CẬP NHẬT MÔ HÌNH DỰ BÁO LŨ TRÊN HỆ THỐNG SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH VÀ MỘT SỐ KẾT QUẢ DỰ BÁO LŨ NĂM 2012 Hoàng Văn Đại, Đặng Thu Hiền, Phan Văn Thành, Hoàng Thị Thảo, Nguyễn Thị Bích, Đặng T
Trang 1CẬP NHẬT MÔ HÌNH DỰ BÁO LŨ TRÊN HỆ THỐNG SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH VÀ MỘT SỐ KẾT QUẢ DỰ BÁO LŨ NĂM 2012
Hoàng Văn Đại, Đặng Thu Hiền, Phan Văn Thành, Hoàng Thị Thảo,
Nguyễn Thị Bích, Đặng Thị Lan Phương
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
Dự báo lũ là vấn đề luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt trong công tác phòng tránh
và giảm nhẹ thiên tai Trong công tác nghiên cứu dự báo lũ, dự báo lũ tác nghiệp cần thiết phải nghiên cứu nâng cao độ chính xác của các bản tin dự báo Bài báo này trình bày một số kết quả cập nhật mô hình dự báo lũ trên hệ thống sông Hồng – Thái Bình Kết quả cho thấy, tại các vị trí dự báo thử nghiệm với thời gian dự kiến 24 giờ năm 2012 đều có mức đảm bảo
1 Đặt vấn đề
Hệ thống sông Hồng-Thái Bình là một trong 7 hệ thống sông chính của Việt nam Trong những năm qua, công tác dự báo lũ trên hệ thống này bên cạnh việc nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn cho công tác phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai còn nhằm chủ động trong việc nâng cao năng lực dự báo trên hệ thống sông Tuy nhiên trong quá trình dự báo tác nghiệp đã gặp không ít khó khăn do trong thời gian gần đây có sự thay đổi về các công trình, địa hình lòng dẫn cũng như đặc điểm lũ tương đối thấp Cụ thể, trong những năm gần đây, trên hệ thống sông Hồng – Thái Bình có các hồ chứa Sơn
La, Tuyên Quang và tương lai có hồ chứa Lai Châu đi vào vận hành Do vậy, cần tiến hành cập nhật mạng sông trong đó có thể mô tả được các hồ chứa và quy trình vận hành Đồng thời đối với khu vực hạ lưu do số liệu địa hình lòng dẫn đã có sự thay đổi nhiều so với năm 2000, nên cần thiết phải cập nhật những thông tin này trong hệ thống các mô hình
Để đáp ứng yêu cầu quản lý và áp dụng những kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường được Bộ TN&MT giao thực hiện công tác dự báo lũ hàng năm Quá trình thực hiện cho thấy bước đầu công tác dự báo lũ bằng bộ mô hình MIKE đã đem lại những kết quả nhất định Tuy vậy, việc áp dụng các mô hình luôn đòi hỏi phải thường xuyên cập nhật những thông tin về sơ đồ tính cũng như cần cập nhật các số liệu địa hình lòng dẫn, cập nhật bộ tham số mô hình
để nâng cao chất lượng dự báo
Do vậy, cần từng bước nâng cao chất lượng dự báo lũ bằng mô hình MIKE 11 cho hệ thống sông Hồng-Thái Bình nhằm bảo đảm độ tin cậy, đáp ứng yêu cầu dự báo tác nghiệp Nghiên cứu này sẽ trình bày các kết quả cập nhật sơ đồ tính, cập nhật tham
số mô hình, và kết quả dự báo thử nghiệm cho mùa lũ năm 2012
2 Các công cụ tính toán
