1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY và bùn cát hạ lưu SÔNG mê CÔNG

8 883 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 446,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY VÀ BÙN CÁT HẠ LƯU SÔNG MÊ CÔNG Nguyễn Xuân Hiển, Trần Thục, Lương Hữu Dũng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường Nghiên cứu này đưa ra một số đánh giá về b

Trang 1

BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY VÀ BÙN CÁT HẠ LƯU SÔNG MÊ CÔNG

Nguyễn Xuân Hiển, Trần Thục, Lương Hữu Dũng

Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường

Nghiên cứu này đưa ra một số đánh giá về biến động nồng độ bùn cát lơ lửng và dòng chảy ở hạ lưu sông Mê Công trên cơ sở phân tích chuỗi số liệu thực đo tại các trạm thủy văn Kết quả cho thấy, lưu lượng trung bình năm sau năm 2001 giảm khoảng xấp xỉ 10 % sau khi đập Dachaoshan được xây dựng Mức suy giảm dòng chảy mùa kiệt nhiều hơn so với mùa lũ Nồng độ bùn cát lơ lửng có xu hướng giảm sau năm 1996, khi đập Manwan hoạt động Tuy nhiên, sau năm 2001, bùn cát lơ lửng không còn xu hướng giảm mạnh như giai đoạn 1996 -

2001, thậm chí nồng độ bùn cát còn có xu hướng tăng, đặc biệt trong các tháng mùa kiệt Nguyên nhân có thể là do sự xói món ở khu vực hạ lưu, dẫn đến sự gia tăng nồng độ bùn cát Bên cạnh đó, việc khai thác cát xây dựng làm khuấy động dòng sông cũng dẫn đến sự gia tăng nồng độ bùn cát

1 Giới thiệu chung

Trong những năm gần đây, xói lở ở bờ biển nước ta phát triển mạnh và gây ảnh hưởng xấu đến khu vực dân cư ven biển Các khu vực bị xói lở mạnh như Cát Hải (Hải Phòng), Hải Hậu (Nam Định), Hậu Lộc (Thanh Hóa), Cảnh Dương (Quảng Bình), Phan Rí (Bình Thuận), Gò Công Đông (Tiền Giang), Đông Hải (Trà Vinh), Cửa Tranh

Đề (Sóc Trăng), Cửa Gành Hào (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau)

Cà Mau là vùng đất mới do phù sa bồi tụ, có hệ thống kênh rạch chằng chịt, với diện tích mặt nước chiếm đến 3% diện tích toàn tỉnh Cà Mau chịu tác động mạnh của động lực biển, có ba mặt giáp biển với chế độ triều phức tạp: chế độ bán nhật triều không đều ở biển Đông với biên độ triều lớn 1,5 - 3,5m và chế độ nhật triều không đều

ở vịnh Thái Lan với biên độ triều thấp 0,8-1,5m Động lực sông, biển kết hợp với những yếu tố đặc thù về địa chất, môi trường và phát triển kinh tế - xã hội đã làm cho hiện tượng xói lở gia tăng Đặc biệt trong những năm gần đây, xói lở bờ biển có xu thế gia tăng ở vùng ven biển Cà Mau, đe dọa đến tính mạng người dân, phá hủy cơ sở hạ tầng và gây thiệt hại tài sản Hàng năm, thiệt hại do sạt lở ước tính khoảng hàng trăm

tỷ đồng, đấy là chưa tính đến tổn thất do mất tài nguyên đất và những cơ sở vật chất khác Xói lở ảnh hưởng xấu đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Cà Mau

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng sạt lở nghiêm trọng ở mũi Cà Mau Một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng xói lở bờ biển được cho là lượng bùn cát

