Tập trung nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị; mở rộng việc đưa Tin học vào giảng dạy trong các nhà trường; đổi mới nhận thức và nâng cao kỹ năng CNTT cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân v
Trang 1MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài 10
2 Từ dư luận của báo chí về việc DHLS ở trường THPT 10
3 Từ việc Bộ GD – ĐT triển khai một số hoạt động về CNTT&TT 19
4 Từ chỉ đạo của các Sở GD – ĐT triển khai ứng dụng CNTT&TT 24
5 Tính cấp bách của đề tài nghiên cứu 30
6 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 32
7 Mức độ nghiên cứu đề tài 35
8 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 35
9 Cơ sở lí luận thực tiễn và PP nghiên cứu 35
9.1 Cơ sở lí luận thực tiễn 9.2 PP nghiên cứu 10.Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 36
11 Kết cấu của đề tài 37
NỘI DUNG Phần I Nêu thực trạng của vấn đề 1 Thuận lợi khi thực hiện đề tài 38
1.1 Tình hình giảng dạy môn LS ở đơn vị 1.2 Tình hình trường, lớp, HS 1.3 Ưu điểm khi thực hiện đề tài 2 Khó khăn khi thực hiện đề tài 40
Phần II Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính 1. Đối tượng học và việc thiết kế đa phương tiện DH 41
2. Khai thác, sử dụng internet góp phần tích cực hoá PPDH LS ở trường THPT 42
3. Thiết kế và sử dụng GAĐT nhằm nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT 46
3.1. Thực trạng việc thiết kế và sử dụng GAD8T trong môi trường DH đa phương tiện 3.2. Nhận thức của GV đối với việc thiết kế và sử dụng GAĐT hiện nay 3.3. Thực trạng trong việc thiết kế và sử dụng GAĐT của GV 3.4. Công tác thiết kế và sử dụng GAĐT 4. Một số biện pháp ứng dụng CNTT&TT để thiết kế và sử dụng GAĐT 49
4.1. Nâng cao nhận thức và khuyến khích GV sử dụng GAĐT trong
DHLS
4.2. Bồi dưỡng trình độ tin học cơ bản, phát triển kĩ năng thiết kế và sử
dụng GAĐT cho GV
4.3. Xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng GAĐT
Trang 24.4. Tăng cường đầu tư CSVC và TBDH hiện đại, xây dựng phòng học
đa phương tiện
4.5. Sự chuẩn bị của Bộ GD – ĐT về ứng dụng CNTT trong sử dụng
TBDH để thay SGK lớp 12
5. Sử dụng SGK và SBT LS để đổi mới PPDH LS ở trường THPT 58
6. Vận dụng lí thuyết thông tin để tổ chức HS làm việc với SGK và SBT LS trong việc đổi mới PPDHLS ở THPT 63
6.1. Quan điểm lí thuyết thông tin về học tập
6.2. Định hướng vận dụng lí thuyết thông tin để tổ chức HS làm việc với
SGK và SBT LS trong việc đổi mới PPDH LS ở THPT
6.3. Kinh nghiệm sử dụng SBT trong DHLS ở trường THPT
6.3.1. GV phải nhận thức được vai trò, chức năng của việc sử dụng SBT
trong quá trình DH hiện đại
6.3.2. BT được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình DHLS
6.3.3. Một số lưu ý và kĩ thuật sử dụng SBT trong DHLS để đạt được hiệu
quả cao
6.4. Kết luận về tổ chức HS làm việc với SBT trong DHLS để đạt được
hiệu quả cao
7. Đổi mới việc chỉ đạo hoạt động tự học ở nhà của HS kết hợp với SBT LS 70
7.1. Những căn cứ cơ bản chỉ đạo việc đổi mới tự học SBT LS ở nhà của
HS
7.2. Nội dung đổi mới tự học SBT LS ở nhà của HS
7.2.1. Một số yêu cầu của việc đổi mới công tác chỉ đạo hoạt động tự học
SBT LS ở nhà của HS
7.2.2. Đổi mới nội dung tự học kết hợp SBT LS ở nhà của HS
7.2.3. Đổi mới PP tự học kết hợp SBT LS ở nhà của HS
8. Sử dụng sơ đồ trong GAĐT nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả DHLS ở THPT 76
8.1. Vị trí, ý nghĩa của sơ đồ trong DHLS
8.2. Một số biện pháp sử dụng sơ đồ trong DHLS ở THPT
8.2.1. Sử dụng sơ đồ trong nghiên cứu kiến thức mới
8.2.2. Sử dụng sơ đồ trong ôn tập, củng cố, hoàn thiện kiến thức mới
8.2.3. Sử dụng sơ đồ trong kiểm tra, đánh giá
8.3. Sử dụng sơ đồ trong DHLS có giá trị tích cực, góp phần nâng cao
hiệu quả bài học và kích thích lòng say mê học tập của HS
9. Tạo biểu tượng các nhân vật LS để hình thành kiến thức LS cho HS THPT 82
9.1. Đối với nhân vật LS ở nhóm một
9.2. Đối với nhân vật LS ở nhóm hai
9.3. Đối với nhân vật LS ở nhóm ba
10 Các biệp pháp GV giúp HS vượt qua “rào cản” trong đổi mới
DHLS ở THPT 87
Trang 310.1. Quan niệm về “rào cản” trong quá trình học tập theo cách tiếp cận
của “sư phạm tương tác”
10.2. Các biện pháp giúp HS vượt qua “rào cản” của vùng limbic
10.2.1. Kích thích đa giác quan của HS
10.2.2. Tạo động lực học tập cho HS
10.3. Các biện pháp giúp HS vượt qua “rào cản” của trạng thái T
10.3.1. Luôn bắt đầu từ các ví dụ, các hình ảnh, các sự kiện cụ thể để
giúp HS hình thành các khái niệm
10.3.2. Luôn tạo được sự kết nối giữa kiến thức cũ với kiến thức mới
bằng cách củng cố ôn tập thường xuyên, kiểm tra kiến thức nền
11.Một số kĩ thuật kiểm tra đánh giá vận dụng trong đổi mới PPDH LS
2. Ứng dụng CNTT&TT với đổi mới PPDH LS ở THPT 102
2.1. Lợi ích và một vài điều bất lợi của việc ứng dụng CNTT&TT trong
đổi mới PPDH LS ở THPT hiện nay
3. Bài học kinh nghiệm rút ra được từ SKKN 107
3.1. Xây dựng CSVC, TBDH hiện đại
3.2. Đào tạo, bồi dưỡng GV về CNTT&TT
3.3 Triển khai thực hiện
3.4. Một số yêu cầu về PP luận và lí luận DH khi ứng dụng CNTT&TT
vào đổi mới PPDH LS ở THPT hiện nay
Phần IV Khả năng ứng dụng và triển khai SKKN
Trang 42.3. CNTT&TT giúp HS phát triển đa trí tuệ
2.4. CNTT&TT giúp khuyến khích tinh thần học tập kiến tạo
2.5 CNTT&TT là công cụ DH cho GV
3 CNTT&TT những thách thức với việc sử dụng trong lớp học 115
4 CNTT&TT ở Việt Nam và Bình Dương 116
5 Các trang về CNTT có thể tham khảo 118
6 Kho học liệu mở Việt Nam chính thức “mở cửa” 120
7 Hướng dẫn khai thác internet phục vụ DHLS 121
8 Giới thiệu giao diện một số website 127
Phần V Đề xuất ứng dụng CNTT&TT kết hợp SBT để đổi mới PPDH LS ở trường THPT 1 CNTT&TT hỗ trợ đổi mới PPDH LS ở THPT 129
2 Nguyên tắc ứng dụng CNTT&TT để đổi mới PPDH LS ở THPT.130 3 Cấu trúc của GAĐT hỗ trợ DHLS 131
4 Quy trình xây dựng GAĐT hỗ trợ DHLS 132
5 Ý nghĩa và những hạn chế của việc ứng dụng CNTT&TT trong việc đổi mới PPDH LS 134
6 Đề xuất một số biện pháp chủ yếu giúp HS nắm vững kiến thức trong DHLS ở THPT 135
6.1. Kết hợp lời nói của GV và HS với đồ dùng trực quan nhằm tạo biểu tượng cụ thể, sinh động về sự kiện LS 6.2. Sử dụng tài liệu tham khảo kết hợp SBT với trao đổi thảo luận sẽ làm sáng tỏ sự kiện của bài học LS 6.3. Sử dụng câu hỏi để tổ chức trao đổi thảo luận 6.4. BTLS là phương tiện quan trọng trong DH giúp HS nắm vững kiến thức 6.5. Thường xuyên củng cố ôn tập là biện pháp rất tốt giúp HS nắm vững kiến thức 6.6. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết hợp với tự kiểm tra, đánh giá của HS Phần VI Sự chuẩn bị cho “năm học CNTT 2008 – 2009” 1 Trước thềm “năm học CNTT 2008 – 2009” 143
2 Bắt đầu từ năm học 2008 – 2009 HS được rút bớt thời lượng học tập quá tải 144
3 Mười một giải pháp trước mắt của ngành GD 145
4 Xây dựng một chương trình phổ thông mới sau năm 2010 147
5 Từ năm học 2008 – 2009 triển khai mô hình “trường học thân thiện trên toàn quốc” 148
6 Bốn giải pháp cần làm ngay 149
7 Hoàn thiện phương án tuyển sinh đại học 150 KẾT LUẬN
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Trong năm học 2006-2007 tôi đã áp dụng đề tài “Đổi mới phương pháp
dạy học lịch sử ở Trường THPT qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử” và
bước đầu đã đạt kết quả một số kinh nghiệm để làm hành trang trong quá trìnhtiếp tục đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) bộ môn lịch sử (LS) của mình
cố gắng trong năm học 2007-2008 được hiệu quả cao hơn năm học trước
Với suy nghĩ phải tìm những biện pháp tối ưu nhất trong quá trình đổimới PPDH bộ môn LS ở Trường THPT nên tôi đã luôn luôn cố gắng học hỏikhông ngừng về nội dung và PP giảng dạy với mục đích mong muốn làm chotiết dạy LS tạo được sự hứng thú học tập ở các em HS
2 Từ dư luận của báo chí về việc dạy học lịch sử ở THPT
Trong thời gian gần đây, dư luận đặc biệt quan tâm đến văn đề giảngdạy môn LS trong các trường học Kết quả môn thi LS qua các kỳ thi là con sốbáo động đến tất cả HS, đồng thời là nỗi lo của toàn xã hội trước sự hiểu biếtcủa giới trẻ về LS nước nhà
(Sài Gòn Giải Phóng) - Làm thế nào không còn hàng ngàn bài thi sử
dưới điểm trung bình vào mùa thi đại học (ĐH) cũng như tại các cuộc thikhác? Ngành giáo dục (GD) phải đổi mới ra sao để môn Sử trở nên hấp dẫn,sinh động hơn? Ngày 31-7-2007, ngay sau khi Báo SGGP có bài “Điểm thimôn Sử vào ĐH quá thấp : Hậu quả của đổi mới… nửa vời”, nhiều nhà giáo vàbạn đọc đã góp ý kiến tâm huyết PGS.TS Phạm Xanh cho rằng hiện naychúng ta đang “đối xử” không công bằng giữa các môn học Nếu như một tuần
có tới 5 đến 7 tiết Toán thì tại sao chỉ có một tiết học LS Phải chăng vì môn
Sử là môn phụ? Và sự “đối xử” đó đã được phản ánh qua các kỳ thi tốt nghiệp
và đại học vùa qua khi điểm môn LS thấp tới mức “kinh hoàng”
Trang 6Theo PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế - Chủ nhiệm Khoa LS Trường
ĐHKHXH&NV Hà Nội Mỗi tuần có 1 đến 2 tiết sử thì đừng “đòi hỏi” các em
khi đi thi đạt điểm môn Sử cao như môn Toán, Lý, Hóa PGS Nguyễn Hải Kếhiện đang làm cố vấn cho game show Theo dòng LS của Ban Khoa giáo - ĐàiTruyền hình Việt Nam, có một một bạn trẻ của trường THPT Marie Curie đãnói với ông: Em thích học Sử, em hiểu được vai trò của LS đối với việc hìnhthành nhân cách con người Nhưng bây giờ em phải học những môn để thi ĐHnên không có nhiều thời gian cho môn LS Nếu như em có học môn Sử nhiềuthì bố mẹ em sẽ cấm ngay bởi môn đó em không thi ĐH…
Đỗ Kim Chung (ĐH KHXH&NV TP.HCM): “Nếu xét ở khía cạnh để
nắm các cứ liệu thì điều đó đúng, nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòngthì sẽ rất dễ quên khi không nhắc đến nó thường xuyên Khi kiểm tra, đánh giá(KT – ĐG) kết quả DH, đề KT đều theo kiểu như: anh (chị) hãy nêu nguyênnhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của ; anh (chị) hãy cho biết các nội dung củahiệp định Cũng không sai nếu nói rằng HS lớp 2 học thuộc lòng cũng có thểtrả lời được hết những câu hỏi kiểu đó Tư duy ấy làm HS thụ động với môn
sử, cứ học vẹt từng câu, từng chữ đến khi KT và chép đầy đủ ý vẫn qua
Nhiều năm học môn sử ở trường phổ thông, tôi chưa từng gặp câu hỏikiểu như: Tại sao chúng ta ký hiệp định Vì sao sau Cách mạng tháng 8-1945nước ta đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Những câu hỏi “mở”mang tính tư duy, suy nghĩ để chọn ý cho phù hợp thì khá hiếm hoi Thêm vào
đó, lịch sử của cả một thời kỳ với đầy những biến động cùng hàng trăm sựkiện lớn nhỏ, chi chít những ý nghĩa, nguyên nhân được viết trong một cuốnsách khá dày nhưng thời lượng học quá ít Trong khi đó, HS còn nhiều mônhọc khác cần phải quan tâm nên thời gian dành cho môn LS cũng bị cắt xén,
bỏ bê Đồng thời, người dạy còn thiếu phương pháp truyền đạt trực quan như
sử dụng giáo trình điện tử, cung cấp nhiều hình ảnh hoặc cho học sinh tự diễnnhững sự kiện LS Do vậy, môn sử vốn “phức tạp” bởi ngày, tháng, năm, sựkiện, con số càng gây chán cho người học khi vào tiết sử người học chỉ biết
“dự thính 100%” Nếu tất cả mọi nơi đều dạy sử theo cách đưa những banner,học sử qua phim ảnh thì chắc sẽ thu hút người học hơn Một khi đã thu hútngười học, làm cho người học thích thú môn sử thì chắc chắn việc học môn sử
sẽ tốt hơn”
Lê Quang Huy (GV): “Tại sao HS đạt điểm thấp môn LS?” Ngoàinguyên nhân do một bộ phận không nhỏ HS vì yếu các môn khác nên phảichọn khối thi này, có lẽ ai cũng nhận ra việc các em học nhưng không nhậptâm được bài học
Quan niệm hiện nay của không ít phụ huynh, học sinh, thậm chí cả GV,
là học môn LS không có tương lai Trong khi đó, người thầy chẳng dám “đixa” hơn những gì có trong sách, không thể phân tích cặn kẽ vì sợ “cháy” giáo
án HS đang bị nhiễu loạn thông tin khi phải tiếp thu kiến thức qua phim ảnh,trên mạng không chính xác Nhiều em HS thổ lộ với tôi rằng: ngày tháng nhiềuquá nhớ không xuể, dễ lẫn lộn sự kiện này với sự kiện khác Cách học phổ
Trang 7biến của các em hiện nay là học vẹt chứ không biết hệ thống hóa kiến thức, sựkiện, đương nhiên điểm sẽ thấp
Chấn chỉnh ngay chương trình, sách giáo khoa là điều đã được nhiều nhàgiáo đề nghị trong những năm qua Song song đó thầy cô nên hướng HS có PPhọc tập phù hợp với bộ môn, hết sức tránh trường hợp học vẹt vừa mất côngsức, thời gian mà không mang lại hiệu quả Nếu không kịp thời đổi mới, 2-3năm tới tình hình này sẽ vẫn tiếp tục, có khi tệ hại hơn”
Trong một chương trình giao lưu trên VTV2 với chủ đề: “Thế hệ trẻ với
di sản Cách mạng tháng Tám” khi phóng viên của chương trình phỏng vấn cácbạn trẻ ở Hà Nội về Nhà Hát lớn Hà Nội - nơi diễn ra cuộc biểu tình lớn nhất ở
Hà Nội diễn ra ngày 17/8/1945 và cuộc mít tinh Tuyên bố thành lập chínhquyền cách mạng ở Hà Nội ngày 19/8/1945, thì hầu hết các bạn trẻ được hỏikhông biết đến những sự kiện này, mặc dù các bạn đã nhiều lần đến Nhà Hátlớn
Phải chăng các bạn trẻ thờ ơ với LS của nước nhà? Tại sao các bạn trẻlại không để ý đến chính những di tích LS mà các bạn đã đến nhiều lần?
Theo PGS.TS Phạm Xanh - Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội thì lỗi
không hoàn toàn ở các bạn Bởi ở di tích LS này chỉ có một tấm biển nhỏ ghivài dòng: “Nơi đây đã diễn ra một cuộc mít tinh trong Tổng khởi nghĩa tháng
Tám” Với tấm biển nhỏ và những thông tin đó không thể thu hút được các bạn
trẻ là điều tất yếu
Theo PGS Phạm Xanh lỗi ở đây thuộc về những người làm văn hóa HàNội Với các di tích LS người ta chỉ gắn một tấm biển theo kiểu: Tại đây, ngàynày diễn ra sự kiện gì… Với cách làm như vậy thì những di tích này chỉ là ditích “chết” và hậu quả của nó là các bạn trẻ ở Hà Nội chiều chiều vẫn đến NhàHát lớn chơi nhưng chẳng mấy ai biết được nơi đây đã diễn ra những sự kiện
LS gì trong Cách mạng tháng Tám
Học trong sách vở thì các sự kiện, con số khô cứng Nhiều trường THPThiện nay thường tổ chức cho các HS đi tham quan bảo tàng với hy vọng việchọc sử sẽ hấp dẫn hơn Tuy nhiên, có một thực tế là các buổi đi tham quan bảotàng của các các bạn trẻ hiện nay không hiệu quả Theo cô Trần Thị Nhung -Phó hiệu trưởng Trường THPT Maria Curie mỗi lần nhà trường tổ chức chocác HS đi tham quan bảo tàng với hàng trăm HS, khi đến bảo tàng chỉ có mộtvài nhân viên bảo tàng thuyết minh giới thiệu trong vòng một tiếng, hai tiếngthì các HS không thể hiểu và nhớ nổi những gì họ nói Mặt khác, các bảo tànghiện nay trưng bày hiện vật không hấp dẫn và ít có sự thay đổi
Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện có hơn 15.000 hiện vật về Cáchmạng tháng Tám và mồng 2/9/1945 Tuy nhiên, việc trưng bày lại khá hạn chếchỉ có khoảng 10% Đã 14 năm công tác ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam chịNguyễn Tường Khanh cho biết : mặc dù có sự thay đổi về cách trưng bàynhưng đó chỉ là những thay đổi không đáng kể và đặc biệt là những thông tin
đi kèm theo các hiện vật hầu như là không có
Trang 8Kỳ thi năm nào cũng vậy, kết quả thi môn LS luôn khiến nhiều ngườitrăn trở nhất : thống kê cho thấy có đến 90% bài thi môn này dưới điểm trungbình Làm thế nào không còn hàng ngàn bài thi sử dưới điểm trung bình vàomùa thi đại học (ĐH) cũng như tại các cuộc thi khác? Ngành GD phải đổi mới
ra sao để môn Sử trở nên hấp dẫn, sinh động hơn?
Vậy phải làm gì để khắc phục tình trạng này ? Trước vấn đề mang tính
xã hội nhiều nhà giáo và bạn đọc đã góp ý kiến tâm huyết Muốn HS yêu Sử,hãy bắt đầu từ những điều gần gũi Theo ông Phạm Văn Hà (Sở GD - ĐT Hà Nội):
Thứ nhất, nên biến quan điểm, sự kiện, vấn đề thành những câu chuyện
LS, trong đó đặc biệt chú ý đến việc liên hệ tới những nét riêng của LS địaphương với những con người, địa danh có thật Những câu chuyện LS bao giờcũng khiến HS nhớ lâu hơn những con số, sự kiện khô khan
Thứ hai, hầu hết các trường học của Hà Nội đều mang tên các vị anh
hùng, những người có công với đất nước, nhưng không phải HS nào cũng hiểu
rõ về lai lịch, ý nghĩa của những cái tên ấy Niềm đam mê, yêu thích khám phá
LS nhiều khi bắt nguồn từ sự khâm phục, tự hào về những nhân vật mà mình
đã biết Bởi thế, muốn HS yêu Sử, trước hết, mỗi đầu năm học, các nhà trườngnên dành thời gian nói chuyện về các nhân vật LS mà trường mang tên, hoặc
mở cuộc thi tìm hiểu về những đóng góp của nhân vật ấy để HS có cơ hội tiếpcận thêm những thông tin mới
Thứ ba, các phòng truyền thống của trường không nên chỉ dừng lại ở
việc lưu giữ, trưng bày những hình ảnh, thành tích hoạt động của thầy- trò cácthế hệ, mà còn là nơi ghi lại tên tuổi của các cựu GV, HS của trường đã anhdũng hy sinh vì Tổ quốc, có nhiều đóng góp để xây dựng nhà trường Nhớ ơncác anh hùng, liệt sĩ, lớp thế hệ HS sẽ không chỉ thêm tự hào về ngôi trườngmình, mà còn ra sức học tập, rèn luyện, xứng đáng với những cống hiến củacha anh
Sáng kiến của TP Hồ Chí Minh trong việc treo những tấm pa-nô cóthông tin về những vị anh hùng trên các đường phố thời gian qua cũng là mộtcách làm hay để các nhà trường tham khảo
Đây là lần đầu tiên nội dung chính ba bản tuyên ngôn được tiếp xúc đếnngười dân hết sức gần gũi và giản dị thông qua các tấm Pa-nô treo dọc các trụcđường chính Đó là những áng văn bất hủ và hào hùng trong bài Nam quốc sơn
hà của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi và Bản Tuyênngôn Độc lập do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình cách đây 62năm
Rất nhiều người dân TP.HCM đã khẳng định: Những câu trích trong tấmpa-nô là rất thích hợp, phản ánh đúng tinh thần của bản tuyên ngôn đó Nộidung cơ bản của nó đã khẳng định chủ quyền dân tộc, cảnh cáo tất cả bọnngoại xâm dám đến xâm phạm chủ quyền của dân tộc ta , nhân dân ta
Cùng với 3 bản Tuyên ngôn Độc lập là danh sách tóm tắt về tiểu sử củatám mươi mốt nhân vật LS xếp theo thứ tự năm hy sinh hoặc năm mất, được
Trang 9tính từ 2/9/1945 trở đi Đó là những chiến sĩ cộng sản, nhân sĩ, chí sĩ, học giảnhà văn hóa, nhà tu hành, bác sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ…Tất cả họ đều đặt lợi ích dântộc lên trên hết, sẵn sàng hy sinh tính mạng khi Tổ quốc lâm nguy.
Theo Giáo sư Huỳnh Lúa: Danh sách những anh hùng được giới thiệu
lần này đã thể hiện được tinh thần của bản Tuyên ngôn Độc lập mà Bác Hồviết: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính
mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy.”
Có thể nói đây là lần thứ ba TP.HCM triển khai chương trình “Dân tabiết sử ta” Đó cũng là cách thiết thực kỷ niệm ngày khai sinh đất nước Thôngtin về tiểu sử các anh hùng dân tộc và đặc biệt là những áng văn, những câu thơbất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập được tuyên truyền trên đường phố hômnay đã góp phần nhắc nhở người dân Việt Nam về LS dân tộc, góp phần bồidưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ người Việt Nam,cùng nhau xây dựng đất nước “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” trongthời kỳ hội nhập
Giảng viên TƯỞNG PHI NGỌ, Khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm TPHCM:
Đề thi cần đòi hỏi thí sinh độc lập suy nghĩ
Giữa dạy học và ra đề thi có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đóyêu cầu của đề thi mang tính định hướng đối với việc dạy và học của thầy vàtrò Dạy học không hoàn toàn hướng tới mục đích thi nhưng trên thực tế, tỷ lệ
HS đậu bao nhiêu phần trăm luôn được coi là thước đo đánh giá việc dạy vàhọc Do vậy, đề ra kiểu nào thì dạy và học kiểu đó Nhiều năm nay, đề thi Sửgồm vài ba câu không quá khó, chỉ cần thí sinh (TS) chăm chỉ, thuộc bài là cónhiều khả năng đậu Sự hơn nhau giữa các TS về căn bản không phải ở khảnăng tư duy độc lập mà ở chỗ có học thuộc đúng những nội dung đề thi đã ra
Do vậy, tôi xin kiến nghị : Các đề kiểm tra, thi ở THPT (kể cả kỳ thi tốtnghiệp) cần chuyển sang hướng yêu cầu TS độc lập suy nghĩ nhiều hơn Câuchữ của đề cần được diễn đạt sao cho dễ hiểu, chính xác Sắp tới Bộ GD – ĐT
sẽ triển khai thi trắc nghiệm ở môn LS Phương thức thi này có thể kiểm trađược nhiều nội dung trong thời gian ngắn, nhưng không đo được khả năng củamỗi TS trong việc nhận thức, trình bày, diễn đạt và giải quyết vấn đề một cáchsáng tạo
PGS-TS NGUYỄN THỊ CÔI, Khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm Hà Nội:
Làm một cuộc cách mạng về vị trí môn lịch sử
Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học Sử của HS rất cần thiết, có tácdụng góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Muốn đổi mới cần xâydựng và sử dụng các dạng sách bài tập (BT) LS trong dạy học có vai trò rấtquan trọng đối với quá trình, củng cố kiến thức LS cho HS GV có thể sử dụngcác loại BT dưới dạng một câu hỏi tổng hợp, BT nhằm rèn kỹ năng thực hành,
hệ thống khái quát hóa kiến thức và vận dụng kiến thức, BT trắc nghiệm kháchquan Để có những bài tập chất lượng đòi hỏi GV phải đầu tư suy nghĩ, tìm tòi,sáng tạo Việc đổi mới kiểm tra, đánh giá không chỉ là công việc của GV đứnglớp mà còn là công việc của cấp quản lý Bên cạnh đó, phải làm một cuộc cách
Trang 10mạng trong quan niệm về vị trí môn LS từ cấp quản lý GD cao nhất đến bangiám hiệu, cha mẹ HS và toàn xã hội Cổ nhân từng dạy “lịch sử là cô giáo củacuộc sống”, không có quan niệm đúng về môn học thì tất cả những đề xuất đổimới nội dung, PP, trong đó có hoạt động kiểm tra, đánh giá không thể đi vàothực tiễn được
ThS PHẠM PHÚC VĨNH, Bộ môn Lịch sử Trường ĐHSP Đồng Tháp:
Phải đổi mới cách tổ chức lớp học
Cách tổ chức lớp học phổ biến ở nhà trường phổ thông hiện nay cònmang nặng tính áp đặt chủ quan, nó gián tiếp tạo nên sự bất bình đẳng đối với
HS trong quá trình dạy học Trừ những HS có khả năng tương ứng với nộidung và PPDH của GV trên lớp, số HS còn lại đang bị ép buộc phải tiếp nhậnnhững kiến thức hoặc quá cao, hoặc quá thấp so với khả năng của mình, làmmất đi hứng thú, động lực học tập của một bộ phận khá lớn HS Thực tế đó đòihỏi chúng ta phải làm sao để trong tất cả các môn học nói chung và môn LSnói riêng, HS sẽ được học ở những lớp học có nội dung và PP phù hợp với khảnăng của mình? Chúng tôi cho rằng, để HS khá giỏi có điều kiện phát triểnnăng khiếu của mình và các đối tượng HS khác có thể tiếp thu được những nộidung bài học với PP thích hợp với khả năng của mình, các trường THPT nên tổchức lớp học theo từng môn học với nội dung, chương trình với PPDH đượcphân thành nhiều mức độ từ cao đến thấp, tương ứng với khả năng của từng đốitượng HS từ giỏi đến yếu kém
(Tuổi Trẻ 29/7/2007) - Khi còn là HS, lúc “lều chõng” đi thi khối C, tôi lo nhất là làm sao làm tốt môn LS Chúng tôi được dạy rằng : học LS là học thuộc lòng. Nếu xét ở khía cạnh để nắm các cứ liệu thì điều đó đúng,nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòng thì sẽ rất dễ quên khi không nhắcđến nó thường xuyên Khi kiểm tra, đánh giá kết quả dạy và học, đề kiểm trađều theo kiểu như: anh (chị) hãy nêu nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩacủa ; anh (chị) hãy cho biết các nội dung của hiệp định Cũng không sai nếunói rằng học sinh lớp 2 học thuộc lòng cũng có thể trả lời được hết những câuhỏi kiểu đó Tư duy ấy làm học sinh thụ động với môn sử, cứ học vẹt từng câu,từng chữ đến khi kiểm tra và chép đầy đủ ý vẫn qua
Nhiều năm học môn sử ở trường phổ thông, tôi chưa từng gặp câu hỏikiểu như: Tại sao chúng ta ký hiệp định Vì sao sau Cách mạng tháng 8-1945nước ta đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Những câu hỏi “mở” mangtính tư duy, suy nghĩ để chọn ý cho phù hợp thì khá hiếm hoi Thêm vào đó,
LS của cả một thời kỳ với đầy những biến động cùng hàng trăm sự kiện lớnnhỏ, chi chít những ý nghĩa, nguyên nhân được viết trong một cuốn sách khádày nhưng thời lượng học quá ít Trong khi đó, HS còn nhiều môn học kháccần phải quan tâm nên thời gian dành cho môn LS cũng bị cắt xén, bỏ bê.Đồng thời, người dạy còn thiếu PP truyền đạt trực quan như sử dụng giáo trìnhđiện tử, cung cấp nhiều hình ảnh hoặc cho học sinh tự diễn những sự kiện lịchsử
Trang 11Do vậy, môn sử vốn “phức tạp” bởi ngày, tháng, năm, sự kiện, con sốcàng gây chán cho người học khi vào tiết sử người học chỉ biết “dự thính100%” Nếu tất cả mọi nơi đều dạy sử theo cách đưa những banner, học sử quaphim ảnh thì chắc sẽ thu hút người học hơn Một khi đã thu hút người học,làm cho người học thích thú môn sử thì chắc chắn việc học môn sử sẽ tốt hơn.
ĐỖ KIM CHUNG (ĐH KHXH&NV TP.HCM) Người thầy sợ “cháy”
giáo án
Tại sao HS đạt điểm thấp môn LS? Ngoài nguyên nhân do một bộ phậnkhông nhỏ HS vì yếu các môn khác nên phải chọn khối thi này, có lẽ ai cũngnhận ra việc các em học nhưng không nhập tâm được bài học
Quan niệm hiện nay của không ít phụ huynh, HS, thậm chí cả GV, làhọc môn LS không có tương lai Trong khi đó, người thầy chẳng dám “đi xa”hơn những gì có trong sách, không thể phân tích cặn kẽ vì sợ “cháy” giáo án
HS đang bị nhiễu loạn thông tin khi phải tiếp thu kiến thức qua phim ảnh, trênmạng không chính xác Nhiều em HS thổ lộ với tôi rằng: ngày tháng nhiều quánhớ không xuể, dễ lẫn lộn sự kiện này với sự kiện khác Cách học phổ biến củacác em hiện nay là học vẹt chứ không biết hệ thống hóa kiến thức, sự kiện,đương nhiên điểm sẽ thấp
Chấn chỉnh ngay chương trình, SGK là điều đã được nhiều nhà giáo đềnghị trong những năm qua Song song đó thầy cô nên hướng học sinh có PPhọc tập phù hợp với bộ môn, hết sức tránh trường hợp học vẹt vừa mất côngsức, thời gian mà không mang lại hiệu quả Nếu không kịp thời đổi mới, 2-3năm tới tình hình này sẽ vẫn tiếp tục, có khi tệ hại hơn
(Hà Nội Mới 16/8/2007) - Kỳ thi năm nào cũng vậy, kết quả thi môn Lịch sử luôn khiến nhiều người trăn trở nhất : thống kê cho thấy có đến 90% bài thi môn này dưới điểm trung bình.Rất nhiều lý do đã được đưa ra,như nội dung chương trình, kiến thức trong SGK còn nặng về lý thuyết Bởithế, GV cũng chỉ cố gắng truyền đạt đủ kiến thức quy định, không còn thờigian để cùng học trò khám phá những cái hay của môn học Thứ hai là do PPđào tạo GVLS ở các trường sư phạm hiện nay quá cứng nhắc với những sựkiện, con số mà ít chú ý đến việc liên hệ thực tiễn Và rất nhiều lý do khác
3 Từ việc Bộ GD –ĐT triển khai một số hoạt động về CNTT&TT
Trang 12Ngày 07/9/2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã có Công văn số9584/BGDĐT-CNTT gửi các Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học, caođẳng sư phạm, các khoa sư phạm hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học2007-2008 về CNTT.
