1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

NHẬN xét bước đầu về ẢNH HƯỞNG của ENSO đến DÒNG CHẢY các SÔNG đà, THAO và lô

8 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 397,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ giữa một số đặc trưng dòng chảy với chỉ số SSTA Để nhận định mối quan hệ giữa một số đặc trưng dòng chảy: Dòng chảy năm Qn, trung bình mùa lũ Ql, trung bình mùa cạn Qc với chỉ

Trang 1

NHẬN XÉT BƯỚC ĐẦU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA ENSO

ĐẾN DÒNG CHẢY CÁC SÔNG ĐÀ, THAO VÀ LÔ

Lã Thanh Hà, Trần Thanh Xuân, Văn Thị Hằng

Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường

ENSO (The El Nino/ Southern Oscillation) là một trong những hiện tượng gây nên những dị thường thời tiết và do đó ảnh hưởng đến dòng chảy sông suối Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của ENSO đến dòng chảy sông là rất phức tạp, tùy thuộc vào từng đợt ENSO cũng như mối tương tác giữa ENSO với các hoàn lưu khí quyển và điều kiện mặt đệm Trong bài báo này xin giới thiệu kết quả nghiên cứu bước đầu về sự ảnh hưởng của ENSO đến dòng chảy của các sông Đà, Thao và Lô nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho dự báo và vận hành liên hồ chứa trong hệ thống sông Hồng, đặc biệt là quy trình tích nước sớm trong các hồ chứa trong những năm El Nino để hạn chế mức độ khan hiếm, thiếu hụt nước cung cấp cho các nhu cầu ở đồng bằng sông Hồng

1 Số liệu dòng chảy và ENSO

1.1 Số liệu dòng chảy

Chuỗi số liệu dòng chảy để tính toán dài 50 năm, từ năm 1961 đến 2010 Số liệu dòng chảy trung bình tháng và năm trong một số năm trong thời kỳ này tại một số trạm chịu ảnh hưởng của hồ chứa (Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang) đã được hoàn nguyên hoặc thiếu số liệu thực đo đã được tính bổ sung từ mưa theo mô hình NAM hoặc theo phương pháp tương quan từ số liệu dòng chảy tại trạm lân cận

1.2 Số liệu ENSO

Trong nghiên cứu này, các đợt ENSO được xác định theo số liệu trung bình 3 tháng chuẩn sai nhiệt độ nước biển (SSTA) trung bình tháng trong khu vực 3,4 dựa trên dữ liệu NOAA ERSST trong thời kỳ 1960 – 2009 Số liệu SSTA khu vực El Nino 3-4 được lấy từ Trung tâm Quốc gia nghiên cứu về Môi trường thuộc Mỹ (NCEP) Năm El Nino là năm khi giá trị trung bình năm của SSTA (SSTAn) bằng hoặc lớn hơn 0,50 (SSTAn, E); năm La Nina là năm khi SSTAn -0,50 (SSTAn,L)

Theo tiêu chí trên, trong thời kỳ 1961 – 2009 đã lựa chọn được 10 năm có hiện tượng El Nino (1965, 1969, 1972, 1982, 1983, 1987, 1991, 1992, 1997, 2002) và 11 năm có hiện tượng La Nina (1964, 1970, 1971, 1973, 1974, 1975, 1988, 1989, 1999,

2000, 2008)

2 Quan hệ giữa một số đặc trưng dòng chảy với chỉ số SSTA

Để nhận định mối quan hệ giữa một số đặc trưng dòng chảy: Dòng chảy năm (Qn), trung bình mùa lũ (Ql), trung bình mùa cạn (Qc) với chỉ số SSTA trung bình năm (SSTAn) trong các năm El Nino và La Nina đã tính toán hệ số tương quan (tuyến tính) giữa các đặc trưng dòng chảy nêu trên với chỉ số SSTA