đổ ra biển từ hệ thống sông Mê Công suy giảm Các nghiên cứu cho thấy tồn tại nhiều nguyên nhân gây ra sự suy giảm lượng bùn cát trên hệ thống sông này Thứ nhất, lượng bùn cát suy giảm do tích tụ trong các hồ chứa trên thượng lưu khi xây dựng các đập thủy điện để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Thứ hai, lượng bùn cát dòng sông phải bù đắp để cân bằng bùn cát do quá trình khai thác cát phục vụ xây dựng quá mức tại hạ lưu sông Mê Công Theo dự báo, đến năm 2015 nhu cầu sử dụng

cát Tuy nhiên, chỉ 2 địa phương vùng đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu (An Giang và Đồng Tháp) là có trữ lượng cát đáp ứng được chất lượng cát xây dựng Do vậy, lượng cát bị khai thác ở hạ lưu sông Mê Công chủ yếu diễn ra tại hai địa phương này

Trang 2

Đã có một số các nghiên cứu về sự biến đổi bùn cát trên hệ thống sông Mê Công do tác động của đập Manwan (1996) và đập Dachaoshan (2003) Trong các nghiên cứu của Kummu and Varis (2007), Lu and Siew (2006), Wang cho thấy xu thế giảm bùn cát tại các trạm thượng lưu sông Mê Công như Luang Phrabang, Nongkhai, Chiang Saen, Pakse Đặc biệt, tại Chiang Saen, thời kỳ 1993 đến 2000 lưu lượng bùn cát trung bình giảm đến 50% so với thời kỳ trước khi có đập Manwan Trong nghiên cứu của Lu và Siew (2006) cũng nhận định về sự giảm bùn cát tại Tân Châu, Cần Thơ sau khi đập Manwan đi vào hoạt động Trong báo cáo của Ủy ban sông Mê Kông quốc tế (2011), căn cứ theo kế hoạch các quốc gia trong 20 năm từ 2010 đến 2030, hiện tượng thiếu hụt bùn cát ở hệ thống sông Mê Kông đã xuất hiện và việc suy giảm bùn cát sẽ trở nên đáng kể trong khoảng từ 10 đến 30 năm sau Nghiên cứu của Walling (2009) cho rằng có sự khác biệt về đặc tính bùn cát tại Pakse, Campuchia với bùn cát của sông Mê Công trên lãnh thổ Việt Nam Nếu bùn cát tại Pakse chủ yếu là cát thô mịn chiếm tới 41% thì bùn cát tại Việt Nam chủ yếu là phù sa mịn với 15% đất sét Nguyên nhân là do cát thô chủ yếu lắng đọng ở đoạn sông giữa Kratie và Phnom Penh và hàng năm bị lấy đi do hoạt động khai thác cát, tuy nhiên không có con số chính xác tính toán lượng cát bị khai thác này Theo điểu tra sơ bộ của WWF, tổng

đương với 43 triệu tấn Tổng lượng bùn cát khai thác tại sông Mê Công khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia là khoảng 18 triệu tấn trong đó hầu hết là cát thô

Mặc dù đã có một số nghiên cứu về sự biến động bùn cát trên hệ thống sông Mê Công và đánh giá các nguyên nhân gây ra sự biến động đó Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu việc đánh giá sự biến động bùn cát cho riêng lưu vực sông Mê Công tại Việt Nam, đặc biệt là xem xét, đánh giá tổng lượng bùn cát đổ ra biển tại các cửa sông Tiền và sông Hậu Do vậy, nghiên cứu này sẽ trình bày một số nhận định về sự biến động nồng

độ và tổng lượng bùn cát ở hạ lưu sông Mê Công trên cơ sở phân tích sự biến đổi lưu lượng và bùn cát quan trắc được tại các trạm thủy văn trên lưu vực