Để đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ về CNTT đã đề ratại Công văn 9584 nêu ở trên, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là chuẩn bị chonăm học 2008-2009 là “Năm học Công nghệ thông tin”, cũng như triển khaiChỉ thị 27/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ kí ngày 29/11/2007 về Chấn chỉnh việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, Bộ GD&ĐT hướng dẫn và yêu cầu các SởGD&ĐT triển khai thực hiện ngay một số hoạt động sau :
1 Tổ chức triển khai việc cung cấp e mail với tên miền @moet.edu.vn chotất cả các trường phổ thông, các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâmngoại ngữ tin học, các trường trung cấp chuyên nghiệp Bộ GD&ĐT hoannghênh các Sở, các trường ĐH, CĐ đã tích cực tham gia để hệ thống hoạt độngthường xuyên, hiệu quả phục vụ trực tiếp cho công tác thông tin, liên lạc, báocáo, chỉ đạo, điều hành của Bộ, của ngành
Bộ cũng đề nghị các Sở tiếp tục gửi danh sách để lập địa chỉ e mail vớitên miền @moet.edu.vn cho tất cả các trường tiểu học, THCS, THPT về
Bộ theo mẫu đã hướng dẫn của Cục Công nghệ thông tin tại CV11224/BGDĐT-CNTT Kế hoạch này cần hoàn thành trước ngày 15/01/2008
2 Triển khai việc cung cấp e mail cho mỗi học sinh, mỗi giáo viên của các trường với tên miền của Sở. Các Sở GD&ĐT cần đăng ký tên miền riêng, ví
dụ như Sở GD&ĐT tỉnh Hòa Bình đăng kí tên miền là @hoabinh.edu.vn.Thống nhất sử dụng kí hiệu C1, C2, C3 trong tên e mail để chỉ các bậc học tiểuhọc, trung học cơ sở, trung học phổ thông tương ứng; C12 và C23 cho trườnghỗn hợp; C0 để chỉ bậc mẫu giáo
Trước hết, ngay trong năm học 2007-2008 này, đề nghị các Sở ưu tiêntạo ngay e mail của Sở cho học sinh THPT, đặc biệt cho học sinh lớp 12 đểphục vụ cho việc nhận thông tin đăng kí thi tuyển sinh, hướng nghiệp năm2008
3 Triển khai hệ thống thông tin quản lý giáo dục: Các Sở cần triển khaithống nhất hệ thống phần mềm quản lý trường học do Cục CNTT cung cấpmiễn phí Trên cơ sở phần mềm quản lí trường học này, Cục CNTT sẽ cungcấp các công cụ quản lý các cấp (Bộ, Sở, Phòng) để thống nhất cơ sở dữ liệu
về giáo dục phổ thông gồm giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất, thi BộGD&ĐT thống nhất quản lý nhà nước về cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin
Trang 13quản lí giáo dục về một đầu mối là Cục CNTT để tránh chồng chéo gây lãngphí và đảm bảo sự phát triển bền vững của toàn hệ thống thông tin giáo dục
Hàng năm, Cục CNTT có trách nhiệm cập nhật phần mềm theo yêu cầumới, thu thập và xử lý dữ liệu, cung cấp lại các thông tin cần thiết và hữu íchphục vụ cho công tác quản lý của các cấp quản lý giáo dục (Bộ, Sở, Phòng)
Cục CNTT đã gửi đĩa CD chứa đầy đủ thông tin dữ liệu phân tích hai kìthi tốt nghiệp THPT và kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng của từng trường,từng hội đồng thi để các Sở tham khảo và phổ biến đến các trường, các lớp đểcùng nghiên cứu rút kinh nghiệm, phục vụ cho cuộc vận động hai không
4 Khai thác và sử dụng mã nguồn mở trong quản lý và giảng dạy
Khai thác và sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong các đơn vị sử dụngngân sách nhà nước là một chủ trương lớn của Nhà nước Vì vậy Bộ cũng nghịcác đơn vị, cơ sở giáo dục cần triển khai ngay các phần mềm mã nguồn mởtrong công tác dạy học chính thức trong trường phổ thông và trong công tácquản lý :
a) Bộ phần mềm văn phòng Open Office www.OpenOffice.Org , do hãng
SUN phát triển, có thể tải về miễn phí tại địa chỉ trên
Trong đó có các modun Soạn thảo văn bản (Writer), Bảng tính điện tử(Spreasheet), Đồ họa (Draw), Trình chiếu (Presentation) và Cơ sở dữ liệu(Base) Các modun này hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu sử dụng trong công tácquản lý và giảng dạy, tương đương với Microsoft Office
Các đơn vị có thể dùng bản Star Office, (là phiên bản thương mại củaOpen Office), http://www.google.com/intl/en/options/ có thể tải về miễn phítại địa chỉ của Google
Hiện nay toàn bộ các máy tính của các cơ quan Đảng đã được chuyểnsang dùng bộ phần mềm văn phòng Open Office Bộ Thông tin và Truyềnthông đã thành lập Hội đồng tư vấn và sẽ có hướng dẫn việc dùng Open Officetrong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước
Các đơn vị cũng có thể sử dụng bộ phần mềm King Office, bảnstandard, được công ty King Soft cung cấp miễn phí cho ngành giáo dục KingOffice có ưu điểm gọn nhẹ (28 MB), gài đặt nhanh chóng (3 phút) và có giaodiện hoàn toàn giống Microsoft Office nên thuận tiện trong giảng dạy môn tinhọc văn phòng trong nhà trường (trừ phần cơ sở dữ liệu)
Trang 14b) Việc mua bản quyền các phần mềm như Microsoft Office sẽ do Cục CNTTlàm đầu mối quản lý và triển khai thống nhất trong toàn ngành khi có hướngdẫn cụ thể của Bộ Thông tin và Truyền thông Theo đó các đơn vị sử dụngngân sách nhà nước không tự mua các phần mềm này.
c) Bộ gõ tiếng Việt (mã nguồn mở) Unikey Các đơn vị cần chuyển hẳn sangdùng bộ mã unicode theo TCVN 6909, tuyệt đối không tiếp tục sử dụng các bộ
mã khác như ABC, VNI trong giao dịch điện tử
d) Trình duyệt web Firefox tải về miễn phí
5 Triển khai hệ thống họp qua mạng điện thoại và video
Đây là hệ thống thông tin đa phương tiện được đề cập đến trong Chỉ thị
27 Trước mắt, theo điều kiện của địa phương, các Sở có thể trang bị hệ thốnghọp qua điện thoại (không có hình) bằng việc mua thiết bị hội nghị thoại(audio station) như của Polycom, ClearOne, Microtel… Đây là thiết bị điệnthoại phục vụ họp nhiều người từ nhiều điểm qua thoại của Bộ đã được thiếtlập bằng cách quay điện thoại về số máy 19001563 (Sau đó bấm thêm phònghọp số … và mật khẩu) Cục CNTT sẽ phổ biến chi tiết
Việc thiết lập hệ thống họp qua video conference đối với các Sở sẽ đượcnghiên cứu và triển khai trong thời gian tới
6 Triển khai hội thảo bài giảng điện tử e Learning
Phong trào làm bài giảng sử dụng phần mềm trình chiếu powerpointnhững năm qua đã có nhiều kết quả Cục CNTT sẽ chủ trì và hướng dẫn côngnghệ làm bài giảng điện tử e Learning và chủ trì hội thảo khai thác thiết bịCNTT, hội thi bài giảng điện tử, sử dụng CNTT trong đổi mới nội dung vàphương pháp giảng dạy theo hướng tạo bài giảng e Learning, hội thảo và dạyhọc online, áp dụng kết hợp với các thiết bị thí nghiệm đo lường điện tử
7 Định hướng hoạt động thi đua về CNTT
Các hoạt động trên cùng với việc triển khai các hoạt động về CNTTkhác của các đơn vị, cơ sở giáo dục nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụnăm học về CNTT, trước mắt phấn đấu nhằm đạt được một số kết quả cụ thểsau:
a) Mỗi Sở GD&ĐT có tên miền riêng của Sở để thiết lập website và hệ thống email quản lý (Việc tạo e mail theo tên miền của Sở hiện nay là hoàn toàn miễnphí trên nền gmail, các Sở không cần đầu tư mua máy chủ và không mất nhânlực bảo dưỡng hệ thống)
Trang 15b) Mỗi cán bộ của Sở, mỗi học sinh THCS và THPT, mỗi giáo viên có một email theo tên miền của Sở.
c) Các Sở có thể tạo trang web của Sở như là một trang của mạng giáo dục của
Bộ Các Sở cần cử cán bộ chuyên trách cung cấp và cập nhật thông tin chotrang web này
d) Mỗi trường THPT có phòng máy tính (với số lượng ít nhất là 25 máy) cónối mạng nội bộ và kết nối Internet băng thông rộng ADSL Chúng ta tiến tớiđạt chỉ tiêu ít nhất 20 học sinh/máy
đ) Đến cuối năm 2008, cố gắng phấn đấu tất cả các trường đều được kết nốiInternet băng thông rộng ADSL Ở những nơi vùng sâu, vùng xa, vùng núicao, cần sử dụng kết nối Internet băng thông rộng qua chảo vệ tinh VSAT-IP
e) Công tác biên soạn bài giảng điện tử: Khuyến khích mỗi trường THPT,THCS tạo mới nhiều thêm bài giảng điện tử của các môn học, đặc biệt cho cảcác môn khoa học xã hội như Văn, Sử, Địa, Nhạc, Họa Khuyến khích giáoviên tham khảo các tài liệu, bài giảng điện tử của đồng nghiệp trong công tácgiảng dạy song cần phát huy tính tích cực học tập thông qua thảo luận nhóm,
tổ chức cho học sinh tập tự giải quyết vấn đề, khuyến khích cách suy nghĩ độclập và suy xét, phản biện lại vấn đề Tránh lạm dụng thái quá CNTT trong giờgiảng như dùng nhiều hiệu ứng chữ chuyển động, mầu lòe loẹt, phông chữ khóđọc, tham ghi nhiều chữ và cỡ chữ nhỏ, không có thời gian cho học sinh thảoluận
f) Bộ GD&ĐT đã giao cho Cục CNTT chủ trì, tổ chức hội thảo và hội thi bàigiảng điện tử, khai thác thiết bị CNTT để đổi mới nội dung và phương phápgiảng dạy theo hướng công nghệ e Learning Hội thảo này dự kiến tổ chức vàotháng 3/2008 Đề nghị các Sở tổ chức cho các trường tham gia tích cực
g) Sử dụng các phần mềm mã nguồn mở trong công tác quản lý và giảng dạynhư Open Office, Unikey, FireFox
h) Triển khai hệ thống thông tin quản lý giáo dục do Cục CNTT cung cấp
Việc hoàn thành các công việc trên sẽ là những nội dung của việc đánhgiá thi đua, khen thưởng các đơn vị, cơ sở giáo dục các địa phương năm học
2007 – 2008 về công tác CNTT
Cũng theo qui định tại Công văn số 9584/BGDĐT-CNTT ngày07/9/2007, Bộ yêu cầu các Sở gửi về Bộ (qua e-mail: cucCNTT@moet.edu.vn)báo cáo kế hoạch CNTT năm học 2007 -2008 và danh sách đơn vị đầu mối vềCNTT của Sở
Trang 16Ngày 20-12-2007: tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), Phó Thủtướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân cóbuổi đối thoại trực tiếp với các đại biểu tham dự Đại hội (ĐH) Đoàn toàn quốc
lần thứ IX “Chính phủ đã nghe báo cáo của Đoàn thanh niên, những vấn đề
lớn mà Đoàn đặt ra Có thể nói chính phủ, nhân dân đánh giá cao Đoàn thanh niên đã giáo dục tuổi trẻ”, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mở đầu bài nói
chuyện Sau khi điểm lại những thành tựu vượt bậc của Việt Nam hơn 100năm qua, kể từ khi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, Phó Thủ tướng khẳngđịnh 3 cơ hội mà Việt Nam đang phải đối mặt đó là toàn cầu hóa, kinh tế tri
thức và xã hội công dân “Chính ở đây là thời cơ và vai trò của đoàn thanh
niên Khi bước vào toàn cầu hóa và WTO có nghĩa rằng thị trường thế giới
mở cửa bình đẳng, điều kiện xuất khẩu mạnh lên, đây là cơ hội Lao động kết tinh vào sản phẩm lớn Toàn cầu hóa dẫn tới đặc diểm là cầu thế giới kích thích sản xuất trong nước Cơ chế này đã hoàn thành, nhưng theo theo điều kiện của họ”, Phó Thủ tướng nói.
4 Từ chỉ đạo của các Sở GD - ĐT triển khai ứng dụng CNTT&TT
Trong khi đó, một số tỉnh khác lại cập nhật khá tốt nội dung của tranggiáo dục trong website của tỉnh Trên website của UBND tỉnh Đồng Nai vàNinh Thuận có rất nhiều thông tin được cập nhật Chánh văn phòng Sở Giáodục - Đào tạo Ninh Thuận cho biết những thông tin mới về ngành giáo dụcđược tải lên trang web đều đặn Chúng tôi thử vào trang web của UBND tỉnhNinh Thuận và thấy có những tin như: Lãnh đạo tỉnh chúc mừng ngày Nhàgiáo Việt Nam 20.11; Xã hội tôn vinh người thầy đăng ngày 20.11; Ngànhgiáo dục với công tác an toàn giao thông đăng ngày 20.10 Vào trang web củatỉnh Đồng Nai ngày 1.11.2007, trong trang giáo dục thấy có lịch công tác của
Sở Giáo dục - Đào tạo cho đến hết ngày 3.11
Còn có chi tiết từng ngày Ban giám đốc Sở làm việc với trường nào, ởđâu, rất rõ ràng và cập nhật nhiều bài viết mới về giáo dục trong tỉnh Ngày30.11, vào trang giáo dục của website: hue.vnn.vn có những bài viết về giáodục mới nhất trong ngày cho dù lấy từ báo khác như bài: Chưa bao giờ giữ bímật về thu học phí; Lại chậm thiết bị dạy học ở nhiều địa phương Vào trang
"Sở giáo dục" trong website của UBND tỉnh Lào Cai, có những thông tin mớiđược cập nhật trong Ngày nhà giáo Việt Nam; những mô hình hay, tấm gươnghọc sinh vượt khó được đăng trước đó vài ngày
Ngày 12.12.2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, Bộ đang đề nghị các
Sở GD – ĐT gửi danh sách học sinh để lập địa chỉ email với tên miền
@moet.edu.vn cho tất cả các trường tiểu học, THCS, THPT trước ngày15.1.2008
Trang 17Trong đó, ngay trong năm học 2007-2008 này, ưu tiên tạo ngay emailcho học sinh THPT, đặc biệt cho HS lớp 12 để phục vụ cho việc nhận thông tinđăng ký thi tuyển sinh, hướng nghiệp năm 2008
Cục Công nghệ thông tin (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cũng đã gửi đĩa CDchứa đầy đủ thông tin dữ liệu phân tích hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thituyển sinh ĐH, CĐ của từng trường, từng hội đồng thi để các sở tham khảo vàphổ biến đến các trường, lớp để nghiên cứu rút kinh nghiệm, phục vụ cho cuộcvận động "Hai không"
Căn cứ chỉ thị số 39/2007/CT-BGD&ĐT ngày 31/7/2007 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2008; căn cứ Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng côngnghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; căn cứcông văn số 9584/BGDĐT-CNTT ngày 7/9/2007 của Bộ GD&ĐT về việchướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 về CNTT Hưởng ứngcuộc vận động của Bộ GD&ĐT lấy năm học 2008-2009 là “Năm học công
2007-nghệ thông tin”, “trong năm học 2007-2008 toàn ngành cần chuẩn bị thật tốt các nguồn lực nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực về ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy Tập trung nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị; mở rộng việc đưa Tin học vào giảng dạy trong các nhà trường; đổi mới nhận thức và nâng cao kỹ năng CNTT cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; thực hiện đồng bộ việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động, trọng tâm vào công tác giảng dạy, xây dựng kho học liệu điện tử trong từng trường học, từng quận, huyện và toàn thành phố”.
1 Củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất thiết bị về CNTT&TT
Các đơn vị, trường học tiến hành kiểm kê cơ sở vật chất, thiết bị CNTTđầu năm học, lập kế hoạch thanh lý máy cũ hỏng, sửa chữa, nâng cấp, muasắm, bổ sung máy tính nhằm đáp ứng các yêu cầu về dạy Tin học cho học sinh
và cho công tác quản lý, giảng dạy Ngoài ra, cần trang bị thêm một số phươngtiện kỹ thuật số khác phục vụ cho giảng dạy như: máy quét ảnh, máy chiếu đanăng (Projector), máy chiếu vật thể 3 chiều, máy ảnh số, Phát huy tối đa hiệuquả sử dụng máy tính thông qua việc tăng thời lượng sử dụng hữu ích chomáy, tuyệt đối không để máy tính ngừng sử dụng thời gian dài
Các trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), trung học phổ thông(THPT), các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp (GDKTTH), trung tâm giáo
Trang 18dục thường xuyên (GDTX) đều phải có mạng nội bộ và kết nối Internet băngthông rộng (ADSL) Trong đó phải bố trí máy tính làm việc và truy cập
Internet dành riêng cho giáo viên trong phòng bộ môn, phòng chờ lên lớp, thư
viện, hội trường, và một số phòng truy cập Internet riêng cho học sinh
Các phòng GD&ĐT tham mưu, đề xuất với UBND quận, huyện đầu tưkinh phí tăng cường cơ sở vật chất thiết bị CNTT cho các cơ sở giáo dục trựcthuộc, tập trung vào các nội dung:
- Đảm bảo đủ máy tính, thiết bị CNTT dạy môn Tin học cho học sinhtheo chương trình của Bộ GD&ĐT và phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trongquản lý, giảng dạy tại các trường học
- Kết nối Internet băng thông rộng (ADSL), nối mạng nội bộ cho 100%
số trường THCS và một số trường Tiểu học, Mầm non trên địa bàn để giáoviên được sử dụng, khai thác Internet đồng thời giúp cho việc trao đổi thôngtin trên mạng được thuận lợi
Cùng với việc mua thiết bị (phần cứng), cần phải dành kinh phí và quan
tâm đầu tư trang bị phần mềm nhằm tin học hóa các hoạt động và nâng caohiệu quả sử dụng máy tính Xây dựng, tuyển chọn, mua công cụ tạo và quản líbài giảng điện tử, các phần mềm dạy học, phần mềm thí nghiệm ảo và e-Learning, các phần mềm quản lý trường học
Các đơn vị triển khai sử dụng các phần mềm dùng chung cần nghiên cứu
kỹ tính đồng bộ với dữ liệu chung, tính khả thi và báo cáo Sở để tổ chức thẩmđịnh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
2 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng CNTT cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
Tuyên truyền, phổ biến Luật Công nghệ thông tin, Nghị định 64 củaChính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cácvăn bản chỉ đạo của Bộ và Sở GD&ĐT nhằm xác định nhiệm vụ, trách nhiệm
về CNTT đối với các đơn vị, trường học và đối với mỗi cán bộ quản lý, giáoviên, nhân viên Mỗi bộ phận, tổ chức, cá nhân trong đơn vị phải cụ thể hóanội dung các văn bản trên vào các hoạt động quản lý và chuyên môn của mình
Các đơn vị, trường học có trách nhiệm chủ động phổ cập Tin học cơ bản(kỹ năng soạn thảo văn bản, truy cập Internet, sử dụng thư điện tử, phần mềmtrình chiếu) cho tất cả cán bộ quản lý và giáo viên (ưu tiên phổ cập trước cho
độ tuổi dưới 50 đối với nam và dưới 45 đối với nữ), tuyển dụng và cử giáoviên đi đào tạo trình độ nâng cao về tin học để có thể quản trị mạng máy tínhcủa đơn vị, xây dựng, khai thác sử dụng phần mềm dạy học và quản lý
Các Phòng GD&ĐT quận, huyện có trách nhiệm tổ chức các lớp đào tạo
và bồi dưỡng Tin học cơ bản và theo chuyên đề cho cán bộ quản lý, giáo viêntrong địa bàn, đồng thời đôn đốc chỉ đạo, kiểm tra các trường về việc phổ cập
và nâng cao trình độ tin học tại cơ sở
Trong năm học, Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ tổ chức các khoá đào tạo sửdụng phần mềm dạy học bộ môn, các hội thảo về xây dựng, sử dụng phầnmềm và bài giảng điện tử trong việc đổi mới phương pháp dạy học
Trang 191- Triển khai đồng bộ ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục và đào tạo
Thực hiện nghiêm túc việc trao đổi thông tin trên mạng (thông qua trangweb của Sở và hệ thống thư điện tử nội bộ, không sử dụng giấy) đối với một sốloại văn bản: thông báo, giấy mời, lịch hoạt động, văn bản hướng dẫn, báocáo, từ Sở đến các đơn vị trực thuộc và ngược lại Các Phòng GD&ĐT quận,huyện thực hiện giao dịch, trao đổi thông tin với cơ sở qua các hộp thư điện tửđược các nhà cung cấp dịch vụ Internet cấp cùng với dịch vụ kết nối
Tất cả các trường phổ thông và TCCN đều phải sử dụng phần mềm tinhọc hóa các hoạt động quản lý: quản lý nhân sự; quản lý học sinh và kết quảhọc tập; quản lý thi, kiểm tra và tuyển sinh, quản lý tài chính, tài sản, nhân sựcán bộ, viên chức,…chú ý đảm bảo sự đồng bộ và liên thông dữ liệu giữa cáccấp học Riêng đối với quản lý thư viện trường học, Sở sẽ tổ chức triển khaiphần mềm dùng chung trong học kỳ I cho các trường có nhu cầu và đủ điềukiện đáp ứng
Các đơn vị trường học đã nối mạng nội bộ phải thực hiện triển khai cácứng dụng trên mạng: xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, chia sẻ thông tin,tăng cường giao dịch qua mạng giữa các bộ phận, tổ, khoa, phòng,
Bố trí sắp xếp các máy tính truy cập Internet thuận tiện cho cán bộ, viênchức, nhân viên trong đơn vị được truy cập Internet miễn phí nhằm khai thác,trao đổi thông tin nâng cao nhận thức và phục vụ chuyên môn công tác
Các phòng GD&ĐT quận, huyện cần tổ chức sử dụng các phần mềmquản lý đồng bộ từ Phòng đến cơ sở trực thuộc giúp cho việc thống kê, báo cáothống nhất, thuận tiện; thực hiện quản lý chặt chẽ kết quả giáo dục hàng nămcủa học sinh cấp THCS phục vụ cho việc thi và xét tuyển THPT thông quaphần mềm quản lý từ Sở đến các trường
Khuyến khích các đơn vị trường học xây dựng và duy trì trang thông tinđiện tử (website) và dịch vụ trực tuyến qua mạng internet, mạng điện thoại traođổi thông tin giữa gia đình học sinh với nhà trường Trong quá trình thực hiệncần đảm bảo nguyên tắc bảo vệ và bí mật thông tin cá nhân Các trường Trungcấp chuyên nghiệp phải có website nhằm cung cấp, trao đổi thông tin và quảng
bá rộng rãi ngành nghề đào tạo
2- Triển khai rộng rãi việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, xây dựng kho học liệu điện tử trong từng trường học, từng quận huyện và toàn thành phố
Các đơn vị, trường học phải tổ chức và tạo điều kiện cao nhất cho giáoviên tất cả các bộ môn sử dụng phương tiện kỹ thuật số, sử dụng phần mềmmáy tính hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy và học tập Các trường Trung cấpchuyên nghiệp cần trang bị hoặc tự xây dựng các phần mềm học tập bộ môntheo đặc thù môn học
Có biện pháp khuyến khích cả về tinh thần và vật chất giúp giáo viên tựxây dựng bài giảng điện tử và các phần mềm giảng dạy bộ môn Phát động thiđua, tổ chức các cuộc thi cho giáo viên xây dựng bài giảng điện tử, bài giảnge-Learning trực tuyến nhằm xây dựng kho học liệu điện tử Trong năm học,
Trang 20mỗi giáo viên có trình độ tin học cơ bản cần thực hiện ít nhất 5 bài giảng cóứng dụng CNTT Các bài thao giảng, thi dạy giỏi của giáo viên cần phải sửdụng phương tiện hỗ trợ dạy học trong đó có CNTT
Tổ chức các chuyên đề trong tổ, nhóm chuyên môn về đổi mới phươngpháp giảng dạy có sử dụng phương tiện CNTT một cách hợp lý nhằm nâng caochất lượng bài giảng Chú ý tránh hiện tượng lạm dụng phương tiện, hình thứchoá bài giảng, không có tác dụng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạyphát huy tính tích cực của học sinh
Mỗi trường học phải xây dựng kho học liệu điện tử, tập hợp các bàigiảng điện tử, phần mềm giảng dạy của giáo viên dùng chung trong cáctrường, Đồng thời chia sẻ kinh nghiệm và tư liệu với các đơn vị bạn Cácphòng GD&ĐT tuyển chọn tư liệu từ các trường để xây dựng kho học liệu điện
tử tại quận, huyện và đóng góp tư liệu cho kho học liệu dùng chung toànngành
Khuyến khích giáo viên sử dụng và khai thác thông tin, tư liệu trênmạng Internet Thành lập các nhóm giáo viên chuyên trách khai thác tư liệutrên mạng và các nguồn khác theo từng bộ môn đưa vào kho tư liệu nhàtrường
Tổ chức tham quan, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm ứng dụng CNTT vớicác đơn vị khác trong và ngoài Thành phố
3- Mở rộng việc đưa Tin học vào giảng dạy trong các nhà trường
Trên cơ sở điều kiện vật chất, thiết bị hiện có, các đơn vị trường học cần
mở rộng các loại hình giảng dạy tin học trong các trường học (chính khóa, tựchọn, dạy nghề, ) Sử dụng tối đa thời gian hoạt động của máy tính vào việcdạy tin học cho học sinh Phấn đấu 100% học sinh tốt nghiệp THPT, THCSđược học Tin học cơ bản Các trường Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) cầnquan tâm đào tạo học sinh cách khai thác, sử dụng các phần mềm chuyênngành thông dụng thuộc ngành đào tạo
Các trường THPT, THCN, các trung tâm GDKTTH, GDTX và cáctrường THCS có điều kiện, cần tổ chức cho học sinh sử dụng Internet trongtrường học (trong phòng máy, thư viện, văn phòng đoàn, đội, ) đồng thời địnhhướng và quản lý chặt chẽ việc khai thác thông tin trên mạng
5 Tính cấp bách của đề tài nghiên cứu
“Ứng dụng CNTT&TT kết hợp sách BT để đổi mới PPDH LS ở trường THPT” là việc làm cấp bách và cần thiết. DHLS là một hoạt động mang tínhđặc thù, một quá trình sư phạm phức tạp, HS không thể từ “trực quan sinh
động” (nhìn quá khứ), mà phải đi từ cung cấp sự kiện để tạo ra biểu tượng LS,
hình thành khái niệm, rồi mới nêu được quy luật, rút ra bài học kinh nghiệm và
Trang 21vận dụng vào thực tiễn Việc cung cấp sự kiện LS cho HS càng cụ thể, giàuhình ảnh bao nhiêu thì các em càng hứng thú học tập và hiểu biết LS bấynhiêu Công việc nầy thường gặp rất nhiều khó khăn, nhưng ngày nay nhờ vàoCNTT&TT, GV có thể dễ dàng giúp HS đi “từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng”, hiểu dúng bản chất của sự kiện, hiện tượng LS, từ đó có tư tưởng
tình cảm đúng đắn và phát triển toàn diện ở các em CNTT&TT có tác dụngtích cực góp phần vào đổi mới PPDH bộ môn hiện nay Theo các chuyên gia
GD, nếu cứ áp dụng PPDH truyền thống thì 90% trí thức của HS được tiếpnhận qua tai, 10% qua mắt sau một thời gian ngắn sẽ rơi vào tâm trạng mệtmỏi, giảm sự chú ý; nhưng nếu các em vừa được nghe, vừa được nhìn thông
qua hình ảnh, kết hợp với các hoạt động (huy động cùng một lúc nhiều giác quan) thì kết quả ghi nhớ kiến thức của HS đạt hơn 90% Tuy nhiên để nhanh
chóng đưa CNTT&TT vào đổi mới PPDH LS ở trường THPT, chúng ta phải
có sự chuẩn bị về xây dựng cơ sở vật chất (CSVC), trang thiết bị hiện đại, đàotạo con người, sau đó mới triển khai thực hiện
Hiện nay nền kinh tế tri thức đang đóng vai trò quyết định trong sảnxuất vật chất Nhờ những phương tiện thông tin hiện đại mà khoảng cách vềkhông gian được rút ngắn hơn Xu thế toàn cầu hóa yêu cầu con người phảithay đổi nhịp sống của mình thì mới nắm bắt kịp những thay đổi nhanh chóngcủa nhân loại, mới thích ứng và phát triển theo nhịp sống đương đại
Khối lượng kiến thức của nhân loại ngày càng nhiều, thời gian và điềukiện tiếp thu lại có hạn mà yêu cầu của ngành GD về chất lượng đào tạo phảingày càng cao Chính vì thế việc đổi mới nội dung và PPDH LS có tầm quantrọng đặc biệt Làm thế nào để HS không bị nhồi nhét kiến thức, lo học tủ, họcvẹt để thi cử?
Với chủ trương vận động của Bộ GD&ĐT, càng đòi hỏi người GV
DHLS phải cải tiến PP soạn giảng, làm thế nào để HS có hứng thú, phát huy tưduy, óc phán đoán trong các vấn đề về các sự kiện LS để các em hiểu đượcnguyên nhân, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm LS trong quá trình dạy học LS
Qua hai năm giảng dạy SGK mới, về hình thức trình bày, cách thể hiệnnguồn kiến thức trong mối quan hệ giữa kênh hình và kênh chữ đã tạo điềukiện cho GV có thể tiến hành đổi mới PPDH LS
Từ công tác bồi dưỡng thay sách lớp 10 và 11, việc đổi mới PPDH LS ởtrường THPT đã trở thành một yêu cầu cấp bách của GV LS, vì không chỉ đểđáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn LS ở trường THPT mà còn gópphần làm thế nào để thay đổi nhận thức của xã hội về vị trí, tầm quan trọng của
bộ môn LS đối với việc GD thế hệ trẻ
Việt Nam đang bước vào hội nhập quốc tế và khu vực cho nên càng đòihỏi cấp bách việc GD phải đổi mới và nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầutrên Trước tiên và quan trọng hơn cả là việc DHLS phải phấn đấu vươn tớichuẩn chung về chương trình đào tạo, về mô hình quản lý, đặc biệt là phải đạtchuẩn về chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo Nhiềuchuyên gia GD cho rằng tìm được lời giải cho vấn đề nầy cũng có nghĩa là tìm
Trang 22được hướng cải cách chương trình, thay SGK, cũng chính là mục đích tìm ramột hướng di cho phù hợp tình hình hiện nay của đơn vị.
Đề tài “Ứng dụng CNTT&TT kết hợp sách BT để đổi mới PPDH LS ở
trường THPT” nhằm giải quyết vấn đề cấp bách của GV bộ môn LS và của
công tác DHLS mà xã hội đang quan tâm hiện nay
6 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Bộ môn LS ở trường THPT có ưu thế đặc biệt trong việc phát triển conngười toàn diện vừa có tri thức khoa học, có tư tưởng đạo đức đúng đắn, đậm
đà bản sắc dân tộc, vừa có khả năng tự lập linh hoạt, sáng tạo … trong cuộcsống Song muốn phát huy được ưu thế nầy, trước hết, HS phải nắm vững kiếnthức LS Vậy làm thế nào để HS nắm vững kiến thức trong DHLS ở trườngTHPT?
Căn cứ vào mục tiêu bộ môn LS ở trường THPT, đặc trưng của hiệnthực LS, đặc điểm nhận thức của HS và yêu cầu đổi mới GD hiện nay theo chỉđạo của Bộ GD – ĐT “Ứng dụng CNTT&TT để đổi mới PPDH ở trường
THPT” hiện nay, chúng ta thấy rằng, việc giúp HS nắm vững kiến thức là vấn
đề hết sức cần thiết Song trước hết cần thống nhất khái niệm “nắm vững kiến
thức” của HS Xung quanh khái niệm nầy, các nhà GD, tâm lí và GDLS đã đề
cập đến nhiều khía cạnh Các nhà GD Xô Viết trước đây khẳng định : cũng nhưbất kì một người nào, HS không bao giờ nắm vững thực sự kiến thức, nếungười ta đem đến cho các em dưới dạng “chuẩn bị sẵn” Không chỉ đơn thuầnhọc thuộc, hoặc nói theo lối cũ “nghiền môn LS” … mà chỉ có thể nghiên cứuchúng mà thôi Hoặc : “Kiến thức chẳng qua là một dạng nhất định của nhữngmối liên hệ tạm thời, được tạo trên vỏ não các bán cầu đại não do ảnh hưởngcủa những kích thích bên ngoài và hoạt động tư duy tích cực của chủ thể đang
nhận thức” (Khalamop Phát huy tính tích cực của HS như thế nào? NXB
GD Hà Nội.1979, tr,19) Bách khoa toàn thư SP của Liên Xô cho rằng : Nắmvững kiến thức trong DH là một hệ thống thông tin xác định bao gồm khảnăng: nhận biết, thông hiểu, vận dụng Nhà tâm lí học người Mĩ Bloom khi nói
về lĩnh vực nhận thức trong đánh giá kết quả học tập đã nêu lên các mức độ :
biết (nhận biết, nhớ lại), hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá, thông
qua 6 mức độ này để đánh giá HS nắm vững kiến thức hay không Trong thực
tế 6 mức độ này cũng đều thể hiện : biết, hiểu, ứng dụng. Các nhà tâm lí họcViệt Nam cho rằng, nắm vững kiến thức là một hoạt động nhận thức tích cực
và tự giác của HS, đưa các em từ chỗ chưa biết đến hiểu sâu sắc, nhớ những kĩnăng, tri thức, những khái niệm do GV truyền thụ và có thể vận dụng vào thực
tiễn (Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân Tâm lí học NXB GD Hà Nội 1979,
Trang 23nghiên cứu LS, mà điều chủ yếu là hiểu LS, vận dụng tri thức LS vào tiếp thukiến thức mới và hoạt động thực tiễn (Phan Ngọc Liên-Trịnh Đình Tùng-
Nguyễn Thị Côi PP dạy học lịch sử Tập II NXB ĐHSP, Hà Nội 2002,
tr.134-135)
Như vậy, các nhà tâm lí GD và GDLS về cơ bản đều thống nhất : nắmvững kiến thức trong học tập nói chung, LS nói riêng là đòi hỏi HS phải “biết”,
“hiểu” và “vận dụng” được tri thức đã học
Mức độ đầu tiên việc nắm vững kiến thức LS là HS phải “nhận biết”được sự kiện, nhân vật … LS, có biểu tượng cụ thể, chân thật về bức tranh quákhứ, nghĩa là HS nhớ LS và trả lời được câu hỏi “như thế nào?” Đây là nềntảng giúp các em hiểu được bản chất của sự kiện Trên cơ sở biết LS, HS phảitìm ra bản chất, ý nghĩa của sự kiện, thấy được mối liên hệ bên ngoài hay bêntrong của các sự kiện, hiện tượng Đồng thời HS có thể lí giải được mối liên hệgiữa các yếu tố thời gian, không gian, mối liên hệ nhân quả … Tức là HS phảihiểu LS, trả lời được câu hỏi “tại sao?” Từ “biết”, “hiểu”, trong quá trìnhhọc tập HS cần rèn luyện khả năng “vận dụng” tri thức đã học để hiểu kiếnthức mới vào thực hành bộ môn và cuộc sống Ba mức độ trên có mối quan hệchặt chẽ, biện chứng với nhau “Biết” kiến thức LS là cơ sở để “hiểu”, “biết”
và “hiểu” lại là cơ sở để vận dụng Đồng thời, hiểu sâu sắc kiến thức và có kĩ
năng vận dụng chúng càng giúp HS nhớ lâu và nắm kiến thức một cách bềnvững
Với quan điểm như trên, việc giúp HS nắm vững kiến thức có vai trò rấtquan trọng trong DHLS ở trường THPT Nó là yếu tố cơ sở đầu tiên của mụcđích học tập bộ môn Chỉ có nắm vững kiến thức LS, HS mới nảy sinh tư tưởngtình cảm đúng đắn và phát triển toàn diện con người các em Không giúp HSnắm vững kiến thức LS thì không thực hiện được mục tiêu môn học
Thực tiễn DHLS ở trường THPT hiện nay đã có bước tiến, nhưng vẫnchưa đáp ứng được yêu cầu GD đặt ra Một thực tế đang diễn ra là thế hệ trẻbiết, hiểu rất mơ hồ về LS, không chỉ LS thế giới mà cả LS dân tộc Điều nàyđược phản ánh phần nào qua kết quả các kì thi vào đại học Theo thống kê củaVietNamnet, kì thi đại học năm 2005 có gần 56,5% số bài thi bị điểm 1 trởxuống, năm 2006 điểm trung gình các bài thi LS là 1,96, thấp nhất trong cácmôn, đặc biệt là kì thi TN THPT năm 2007
Thực tế này còn được phản ánh trong các trò chơi đại chúng trên truyềnhình “Ai là triệu phú”, “Đấu trường 100”, “Rung chuông vàng” của Đài truyềnhình VTV Hà Nội … Các câu hỏi về LS hết sức đơn giản, thậm chí còn rất gầnvới chúng ta hiện nay, nhưng những người chơi trẻ tuổi thường trả lời sai hoặckhông trả lời được Thực tế đáng buồn đó đã khẳng định một điều là HS khôngnắm vững kiến thức LS Các em mới dừng ở biết, hiểu mơ hồ, vì vậy dễ quên
và trong bài thi có những sai sót tưởng chừng không thể có Lí luận và thực tiễntrên đặt ra một vấn đề nóng bỏng là phải nâng cao chất lượng DHLS để đápứng mục tiêu môn học Muốn làm được điều này, trước hết và cấp thiết phải
Trang 24làm cho HS nắm vững kiến thức trong quá trình học tập Đây là yêu cầu tối cầnthiết, đầu tiên trong DHLS.
Thành tựu của CNTT&TT đã và đang được ứng dụng rộng khắp trongnhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động, trong đó có HĐ DHLS Đây là một trong cácđiều kiện quan trọng để đối mới PPDH; là nhân tố đảm bảo cho HĐ DHLS đạthiệu quả; là cơ sở quan trọng để hình thành những phẩm chất và năng lực, hìnhthành nhân cách người GV trong thời đại mới - thời đại của khoa học kĩ thuật
7 Mức độ nghiên cứu đề tài
Năm học 2007-2008 là năm học thứ hai trường THPT áp dụng chươngtrình SGK mới cho HS lớp 10 và 11 trong lộ trình cải cách GD Vì thế đề tài
“Ứng dụng CNTT&TT kết hợp sách BT để đổi mới PPDH LS ở trường THPT”
là đề tài bản thân tôi tiếp tục nghiên cứu thực hiện vì Bộ GD – ĐT ban hànhsách BTLS lớp 10 và 11 đưa vào giảng dạy kể từ năm học 2007 – 2008
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài nầy, mức độ nghiên cứu chỉ giới hạntrong 3 vấn đề lớn :
-Ứng dụng CNTT&TT vào PPDH LS ở trường THPT.
-Đổi mới PP kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS THPT.
-Kết hợp sách BTLS với sử dụng GAĐT trong quá trình soạn giảng bài dạy ở trường THPT.
8 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu : “Ứng dụng CNTT&TT kết hợp sách BT để đổi mới
PPDH LS ở trường THPT”.
+ Khách thể nghiên cứu : Môn LS lớp 10 và 11 ở trường THPT
+ Phạm vi nghiên cứu : Ứng dụng CNTT&TT, sách BTLS, PPDH mới
9 Cơ sở lý luận thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
9.1 Cơ sở lý luận thực tiễn
9.1.1 CNTT&TT là một thành tựu lớn của cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện nay
CNTT&TT thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoahọc, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, GD – ĐT và các hoạt động chính trị,
xã hội khác CNTT&TT đã ảnh hưởng sâu sắc tới GD – ĐT đặc biệt là trongđổi mới PPDH CNTT&TT đang tạo ra những thay đổi của một cuộc cáchmạng GD, vì nhờ có cuộc cách mạng nầy mà GD đã có thể thực hiện được cáctiêu chí mới : Học mọi nơi, Học mọi lúc, Học suốt đời; Dạy cho mọi người vàmọi trình độ tiếp thu khác nhau; Thay đổi vai trò của người dạy, người học, đổimới cách dạy và cách học
Ở nước ta ứng dụng CNTT&TT trong GD – ĐT được Đảng và Nhànước rất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện
kĩ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thịcủa Đảng, Chính phủ, Bộ GD – ĐT đã thể hiện rõ điều nầy (Nghị quyết trungương 2 Khoá VIII, Chỉ thị số 29 của Bộ GD – ĐT ngày 30/7/2001/CT) Đặc
biệt Chiến lược phát triển GD –ĐT 2001 – 2010 của Bộ GD – ĐT đã yêu cầu
ngành GD phải từng bước phát triển GD dựa trên CNTT, vì : “CNTT và đa
Trang 25phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lí hệ thống GD, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về
PP dạy và học”.
9.1.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các PP phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa so sánh, nghiên cứukết quả điều tra xã hội học…kết hợp lý luận với thực tiễn ứng dụngCNTT&TT trong PPDH LS Đặc biệt là nghiên cứu qua các bài giảng, các đềtài nghiên cứu về đổi mới nội dung và PPDH LS ở trường THPT của cáctrường ĐHSP, Viện nghiên cứu xã hội, khảo sát chất lượng dạy học môn LS ởcác trường THPT để định hướng làm sáng tỏ hơn các luận điểm khoa học mà
đề tài quan tâm đang giải quyết Kết hợp với thực tế qua quá trình giảng dạychương trình thay sách lịch sử lớp 10 và 11 và những vấn đề có thể đề xuấtnhững biện pháp khả thi vận dụng vào nội dung đề tài đang nghiên cứu giảiquyết
10 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
+ Đối với cấp lãnh đạo quốc gia
Bộ GD&ĐT đã có các công văn chỉ đạo hướng dẫn cho ngành GD triểnkhai thực hiện : “Bộ GD&ĐT lấy năm học 2008-2009 là“Năm học công nghệ thông tin”, trong năm học 2007-2008 toàn ngành cần chuẩn bị thật tốt các nguồn lực nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực về ứng dụng CNTT trong quản
lý và giảng dạy Tập trung nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị; mở rộng việc đưa Tin học vào giảng dạy trong các nhà trường; đổi mới nhận thức và nâng cao
kỹ năng CNTT cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; thực hiện đồng bộ việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động, trọng tâm vào công tác giảng dạy, xây dựng kho học liệu điện tử trong từng trường học, từng quận, huyện và toàn thành phố”.
+ Đối với cấp lãnh đạo cơ sở
Năm học 2007-2008 Sở GD-ĐT Bình Dương đã tập trung đầu tư kinhphí xây dựng CSVC trường học , mua sắm TBDH hiện đại trang bị cho cáctrường, tổ chức cuộc thi thiết kế và giảng dạy bằng GAĐT cho tất cả cáctrường tham dự, tổ chức các lớp bồi dưỡng tin học và thi tin học chứng chỉ Acho CBGV toàn ngành, tổ chức các buổi giới thiệu các phần mềm ứng dụngCNTT vào việc đổi mới PPDH để chuẩn bị bước vào năm học mới “Năm họccông nghệ thông tin”
BGH trường THPT Dĩ An thiết kế 3 phòng dạy học đa chức năng (trong
đó có một phòng sử dụng di động GV có thể dạy ngay tại lớp học), 2 phòng vitính nối mạng internet, tổ chức các lớp bồi dưỡng tin học trình độ A choCBGV của đơn vị, luôn động viên khuyến khích GV ứng dụng CNTT&TT đểđổi mới PPDH Trong năm học 2007-2008 có 100% các tổ đều có GV sử dụngphòng đa chức năng để giảng dạy thử nghiệm bằng GAĐT
11 Kết cấu của đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 6 phần :-Phần I : Nêu thực trạng của vấn đề.
Trang 26-Phần II : Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính.
-Phần III : Kết quả và kinh nghiệm đạt được từ SKKN.
-Phần IV : Khả năng ứng dụng, triển khai kết quả SKKN
-Phần VI : Sự chuẩn bị cho “Năm học CNTT 2008 – 2009”
NỘI DUNG Phần I Nêu thực trạng của vấn đề
1 Thuận lợi khi thực hiện đề tài SKKN
1.1 Tình hình giảng dạy môn LS ở đơn vị
Trong hè 2006 và 2007, GVLS được bồi dưỡng chuyên đề thay sách cảicách môn LS lớp 10 và lớp 11 Trong tổ có 3 GV dạy LS, tôi được phân côngdạy sử lớp 10 và lớp 11 (14 tiết/tuần) có thời gian đầu tư nghiên cứu soạngiảng theo PPDH mới
Đầu năm học 2007-2008 Bộ GD – ĐT ban hành 2 quyển sách BTLS lớp
10 và lớp 11 theo chương trình cải cách mới Tôi áp dụng thấy có kết quả tốtnên đề nghị với tổ bắt buộc 100% HS khối 10 và 11 mua sách BTLS dùngtrong học tập ở nhà trước khi học bài mới và tôi đã dạy thao giảng thực nghiệmdưới sự góp ý của BGH và tổ chuyên môn theo đề tài báo cáo chuyên đề “Ứng
dụng CNTT&TT kết hợp sách BT để đổi mới PPDH LS ở trường THPT”.
1.2 Tình hình trường, lớp, học sinh
Trường THPT Dĩ An được tặng danh hiệu lá cờ đầu của các trườngTHPT năm học 2005-2006, chất lượng học tập của HS khá đồng đều ở các bộmôn, kết quả tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng đạt tỉ lệ khá cao
Năm học 2007-2008 điểm tuyển sinh vào lớp 10 cao nhất tỉnh, các em ởgần TP Hồ Chí Minh, được BGH quan tâm nhắc nhở động viên kịp thời vềviệc học tập nên tinh thần học tập và đạo đức của các em rất tốt, đa số HSchăm ngoan, lễ phép, vâng lời thầy cô, chấp hành nội quy nhà trường nhưkhông viết vẽ trên bàn ghế, trên tường, mang giày đi học, giữ gìn tác phongđạo đức tốt
Huyện Dĩ An đang chuyển dần thành đô thị hóa, mức sống của ngườidân đã tăng cao nên đa số cha mẹ quan tâm đến việc học tập của HS Công tácGVCN, công tác giám thị được BGH có kế hoạch chỉ đạo thường xuyên gặp
gỡ trao đổi với phụ huynh khi có vấn đề liên quan đến HS Trong năm học có 4lần họp PHHS từng lớp học để GVCN và GV bộ môn thông báo kết quả họctập của HS vào giữa học kì và cuối học kì, nhà trường có biện pháp phối kếthợp việc dạy - học giữa nhà trường và gia đình rất tốt
Hàng tuần và cuối đợt thi đua BGH kết hợp các đoàn thể đã sơ kết đánhgiá khen thưởng, kịp thời động viên nêu gương tốt hoặc nhắc nhở kịp thờinhững HS vi phạm nội quy nhà trường
Đơn vị được Sở GD&ĐT Bình Dương trang bị đầy đủ các TBDH vàphương tiện nghe nhìn như phòng đa chức năng, phòng lab, phòng vi tính,phòng thí nghiệm thực hành, phòng thư viện … có đầy đủ cán bộ chuyên trách
Trang 27sẵn sàng giúp đỡ GV trong các tiết giảng dạy khi cần sử dụng dụng cụ trựcquan dạy học.
1.3 Ưu điểm khi thực hiện đề tài SKKN
GV có thể sử dụng các hình ảnh, tư liệu, sự kiện LS từ các nguồn phimảnh đa dạng từ internet, băng ghi hình, tranh ảnh trong sách báo mà không phảimang theo đồ dùng DH cồng kềnh khi lên lớp
Các tư liệu LS được chuyển thể thành phim theo chủ đề bài học đượccác đài truyền hình trong cả nước đưa lên màn ảnh và phổ biến rộng rãi trênphương tiện thông tin đại chúng, GV có thể tìm mua ở các trung tâm dịch vụtruyền hình hoặc từ trên mạng internet để phục vụ minh họa cho bài giảng sinhđộng hơn
GV có thể trình chiếu các sơ đồ, bài tập nhóm, các câu hỏi trắc nghiệmkhách quan khi kiểm tra bài cũ hay kết thúc bài học để HS tiện theo dõi, vậndụng làm bài thi kiểm tra học kì, thi tốt nghiệp theo chủ trương đổi mới côngtác kiểm tra – đánh giá (KT – ĐG) chất lượng học tập của HS và thực hiệncuộc vận động “Hai không” mà toàn ngành đang hưởng ứng hiện nay.
Việc sơ đồ hóa, hệ thống hóa toàn bộ kiến thức bài học cũ theo từngchương, từng chủ đề cũng thuận lợi hơn khi sử dụng các bảng phụ giảng dạy
Khi soạn một GAĐT, GV có thể lưu lại để giảng dạy ở nhiều lớp khácnhau GV có thể bổ sung hoặc sửa đổi giáo án sau phần rút kinh nghiệm ở cáctiết dạy tiếp theo hoặc những năm học sau
2 Khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN
Trình độ tin học và sử dụng máy vi tính của GV còn nhiều hạn chế, đòihỏi GV ở nhà phải có máy vi tính nối mạng internet để soạn bài, có USB đểsao chép nhập vào máy tính của trường, có máy chụp ảnh kỷ thuật số để chụpcác hình ảnh minh họa đưa vào máy tính, máy scane để coppy hình ảnh …
GV phải thực sự yêu thích ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới PPDH,cần có thời gian và kinh phí để thực hiện
Việc kết hợp sách BTLS trong DH cần có sự phối kết hợp giữa GV và
HS Sự chuẩn bị trước lúc đầu sẽ gặp nhiều khó khăn vì cần có sự đầu tư nhiềucông sức của HS, nhưng bù lại tiết học sẽ thuận lợi hơn, giờ học sẽ trở nên sôinổi hơn, hiệu quả hơn với sự tham gia đóng góp những ý kiến có chất lượngcủa nhiều HS và HS sẽ thực sự chủ động quá trình DH, GV có thể hoàn thànhvai trò hướng dẫn HS tiếp thu kiến thức bền vững hơn
Trang 28Phần II Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính
“Ứng dụng CNTT&TT kết hợp sách bài tập
để đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT”
1 Đối tượng học và việc thiết kế đa phương tiện dạy học
Cụm từ “Đa phương tiện dạy học” được chuyển ngữ từ thuật ngữ
“Instructional Multimedia”, đề cập đến những phương tiện DH tương tác trên
cơ sở máy tính như : bài giảng điện tử, giáo trình điện tử, phần mềm DH …
Học tập là một tiến trình lặp đi lặp lại các hoạt động để xây dựng từngđơn vị kiến thức, kĩ năng nhằm hình thành năng lực mới Tuỳ theo đối tượng
HS và người thiết kế mà tính cấu trúc của bài giảng của mỗi GV sẽ khác nhau
Xuất phát từ tiêu chuẩn của phần mềm DH, đối tượng HS, ở góc độ nhàCNTT, người lập trình, đối tượng học có thể được quan niệm là “bất cứ thực
thể nào, dù ở dạng nào, có thể được sử dụng, tái sử dụng hoặc tham khảo trong quá trình DH với sự hỗ trợ của CNTT” Theo quan niệm này, bất cứ nội
dung hay ứng dụng nào đóng vai trò hướng dẫn HS trong DH đều được xem làđối tượng học Đối tượng học có thể là thành phần phương tiện (hình ảnh, âmthanh, hoạt hình …) hay các thành phần DH (bài học, modul …), hay công cụphần mềm hoặc thậm chí là cả con người, tổ chức hay sự kiện học tập
Xuất phát từ quan niệm “Bản thiết kế mỗi bài học chính là kết hợp
những thiết kế cụ thể bao quát đủ những yếu tố cơ bản và xác lập được những liên hệ cần thiết, hợp lí giữa những yếu tố nầy”, chúng ta có thể xác định các
nội dung thiết kế là “thiết kế mục tiêu học tập, các hoạt động học tập, các
Trang 29phương tiện giảng dạy - học tập và học liệu, đánh giá tổng kết và hướng dẫn học tập bổ sung, môi trường học tập” cùng với các hoạt động cần thiết là : tìm
tòi – phát hiện; xử lí – biến đổi nhằm phát triển sự kiện, vấn đề; ứng dụng –củng cố; đánh giá – điều chỉnh
2 Khai thác, sử dụng internet góp phần tích cực hoá PPDH LS ở trường THPT
Thói quen học thuộc một cách thụ động nhường chỗ cho việc tự tìm tòikhám phá Việc học và chơi ngày càng gắn với máy vi tính, CNTT&TT nhiềuhơn Internet là một trong những nguồn thông tin quan trọng hỗ trợ DH mộtcách có hiệu quả nhất Một số nước tiên tiến trên thế giới đã coi việc sử dụnginternet như là một trong các biện pháp hỗ trợ DH trong đó có môn LS Một sốSGK đã chỉ ra những địa chỉ trang Web cho HS tham khảo, sử dụng hỗ trợ choviệc DH của GV và học tập của HS Chẳng hạn ở Singapore , ngoài trang webgiới thiệu về trường còn có các trang dành cho việc hỗ trợ học tập, ở đó cungcấp cho HS kiến thức môn học, bài tập, bài kiểm tra online, thảo luận GV cóthể upload các bài kiểm tra của các năm trước hoặc của các trường khác để HS
có thể lấy bài kiểm tra về tự luyện tập thêm Ví dụ trường Methodist Girls’School ngoài trang web : http: // www.mgs.sch.edu.sg giới thiệu chung về
trường, ai cũng có thể vào được, còn cung cấp cho HS các trang web hỗ trợhọc tập các môn học như http://www.lead.com,sg – http://heymath.net ; trường
Anglo Chinese Junior College có http://3.acjc.edu ; trường StAndrew’s Junior
College có http://sajcmoodle.moe.edu.sg Để sử dụng các trang nầy mỗi HS
được cấp một ID và password trong đó ID thường là theo chứng minh nhândân, password được cung cấp hoặc do HS tự chọn và đăng kí
Ở Việt Nam, vấn đề nầy còn khá mới mẻ, đặc bịêt là môn LS, trong việcứng dụng CNTT&TT Một số GV, bước đầu chỉ mới biết đến việc sử dụng một
số phần mềm công cụ để thiết kế giáo án điện tử (GAĐT) hỗ trợ DH, chưa chútrọng đến việc khai thác internet Nhiều trường học đã kết nối internet, nhưnghiệu quả khai thác chưa cao, thường chỉ dùng để GV bộ môn tin học sử dụng
để dạy bộ môn tin học khi đến phần hướng dẫn HS sử dụng internet mà thôi
Có khá nhiều nguyên nhân, do hạ tầng CNTT chưa đáp ứng đủ, do trình độ sửdụng internet của GV còn hạn chế, do chưa có trang web chuyên sâu hỗ trợ DHdành riêng cho bậc THPT trong những năm qua Ở Bình Dương chỉ mới cóTrường THPT Hùng Vương có thiết kế trang web riêng trong năm học 2007 -
2008 Trường THPT Dĩ An có các GV tốt nghiệp cử nhân tin học cũng có đủkhả năng để thành lập một trang web riêng cho để hướng dẫn HS sử dụngtrong học tập và phụ huynh liên hệ cập nhật thông tin kết quả học tập của con
em mình ở tại nhà thường xuyên
Hiện nay một số HS có anh chị đang học đại học hoặc gia đình có cha
mẹ, anh chị là công chức đã có kết nối riêng internet tại nhà để sử dụng tronghọc tập và công tác Đầu năm học nhân cơ hội Bưu chính viễn thông BìnhDương khuyến mãi kết nối internet lắp đặt miễn phí, tôi đã thông báo cho HStất cả các khối lớp do mình phụ trách biết thông tin trên và động viên các em
Trang 30về nhà xin phép gia đình đăng kí lắp đặt internet riêng để mỗi HS tự sử dụng,đây là công cụ hỗ trợ rất đắc lực cho việc tự học của các em, kết quả có một số
em đạt kết quả giỏi ở tất cả các môn như em Nguyễn Thị Minh Tâm ở lớp11A1 , em Đăng Minh Tâm ở lớp 11A3 …
Mặc dù hiện nay, kể từ năm học 2007 – 2008 Bộ GD – ĐT đã phổ biếnkhá nhiều trang web có thể sử dụng hỗ trợ dạy học một cách có hiệu quả nếubiết khai thác và sử dụng một cách hợp lí Ví dụ : trang http://ts.edu.net.vn đã
giới thiệu thư viện đề kiểm tra học kì THPT, ở đó có gần 500 đề kiểm tra học
kì các môn học do một số tác giả biên soạn và các địa phương trên cả nước gởi
về, trang http://hocmai.vn (đề kiểm tra các môn học của Bộ GD – ĐT); trang
http://www.vnschool.net ; http://www.khoahocphattrien.com.vn ;
http://www.khoahoc.com.vn hay một số trang web khác là những tư liệu quí giá
đối với GV nếu biết các khai thác, sử dụng
Cũng chính vì không định hướng cho GV và HS khai thác sử dụnginternet một cách có mục đích, có hiệu quả nền nhiều người vẫn lo lắng khicho con em của họ sử dụng internet
Chúng tôi đã sử dụng PP tra cứu tài liệu, PP thử nghiệm, đã thử nghiệmviệc khai thác, sử dụng internet qua dạy DH bộ môn LS lớp 10 và lớp 11 trongnăm học 2007 – 2008 đạt kết quả khá tốt Về phương tiện nghiên cứu cần có :máy tính nối mạng internet, các tài liệu về chuẩn kiến thức môn LS, SGK,SBT, SGV và một số tài liệu có liên quan đến bài học
GV có thể giới thiệu một số thông tin có liên quan vào tiết học trongnhững thời điểm thích hợp, hoặc có thể đưa vào chủ đề ngoại khoá hay GVhướng dẫn cho HS truy cập, tìm kiếm hình ảnh dữ liệu thông tin có liên quanđến bài học giao cho các tổ thảo luận trình bày trước lớp để các em vừa tậpcách nghiên cứu khoa học vừa tăng thêm niềm say mê học LS
Để tìm GAĐT, hay phần mềm dạy học vào http://www.google.com.vn
gỏ vào mục tìm kiếm “giáo án điện tử” chẳng hạn, ta thu được rất nhiều thôngtin về GAĐT, có thể chọn lọc trong số nầy một số GAĐT môn LS có liên quanđến từng bài học sau đó GV tự thiết kế xây dựng bài giảng GAĐT theo nghệthuật sư phạm và phong cách riêng của mình Đặc biệt trên trang
http://baigangbachkim.com.vn là trang web chính thức của Bộ GD – ĐT, các
trang nầy giới thiệu rất nhiều GAĐT các môn học THPT trong đó có môn LS
và phần mềm tạo bài giảng VIOLET, các tư liệu như hình ảnh, phim tài liệu cóliên quan đến tất cả các bài học LS THPT, GV có thể tải về máy tính của mình
để minh hoạ, thiết kế GAĐT cho tất cả các bài học LS riêng cho từng khối lớp
Để khai thác, sử dụng internet vào môn LS có hiệu quả, trong khi lập kếhoạch năm học của GV bộ môn LS cần :
-Nghiên cứu nội dung, chương trình, chuẩn kiến thức môn LS của lớpmình đang giảng dạy để lập kế hoạch tìm kiếm, thu thập những thông tin hỗ trợmột số chủ đề LS trên một số trang web (ngoài các sách tham khảo thôngthường khác)
Trang 31-Cung cấp cho HS một số trang web có liên quan với một số chủ đề LS
và hướng dẫn HS cách thức tra cứu, tìm kiếm, lựa chọn thông tin
GV và HS có thể khai thác, tìm tư liệu ở một số trang web như :
Trong khi lập kế hoạch DH từng tiết (bài soạn) GV cần :
Nghiên cứu kĩ nội dung bài học để xác định rõ : -Nội dung nào cần có kiến thức, thông tin hay hình ảnh hỗ trợ? ; -Nội dung nào cần gợi vấn đề, cần tạo ra tình huống có vấn đề để kích thích hứng thú học tập ở HS? -Nội dung nào cần trò chơi giúp củng cố kiểm tra nhanh kiến thức bài học? Các thông tin
đó có thể lấy ra từ đâu? Khai thác trên internet như thế nào? Xác định, chọn lựa thông tin, tính chính xác của thông tin.
Cần chọn lựa các thông tin có liên quan đến nội dung bài học ở nhữngtrang web có uy tín chuyên môn và những trang dành riêng cho LS Khôngphải tất cả các nguồn thông tin trên mạng internet đều chính xác Trong các bàibáo lấy từ internet cần ghi rõ ngày tải xuống cùng với địa chỉ của trang web đó
Tìm biện pháp, cách thức tích hợp để tổ chức DH, chuẩn bị hệ thống câuhỏi dẫn dắt HS giải quyết vấn đề
Về tổ chức DH, nếu trường có đủ cho một hoặc hai HS một máy tính và
có nối mạng internet thì GV có thể hướng dẫn cho HS tự thao tác với máy vitính ở những thời điểm thích hợp, nếu chỉ có một máy tính duy nhất ở lớp họcthì phải xác định rõ phần nào GV sử dụng, phần nào HS sử dụng máy tínhnhằm kích thích hứng thú học tập ở HS; phát triển tư duy sáng tạo, rèn kĩ năngthực hành Trong trường hợp ở lớp học không có internet thì GV có thể bổsung thêm những thông tin khai thác được vào bài giảng thông qua phiếu họctập, bảng phụ hay giảng giải, thông báo thông tin GV cần hướng dẫn cho HScách khai thác, sử dụng internet ở gia đình hoặc dịch vụ, gửi bài viết cho chúngtôi qua hộp thư điện tử : chithuan.dian@gmail.com
Cách tạo email : www.gmail.com, khi tạo email mới thì GV gỏ vào phầnđăng ký họ tên của mình kiểu chữ thường và tạo mật khẩu, khi cần truy cậpthông tin trên các website thì GV và HS chì cần gỏ vào phần đăng ký họ tênkiểu chữ thường và gỏ vào phần mật khẩu đã tạo sẵn là có thể bắt đầu làm việcvới website và tải những thông tin cần thiết về để sử dụng
Trang 323 Thiết kế và sử dụng GAĐT nhằm nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT
GAĐT – giáo án DH tích cực được dùng trong môi trường CNTT&TT
sẽ trở thành xu thế tất yếu trong GD hiện đại Có nhiều quan điểm đưa ra vềGAĐT, nhìn chung có thể hiểu : GAĐT là giáo án được thiết kế qua máy vitính chạy trên nền (hoặc được sự hỗ trợ) của một số phần mềm công cụ nào đó
và được trình chiếu nội dung cho HS thông qua hệ thống DH đa phương tiện(máy tính – máy chiếu đa năng – màn chiếu; đầu chạy đĩa CD – vô tuyếntruyền hình)
Để tránh lạm dụng CNTT&TT trong quá trình DH tích cực, cần thể hiệnviệc thiết kế và trình bày một GAĐT qua sơ đồ sau : “GAĐT = GADH tích
cực (kế hoạch bài học tích cực) + ứng dụng CNTT&TT trong QTDH”.
3.1 Thực trạng việc thiết kế và sử dụng GAĐT trong môi trường DH đa phương tiện
Nhiều năm qua Sở GD – ĐT Bình Dương đã huy động nhiều nguồn vốnđầu tư kinh phí mua sắm phương tiện DH hiện đại và khuyến khích mạnh mẽCBGV thiết kế và sử dụng GAĐT, coi đây là yếu tố then chốt trong việc đổimới PPDH nhằm nâng cao chất lượng ĐT Tuy nhiên, vì đang ở giai đoạn thửnghiệm nên các trường THPT còn nhiều lúng túng, bị động trong quá trình ứngdụng CNTT&TT trong DH Đặc biệt chưa có sự hướng dẫn việc thiết kế và sửdụng GAĐT trong PPDH tích cực
3.2 Nhận thức của GV đối với việc thiết kế và sử dụng GAĐT hiện nay
Với ưu thế là một THPT trong những năm qua là lá cờ đầu của ngànhTHPT ở Bình Dương, trường THPT Dĩ An có đội ngũ GV trình độ chuyênmôn tốt về tin học và sử dụng thành thạo máy vi tính Tất cả các môn học đều
có GV giảng dạy bằng GAĐT trong năm học 2007 – 2008
Tuy nhiên trong thực tế đa số GV đều cảm thấy chưa tự tin khi thiết kế
và sử dụng GAĐT, do họ chưa hiểu hoặc nhận thức chưa đúng về bản chất củaGAĐT; chưa có quy trình thiết kế và sử dụng loại giáo án này, hơn nữa thiếu
sự chỉ đạo thống nhất của các cấp QLGD về ứng CNTT&TT vào PPDH Còn
có quan niệm lạm dụng hoặc lầm tưởng GAĐT là thay thế cho việc thầy viếtlên bảng, trò ghi qua việc “chiếu chữ” GV có tâm lí ngại thay đổi, không suynghĩ tìm tòi, ít đọc tài liệu, không cập nhật thông tin Đó là những trở ngại lớncho việc thiết kế và sử dụng GAĐT của GV hiện nay
3.3 Thực trạng trong việc thiết kế và sử dụng GAĐT của GV
-Phần lớn các trường THPT đã làm tốt công tác chỉ đạo, khuyến khíchđộng viên GV tích cực sử dụng GAĐT trong DH, chú trọng đầu tư CSVC,TBDH hiện đại Tuy nhiên công tác nầy còn mang tính tự phát, không đồngnhất do GV chưa được chuẩn bị chu đáo để đón nhận tình huống thay đổiPPDH mới Thậm chí có đơn vị mặc dù được trang bị đầy đủ TBDH nhưng
GV chưa sử dụng đến Việc ứng dụng CNTT&TT trong DH hoàn toàn phómặc cho GV tự tìm tòi, vừa làm vừa rút kinh nghiệm Sự hỗ trợ, tư vấn cho GVchủ yếu là số GV tin học đang cùng công tác ở trường
Trang 33Trong quá trình GV thiết kế GAĐT cũng như thực hiện giờ dạy trên lớpcòn nhiều bất cập như : bài soạn còn mang tính hình thức và đối phó chỉ sửdụng trong các tiết thao giảng dự giờ, các hoạt động trên lớp còn chưa đượcphối hợp nhịp nhàng.
Để giảng dạy bằng GAĐT có hiệu quả, GV phải có kiến thức về tin học,ứng dụng tốt các phần mềm công cụ, song những kiến thức đó lại quá mới mẻvới đại đa số GV, trong khi đó các cơ quan QLGD lại chưa có khả năng cungcấp các phần mềm DH cho tất cả các môn học Hơn nữa, HS nói chung vẫnquen với cách học theo kiểu “đọc – chép” của đa số GV hiện nay, khi được họcvới cường độ và tốc độ cao hơn nhiều HS chưa kịp hiểu rõ những chữ trên mànhình có nghĩa gì thì những dòng chữ đó đã không còn nếu GV không kết hợpcách ghi trên bảng
-Những GV mới tiếp cận với GAĐT, với CNTT&TT thường mắc nhữnglỗi như : + Lỗi ở khâu chuẩn bị : chưa biết chắt lọc và tinh giản kiến thức cơbản trên các trang Slide (sử dụng Slide dường như chỉ để minh hoạ thay chophấn và bảng); + Lỗi ở khâu thiết kế : số lượng Slide thường nhiều hơn mứccần thiết (chỉ nên từ 10 đến 12 slide, tuy nhiên nội dung của bài học SGKthường quá dài và phân phối chương trình của LS lớp 11 mỗi tuần 1 tiết làchưa phù hợp để HS chuyển tải nội dung kiến thức), tốc độ lật trang nhanh,slide chứa quá nhiều chữ, kích cỡ quá nhỏ, lạm dụng các hiệu ứng chuyểnđộng …; + Lỗi ở khâu DH trên lớp : GV quá phụ thuộc vào thiết bị và công
nghệ đến mức mất khả năng linh hoạt, coi việc chuẩn bị nội dung của mình là
cố định, cứ thế thực hiện không tính đến các tình huống DH mới xuất hiện trênlớp, đòi hỏi GV phải điều chỉnh Đặc biệt là không kết hợp hiệu quả với các
PP, biện pháp khác
3.4 Công tác thiết kế và sử dụng GAĐT
Thiết kế và sử dụng GAĐT là việc làm mới, nhưng từ CBQL đến GVchưa ai được “chuẩn bị” một cách chu đáo
Về công tác QL việc thiết kế và sử dụng GAĐT, CBQL một số trườngTHPT còn coi việc này mang tính thí điểm, không tích cực xúc tiến và đẩymạnh những nhân tố tích cực trong quá trình áp dụng bài giảng điện tử, dẫnđến việc chưa có kế hoạch chỉ đạo cụ thể, không bố trí CBQL chỉ đạo sâumảng này; chưa chú trọng đầu tư cho GV về thời gian lẫn kinh phí để thực hiệnbài giảng cũng như thiết kế GAĐT, dẫn đến tình trạng GV chuẩn bị bài giảngkhông chu đáo, không chú ý đến việc nâng cao trình độ tin học và say mê tìmtòi để thiết kế và sử dụng GAĐT hoặc thiết kế sơ sài, đối phó khiến cho chấtlượng bài giảng không cao Riêng trường THPT Dĩ An trong năm học 2007 -
2008 được bố trí 3 phòng nghe nhìn (một phòng nghe nhìn di động sử dụng tạilớp học), 2 phòng vi tính nối mạng internet, CB phụ trách phòng máy am hiểu
kĩ thuật nên hỗ trợ GV có nhu cầu soạn giảng GAĐT rất nhiều
4 Một số biện pháp ứng dụng CNTT&TT để thiết kế và sử dụng GAĐT 4.1 Nâng cao nhận thức và khuyến khích GV sử dụng GAĐT trong DHLS
Trang 34Tổ chức bồi dưỡng cho GV nhận thức sâu sắc, nắm rõ văn bản pháp quycủa ngành GD – ĐT về việc ứng dụng CNTT&TT trong PPDH từ đó chuyểnhoá những nội quy, quy định của đơn vị thành ý thức tự giác tự nguyện, thànhtrách nhiệm cá nhân, làm cho tất cả trong tập thể thừa nhận sự tất yếu và cầnthiết của việc DH bằng GAĐT.
Không thể coi GAĐT chỉ là những động tác đơn thuần là bấm máy, trìnhchiếu thay cho hình thức trình bày trên bảng mà phải biết chọn lọc, vận dụngvào bài dạy để tăng tính hấp dẫn và nâng cao hiệu quả giờ dạy Người thầyphải biết kết hợp một cách tinh tế giữa PPDH tích cực và sự trợ giúp củaCNTT&TT Tuyệt đối không được lạm dụng, ỷ lại vào công nghệ hiện đại màlàm “phai nhạt” chức năng của người thầy, ngược lại phải tích cực học hỏi,nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ tin học để biến bài giảng trừu tượng,khô khan thành giờ học sôi nổi, nhẹ nhàng, dễ hiểu và mang tính hiện thực cao
Cần tổ chức nhiều biện pháp và hình thức khác nhau như : + Chia sẻnhững khó khăn với GV mà kĩ năng tin học còn hạn chế; + Đưa vào chỉ tiêu thiđua đối với việc thiết kế và sử dụng GAĐT; + Tạo thời gian hợp lí, bố trí thờikhoá biểu sao cho tất cả CBGV đều được sử dụng hệ thống TBDH, hệ thốngmạng internet một cách hiệu quả nhất; + Xây dựng tủ sách dùng chung, có kếhoạch mua thêm tài liệu, đăng kí các loại báo, tạp chí liên quan đến ứng dụngCNTT&TT trong DH như : tài liệu hướng dẫn sử dụng các phần mềm thiết kếbài giảng, các phần mềm DH như “phần mềm hỗ trợ đổi mới PPDH THPT”của Sở GD – ĐT Bình Dương vừa triển khai cuối năm học 2007-2008 …; + Tổchức các cuộc thi tìm hiểu và trình diễn kĩ thuật thiết kế GAĐT; …
4.2 Bồi dưỡng trình độ tin học cơ bản, phát triển kĩ năng thiết kế và sử dụng GAĐT cho CBGV
GAĐT không phải là một hình thức để GV “chiếu chữ” mà đó là sự chắtlọc các thông tin như hình ảnh, chữ viết, màu sắc, âm thanh, hình ảnh, biểumẩu, sơ đồ … kết hợp với PPDH tích cực để làm cho bài giảng thêm sinhđộng, hấp dẫn, gây hứng thú học tập và kích thích tư duy người học Muốn làmđược điều đó, CBQL phải tổ chức bồi dưỡng cho CBGV các kĩ năng (KN) tinhọc cơ bản như : - KN sử dụng máy tính; KN vận hành máy chiếu đa năng vàcác TBDH hiện đại khác; - KN sử dụng các phần mềm văn phòng như MSWord; MS Exel; - KN khai thác các thông tin, hình ảnh, âm thanh … trênmạng ở các phần mềm khác để thiết kế GAĐT; - Sử dụng thành thạo MSPowerPoint để thiết kế GAĐT Ngoài ra GV cần phải có những kiến thức,những thủ thuật làm cho bài giảng sinh động, hiệu quả cao và đạt được mụctiêu đổi mới PPDH LS
Lãnh đạo của ngành và BGH lên kế hoạch cử lần lượt GV tham gia cáckhoá đào tạo tin học tại đơn vị và phân công GV tin học bồi dưỡng giúp đỡ, trợgiúp, hướng dẫn sử dụng phương tiện DH hiện đại cho từng người Thành lậpmột tổ có chức năng chuyên về công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học
và PP thiết kế GAĐT Soạn thảo một bộ tài liệu (lưu hành nội bộ) bồi dưỡng kĩnăng tin học cơ bản và ứng dụng CNTT&TT vào DH Công tác này được giao
Trang 35cho tổ bộ môn tin học và một số CBGV có kinh nghiệm thực hiện; một Phóhiệu trưởng trong BGH trực tiếp phụ trách.
4.3 Xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng GAĐT
-Tập huấn, bồi dưỡng cho CBGV những kiến thức cơ bản về thiết kế và
sử dụng GAĐT
-Khái quát lại cấu trúc của giáo án DH tích cực.
-Khâu quan trọng nhất của việc thiết kế bài giảng điện tử là việc xácđịnh mục tiêu của bài học và PP tổ chức hoạt động DH Vì vậy, quy trình thiết
kế một bài giảng điện tử cần được thực hiện theo các bước sau :
Bước 1 : Tìm hiểu nội dung bài dạy, soạn giáo án :
-GV cần nghiên cứu kĩ bài qua SGK, sách GV, sách BTLS và các tàiliệu khác có liên quan; - Soạn giáo án (Kế hoạch bài học) theo cấu trúc củagiáo án DH tích cực; - Chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ khác
Bước 2 : Viết kịch bản SP cho việc thiết kế giáo án trên máy vi tính :
Đây là bước rất quan trọng trong việc thiết kế GAĐT Khi thực hiệnbước này GV phải hình dung được toàn bộ nội dung cũng như những hoạtđộng SP trên lớp của toàn bộ tiết DH và xác định được phần nào, nội dung nàocủa bài cần sự hỗ trợ của máy tính để tiết học đó đạt hiệu quả cao
Bước 3 : Thể hiện kịch bản trên máy vi tính :
-Xử lí chuyển các nội dung trên thành GAĐT trên máy vi tính; - Sửdụng một số phần mềm công cụ tiện ích (MS Producer for PowerPoit 2003,Violet, Crocodile, ProShow Gold …) thể hiện kịch bản đã được phác hoạ (nếu
GV còn hạn chế về trình độ tin học thì cần có sự hỗ trợ của người có trình độtin học); vừa làm vừa điều chỉnh kịch bản cho phù hợp với ngôn ngữ mà máytính có thể thể hiện được Việc thiết kế trên máy tính phải đảm bảo tính khoahọc, tính sư phạm, tính thẩm mĩ
Bước 4 : Xem xét, điều chỉnh thể hiện thử trên máy (chạy thử), dạy thử :
Chạy thử (từng phần và toàn bộ các Slide để điều chỉnh những sai sót về
kĩ thuật trên máy tính); - Chỉnh sửa và hoàn chỉnh bài giảng điện tử; - Dạy thửtoàn bộ bài trước GV hoặc cả GV và HS để có thể điều chỉnh nội dung, hìnhthức thể hiện trước khi dạy chính thức Chú ý hệ thống âm thanh và máy trìnhchiếu phải rõ ràng phù hợp với GAĐT
Bước 5 : Viết bản hướng dẫn (nếu là GAĐT viết cho người khác sử dụng) :
Kĩ thuật sử dụng; ý đồ SP của từng phần bài giảng, từng Slide; PPDH,việc kết hợp với các PP khác, phương tiện khác (nếu có); hoạt động của GV và
HS, sự phối hợp giữa GV và HS; tương tác giữa GV, HS và máy tính
-Sử dụng GAĐT trong môi trường DH đa phương tiện : Ngoài việc biết
cách sử dụng thành thạo các trang thiết bị hiện đại, GV phải tuân thủ cácnguyên tắc khi sử dụng GAĐT : + GAĐT không thể thay thế toàn bộ vai tròcủa GV mà chỉ là một loại hình TBDH để góp phần nâng cao chất lượng DH;+ Đảm bảo mọi yêu cầu thực hiện nội dung và PPDH bộ môn LS, phù hợp vớitâm lí lứa tuổi, trình độ nhận thức của HS; + Nội dung chọn lọc, ngôn ngữ
Trang 36trong sáng, dễ hiểu; + Có tính mở, phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo củaHS; + Tạo sự tương tác giữa HS với máy tính.
-Sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn : Xây dựng chuyên đề sinh hoạt riêng,
chuyên sâu về cách thiết kế và sử dụng GAĐT, dành một thời gian nhất địnhtrong tổng thời gian sinh hoạt tổ để thảo luận, góp ý, đánh giá, áp dụng thử,triển khai việc thiết kế và sử dụng GAĐT (trong năm qua chúng tôi đã dạy thaogiảng cho tổ chuyên môn và Sở GD – ĐT góp ý tổng cộng được 7 tiết thửnghiệm đề tài SKKN) Thứ hai hàng tuần, cán bộ phụ trách phòng máy giảngdạy GAĐT nắm được kế hoạch của GV trong tuần đăng kí sử dụng phòngmáy, rà soát lại các bài dạy và đề xuất bài hoặc nội dung có thể thiết kế GAĐThiệu quả để lên danh mục thời khoá biểu các GAĐT DH trên phòng máy.Ngoài ra tổ trưởng chuyên môn còn phân công GV xây dựng mẫu một GAĐTcủa một môn học (tham gia dự thi thiết kế và giảng dạy GAĐT do ngành GD
-Tổng kết, thi đua khen thưởng : Thông qua các đợt thi đua như hội
giảng, thi chọn GV dạy giỏi các cấp, BGH và tổ chuyên môn chọn ra nhữngGAĐT và các bài giảng có chất lượng tốt để làm mẫu và có các hình thức độngviên, khen thưởng kịp thời
4.4 Tăng cường đầu tư CSVC và TBDH hiện đại, xây dựng phòng học đa phương tiện
-Huy động cộng đồng đầu tư CSVC, TBDH, xây dựng phòng học đaphương tiện Để đưa GAĐT vào giảng dạy trong nhà trường cần làm tốt hai nộidung :
+ Làm cho HS, gia đình HS hiểu được sự nổ lực của ngành GD trongviệc đáp ứng các điều kiện phục vụ cao nhất cho việc học tập của HS, từ đótranh thủ được sự ủng hộ về vật chất và tinh thần để đưa GAĐT vào giảng dạytrong nhà trường
+ Sử dụng GAĐT trong nhà trường sẽ có tác động tích cực đến đổi mớiPPDH, nâng cao vị thế, xây dựng thương hiệu của đơn vị trong nhân dân Từ
đó, tranh thủ sự ủng hộ của Hội cha mẹ HS đối với nhà trường
+ Xây dựng kế hoạch sử dụng hiệu quả phòng DH đa phương tiện, sửdụng có hiệu quả nguồn ngân sách Nhà nước cấp để tiếp tục đầu tư, nâng cấpCSVC, TBDH
-Cải tiến công tác quản lí, bảo dưỡng TBDH : + Thành lập bộ phận
chuyên trách QL TBDH; + Xây dựng những quy định về trách nhiệm, quyềnhạn và nghĩa vụ của từng cá nhân trong việc mua sắm, trang bị, sử dụng và bảoquản CSVC và TBDH; + Xây dựng những nguyên tắc, thể thức, quy chế sửdụng - bảo quản TBDH và văn bản quy trình kĩ thuật trong thao tác vận hành,
Trang 37bảo dưỡng, đảm bảo tuổi thọ của mỗi loại thiết bị cho CBQL TBDH; + Đưaviệc sử dụng hiệu quả phương tiện DH hiện đại vào tiêu chuẩn đánh giá GV; +
Tổ chức bồi dưỡng CBGV về kĩ năng sử dụng và bảo quản TBDH; các chuyên
đề về vai trò, ý nghĩa của TBDH hiện đại đối với việc đổi mới PPDH; tổ chứccác cuộc thi, hội thảo, seminar, báo cáo khoa học về ứng dụng CNTT&TT vàođổi mới PPDH LS; + Định kì bổ túc kiến thức, kĩ năng và nghiệp vụ bảo quản,bảo dưỡng, tu bổ máy móc cho bộ phận chuyên trách QL TBDH; + Tổ chứctham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm và giao lưu với các trường bạn; + Bốtrí thời khoá biểu hợp lí, không để lãng phí TBDH; + Đầu tư kinh phí duy trìhoạt động và phát triển TBDH hiện đại …
-Xây dựng và sử dụng phòng học đa phương tiện : + Lập kế hoạch phát
triển phòng học đa phương tiện : mục tiêu, hệ thống các hoạt động, các điềukiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu Theo đó nhà trường sẽ đầu tư nguồn lựctheo nhu cầu để đạt được mục tiêu, tổ chuyên môn tiến hành các hoạt động cóliên quan chặt chẽ tới các mục tiêu và có thể điều chỉnh các hoạt động nếukhông thoả mãn những tiến bộ đạt được Trong năm qua chúng tôi được bố tríriêng biệt một phòng đa chức năng để áp dụng đề tài SKKN, còn 2 phòng khácdành cho các GV khác ít sử dụng GAĐT (Kinh nghiệm một số nước tiên tiếncác trường THPT GV có phòng bộ môn sử dụng cho tiết dạy của mình, đến tiếthọc HS tự động đến phòng bộ môn để học, GV không phải đến từng lớp đểgiảng bài)
4.5 Sự chuẩn bị của Bộ GD – ĐT về ứng dụng CNTT trong sử dụng TBDH để thay SKG lớp 12 thay SKG l p 12 ớp 12
Công tác thiết bị phục vụ thay sách lớp 12: Cần đi trước, cung ứng kịp thời, bồi dưỡng GV hiệu quả, sử dụng hợp lý
Cập nhật lúc 08h52, ngày 20/12/2007
Trong 2 ngày 15 và 16/12/2007 tại Chí Linh (Hải Dương),
Bộ GD&ĐT đã tổ chức hội nghị về thiết bị dạy học (TBDH) lớp
12 thí điểm, trên cơ sở đó triển khai các bước tiếp theo của công
tác TBDH nói chung, cho lớp 12 nói riêng GS.TSKH Bành Tiến
Long – Thứ trưởng thường trực Bộ GD&ĐT – chủ trì hội nghị.
Tham dự hội nghị có: ông Phạm Ngọc Phương, Phó vụ
trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính Bộ GD&ĐT, phó trưởng ban thường trực BCĐcông tác TBDH; ông Nguyễn Sĩ Đức, Phó vụ trưởng Vụ GDTrH, phó trưởngban chỉ đạo công tác TBDH; TS Lê Hoàng Hảo, Phó chủ tịch Hiệp hội TBDHViệt Nam ; chủ biên SGK, các nghiên cứu viên, thành viên BCĐ công tácTBDH, đại diện các tiểu ban của BCĐ; đại diện cán bộ quản lý các SởGD&ĐT, các trường THPT, đại diện các đơn vị được giao triển khai TB lớp
12 thí điểm, đại diện các công ty sản xuất và cung ứng TBDH trên toàn quốc
Tại hội nghị, dưới sự chủ trì của Thứ trưởng thường trực Bộ GD&ĐT
Trang 38Bành Tiến Long, Ban chỉ đạo công tác TBDH và các đại biểu (đặc biệt là cácthầy cô giáo đến từ các trường THPT, những người trực tiếp giảng dạy bằngTBDH lớp 12 thí điểm thời gian qua) đã cùng thảo luận, đánh giá lại hiệu quảthực tế của TBDH lớp 12 thí điểm, đồng thời Vụ GDTr.H (Bộ GD&DTD)cũng đã có báo cáo tổng hợp kết quả khảo sát thực tế danh mục và mẫu TBDHlớp 12 thí điểm.
Cần phải nói thêm rằng, ngày 21/11/2007, Bộ GD&ĐT đã ban hànhQuyết định số 7462/QĐ- BGDĐT do Thứ trưởng thường trực Bành Tiến Long
ký, về việc Ban hành kế hoạch triển khai công tác TBDH lớp 12 năm học 2008– 2009 Quyết định này giao cho các Vụ chức năng của Bộ, các đơn vị, tổ chức
có liên quan thực hiện kế hoạch triển khai công tác TBDH lớp 12 năm học
2008 – 2009, trong đó yêu cầu các nội dung công việc cụ thể cho từng đơn vịđược giao, theo trình tự thời gian như: Giao vụ GDTr.H, GDTH, KHTC,KHCN, Viện CL&CTGD, Hiệp hội TBGD VN kiện toàn BCĐ công tácTBGD và Hội đồng thẩm định TBDH mầm non, phổ thông; thành lập tiểu ban:Thẩm định môn học, tư vấn kỹ thuật, tư vấn chuyên môn một số môn học có
TB phức tạp Giao Viện CL&CTGD, Dự án PT THPT, Vụ KHTC, Vụ KHCN;Hiệp hội TBDH VN tổ chức hội thảo mở rộng về TBDH mẫu với thành phầntham gia (đại diện) là các GV tham gia thí điểm, các nhà khoa học, tác giảSGK lớp 12, các tiểu ban và hội đồng thẩm định, đại diện các đơn vị, cá nhânnghiên cứu sản xuất BTDH; nội dung trọng tâm của hội nghị theo yêu cầutrong kế hoạch triển khai công tác TBDH lớp 12 năm học 2008 – 2009 củalãnh đạo Bộ là: góp ý những TBDH đã qua thí điểm có trong Danh mục TBDH(dự kiến); góp ý, sửa chữa, nghiên cứu mới một số mẫu TB theo danh mụcTBDH (dự kiến); góp ý hoàn thiện TBDH mẫu Hội nghị về TBDH lớp 12 thíđiểm đề cập trên đây chính là dựa trên cơ sơ kế hoạch của lãnh đạo Bộ yêucầu
Tiếp theo trong kế hoạch triển khai công tác TBDH lớp 12 năm học2008- 2009 của lãnh đạo Bộ, sau Quyết định số 7462/QĐ-BGDĐT ngày21/11/2007, đến ngày 05/12/2007, Bộ GD&ĐT đã có Quyết định số 74/2007/QĐ-BGDĐT do Thứ trưởng thường trực Bành Tiến Long ký, về việc Ban hànhchương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho viên chức làm công tácTBDH ở cơ sở GD phổ thông Mục tiêu của Quyết định là sau khoá học bồidưỡng, viên chức làm công tác TBDH cần đạt được các yêu cầu về: kiến thức,
kỹ năng, thái độ Đi kèm với Quyết định này, Bộ GD&ĐT đã ban hành chươngtrình bồi dưỡng chi tiết ở từng nội dung, trên từng đơn vị TB nằm trong danhmục (dự kiến)
Nhiệm vụ cấp thiết, cần phối hợp đồng bộ
Thực hiện kế hoạch triển khai công tác TBDH lớp 12 năm học
Trang 392008-2009 của lãnh đạo Bộ, ngay trước hội nghị về TBDH lớp 12 thí điểm, BộGD&ĐT đã thành lập 03 đoàn công tác khảo sát danh mục và mẫu TBDH tốithiểu lớp 12 thí điểm tại 6 tỉnh thành phố, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai,Lâm Đồng, Bắc Ninh và Tuyên Quang Mục đích của các đoàn công tác là:khảo sát, kiểm tra tình hình sử dụng TBDH tại một số trường THPT tham giathí điểm; rà soát danh mục và mẫu TBDH tối thiểu lớp 12 THPT thí điểm triểnkhai tại trường THPT (tập trung vào các THDH không cần thiết, kém chấtlượng cần cắt bỏ, những TBDH cần chỉnh sửa, những TBDH cần thiết phải bổsung); tập hợp những đề xuất, kiến nghị của cán bộ, GV các trường tham giathí điểm với Bộ GD&ĐT Theo báo cáo của đại diện lãnh đạo Vụ GDTr.H(đơn vị được Bộ GD&ĐT giao thực hiện nhiệm vụ) tại hội nghị cho biết cuộckhảo sát được tiến hành theo các phương pháp: phỏng vấn, hội thảo, lấy ý kiếncán bộ, GV các trường tham gia thí điểm; tổng hợp ý kiến thông qua phiếukhảo sát; đối chiếu, so sánh với danh mục và TBDH thí điểm mở rộng và thựctiễn giảng dạy tại trường Để chính xác, hiệu quả và khách quan, phương tiện
sử dụng của các đoàn công tác là máy quay phim, chụp ảnh và phiếu khảo sát.Căn cứ vào biên bản của các đoàn công tác, tổng hợp các phiếu khảo sát, VụGDTr.H đã thống kê được tình trạng TBDH thí điểm lớp 12 theo các nội dung:những TBDH không cần thiết hoặc kém chất lượng cần cắt bỏ; những TBDHcần chỉnh sửa; những TBDH cần bổ sung; những TBDH đề nghị ứng dụng
CNTT; đề xuất, kiến nghị; minh hoạ một số hình ảnh, video kết quả khảo sát một số môn.
Từ kết quả khảo sát thực tế thu được, có thể đưa ra một số nhận xét sau:Thứ nhất, danh mục TBDH tối thiểu lớp 12 thí điểm mở rộng về cơ bản
đã đáp ứng được yêu cầu của chương trình thí điểm Tuy nhiên còn một sốTBDH ở một số môn không thực sự cần thiết, kém chất lượng cần cắt bỏ trongdanh mục, những TB khó thực hiện cần cải tiến, những TB cần chỉnh sửa vànhững TB cần bổ sung trong danh mục
Thứ hai, TBDH tối thiểu lớp 12 thí điểm mở rộng đã được rà soát nêntránh được lãng phí Một số môn (như lịch sử, địa lý) có nhiều bản đồ, lược đồcần thiết đề nghị bổ sung
Thứ ba, TBDH ở nhiều môn cần phải chỉnh sửa nhiều Chẳng hạn mônVật lý TB thiếu quá nhiều, nhiều TB làm bằng vật liệu kém chất lượng, cồngkềnh sử dụng kém hiệu quả; môn Hoá học, Sinh học và Công nghệ có TB chưađạt yêu cầu về chất lượng, chất lượng hoá chất kém; tranh ảnh, bản đồ của một
số môn còn thiếu (môn Lịch sử, Địa lý); chất lượng đĩa tiếng môn ngoại ngữcòn chưa tốt; tiêu bản môn Sinh học còn ít
Thứ tư, việc cung ứng TBDH thí điểm và thí điểm mở rộng còn chưa kịp
Trang 40thời TBDH cung ứng còn thiếu, chưa đồng bộ, chẳng hạn như ở trường THPTQuang Trung (Hà Tây), THPT Lê Hồng Phong (Hải Phòng).
Thứ năm, công tác tập huấn GV chưa kỹ lưỡng, chưa có tài liệu hướngdẫn sử dụng nên GV lúng túng trong quá trình khai thác sử dụng
Thứ sáu, một số trường chưa có phòng học bộ môn, phòng chứa đồ dùngchật chội gây khó khăn trong việc khai thác sử dụng
Thứ bảy, việc ứng dụng CNTT trong công tác TBDH còn tự phát, hạn chế, thiếu điều kiện, còn có hiện tượng lạm dụng CNTT trong dạy học.
Trên cơ sở những kết quả khảo sát đó, Vụ GDTr.H đã đưa ra một số kiếnnghị đề xuất cụ thể: Chỉ đạo những đơn vị sản xuất mẫu nghiên cứu, để hoànthiện các mẫu sao cho hiệu quả kinh tế, dễ sử dụng và đảm bảo chất lượng đápứng, phù hợp với chương trình và SGK, đẩy nhanh tiến độ sản xuất mẫuTBDH lớp 12; Ban hành thêm (ngoài danh mục TBDH tối thiểu) danh mụcTBDH cho các trường có điều kiện; Tổ chức biên soạn hướng dẫn sử dụngTBDH tối thiểu lớp 12 và tổ chức tập huấn sử dụng TBDH kịp thời cho nămhọc mới; Chỉ đạo việc XD phòng học bộ môn, phòng bảo quản TBDH trongcác nhà trường trung học; Phát động phong trào tự làm TBDH trong GV vàtrong các nhà trường, tổ chức các hội thi về sử dụng TBDH cho GV và HS Đề
xuất cuối cùng và quan trọng nhất là đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác TBDH: chuyển tranh ảnh, bàn đồ, mô hình, thí nghiệm khó sang đĩa CD; Bổ sung thêm các phần mềm dạy học, phần mềm mô phỏng, thí nghiệm
ảo cho các môn học; Cần tổ chức các hội thảo để nghiên cứu, đề xuất những thiết bị nào nên ứng dụng CNTT, loại nào nên thận trọng ứng dụng; Tuyển chọn những TBDH có ứng dụng CNTT trong toàn quốc để xây dựng thư viện TBDH điện tử chia sẻ tài nguyên cho các đơn vị; XD mô hình điểm
về các trường trung học có ứng dụng CNTT, từ đó rút kinh nghiệm nhân rộng mô hình; Có kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng CNTT cho GV; Xây dựng website về thư viện TBDH có ứng dụng CNTT; XD hệ thống văn bản pháp quy chỉ đạo việc hướng dẫn sử dụng, bảo quản và ứng dụng CNTT trong các trường học.
Các kiến nghị, đề xuất này đã nhận được sự đồng thuận cao của các đạibiểu tham dự hội nghị, của lãnh đạo Bộ GD&ĐT, với một mong muốn chungnhất: hoàn thiện hơn nữa danh mục TBDH lớp 12, kịp thời phục vụ năm học
2008 – 2009 Chỉ đạo chung về công tác TBDH cho việc thay sách lớp 12, Thứtrưởng thường trực Bành Tiến Long yêu cầu các cơ quan chức năng sát cánhcùng Hiệp hội TBGD, các doanh nghiệp, đặc biệt là chỉ đạo hướng dẫn các địaphương đưa được mảng công tác này tốt hơn với yêu cầu đi trước, cung ứng