Bộ mô hình MIKE DHI (MIKE NAM, MIKE 11, MIKE 21) được lựa chọn để giải quyết bài toán dự báo lũ hệ thống Mô hình MIKE 11 được ứng dụng trong bài toán dự báo lũ và vận hành hồ chứa, mô hình MIKE NAM thực hiện dự báo dòng chảy
do mưa ở sông, MIKE 21 với hệ phương trình sử dụng là Navier – Stock được sử dụng
để dự báo biên triều
Trang 23 Cập nhật dữ liệu và sơ đồ tính
Các tài liệu sử dụng bao gồm số liệu mưa thời đoạn, mực nước, lưu lượng nước tại các trạm trong lưu vực, mực nước trạm Hòn Dấu được sử dụng để tính toán các biên mực nước tại các cửa sông
Sơ đồ thủy văn bao gồm lưu vực sông Đà (6 lực vực bộ phận), lưu vực sông
Thao (8 lưu vực bộ phận), lưu vực sông Lô – Gâm (8 lưu vực bộ phận), và các lưu vực sông Cầu, Thương, Lục Nam Tuy nhiên hiện nay, do hồ Sơn La đi vào vận hành và tương lai là hồ Lai Châu, do đó nghiên cứu này đã tiến hành cập nhật lại sơ đồ tính thủy văn bằng việc phân chia lại lưu vực tính đến hồ Lai Châu và hồ Sơn La Đối với sông Gâm cập nhật hồ Tuyên Quang tại vị trí thượng lưu của trạm Na Hang
Cập nhật sơ đồ thủy lực (Hình 1): trên dòng chính sông Đà tiến hành kéo dài
mạng thủy lực sông Đà từ Mường Tè đến hết hồ Sơn La, từ hạ lưu hồ Sơn La đến đập thủy điện Hòa Bình Trên sông Nậm Nam mạng thủy lực bắt đầu từ trạm thủy văn Nậm Giàng đến vị trí nhập lưu với sông Đà Trên sông Nậm Mu từ Bản Củng Trên sông Gâm, kéo dài mạng tính toán thủy lực đối khu vực lòng hồ Tuyên Quang từ Bắc
Mê đến đập thủy điện Tuyên Quang Các đoạn sông từ các trạm thủy văn giáp cửa sông được kéo dài ra tới biển để có thể sử dụng được mô hình triều Bổ sung sông Tranh, sông Ruột Lợn, sông Mới thuộc Hải Phòng Do cửa sông Cấm cũ đã bị lấp, hiện tại toàn bộ dòng chảy sông Cấm đổ vào sông Đá Bạch trước khi đổ ra biển nên trong sơ đồ mới đã bỏ cửa sông Cấm Đồng thời xóa bỏ toàn bộ khu phân chậm lũ trên
hệ thống sông Hồng theo Nghị định 04/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 về “Thực hiện bãi bỏ việc sử dụng khu phân chậm lũ, làm chậm lũ trên hệ thống sông Hồng”
Cập nhật dữ liệu địa hình (Hình 2-4): Cập nhật toàn bộ mặt cắt trên hệ thống
sông Đà từ Mường tè đến Tạ Bú có 47 mặt cắt, từ Tạ Bú đến đập Hòa Bình có 56 mặt cắt Trên sông Nậm Nam có 8 mặt cắt, sông Nậm Mu có 3 mặt cắt đo năm 2011; Cập nhật địa hình mặt cắt ngang lòng hồ Tuyên Quang từ trạm thủy văn Bắc Mê đến đập
và cập nhật 13 mặt cắt trên sông Đuống từ vị trí nối với sông Hồng đế trạm thủy văn Thượng Cát, đo năm 2008; Cập nhật mặt cắt trên sông Hồng từ Cầu Long Biên đến Khuyến Lương với tổng số 106 mặt cắt, đo năm 2008; Cập nhật dữ liệu mặt cắt ngang địa hình cho sông Hồng từ Ba Lạt ra đến cửa (3 mặt cắt), sông Ninh Cơ có 3 mặt cắt, sông Đáy có 3 mặt cắt, dữ liệu đo năm 2009; Cập nhật dữ liệu mặt cắt ngang mới đo năm 2009 trên tất cả các sông thuộc Hải Phòng bao gồm 200 mặt cắt Trong đó bao gồm cả các nhánh sông chưa có trong sơ đồ cũ Tất cả các sông này đều được kéo dài tới biển
Hình 1 Sơ đồ tính toán thủy lực trên hệ
thống sông HTB (cập nhật)
Hình 2 Các nhánh sông được cập nhật
mặt cắt trên sông Đà
Trang 3Hình 3 Các nhánh sông cập nhật mặt cắt
mới tại khu vực Hải Phòng
Hình 4 Các nhánh sông cập nhật mặt cắt
trên sông Hồng
4 Kết quả và thảo luận
4.1 Hiệu chỉnh và kiểm nghiệm mô hình hồ chứa
Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm nghiệm dựa vào số liệu thời đoạn 6 giờ đối với các lưu vực có trạm thủy văn khống chế Các lưu vực còn lại thông số được lấy theo lưu vực tương tự Quá trình hiệu chỉnh và kiểm nghiệm mô hình thủy văn đã sử dụng số liệu mưa, lưu lượng các tháng mùa lũ từ năm 2006 đến năm 2012 với thời đoạn 6 giờ
Kết quả hiệu chỉnh cho thấy hầu hết mức hiệu quả của mô hình (chỉ số Nash) đều đạt trên 0.70 (Bảng 1, Hình 5) Tuy vậy, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy do hệ thống trạm quan trắc mưa phát báo phục vụ dự báo tác nghiệp khá ít nên thường những trận mưa có phân bố đều trên bề mặt lưu vực thường cho kết quả mô phỏng tốt hơn
Bảng 1 Kết quả đánh giá chỉ số Nash cho các năm hiệu chỉnh và kiểm nghiệm mô
hình mưa - dòng chảy
Hiệu
Sông Đà Đập TĐ Sơn La 0.78 0.72
Sông Đà Tạ Bú 0.75 0.79 0.77 0.85 0.75 0.89 Sông Đà Đập TĐ Hòa Bình 0.82 0.85 0.89 0.81 0.79 0.84 Sông Thao Phú Thọ 0.79 0.77 0.75 0.89 0.81 0.82 Sông Lô Vụ Quang 0.78 0.7 0.72 0.75 0.8 0.77 Sông Gâm Đập TĐ Tuyên Quang 0.72 0.77 0.68 0.71
Sông Cầu Thái Nguyên 0.76 0.79 0.75 0.78 0.72 0.75 Sông Thương Cầu Sơn 0.81 0.82 0.8 0.85 0.79 0.73
Đường quá trình mực nước
hiệu chỉnh mô hình tại Lai
Châu, Tạ Bú năm 2006
Đường quá trình mực nước kiểm định tại Lai Châu, Tạ
Bú năm 2009
Đường quá trình lưu lượng kiêm định đến hồ Hòa Bình,
năm 2010
Trang 44.2 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy lực
Quá trình hiệu chỉnh và kiểm nghiệm mô hình thủy lực được thực hiện dựa trên các chuỗi số liệu thực đo mùa lũ các năm 2006, 2007, 2008, 2009, 2010 và năm 2011
Sử dụng phương pháp kiểm tra chéo nhằm xác định một bộ tham số phù hợp đối với 6 trận lũ Trong đó, quá trình tìm bộ tham số là sử dụng một năm hiệu chỉnh và kiểm định cho các năm còn lại, tương tự như vậy khi dịch chuyển các năm tiếp theo Kết quả cho một bộ tham số cho phép mô phỏng gần đúng nhất đối với tất cả các trận
lũ
Kết quả hiệu chỉnh bộ tham số mô hình cho thấy sự phù hợp giữa tính toán và thực đo tại tất cả các vị trí kiểm tra, chỉ số NASH đều lớn hơn 0,9 (Bảng 2, Hình 6) Tại các trạm không ảnh hưởng của thủy triều thì mực nước tính toán và thực đo khá phù hợp và chỉ số NASH khá lớn Riêng đối với trạm Phả Lại, trạm ảnh hưởng bởi thủy triều thì có sự sai khác khá lớn, tuy vậy chủ yếu là do sai số pha, với sai số này trong quá trình dự báo tác nghiệp có thể sử dụng phương pháp cập nhật sai số có thể nâng cao độ chính xác dự báo
Bảng 2 Kết quả đánh giá chỉ số Nash tại các trạm trên hệ thống sông Hồng – Thái
Bình
Năm Sơn Tây Hà Nội Phả Lai Tuyên
Quang
Hồ Sơn
La
Hồ Hòa Bình
Hồ Tuyên Quang
Hiệu chỉnh 2006 0.95 0.96 0.93 0.94 0.93 0.90
Kiểm định
2007 0.87 0.85 0.76 0.94 0.94 0.92
2008 0.94 0.89 0.90 0.92 0.91 0.93
2009 0.61 0.67 0.72 0.90 0.94 0.89
2010 0.58 0.67 0.65 0.92 0.90 0.90
2012 0.47 0.49 0.53 0.93 0.92 0.91 0.90 Hiệu chỉnh 2007 0.97 0.96 0.94 0.94 0.93 0.90
Kiểm định 2006 0.79 0.92 0.85 0.94 0.94 0.92
2008 0.81 0.94 0.87 0.92 0.91 0.93
Đường quá trình lưu lượng
hiệu chỉnh đến hồ Tuyên
Quang, năm 2011
Đường quá trình lưu lượng kiêm định đến hồ Sơn La,
năm 2010
Đường quá trình lưu lượng hiệu chỉnh đến hồ Sơn La,
năm 2011 Hình 5: Một số kết quả hiệu chỉnh và kiểm nghiệm mô hình hồ chứa
Trang 5Năm Sơn Tây Hà Nội Phả Lai Tuyên
Quang
Hồ Sơn
La
Hồ Hòa Bình
Hồ Tuyên Quang
2009 0.91 0.92 0.86 0.90 0.94 0.89
2010 0.92 0.64 0.61 0.92 0.90 0.90
2012 0.48 0.43 0.45 0.93 0.91 0.90 Hiệu chỉnh 2008 0.95 0.93 0.92 0.94 0.93 0.90
Kiểm định
2006 0.78 0.92 0.88 0.94 0.94 0.92
2007 0.93 0.90 0.87 0.92 0.91 0.93
2009 0.91 0.81 0.72 0.90 0.94 0.89
2010 0.90 0.56 0.47 0.92 0.90 0.90
2012 0.35 0.38 0.31 0.93 0.91 0.90 Hiệu chỉnh 2009 0.93 0.94 0.90 0.94 0.93 0.90
Kiểm định
2006 0.81 0.76 0.73 0.94 0.94 0.92
2007 0.42 0.44 0.41 0.92 0.91 0.93
2008 0.88 0.91 0.87 0.90 0.94 0.89
2010 0.90 0.42 0.38 0.92 0.90 0.90
2012 0.73 0.47 0.51 0.93 0.91 0.90 Hiệu chỉnh 2010 0.94 0.92 0.87 0.94 0.93 0.93 0.90
Kiểm định
2006 0.84 0.55 0.58 0.94 0.94 0.92
2007 0.51 0.64 0.53 0.92 0.91 0.93
2008 0.78 0.67 0.69 0.90 0.94 0.89
2009 0.61 0.54 0.52 0.92 0.90 0.90
2012 0.79 0.62 0.65 0.93 0.91 0.90 Hiệu chỉnh 2012 0.89 0.90 0.74 0.94 0.93 0.90
Kiểm định
2006 0.77 0.58 0.62 0.94 0.94 0.92
2007 0.71 0.82 0.79 0.92 0.91 0.93
2008 0.88 0.72 0.70 0.90 0.94 0.89
2009 0.86 0.62 0.64 0.92 0.90 0.90
2010 0.85 0.83 0.82 0.93 0.91 0.90
Trang 64.3 Dự báo thử nghiệm
Qua tính toán đánh giá sai số dự báo (Bảng 3) có thể thấy, trong mùa lũ năm
2012 hầu hết các vị trí có kết quả dự báo đạt chất lượng khá cao, được nâng cao hơn rất nhiều so với các mùa lũ trước, đặc biệt là đối với thời gian dự kiến 24 giờ Đối với thời gian dự kiến 24 giờ, tất cả các vị trí đều có mức đảm bảo đạt trên 80%; trong đó,
dự báo mực nước thượng lưu hồ Hòa Bình và Phả Lại có mức đảm bảo lớn nhất đạt 86,8%) Đối với thời gian dự kiến 48 giờ, tất cả các vị trí đều có mức đảm bảo đạt trên 58% Do các số liệu phục vụ dự báo dòng chảy đến hồ Sơn La rất hạn chế nên kết quả
dự báo đối với cả hai thời đoạn còn tương đối thấp Kết quả dự báo thử nghiệm lưu lượng tại các hồ chứa được thể hiện trong Hình 7
Hiệu chỉnh mực nước tại
Sơn Tây, Hà Nội, Phả Lại
2006
Kiểm định mực nước tại Sơn Tây, Hà Nội, Phả Lại,
2008
Kiểm định mực nước tại Sơn Tây, Hà Nội, Phả Lại,
2011
Kiểm định mực nước tại
Sơn Tây, Hà Nội, Phả Lại,
2006
Hiệu chỉnh mực nước tại Sơn Tây, Hà Nội, Phả Lại,
2010
Hiệu chỉnh mực nước tại Sơn Tây, Hà Nội, Phả Lại,
2011 Hình 6 Một số kết quả hiệu chỉnh và kiểm nghiệm mực nước tại khu vực hạ lưu
Mực nước thực đo và dự báo hồ Sơn La năm 2011 - thời gian dự kiến 24 giờ
8500
9000
9500
10000
10500
11000
11500
6/16/2011 6/30/2011 7/14/2011 7/28/2011 8/11/2011 8/25/2011 9/8/2011
Thực đo Dự báo
Mực nước thực đo và dự báo hồ Sơn La năm 2011 - thời gian dự kiến 48 giờ
8500 9000 9500 10000 10500 11000 11500
6/15/2011 6/29/2011 7/13/2011 7/27/2011 8/10/2011 8/24/2011 9/7/2011
Thực đo Dự báo
Mực nước thực đo và dự báo hồ Hòa Bình năm 2011 - thời gian dự kiến 24 giờ
8500 9000 9500 10000 10500 11000 11500
6/15/2011 6/29/2011 7/13/2011 7/27/2011 8/10/2011 8/24/2011 9/7/2011
Thực đo Dự báo
Mực nước thực đo và dự báo hồ Hòa Bình năm 2011 - thời gian dự kiến 48 giờ
8500 9000 9500 10000 10500 11000 11500
Mực nước thực đo và dự báo hồ Sơn La -thời gian
dự kiến 24, 48 giờ
Mực nước thực đo và dự báo hồ Hòa Bình-thời gian
dự kiến 24, 48 giờ
Mực nước thực đo và dự báo hồ Sơn La năm 2011 - thời gian dự kiến 24 giờ
8500
9000
9500
10000
10500
11000
11500
Thực đo Dự báo
Mực nước thực đo và dự báo hồ Sơn La năm 2011 - thời gian dự kiến 48 giờ
8500 9000 9500 10000 10500 11000 11500
Lưu lượng thực đo và dự báo đến hồ Hòa Bình năm 2011 - thời gian dự kiến 24 giờ
0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000
6/14/2011 6/28/2011 7/12/2011 7/26/2011 8/9/2011 8/23/2011 9/6/2011
3 /
Thực đo Dự báo
Lưu lượng thực đo và dự báo đến hồ Hòa Bình năm 2011 - thời gian dự kiến 48
giờ
-2000 0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000
Lưu lượng thực đo và dự báo hồ Sơn La -thời gian
dự kiến 24, 48 giờ
Lưu lượng thực đo và dự báo hồ Hòa Bình -thời gian
dự kiến 24, 48 giờ
Trang 7Bảng 3 Kết quả đánh giá dự báo mùa lũ năm 2012
dự kiến
Số lần
dự báo
Số lần dự báo đúng
Mức đảm bảo (%)
Đà
Q đến
hồ Sơn La
24 giờ 38 15 80.1
48 giờ 38 10 26.3 Mực nước hồ
Sơn La
24 giờ 38 20 52.6
48 giờ 38 12 31.6
Q đến
hồ Hòa Bình
24 giờ 38 33 86.8
48 giờ 38 16 42.1 Mực nước
hồ Hòa Bình
24 giờ 38 32 84.2
48 giờ 38 31 81.6
48 giờ 38 22 57.9
Lô
Tuyên Quang 24 giờ 38 31 81.6
48 giờ 38 24 68.1
Q đến hồ Tuyên Quang
24 giờ 38 32 84.2
48 giờ 38 26 68.4 Mực nước hồ
Tuyên Quang
24 giờ 38 24 63.2
48 giờ 38 22 57.9
48 giờ 38 27 71.1
5 Kết luận và kiến nghị
Nghiên cứu đã bổ sung, cập nhật những thay đổi cơ bản về sơ đồ thủy lực hệ thống sông Hồng-Thái Bình, trong đó có cập nhật hồ chứa Sơn La, cập nhật mạng sông Đà đến Mường Tè, địa hình lòng hồ Hòa Bình, Tuyên Quang Đồng thời hiệu
Mực nước thực đo và dự báo hồ Tuyên Quang năm 2011 - thời gian dự kiến 48
giờ
8500
9000
9500
10000
10500
11000
11500
6/15/2011 6/29/2011 7/13/2011 7/27/2011 8/10/2011 8/24/2011 9/7/2011
Thực đo Dự báo
Mực nước thực đo và dự báo hồ Tuyên Quang năm 2011 - thời gian dự kiến 48
giờ
8500 9000 9500 10000 10500 11000 11500
6/15/2011 6/29/2011 7/13/2011 7/27/2011 8/10/2011 8/24/2011 9/7/2011
Thực đo Dự báo
Lưu lượng thực đo và dự báo đến hồ Tuyên Quang năm 2011 - thời gian dự kiến 24
giờ
0 500 1000 1500 2000
6/14/2011 6/28/2011 7/12/2011 7/26/2011 8/9/2011 8/23/2011 9/6/2011
3 /
Thực đo Dự báo
Lưu lượng thực đo và dự báo đến hồ Tuyên Quang năm 2011 - thời gian dự
kiến 48 giờ
0 500 1000 1500 2000
6/14/2011 6/28/2011 7/12/2011 7/26/2011 8/9/2011 8/23/2011 9/6/2011
Thực đo Dự báo
Mực nước thực đo và dự báo hồ Tuyên Quang
-thời gian dự kiến 24, 48 giờ
Lưu lượng thực đo và dự báo hồ Tuyên Quang -thời
gian dự kiến 24, 48 giờ Hình 7 Một số kết quả dự báo thử nghiệm mùa lũ năm 2012
Trang 8chỉnh và kiểm nghiệm tham số mô hình thủy văn, thủy lực cho 5 năm lũ nhỏ, từ năm
2006 đến năm 2011, kết quả đánh giá qua chỉ số NASH đều đạt kết quả cao Từ đó tiến hành dự báo thử nghiệm cho mùa lũ năm 2012 tại các vị trí dự báo hàng năm, với thời gian dự kiến 24h mức đảm bảo đối với thời gian dự kiến 24h phần lớn đạt trên 80%
Tuy vậy, việc sử dụng một bộ tham số để kiểm định lại cho các năm vẫn còn có
sự sai khác đáng kể do sự thay đổi về các điều kiện địa hình hay các trận lũ (lũ nhỏ, vừa, lớn) khác nhau Điều này chỉ ra rằng để phục vụ cho dự báo tác nghiệp cần thiết phải nghiên cứu cụ thể hơn các bộ tham số cho các năm ứng với các cấp mực nước Đồng thời đây cũng chính là bộ tham số sơ bộ để tiến hành xây dựng bộ tham số ứng với các cấp mực nước ngày một chính xác hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Cunge J A., Holly I M., Verwey A (1980) Practical Aspects of computational
River Hydraulics Pitman Advanced Publishing Program, Boston
2 Hoàng Văn Đại (2011) Nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ dự báo lũ hệ thống
sông Hồng - Thái Bình Đề tài cấp cơ sở Viện KHKTTV&MT
3 Trần Thục (2003) Xây dựng công nghệ tính toán dự báo lũ lớn hệ thống sông
Hồng - Thái Bình Đề tài cấp Bộ TN&MT
4 World Meteorological Organization (1981) “Hydrological Forecasting” Chap 6
in Guide Hydrological Practices, Vol 1 Switzerland
UPDATING FLOOD FORECASTING MODEL IN HONG – THAI BINH RIVER AND SOME RESULTS OF FLOOD FORECASTING FOR 2012
Hoang Van Dai, Dang Thu Hien, Phan Van Thanh, Hoang Thi Thao,
Nguyen Thi Bich, Dang Thi Lan Phuong
Viet Nam Institute of Meteorology Hydrology and Environment
Flood forecasting has always received special attention in the prevention and mitigation of natural disasters In researching flood forecasting, flood forecasting operational need for research to improve the accuracy of the forecasts bulletin This paper presents some results of updated flood forecasting model on Hong-Thai Binh river system The results of forecast show that in each location with forcast time about 24 hours (2012) has good guarantee such as 92.5% and with estimated time about 48 hours 78,5%