2 Phương pháp đánh giá

Dòng chảy và lượng bùn cát vào hệ thống sông Mê Công ở Việt Nam chịu tác động lớn của dòng chảy thượng nguồn Trạm thủy văn Kratie và PrekDam trên sông Tông Lê Sáp là cửa ngõ dòng chảy đổ vào hạ lưu sông Mê Công ở Việt Nam Dòng chảy tại Phnom Penh là tổng hợp quá trình dòng chảy tại Kratie và quá trình điều tiết của hồ Tông Lê Sáp Từ Phnom Penh sông Mê Công đi vào đồng bằng sông Cửu Long theo 2 nhánh là sông Tiền, sông Hậu Trên sông Tiền có hai trạm thủy văn cơ bản đo tương đối đầy đủ số liệu dòng chảy và bùn cát là trạm Tân Châu và Mỹ Thuận, còn trên sông Hậu là hai trạm Châu Đốc và Cần Thơ

Số liệu nồng độ bùn cát lơ lửng và lưu lượng tại các trạm thủy văn kể trên được thu thập từ cơ sở dữ liệu của Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia, Ủy ban sông

Mê Công Việt Nam và các địa phương Số liệu bùn cát lơ lửng được quan trắc từ năm

1988 với tần suất 1 tháng/lần Số liệu lưu lượng tại Tân Châu, Châu Đốc được quan trắc từ 1996, tại Mỹ Thuận từ năm 2001 và tại Cần Thơ từ năm 2000 Riêng trạm Kratie, do không quan trắc lưu lượng mà chỉ quan trắc mực nước trong thời kỳ 1996 -

2010 nên số liệu lưu lượng được phục hồi bằng quan hệ Q - H Bảng 1 trình bày danh sách các trạm thủy văn và thời gian quan trắc

Trang 3

Bảng 1 Các trạm được sử dụng trong nghiên cứu

Bùn cát

3 Kết quả và thảo luận

a Phân bố lưu lượng và nồng độ bùn cát lơ lửng trong năm

Bảng 2 Lưu lượng trung bình tháng (m3/s) tại các trạm thủy văn

Tân Châu 6361 4082 2548 2216 3390 7120 12161 18128 19764 19111 14893 10281 Châu Đốc 1327 749 473 424 646 1420 2691 4758 5764 5788 4145 2436

Mỹ Thuận 3594 2133 1386 1276 2072 4121 7123 11233 13530 13636 10369 6338 Cần Thơ 4256 2650 1629 1318 1793 3414 6117 10473 12936 13240 10787 6641 Kết quả tính toán lưu lượng trung bình tháng tại các trạm trong Bảng 1 cho thấy thời gian đỉnh lũ xuất hiện lui dần từ các trạm thủy văn đầu nguồn về phía hạ lưu Đỉnh

lũ tại Kratie xuất hiện cuối tháng 8 đầu tháng 9, khi đến Tân Châu, Châu Đốc, đỉnh lũ xuất hiện vào giữa tháng 9 và khi về đến Mỹ Thuận và Cần Thơ, đỉnh lũ xuất hiện vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10 Tổng lượng nước trong các tháng mùa lũ (từ tháng 7 đến tháng 12) chiếm từ 79 đến 83 % tổng lược nước cả năm

Bảng 3 Nồng độ bùn cát lơ lửng trung bình tháng (g/m3) tại các trạm thủy văn

Tân Châu 33,0 19,3 24,3 19,1 16,8 85,0 179,3 310,6 287,2 189,2 136,1 48,7 Châu Đốc 35,1 36,4 37,8 26,6 36,1 63,8 134,0 155,5 110,3 62,8 48,8 41,8

Mỹ Thuận 29,4 57,6 45,7 33,1 27,5 78,2 116,3 168,6 150,3 123,4 84,8 45,4 Cần Thơ 39,5 31,4 41,8 34,9 30,6 63,3 93,3 157,1 101,8 93,4 52,5 44,9 Kết quả tính toán nồng độ bùn cát lơ lửng trung bình tháng tại các trạm cho thấy nồng độ bùn cát trung bình tháng lớn nhất tại các trạm không trùng với thời gian xuất hiện đỉnh lũ, tại các trạm thuộc lãnh thổ Việt Nam, nồng độ bùn cát trung bình tháng lớn nhất đều xuất hiện vào tháng 8, vào thời kỳ đầu mùa lũ, trước thời điểm lưu lượng lớn nhất xuất hiện Hiện tượng này có thể có nguyên nhân do lưu vực bị phong hóa trong mùa cạn, gặp mưa lớn đầu mùa làm nồng độ bùn cát tăng cao

b Biến động lưu lượng và nồng độ bùn cát lơ lửng

Trang 4

Việc xây các đập thủy diện trên thượng lưu sông Mê Công được các nhà nghiên cứu cho là nguyên nhân làm giảm lượng bùn cát trên sông Đập Manwan được xây dựng và hoạt động hoàn toàn vào năm 1996, tiếp đó là đập Dachaoshan hoàn thành năm 2003 Theo nghiên cứu của Kummu và Varies, 2007, trong giai đoạn 2003 đến

2005, đập Manwan giữ lại khoảng 490 triệu tấn, tương ứng với khoảng 50 triệu tấn/năm Kể từ năm 2001, khi bắt đầu ngăn sông, đập Dachaoshan, cũng gây lắng đọng bùn cát mỗi năm khoảng 30 triệu tấn Tổng 2 đập gây lắng đọng khoảng 70-80 triệu tấn/năm và được coi như là một trong những nguyên nhân làm giảm bùn cát của sông Mê Công

Bảng 4 Đặc trưng lưu lượng trung bình (m3/s) trong các giai đoạn khác nhau

Kratie

Tân Châu

Châu Đốc

Kết quả tính toán (Bảng 3) cho thấy, lưu lượng tại các trạm hạ lưu sông Mê Công giảm, lưu lượng trung bình năm tại hạ lưu sông Mê Công sau năm 2001 tại tất cả các trạm đều giảm từ 7-14% so với giai đoạn trước, trong đó, các trạm Châu Đốc giảm mạnh hơn (14%) so với các trạm phía khác Đáng chú ý là thời điểm này, hồ Dachaoson bắt đầu đi vào hoạt động

Lưu lượng trung bình mùa lũ cũng có biến động tương tự như lưu lượng trung bình năm Lưu lượng trung bình mùa lũ sau năm 2001 tại Kratie, Tân Châu, Châu Đốc giảm lần lượt là 11%, 7%, 11%, so với giai đoạn 1996 - 2001 Lưu lượng trung bình mùa kiệt giảm mạnh tại tất cả các trạm sau năm 2001, đặc biệt là trạm Châu Đốc với mức độ giảm so với thời kỳ trước năm 2001 là 29% Nguyên nhân sụt giảm mạnh về lưu lượng tại các trạm hạ lưu, ngoài nguyên nhân giai đoạn này trùng với thời kỳ thiếu nước, thì còn là do quá trình tích nước trong mùa kiệt của các hồ chứa thượng lưu Hình 1 đến Hình 3 trình bày xu thế biến động của lưu lượng trung bình năm, trung bình mùa kiệt và trung bình mùa lũ tại các trạm Kratie, Tân Châu và Châu Đốc

7000

12000

17000

22000

1996 1999 2002 2005 2008

Năm

GĐ: 1996 - 2001 GĐ: 2002 - 2010

GĐ: 2001 - 2010

a)

2500 3500 4500 5500 6500

1996 1999 2002 2005 2008

Năm

GĐ: 1996 - 2001 GĐ: 2002 - 2010 GĐ: 1996 - 2010

b)

10000 20000 30000 40000

1996 1999 2002 2005 2008

Năm

GĐ: 1996 - 2001 GĐ: 2002 - 2010 GĐ: 1996 - 2010

c)

Hình 1 Xu thế biến đổi lưu lượng tại Kratie theo thời gian

a) trung bình năm; b) trung bình mùa kiệt, c) trung bình mùa lũ

Trang 5

8000

11000

14000

1996 1999 2002 2005 2008

Năm

GĐ: 1996 - 2001 GĐ: 2002 - 2010

GĐ: 2001 - 2010

a)

2500 4500 6500

1996 1999 2002 2005 2008

Năm

GĐ: 1996 - 2001 GĐ: 2002 - 2010 GĐ: 1996 - 2010

b)

10000 13000 16000 19000 22000

1996 1999 2002 2005 2008

Năm

GĐ: 1996 - 2001 GĐ: 2002 - 2010 GĐ: 1996 - 2010

c)

Hình 2 Xu thế biến đổi lưu lượng tại Tân Châu theo thời gian

a) trung bình năm; b) trung bình mùa kiệt, c) trung bình mùa lũ

1500

2500

3500

1996 1999 2002 2005 2008

Năm

GĐ: 1996 - 2001 GĐ: 2002 - 2010

GĐ: 2001 - 2010

a)

200 700 1200 1700

1996 1999 2002 2005 2008

Năm

GĐ: 1996 - 2001 GĐ: 2002 - 2010 GĐ: 1996 - 2010

b)

2000 4000 6000

1996 1999 2002 2005 2008

Năm

) GĐ: 1996 - 2001 GĐ: 2002 - 2010

GĐ: 1996 - 2010

c)

Hình 3 Xu thế biến đổi lưu lượng tại Châu Đốc theo thời gian

a) trung bình năm; b) trung bình mùa kiệt, c) trung bình mùa lũ

Nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của việc xây dựng các hồ chứa trên thượng lưu đến sự biến đổi nồng độ bùn cát lơ lửng, các năm 1996 và 2001 khi đập Manwan và Dachaoson bắt đầu tích nước được lựa chọn để phân chia thành các giai đoạn khác nhau Bảng 4 trình bày nồng độ bùn cát trung bình trong mùa lũ, mùa kiệt và cả năm cho các giai đoạn khác nhau

Bảng 5 Đặc trưng nồng độ bùn cát lơ lửng (g/m3) trong các giai đoạn

2010

1988

1996

1997

2001

2002

2010

1997

2010

Kratie

Tân Châu

Châu Đốc

Mỹ

Thuận

Cần Thơ

Trang 6

Có thể thấy rằng, sau khi đập Manwan đi vào hoạt động, nồng độ bùn cát tại các trạm thủy văn ở hạ lưu sông Mê Công thuộc Việt Nam đều giảm so với thời kỳ trước Trong giai đoạn 1996 - 2001, tại Tân Châu, Châu Đốc, Mỹ Thuận và Cần Thơ, nồng độ bùn cát trung bình các tháng trong năm giảm rất mạnh, chỉ đạt tương ứng 69%, 49%, 64% và 52% so với giai đoạn 1988 - 1996 Nếu xét đến giai đoạn 1996 -

2010 thì nồng độ bùn cát trung bình các tháng trong năm tại các trạm trên cũng đều có

xu hướng giảm, nhưng mức độ giảm ít hơn Nồng độ bùn cát tại Tân Châu, Châu Đốc,

Mỹ Thuận và Cần Thơ giai đoạn 1997 - 2010 so với giai đoạn 1988 - 1996 đạt tương ứng là 89 %, 100%, 84% và 94%

Sau khi đập Dachaoson được xây dựng năm 2001, nồng độ bùn cát tại các trạm không thấy xu hướng giảm mạnh nữa, thậm chí có trạm có xu hướng tăng như Châu Đốc hoặc không rõ xu hướng như Cần Thơ Nồng độ bùn cát trung bình các tháng trong năm tại Tân Châu, Châu Đốc, Mỹ Thuận và Cần Thơ giai đoạn 2002 - 2010 so với giai đoạn 1988 - 2001 đạt tương ứng là 92%, 118%, 87% và 101% Còn tại Kratie, nồng độ bùn cát tại Kratie giảm mạnh, nồng độ bùn cát trung bình năm chỉ đạt 59 %,

so với giai đoạn 1996 - 2001 Rõ ràng có thể thấy, sau năm 2001, nồng độ bùn cát lơ lửng tại các trạm hạ lưu sông Mê Công không còn có xu thế giảm mạnh nữa, thậm chí còn có xu thế tăng nếu so với giai đoạn 1996 - 2001

Nguyên nhân có thể là do việc xây dựng đập và tích nước đã gây thiếu hụt dòng chảy và trữ bùn cát trong lòng hồ, điều này dẫn tới sự mất cân bằng bùn cát, gây xói món trầm trọng ở khu vực hạ lưu sông Mê Công, dẫn đến sự gia tăng bùn cát, trong khi đó mức độ thiếu hụt dòng chảy khi xây đập Manwan là ít hơn, chưa ảnh hưởng nghiêm trọng đến lưu lượng dòng chảy tại hạ lưu sông Mê Công Bên cạnh đó, như phân tích ở trên, do nhu cầu khai thác cát xây dựng tại hạ lưu sông Mê Công trong những năm gần đây tăng mạnh, việc khai thác cát làm khuấy động mạnh bùn cát tại đây cũng làm nồng độ bùn cát tăng lên

Nếu xét theo mùa, có thể thấy sự biến động nồng độ bùn cát lơ lửng phức tạp hơn Nếu như sự biến động về nồng độ bùn cát trung bình các tháng mùa lũ giai đoạn sau năm 1996 so với trước có xu thế tương tự như xu thế nồng độ bùn cát trung bình các tháng trong năm thì nồng độ bùn cát trung bình các tháng mùa kiệt lại có xu thế trái ngược Sau năm 1996, ngoại trừ trạm Mỹ Thuận, các trạm còn lại đều có xu hướng tăng, thậm chí tăng rất mạnh như tại Châu Đốc, đặc biệt là trong những năm gần đây Nồng độ bùn cát trung bình các tháng mùa kiệt tại Tân Châu, Châu Đốc, Mỹ Thuận và Cần Thơ giai đoạn (1996 - 2010) so với giai đoạn 1988 - 1996 tương ứng là 127%, 230%, 79% và 107% Nguyên nhân dẫn đến xu thế này có thể cũng do sự suy giảm dòng chảy vào mùa kiệt do các đập trên thượng lưu và việc khai thác bùn cát tại hạ lưu (Hình 4 đến Hình 7)

50

100

150

200

250

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010

GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1997 - 2001

a)

0 30 60 90

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

l) GĐ: 1988 - 1996GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1997 - 2010GĐ: 1997 - 2001

b)

50 150 250 350 450

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010 GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1997 - 2001

c)

Hình 4 Xu thế biến đổi nồng độ bùn cát tại Tân Châu: a) trung bình các tháng trong

năm; b) trung bình các tháng mùa kiệt, c) trung bình các tháng mùa lũ

Trang 7

60

100

140

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010

GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1997 - 2001

a)

0 30 60 90 120

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010 GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1997 - 2001

b)

0 60 120 180 240

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010 GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1997 - 2001

c)

Hình 5 Xu thế biến đổi nồng độ bùn cát tại Châu Đốc: a) trung bình các tháng trong

năm; b) trung bình các tháng mùa kiệt, c) trung bình các tháng mùa lũ

40

90

140

190

240

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010

GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1997 - 2001

a)

0 40 80 120

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010 GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1997 - 2001

b)

40 80 120 160 200

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010 GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1997 - 2001

c)

Hình 6 Xu thế biến đổi nồng độ bùn cát tại Mỹ Thuận: a) trung bình các tháng trong

năm; b) trung bình các tháng mùa kiệt, c) trung bình các tháng mùa lũ

20

60

100

140

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010

GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1996 - 2001

a)

0 20 40 60 80 100 120 140

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010 GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1996 - 2001

b)

20 60 100 140 180

1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009

Năm

GĐ: 1988 - 1996 GĐ: 1997 - 2010 GĐ: 1988 - 2010 GĐ: 1996 - 2001

c)

Hình 7 Xu thế biến đổi nồng độ bùn cát tại Cần Thơ: a) trung bình các tháng trong

năm; b) trung bình các tháng mùa kiệt, c) trung bình các tháng mùa lũ

Nếu xét đến nồng độ bùn cát trong giai đoạn gần đây, có thể nhận thấy sự gia tăng về nồng độ bùn cát giai đoạn 2002 - 2010 so với 1996 - 2001 trong cả thời kỳ mùa lũ và mùa kiệt Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng nồng độ bùn cát trong mùa lũ tại hạ lưu sông Mê Công, có thể kể đến như: (1) các lòng sông bị thu hẹp do xây đê, kè sông (thay vì chảy tràn như trước đây) dẫn đến sự gia tăng vận tốc dòng chảy trên lòng sông, làm gia tăng sự xói lở; (2) việc chặt phá rừng đầu nguồn làm đất

đá bị rửa trôi nhiều hơn; (3)xây dựng các thủy điện trên các dòng sông như phân tích ở trên

4 Kết luận

Kết quả phân tích cho thấy, lưu lượng dòng chảy trung bình năm ở hạ lưu sông

Mê Công giảm khoảng 10% kể từ sau năm 2001 Mức độ suy giảm lượng dòng chảy vào mùa kiệt nhiều hơn so với mùa lũ Nồng độ bùn cát lơ lửng ở hạ lưu sông Mê Công có xu hướng giảm sau năm 1996, khi hồ Manwan đi vào hoạt động Khi hồ Dachaoshan được xây dựng, mức độ suy giảm bùn cát lơ lửng giảm hẳn, lưu lượng bùn cát vào mùa kiệt còn có xu hướng tăng Các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này

có thể là do việc chặt phá rừng đầu nguồn, việc xây dựng các thủy điện trên thượng lưu hoặc sự thu hẹp của các lòng sông do đê, kè dưới hạ lưu

Việc giảm lưu lượng và nồng độ bùn cát lơ lửng sẽ dẫn đến tổng lượng bùn cát

đổ ra cửa sông suy giảm, đó có thể là một trong các nguyên gây nên các diễn biến

Trang 8

phức tạp về xói lở cửa sông, ven biển khu vực sông Mê Công, trong đó có tỉnh Cà Mau Các kết quả nghiên cứu này, có thể góp phần đánh giá diễn biến xói lở, bồi tụ bờ biển của khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung cũng như Cà Mau nói riêng Bên cạnh đó, dưới tác động của biến đổi khí hậu sẽ làm cho lưu lượng sông Mê Công thay đổi kéo theo sự biến động của lượng bùn cát đổ ra biển, cùng với mực nước biển dâng cao sẽ làm diễn biến xói lở, bồi tụ bờ biển tại khu vực này trở lên phức tạp hơn, cần thiết phải có những nghiên cứu kỹ sâu hơn để giúp các nhà hoạch định chính sách nhằm hạn chế những tác động bất lợi của xói lở, bồi tụ bờ biển

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Fu, K.D et, al., 2008 Sedimentation in the Manwan reservoir in the Upper Mê Kông and its downstream impacts Quaternary International, 186, pp 91-99

2 Hårdén, P-O and Sundborg, Å 1992 The Lower Mê Kông Basin Suspended Sediment Transport and Sedimentation Problems Report to MRS by Hydroconsult, Uppsala, Sweden, 71pp, ISBN: 91-88476-01-4

3 Kummu, M and O Varis 2007 Sediment-related impacts due to upstream reservoir trapping, the Lower Mê Kông River Geomorphology 85:275-293

