ, du lịch
• Khối xây lắp, thiết kế
• Khối sự nghiệp Trường học
• Khối vận tải
• Khối dự án
• Khối cổ phần hoá
Mỗi khối hoạt động sản xuất kinh doanh trên một lĩnh vực cụ thể và mỗi đơn
vị thành viên trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh Khối Xây lắp-Thiết kế chuyên trách thực hiện các nhiệm vụ về xây lắp thiết kế: Phụ trách việc thiết kế, xây dựng các công trình đường sắt của quốc gia Hoạt động trong khối Xây lắp thiết kế có 11 đom vị thuộc TỔNG CÔNG TY CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5
Trong sản xuất kinh doanh năm 2003 (là năm đàu tiên ngành đường sắt chuyển sang hoạt động theo mô hình tổng công ty Nhà nước), ngành đường sắt liên tục tăng trưởng, nhiều dự án đầu tư cơ sơ hạ tầng, đầu tư chiều sâu hiện đại hoá sức kéo, sức chở, tạo ra thế và lực mới cũng như những kinh nghiệm quí báu, tư duy mới trong chỉ đạo điều hành Tuy nhiên, trong sản xuất kinh doanh Ngành đường sắt cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức như: luồng hàng, luồng khách bất bình lớn, điểm đỗ phân tán, cạnh tranh ngày
càng quyết liệt; Yốn đầu tư phát triển cho cơ sở hạ tầng và phương tiện vận tải giámr so YỚi năm 2002; ảnh hưởng của dịch bệnh SARS bùng phát trong 6 tháng đầu năm Mặt khác, việc vừa phải triển khai chuyển đổi mô hình tổ chức vừa phải đảm bảo sản xuất kinh doanh ổn định, tăng trưởng và an toàn đòi hỏi ngành đường sắt phải có nỗ lực vượt bậc
Mặc dù có nhiều khó khăn như vậy nhưng do được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải và các bộ ngành có lỉên quan, của các địa phương, YỚi tinh thần phấn đấu cao thực hiện mục tiêu đổi mới công nghệ,
an toàn và tăng trưởng, ngành đường sắt đã hoàn thành vượt mức toàn diện các chỉ tiêu đề ra:
• về doanh thu: Dự kiến tổng doanh thu toàn ngành đạt 4453,7 tỷ đồng,
Trang 40Luận văn tốt ngiệpđồng(gồm cả VAT), tăng 14.3% lãi thực hiện 61.5 tỷ, nộp ngân sách
tỷ Thu nhập bình quân tăng 6.4% Kết quả doanh thu vận tải đạt
tỷ đồng, tăng 14.3% so với năm 2002 Lãi thực hiện 10 tỷ đồng
• về sản lượng: Tấn xếp hàng hoá đạt 8 triệu 133 ngàn tấn, tăng 17.1%tấn.Km đạt 2663.6 triệu, tăng 13.9% so với năm 2002; Hành khách lên tàu đạt 11 triệu 564 ngàn tấn, tăng7.2%; hành khách.Km đạt 4
tỷ 068 triệu, tăngl0% so YỚi năm 2002
Có thể khái quát kết quả thực hiện doanh thu của toàn ngành qua bảng sau: