SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM Hoàng Niêm, Huỳnh Thị Lan Hương Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường Nước là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá
Trang 1SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN NƯỚC
TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM Hoàng Niêm, Huỳnh Thị Lan Hương
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
Nước là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá; nước không thể thiếu cho cuộc sống con người và hệ sinh thái Gần như tất cả các vấn đề môi trường đều có liên quan nhiều hay
ít đến nước Việt Nam đất nước đang phát triển nên nước là một yếu tố cực kỳ quan trọng Mặt khác, tài nguyên nước (TNN) là hữu hạn, hiện nay vấn đề sử dụng và phát triển tài nguyên nước đang trở thành một vấn đề cấp thiết ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam
Bài báo này trình bày tổng quan đánh giá TNN và phân tích các tồn tại trong quản lý
sử dụng và phát triển TNN trên lãnh thổ Việt Nam
1 Khái quát về tài nguyên nước ở Việt Nam
Tài nguyên nước (TNN) được hình thành trong những điều kiện địa lý nhât
Đông, ¾ diện tích là đồi núi Các đồng bằng thấp, hẹp chịu tác động của biển Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Trên lãnh thổ lượng mưa trung bình hàng năm 1960mm, một số nơi đạt đến 3000- 4000mm, nhưng cá biệt có nơi dưới 1000mm Về mùa hè thường có bão, lượng mưa trong bão khá lớn, có nơi đạt đến trên 700-800mm/ngày, lượng mưa 3 ngày liên tục đạt đến trên 1000mm
Với điều kiện địa hình chia cắt và lượng nước mưa lớn, Việt Nam có nhiều sông suối; các sông có dòng chính từ 10 km trở lên là 2355 sông Các sông phần lơn là
dòng chảy [1] Hàng năm, lượng nước mặt
(qua sông Hồng chiếm 5%, sông Cửu Long 57%) [1]
Nước dưới đât có trữ lượng khá lớn, tổng “trữ lượng nước dưới đất” ước tính
/s Phân bố trữ lượng nước dưới đất theo đầu người dao động
bằng sông Cửu Long Nước dưới đất còn có dạng nước khoáng và nước nóng, nhưng
lít/ngày [3]
Lượng dòng chảy các sông phân bố không đều giữa các vùng miền và phân phối rất chênh lệch theo các tháng trong năm Những nơi có mưa rất lớn thì dòng chảy
70 - 80% lượng dòng chảy cả năm, còn mùa khô cạn chỉ khoảng 20-30% Dòng chảy các sông ở mùa lũ thường tập trung vào 2 - 3 tháng giữa mùa, ở miền Bắc vào các tháng VII – IX, ở miền Trung và Nam Bộ là các tháng IX – XI Mùa cạn kéo dài, vào giữa mùa cạn lượng nước các sông ít, tháng cạn nhất chỉ chiếm 1- 2% lượng nước cả
Trang 2năm.Về mùa lũ thường xảy ra ngập lụt ở vùng đồng bằng, còn mùa cạn thì khô hạn, nhất là ở trung du miền núi, nước mặn xâm nhập sâu vào vùng cửa sông Thủy triều ảnh hường vào sông Hồng đến vài trăm cây số, ở sông Cửu Long đến 400 km
Nước sông chứa nhiều bùn cát, về mùa lũ lượng bùn cát trong nước sông chiếm tới 80-90% lượng bùn cát của cả năm Nước sông bị nhiễm mặn và chua phèn ở vùng đồng bằng; ở đồng bằng sông Cửu Long có đến trên 2 triệu ha bị nhiễm mặn trong mùa khô Độ khoáng hóa nước sông thuộc loại trung bình Một số nơi, một số đoạn sông nước sông bị nhiễm bẩn bởi các loại chất thải, nước thải Chất lượng nước dưới đất nói chung còn tốt, ở miền núi và trung du đáp ứng yêu cầu ăn uống sinh hoạt, còn
ở vùng gần biển nước bị nhiễm mặn, hàm lượng Cl lớn
Dao động nhiều năm của TNN phụ thuộc biến động thiên văn, sự hoạt động của con người trên lãnh thổ mà trực tiếp thông qua biến đổi khí hậu Theo một số nghiên cứu cho rằng, khí hậu đang biến đổi mạnh mẽ, đối với nước ta trong vòng 50-60 năm tới lượng nước nội địa giảm 10 - 20% so với hiện nay
2 Sử dụng và phát triển TNN
Về khả năng nguồn nước, như đã biết, đối với nước ta, tính trung bình theo toàn
TNN vào loại trung bình trên thế giới Nhưng tính với nguồn nước sản sinh trên lãnh
/người.năm thì coi như đã dùng gần hết phần lượng nước sản sinh trong nội địa