4 Mê Kông River Comitee (2012), Final report on Implementation of the sediment transport measurement and Bed material survey in Southern part of Viet Nam from July 2011 to June 2012

5 Walling, D 2005 Analysis and evaluation of sediment data from the Lower Mê Kông River Report submitted to the Mê Kông River Commission, Department of Geography, University of Exeter

6 X X Lu and R S Siew (2005), Water discharge and sediment flux changes in the Lower Mê Kông River, Hydro Earth System Sci Discuss., 2, pp 2287 -2525;

STUDY ON INFLOW AND SEDIMENT TRANSPORT CHANGES

IN THE MEKONG DELTA

Nguyen Xuan Hien, Tran Thuc, Luong Huu Dung

Vietnam Institute of Meteorology, Hydrology and Environment

This study presents conclusions on suspended sediment concentration and discharge variations base on real time data analysis that are observed at hydrological stations at Me Kong downstream Analyzing results show that annual discharge decreases about 10% after Dachaoshan dam was built in 2001 Flow-decreasing level in dry season is higher than in flood season Suspended sediment concentration tends to decease after 1996 when Manwan dam was operated However, suspend sediment after 2001 does not tend to decrease roughly,

as it was in 1996 – 2001 period Sediment concentration even tends to increase, especially in dry season months The reason for that is the lack of flow due to water storage in upstream dams This causes the erosion at downstream and leads to the increasing of sediment concentration Besides, sand exploitation for construction stirs the stream and leads to the increasing of sediment concentration

Ngày đăng: 10/09/2015, 09:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các trạm được sử dụng trong nghiên cứu - BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY và bùn cát hạ lưu SÔNG mê CÔNG
Bảng 1. Các trạm được sử dụng trong nghiên cứu (Trang 3)
Bảng 4. Đặc trưng lưu lượng trung bình (m3/s) trong các giai đoạn khác nhau - BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY và bùn cát hạ lưu SÔNG mê CÔNG
Bảng 4. Đặc trưng lưu lượng trung bình (m3/s) trong các giai đoạn khác nhau (Trang 4)
Bảng 5. Đặc trưng nồng độ bùn cát lơ lửng (g/m3) trong các giai đoạn - BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY và bùn cát hạ lưu SÔNG mê CÔNG
Bảng 5. Đặc trưng nồng độ bùn cát lơ lửng (g/m3) trong các giai đoạn (Trang 5)
Hình 2. Xu thế biến đổi lưu lượng tại Tân Châu theo thời gian - BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY và bùn cát hạ lưu SÔNG mê CÔNG
Hình 2. Xu thế biến đổi lưu lượng tại Tân Châu theo thời gian (Trang 5)
Hình 3. Xu thế biến đổi lưu lượng tại Châu Đốc theo thời gian - BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY và bùn cát hạ lưu SÔNG mê CÔNG
Hình 3. Xu thế biến đổi lưu lượng tại Châu Đốc theo thời gian (Trang 5)
Hình 4. Xu thế biến đổi nồng độ bùn cát tại Tân Châu: a) trung bình các tháng trong - BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY và bùn cát hạ lưu SÔNG mê CÔNG
Hình 4. Xu thế biến đổi nồng độ bùn cát tại Tân Châu: a) trung bình các tháng trong (Trang 6)
Hình 5. Xu thế biến đổi nồng độ bùn cát tại Châu Đốc: a) trung bình các tháng trong - BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY và bùn cát hạ lưu SÔNG mê CÔNG
Hình 5. Xu thế biến đổi nồng độ bùn cát tại Châu Đốc: a) trung bình các tháng trong (Trang 7)
Hình 6. Xu thế biến đổi nồng độ bùn cát tại Mỹ Thuận: a) trung bình các tháng trong - BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY và bùn cát hạ lưu SÔNG mê CÔNG
Hình 6. Xu thế biến đổi nồng độ bùn cát tại Mỹ Thuận: a) trung bình các tháng trong (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w