Kết quả tính hệ số tương quan được đưa ra trong bảng 1

Trang 2

Bảng1 Hệ số tương quan giữa các đặc trưng dòng chảy với chỉ số SSTA trung

bình năm trong các năm El Nino và La Nina

Trạm thủy

Diện tích lưu vực (km 2 )

Hệ số tương quan giữa chỉ số SSTAn với lưu lượng trung bình

Hệ số tương quan giữa chỉ

số SSTAn với lưu lượng

trung bình

Lai Châu Đà 33800 -0.09 -0.03 -0.35 -0.19 -0.19 -0.14

Tạ Bú Đà 45900 -0.34 -0.16 -0.44 0.12 0.13 0.02 Hòa Bình Đà 51800 -0.42 -0.22 -0.31 0.24 0.24 0.05 Nậm Giàng Nậm La 6740 -0.17 -0.17 -0.06 0.18 0.14 0.12 Bản Củng Nậm Mu 2620 -0.41 -0.34 -0.33 0.07 0.08 -0.01 Nậm Mức Nậm Mức 2680 -0.10 0.20 0.16 0.14 0.22 -0.02 Lào Cai Thao 41000 0.14 0.33 -0.05 0.04 0.02 0.10 Yên Bái Thao 48000 -0.02 0.44 -0.37 0.18 0.14 0.30 Đạo Đức Lô 8298 -0.13 -0.06 0.13 0.23 0.14 0.40 Hàm Yên Lô 11900 -0.02 0.01 0.06 0.20 0.16 0.26 Ghềnh Gà Lô 29600 -0.12 0.01 0.06 0.09 0.09 0.23

Vụ quang Lô 36790 -0.04 -0.04 0.02 0.15 0.11 0.24 Chiêm hóa Gâm 16500 -0.06 0.01 0.17 0.05 0.06 -0.12

Na Hang Gâm 14972 -0.06 0.04 0.17 -0.03 0.01 -0.12 Bảo Yên Chảy 4960 0.08 -0.07 0.23 0.46 0.48 0.29 VĩnhYên Nghĩa Đô 138 0.17 0.19 -0.13 0.38 0.30 0.56

Từ bảng 1 có thể rút ra một số nhận xét bước đầu dưới đây:

1) Trong những năm El Nino

 Đối với dòng chảy năm :

- Ở phần lớn các sông (trừ sông Chảy) hệ số tương quan (R) đều nhỏ hơn 0, tức quan hệ lưu lượng trung bình năm với SSTAn trong những năm El Nino (Qn,E = f(SSTAn,E) là quan hê nghịch biến với xu thế El Nino càng mạnh thì sẽ làm giảm Qn càng nhiều, El Nino làm giảm dòng chảy năm

- Giá trị tuyệt đối của R tương đối lớn ở sông Đà - (0,10- 0,42), còn các sông khác thường dưới – 0,15; điều này cho thấy, quan hệ tương quan tuyến tính Qn,E

= f(SSTAn,E) không được chặt hoặc không có tương quan tuyến tính và do đó, trừ một số sông ra, sự ảnh hưởng của El Nino đến dòng chảy năm là không lớn

Trang 3

- Có tới 8 trong số 16 trạm thủy văn, chủ yếu ở sông Đà (5 trạm) và một số trạm trên sông Lô, sông Chảy có R < 0; điều này cho thấy, El Nino có thể làm giảm dòng chảy mùa lũ

- Giá trị tuyệt đối của R tương đối lớn ở dòng chính sông Thao (0,33-0,44), sông

Đà - (0,17-0,34), tương đối nhỏ ở sông Lô, sông Chảy

 Đối với dòng chảy mùa cạn :

- Có tới 8 trong số 16 trạm thủy văn, tập trung ở sông Đà (5 trạm), sông Thao (2 trạm), có R < 0; nhưng R > 0 ở sông Lô, sông Gâm và sông Chảy;

- So với hai quan hê nêu trên, giá trị tuyệt đối R của quan hệ Qc,E = f(SSTAn,E) lớn hơn: -(0,31-0,44) trong sông Đà, -0,37 tại Yên Bái trên sông Thao, sông Gâm (0.17) và sông Chảy tại Bảo Yên (0,23), dòng chính sông Lô tương đối nhỏ (0,02-0,13)

- Tương tự Qn và Qlũ, xu thế và mức độ ảnh hưởng của El Nino đến Qcạn ảnh hưởng khác nhau giữa các sông Trên các sông Đà, Thao, Lô với R<0 có thể làm giảm dòng chảy, tuy nhiên tại các sông Chảy, Gâm và Lô lại cho kết quả ngược lại

2) Trong những năm La Nina

 Đối với dòng chảy năm :

- Giá trị R ở phần lớn các trạm đều lớn hơn 0, trừ trạm Lai Châu (-0,17) và trạm Na Hang (-0,03), chứng tỏ quan hệ Qn,L = f (SSTAn,L) là đồng biến trên phần lớn các sông, tức La Nina càng mạnh thì càng có xu thế làm tăng Qn;

- Giá trị R biến đổi trong phạm vi -0,03 – 0,46, tương đối lớn ở sông Đà, sông Chảy, hạ lưu sông Thao và trung lưu sông Lô, tương đối nhỏ ở sông Gâm (0,05 tại Chiêm Hóa);

 Đối với dòng chảy mùa lũ :

- Quan hệ Ql,L = f (SSTAn,L) ở hầu hết các sông là quan hê đồng biến với R, R >

0, trừ trạm Lai Châu (-0,19);

- Phạm vi biến đổi của R từ -0,19 tại Lai Châu đến 0,46 tại Bảo Yên, tương đối lớn ở sông Chảy (0,30-0,46), sông Đà, tương đối nhỏ ở sông Gâm

- Xu thế và mức độ ảnh hưởng của La Nina đến Qlũ cũng tương tự như trong trường hợp ảnh hưởng tới Qnăm

 Đối với dòng chảy mùa cạn :

- Quan hệ Qc,L = f (SSTAn,L) ở phần lớn các trạm là đồng biến với R > 0, trừ sông Gâm và hai trạm Lai Châu, Nậm Mức trong lưu vực sông Đà có R < 0;

- Phạm vi biến đổi của R từ -0,14 tại trạm Lai Châu trên sông Đà đến 0,56 tại trạm Vĩnh Yên trên sông Nghĩa Đô (một nhánh của sông Chảy); tương đối lớn

ở sông Chảy (0,29 - 0,56), sau đó đến sông Thao, sông Lô, sông Gâm, nhưng

tương đối nhỏ ở sông Đà

Trang 4

Từ phân tích trên cho thấy, quan hệ giữa một số đặc trưng dòng chảy với chỉ số SSTA trung bình năm là khác nhau, giữa các sông, thậm chí trên cùng triền sông và giữa các đợt El Nino và La Nina Nhìn chung, mức độ tương quan tuyến tính không cao với

R thường dưới 0,5 với sai số quân phương khá lớn Tuy nhiên, El Nino có xu thế làm giảm dòng chảy còn La Nina thì có xu thế làm tăng dòng chảy ở phần lớn các sông

3 Ảnh hưởng của ENSO đến dòng chảy

Mức độ ảnh hưởng của ENSO đến dòng chảy sông suối có thể được đánh giá bằng sự chênh lệch giữa các đặc trưng dòng chảy trong các năm El Nino, La Nina với giá trị trung bình trong tất cả các năm trung tính (không có hiện tượng ENSO) và ENSO yếu (chỉ số SSTAn nhỏ hơn  0,5)

3.1.Chênh lệch dòng chảy trong các năm El Nino so với dòng chảy trung bình của các năm trung tính

Từ kết quả tính tỷ số của các đặc trưng dòng chảy trong các năm El Nino và La Nina so với giá trị trung bình của các năm trung tính và ENSO yếu tại các trạm thủy văn có thể rút ra một số nhận xét dưới đây:

1) Dòng chảy năm :

 Tỷ số trung bình (tỷ số lưu lượng trung bình trong các năm El Nino so với lưu lượng trung bình các năm trung tính và ENSO yếu – Ktb) đều nhỏ hơn 0 với phạm vi từ -0,2% tại trạm Hàm Yên đến -11,6% tại trạm Nậm Mức, phần lớn dưới -3,5% giá trị trung bình của Qn,tt;

 Số năm có Ktb < 0 (tức lưu lượng trung bình năm trong năm El Nino (Qn,E) nhỏ hơn lưu lượng trung bình trong năm trung tính (Qn,tt)) khoảng 40-70% tổng số năm El Nino (10 năm), phần lớn khoảng 60-70%; điều này cho thấy, không phải tất cả các năm El Nino đều có Qn,E thiên nhỏ so với lưu lượng trung bình năm của các năm trung tính (Qn,tb,tt) mà có thể lớn hơn do sự ảnh hưởng của các đợt El Nino và giai đoạn phát triển của chúng đến dòng chảy sông là khác nhau;

 Tỷ lệ lớn nhất (Kmax) khoảng 14-33%, thường xuất hiện vào các năm 1991,

2002, ở một vài trạm có thể xuất hiện vào năm 1997 hay 1972;

 Tỷ lệ nhỏ nhất (Kmin) khoảng -(10-30)%, thường xuất hiện vào năm 1992,

1987

2) Dòng chảy mùa lũ:

 Tỷ số trung bình đều nhỏ hơn 0 (Ktb < 0) ở hầu hết các trạm thủy văn với phạm

vi biến đổi –(1-6,8)% ;

 Trong từng trạm, số năm có tỷ số nhỏ hơn 0 thường chiếm 50-80% tổng số năm;

 Tỷ số Kmax khoảng (11-37,5)%, thường xuất hiện vào năm 1991 ở sông Đà, sông Lô (1997, 2002) hoặc 1972 ở sông Chảy;

Trang 5

 Tỷ số Kmin biến đổi trong phạm vi –(17-40)%, thường xuất hiện vào năm 1992

ở sông Đà, sông Thao, sông Lô, hay năm 1965 ở sông Lô, năm 1987 ở sông Chảy

3) Dòng chảy mùa cạn :

 Tỷ số Ktb biến đổi trong phạm vi -14,2% đến 7,7%, ở phần lớn các trạm lớn hơn 0, trừ 3 trạm Bản Củng, Nậm Mức và Bảo Yên nhỏ hơn 0 (- (1,8-14,2%));

 Số năm có tỷ số nhỏ hơn 0 ở từng trạm chiểm khoảng 40-80% tổng số năm;

 Tỷ số Kmax biến đổi trong phạm vi 19-80%, lớn nhất ở trạm Nậm Mức (76,9%), thường xuất hiện vào hai năm 1983, 2002;

 Tỷ số Kmin biến đổi trong phạm vi – (13 – 42%), lớn nhất cũng ở trạm Nậm Mức (-42,3%), thường xuất hiện vào các năm 1969, 1991,1992

4) Dòng chảy ba tháng I-IV:

 Tỷ số trung bình biến đổi trong phạm vi từ -14,1% đến 10,6%, trong đó có 60% tổng số trạm có Ktb < 0; có tới 30-60% tổng số năm có Ktb < 0;

 Tỷ số Kmax biến đổi trong phạm vi từ 18,6% tại trạm Nậm Giàng đến 128,7% tại trạm Bảo Yên, phần lớn 30-80%, khá lớn ở các sông Lô, Gâm, Chảy (50-130%), tương đối nhỏ ở sông Đà (20-30%, xuất hiện vào các năm 2002 ở sông

Đà, năm 1997 ở các sông Thao, Lô, Gâm, Chảy;

 Tỷ số Kmin từ -13% tại trạm Yên Bái đến -65,3% tại trạm Bảo Yên, xảy ra vào các năm 1969 ở các sông Lô, Gâm, năm 1991 ở sông Đà và sông Thao

3.2 Chênh lệch dòng chảy trong các năm La Nina so với dòng chảy trung bình của các năm trung tính

1) Dòng chảy năm :

Ở hầu hết các trạm đều có Ktb > 0 với phạm vi biến đổi 4-15%, tuy nhiên,

trong số các năm La Nina ở từng trạm cũng có thể có 18-45% tổng số năm (11 năm) có Qn,L < Qn,tb,tt;

 Tỷ số Kmax biến đổi trong phạm vi 25-80%, xuất hiện vào các năm 2008, 1971;

 Tỷ số Kmin biến đổi trong phạm vi – (6-30)%, xuất hiện vào năm 1989 ở sông

Đà, sông Lô hay năm 2000 trên các sông khác;

2) Dòng chảy mùa lũ :

 Tỷ số Ktb biến đổi trong phạm vi 4,5-18,6%, phần nhiều dưới 10%;

 Tỷ số Kmax thường khoảng 44-95%, xuất hiện vào các năm 1971, 2008 1974;

 Tỷ số Kmin biến đổi trong phạm vi 0,8-17%, xuất hiện vào các năm 1989 ở sông Đà, sông Thao hay năm 1988 ở các sông Lô, Gâm,Chảy

3) Dòng chảy mùa cạn :

Trang 6

 Tỷ số Ktb biến đổi trong phạm vi 0,8-17%, có tới 30-45% tổng số năm La Nina

ở từng trạm có Qn,L nhỏ hơn Qn,trung tính, riêng ở trạm Nậm Mức có tới 72,7

% tổng số năm;

 Tỷ số Kmax biến đổi trong phạm vi 27-78%, xảy ra vào các năm 1999, 2008, ở một số sông xuất hiện vào các năm 1964, 1973, 1974,

 Tỷ số Kmin biến đổi trong phạm vi – (10-40%), xảy ra vào năm 1989, 2000

3.3 Chênh lệch dòng chảy giữa năm El Nino so với năm La Nina

Kết quả tính toán tỷ số chênh lệch lưu lượng trung bình năm trung bình trong những năm El Nino (10 năm) so với lưu lượng trung bình năm trung bình những năm

La Nina (11 năm) tại các trạm thủy văn nghiên cứu cho thấy:

 Tỷ số trung bình của các đặc trưng Qn và Ql ở các sông đều nhỏ hơn 0 khoảng -(5- 14)% đối với Qn và –(7-18,5%) đối với Ql, tương đối lớn ở các sông: Nậm Mức, Thao, dòng chính sông Lô (-(10-14%), tương đối nhỏ hơn ở sông Đà và các sông khác;

 Đối với dòng chảy mùa cạn: Chỉ có một số trạm trên sông Thao (Lào Cai, Yên Bái) và một số nhánh của sông Đà (như Bản Củng, Nậm Mức,), sông Nghĩa Đô (Vĩnh Yên) có tỷ số nhỏ hơn 0 khoảng –(5-15%), còn các trạm khác thì lớn hơn

0 (Qc,E > Qc,L);

 Đối với dòng chảy các tháng:

- Các tháng V, VI,VII, IX có Qth, E < Qth,L, với tỷ số chênh lệch –(7-45%) vào tháng V, - (16-38,5%) vào tháng VI và –( 10-28%) vào tháng IX, tương đối lớn sông Đà, sau đó đến sông Thao và sông Lô và các sông khác;

- Các tháng I,II, III ở phần lớn các trạm thì Qth, E > Qth,L ở hầu hết các trạm, trừ hai trạm Nậm Mức và Vĩnh Yên;

- Tháng IV: Qth, E < Qth,L ở sông Đà và sông Nghĩa Đô, còn các sông khác thì có Qth, E > Qth,L;

- Tháng VIII, trừ sông Thao ra còn các sông khác đều có Qth, E > Qth,L;

- Tháng X: Trừ sông Đà ra, các sông khác có Qth, E > Qth,L;;

- Tháng XI :Trừ sông Đà và sông Thao có Qth, E < Qth,L, còn các sông khác

Qth, E > Qth,L;;

- Tháng XII: Sông Thao và sông Nậm Mức có Qth, E < Qth,L, , còn các sông khác Qth, E > Qth,L,

Như vậy, chênh lệch dòng chảy trung bình trong các năm El Nino so với các năm La Nina là khác nhau giữa các sông và giữa các tháng trong năm trên cùng dòng sông, dẫn đến sự khác nhau về các đặc trưng dòng chảy năm, mùa lũ và mùa cạn Nguyên nhân này có thể là do sự ảnh hưởng của ENSO đến dòng chảy là khác nhau giữa các giai đoạn của ENSO, giữa các đợt ENSO với cường độ và độ dài khác nhau

và sự tương tác giữa ENSO với các yếu tố khí hậu, đặc biệt là mưa trong các lưu vực

Trang 7

4 Phân phối dòng chảy trong năm ENSO

Dưới đây xem xét ảnh hưởng của ENSO đến sự phân phối dòng chảy thập niên, chủ yếu là xem xét thời gian xuất hiện mùa lũ, tỷ lệ dòng chảy mùa lũ, mùa cạn và ba tháng liên tục nhỏ nhất (Q3th,min) so với tổng lượng dòng chảy năm

Từ kết quả tính toán có thể rút ra một số nhận xét sau:

1) Đối với dòng chảy mùa lũ :

 Nhìn chung, thời gian xuất hiện mùa lũ trong những năm El Nino và La Nina không có sự sai lệch lớn, nhưng mùa lũ trong năm El Nino có xu thế xuất hiện muộn và ngắn hơn so với năm La Nina, điển hình như mùa lũ năm 1997 chỉ kéo dài 4 tháng trên sông Thao (trạm Yên Bái) và các sông Lô, Gâm, Chảy; còn trong những năm La Nina thì mùa lũ có xu thế xuất hiện sớm hơn và kéo dài hơn so với những năm El Nino;

 Tỷ lệ dòng chảy mùa lũ so với dòng chảy năm trong những năm năm El Nino

có xu thế nhỏ hơn so với những năm La Nina

2) Đối với dòng chảy ba tháng liên tục nhỏ nhất:

 Thời gian xuất hiện Q3th,min trong những năm El Nino, thời gian xuất hiện Q3th,min có xu thể muộn hơn so với những năm La Nina, thường vào các tháng III-V hay II-IV, còn trong những năm La Nina lại có xu thế xuất hiện sớm hơn,

thường vào các tháng I-III hay II-IV;

 Tỷ lệ Q3th, min so với dòng chảy năm trong những năm El Nino có xu thế lớn hơn

so với những năm La Nina; điều này có thể là do tổng lượng dòng chảy năm trong những năm El Nino giảm còn trong năm La Nina tăng lên do tác động của

ENSO

 Nhìn chung, so với những năm La Nina thì các đặc trưng dòng chảy trong năm

El Nino nhỏ hơn, tuy nhiên, cũng có thể dòng chảy trong năm El Nino lớn hơn, thí dụ như đặc trưng dòng chảy mùa cạn và ba tháng dòng chảy liên tục nhỏ

nhất ở sông Lô, Gâm và Chảy lớn hơn so với những năm La Nina

5 Nhận xét chung

Từ kết quả tính toán và phân tích nêu trên có thể đưa ra một số nhận định ban đầu dưới đây:

1 Quan hệ giữa các đặc trưng dòng chảy với chỉ số SSTAn là phức tạp và khác nhau giữa các năm El Nino và La Nina, giữa các đặc trưng dòng chảy và giữa các sông; nhìn chung, mối quan hệ này kém chặt chẽ, hệ số tương quan thường nhỏ hơn 0,5, với sai số quân phương trung bình cao Điều này cho thấy, mức độ ảnh hưởng của ENSO đến dòng chảy trong các lưu vực sông Thao, Đà và Lô là không lớn