Nước tiềm ẩn nhiều thách thức đối với sử dụng và phát triển TNN; đó là: Lượng nước từ bên ngoài chảy vào lớn, chiếm hơn 62% tổng lượng nước mặt và chủ yếu chuyển qua hạ lưu của hai con sông lớn; lượng nước trên lãnh thổ phân bố không đồng đều giữa các vùng miến và đặc biệt phân phối theo thời gian trong năm rất chênh lệch; ¾ lãnh thổ là đồi núi, đồng bằng hẹp và thấp; dân số đông và tăng nhanh (mỗi năm tăng trung bình trên 1 triệu người); trình độ dân trí thấp; các ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ; đô thị hóa nhanh; bên cạnh đó khí hậu biến đổi thất thường,…
Cũng như nhiều nước khác ở Châu Á, TNN ở nước ta được khai thác phục vụ trước tiên cho ăn uống, sinh hoạt và nhiều nhất cho sản xuất nông nghiệp, một phần cho công nghiệp và các ngành dịch vụ Hiện nay, mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng
mức tăng 48% Trong đó nước cho tưới dự kiến sẽ tăng khoảng 30%, công nghiệp tăng gần 190%, đô thị 150% và nuôi trồng thủy sản 90% Đến năm 2020, mặc dù sử dụng nước cho tưới vẫn tăng đáng kể và vẫn là sử dụng nước lớn nhất nhưng tỉ trọng này sẽ giảm đi từ 82% xuống 72% Nếu tính toán mức sử dụng nước mùa khô dự kiến trong tương lai đến năm 2020 thì tỷ lệ sử dụng nước so với nguồn nước sẵn có cho thấy cụm lưu vực sông ĐNB ở trên ngưỡng 100%, có nghĩa là sử dụng nước dự kiến sẽ vượt quá tổng khả năng nguồn nước ở lưu vực trong mùa khô Lưu vực sông Mã sẽ ở ngưỡng 100% và lưu vực sông Kone sẽ tiến gần sát ngưỡng này Các lưu vực sông Hồng, Ba, Đồng Nai, Hương và Trà Khúc sẽ ở vùng căng thẳng cao Các lưu vực sông khác sẽ ở vùng căng thẳng trung bình, và chỉ có lưu vực sông Sê San và Thạch Hãn có thể sẽ
Trang 3không bị căng thẳng, mặc dù các lưu vực sông này sẽ có khả năng bị thiếu nước cục bộ [4] Như vậy, sự thiếu hụt nguồn nước ở nước ta là hiện hữu
Nhận thấy sự quan trọng và hiện trạng của TNN, từ lâu Nhà nước ta đã đề ra các sách lược về sử dụng và phát triển TNN Trong báo cáo này, chúng tôi nêu lên một
số điểm cho là cần thiết chú ý sau đây: Luật TNN và các văn bản dưới luật phải được thực thi nghiêm túc; đặc biệt yêu cầu giữ gìn sự hoạt động tự nhiên của các hệ thống sông, nhất là bảo vệ chất lượng nước sông Để điều hòa lượng nước sông cần coi trọng quản lý lưu vực, trong đó cần giữ gìn lớp thực vật và lớp thổ nhưỡng của lưu vực; lũ quét, lũ ống, sụp lở đất hay xảy ra trong mùa mưa đó là do thiếu quản lý lưu vực sông một cách đúng mức Việc khai thác sử dụng nước phải đảm bảo hài hòa và thích nghi giữa khả năng nguồn nước và yêu cầu của các hộ dùng nước tức là phải có quy hoạch sao cho tương thích với công nghệ phát điện mùa vụ, cây con Sông ngòi nước ta phần lớn là sông nhỏ, hầu như trên các sông có xây dựng nhiều hồ giữ nước dẫn đến điều bất lợi là khi xây dựng hồ chứa sẽ làm mất đi một phần lớp phủ rừng, môi trường ở hạ lưu, hồ chưa làm thay đổi, thất thoát nước tăng lên như bốc hơi, thẩm thấu… Trong mùa khô nhiều vùng có hồ chứa mà ở đó vần thiếu nước nghiêm trọng Một điều quan trọng khác là dùng nước phải đi liền với tiết kiệm nước từ từng hộ gia đình đến đồng ruộng và khu công nghiệp, khu chăn nuôi…; giáo dục mọi người dân có ý thức bảo vệ TNN Đồng thời, trong sử dụng và phát triển TNN cần có biện pháp kỹ thuật và cần xúc tiến nghiên cứu đánh giá diễn biến TNN do tác động mạnh mẽ của biến đổi khí
hậu toàn cầu
3 Những tồn tại trong quản lý quy hoạch tài nguyên nước
Công tác quy hoạch và quản lý, quy hoạch sử dụng tổng hợp TNN ở Việt Nam còn phân tán Trên cùng một lưu vực có nhiều ngành, nhiều cơ quan chịu trách nhiệm quản lý Cụ thể như sau:
vực sông (Nghị định 120/2008 NĐ-CP ngày 01/12/2008 về quản lý lưu vực sông, Luật TNN được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 3, ngày 21 tháng 6 năm 2012)
trong cả nước, mới đây nhất Bộ Nông nghiệp và PTNT trình Thủ tướng và được Thủ tướng phê duyệt 3 Quy hoạch Thủy lợi gồm: Quy hoạch thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng, Quy hoạch thủy lợi vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2012 -
2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng, Quy hoạch thủy lợi khu vực miền Trung giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm
2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng Các Quy hoạch nêu trên không chỉ bao gồm một mà nhiều lưu vực sông, không chỉ bao gồm một mà gồm nhiều tỉnh việc đó dẫn đến chồng chéo với các quy hoạch các lưu vực sông đã được phê duyệt trước đây
đã trình chính phủ phê duyệt nhiều hệ thống bậc thang thủy điện trên các sông lớn, nhỏ; tuy vậy, trong quá trình thực thi có rất nhiều bất cập, nhiều khi không thống nhất với các quy hoạch TNN khác Ví dụ, khi đề xuất quy hoạch hệ thống dung tích phòng
Trang 4lũ cho các hồ chứa đa mục tiêu trên hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn, ngành nông nghiệp đề xuất dung tích phòng lũ lên đến hơn 1 tỷ m3 nước nhưng ngành điện quy hoạch và đã xây dựng các hồ chứa thủy điện cũng chỉ dành hơn 100 triệu m3 cho phòng lũ, chưa kể trong khi vận hành mùa lũ do lợi ích tăng sản lượng điện các nhà máy thủy điện lại giảm các dung tích này đi
phố, thị trấn, trong đó nhiều dự án không gắn với quy hoạch nguồn nước dẫn đến nhiều công trình cấp nước bị hủy bỏ do xâm nhập mặn, nhiều thành phố (ví dụ như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh ) bị ngập úng vv
lưu vực sông thuộc địa bàn thành phố, tỉnh, tuy vậy trình độ chuyên môn của các địa phương hạn chế nên chất lượng chưa cao, nhiều công trình trên hệ thống sông nhánh không nằm trong quy hoạch tổng thể lưu vực dẫn đến chồng chéo trong xây dựng công trình và bất cập trong quản lý, vận hành
Mặc dù theo quy định tại điều 24 trong Luật Tài nguyên nước mới ban hành tháng 6 năm 2012, các quy hoạch chuyên ngành đều phải có văn bản chấp thuận của
Bộ Tài nguyên và Môi trường nhưng công tác thẩm định còn rất nhiều bất cập dẫn đến nội dung Quy hoạch TNN còn chồng chéo và không phân định rõ trách nhiệm
Kết luận
Quản lý sử dụng và phát triển TNN là vấn đề nổi cộm không những ở Việt Nam
mà ngay cả ở các nước tiên tiến trên thế giới Trong quản lý TNN nhằm chia sẻ công bằng TNN cần tập trung vào tăng cường công tác quản lý quy hoạch, vào xây dựng mới các cơ chế chính sách; bên cạnh đó cũng cần hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến suy thoái TNN và có các giải hợp lý nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 GS Nguyễn Viết Phổ, PTS Vũ Văn Tuấn: Đánh giá khai thác và bảo vệ Tài nguyên khí hậu, Tài nguyên nước của Việt Nam NXB KHKT, Hà Nội,1994
2 PGS TS Trần Thanh Xuân, Đặc điểm thủy văn và nguồn nước sông Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2007
3 Dự án đánh giá ngành nước (TA 4903-VIE), Tháng 2/2009
4 Báo cáo tổng kết đề tài KT.02.01: Đánh giá hiện trạng sử dụng TNN trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, X.1995 Chủ nhiệm PGS TS Hoàng Niêm
Trang 5USE AND DEVELOPMENT OF WATER RESOURCE WITHIN
THE TERRITORY OF VIETNAM Hoang Niem, Huynh Thi Lan Huong
Vietnam Institute of Meteorology, Hydrology and Environment
Water is a vital and indispensable resource for human life and ecosystems Most of environmental problems are related more or less to the water Vietnam is a developing country so water is an extremely important factor for its development On the other hand, water resource is finite, issue of water use and development is becoming a critical topic in many countries, including Vietnam
This paper presents an overview of water resources assessment and analyses limitations in the management, use and development of water resources within the territory of Vietnam