2 So sánh các đặc trưng dòng chảy trong những năm El Nino, La Nina với giá trị trung bình trong những năm trung tính và ENSO yếu cho thấy, giá trị trung bình trong những năm El Nino của các đặc trưng Qn và Ql đều nhỏ hơn giá trị trung bình của Qtt Nếu xét từng năm thì không phải dòng chảy trong tất cả các năm El Nino đều nhỏ hơn giá trị trung bình của Qtt, mà có thể lớn hơn hay nhỏ hơn với mức độ khác nhau Giá

Trang 8

Qtt với mức độ khác nhau giữa các đặc trưng dòng chảy và giữa các sông, mức độ thiên lớn có thể tới 15-95% thường xuất hiện vào các năm 1997, 1983, 1991, 2002, mức độ thiên nhỏ nhiều nhất có thể tới -(10-40)%, thường xuất hiện vào các năm

1987, 1969, 1991

3 So sánh giá trị trung bình trong những năm El Nino với những năm La Nina cho thấy, các đặc trưng dòng chảy trung bình trong những năm El Nino đều nhỏ hơn giá trị trung bình trong những năm La Nina, riêng Qc và Q3thmin ở một số trạm thì có hiện tượng ngược lại

4 Nhìn chung, mùa lũ trong năm El Nino có xu thế xuất hiện muộn và ngắn hơn

so với năm La Nina, tỷ lệ dòng chảy mùa lũ so với dòng chảy năm trong những năm năm El Nino có xu thế nhỏ hơn so với những năm La Nina; thời gian xuất hiện Q3th,min

trong những năm El Nino có xu thể muộn hơn so với những năm La Nina, thường vào các tháng III-V hay II-IV

5 Mức độ ảnh hưởng của ENSO đến dòng chảy là khác nhau giữa các đặc trưng dòng chảy và giữa các sông, tùy thuộc vào cường độ, thời gian của các giai đoạn của từng đợt El Nino và La Nina Nhìn chung, các đợt El Nino mạnh có xu thế làm giảm dòng chảy, còn các đợt La Nina mạnh thì làm tăng dòng chảy so với năm bình thường không có hiện tượng ENSO

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lưu Lê và nnk (2011), “Nghiên cứu ảnh hưởng của các giai đoạn phát triển và suy thoái của ENSO đến lượng mưa mùa hè ở tỉnh Vân Nam”, Tạp chí Khí tượng

nhiệt đới, Trường Đại học Vân Nam, kỳ 2, tập 27, tháng 4 năm 2011

2 Trần Thanh Xuân và nnk, “Ảnh hưởng của ENSO đến các yếu tố thủy văn và tài nguyên nước ở Việt Nam”, Báo cáo tổng kết đề tài nhánh của đề tài nghiên cứu

khoa học độc lập cấp Nhà nước:”Tác động của ENSO đến thời tiết, khí hậu, môi trường và kinh tế xã hội ở Việt Nam”, Hà Nội, 2002

INITIAL COMMENTS ON THE INFLUENCE OF ENSO TO THE FLOW OF DA RIVER, THAO RIVER AND LO RIVER

La Thanh Ha, Tran Thanh Xuan, Van Thi Hang

Viiet Nam Institute of meteorology, Hydrology and Environment

ENSO is a phenomenon caused weather anomalies and affected flows of rivers and streams However, the impact of ENSO to the river flow is very complex, depending on ENSO phases as well as the interaction between ENSO and other atmospheric circulation and the buffer conditions This article would like to introduce initial studies on the impact of ENSO to the flow of Da river, Thao river and Lo river in order to provide scientific basis for forecasting and inter-reservoir operation in Red River system, especially for the rules of extracted volume of water early in the reservoir in El Niño years to limit the degree of scarcity, shortage of water supply needs in Red River Delta

Ngày đăng: 10/09/2015, 09:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w