Đặc biệt với sự sáng tạo của mình, Thế Lữ đã có những đóng góp quan trọng để đưa yếu tố trinh thám vốn là một yếu tố cận văn học thành một yếu tố trong cấu trúc nghệ thuật với đúng nghĩa
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP
HÀ NỘI, 2014
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Ngữ văn, các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt khóa học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn PGS TS Nguyễn Đăng Điệp, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ, Trường THPT Việt Trì đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè những người đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi để hoàn thành tốt luận văn
Tác giả
Triệu Thị Thu Hà
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Triệu Thị Thu Hà
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
6 Những đóng góp mới của đề tài 7
7 Phương pháp nghiên cứu 8
8 Cấu trúc luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: Văn xuôi trinh thám và sự xuất hiện của Thế Lữ 9
1.1 Yếu tố trinh thám và văn xuôi trinh thám trong văn học thế giới 9
1.1.1 Khái quát những nghiên cứu về yếu tố trinh thám và văn xuôi trinh thám trong văn học trên thế giới 9
1.1.2 Một vài đặc trưng cơ bản của truyện trinh thám 13
1.2 Nhìn chung về yếu tố trinh thám và văn xuôi trinh thám trong văn học Việt Nam 20
1.3 Thế Lữ và con đường đến với thể loại truyện trinh thám 24
1.3.1 Bối cảnh văn hóa, xã hội Việt Nam thời kì 1930 – 1945 24
1.3.2 Sự xuất hiện và vị trí, vai trò của Thế Lữ 26
1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến truyện trinh thám của Thế Lữ 28
1.3.3.1 Xu hướng tiếp nhận chung của thời đại 28
1.3.3.2 Quan điểm tiếp nhận văn học phương Tây 29
1.3.3.3 Môi trường sống thuở ấu thơ 31
Trang 52.1 Kiểu cốt truyện 35
2.1.1 Bí ẩn tội ác 36
2.1.2 Kho báu bí mật 41
2.2 Mô típ hình tượng 47
2.2.1 Thủ phạm và nạn nhân 48
2.2.2 Thám tử và người trợ thủ 57
2.2.3 Nhân chứng và vật chứng 68
Chương 3: Một số thủ pháp nghệ thuật thể hiện yếu tố trinh thám trong văn xuôi Thế Lữ trước Cách mạng tháng Tám 76
3.1 Thủ pháp tạo không khí trinh thám 76
3.2 Chi tiết và cách giải mã độc đáo 81
3.2.1 Chi tiết 81
3.2.1.1 Bức thư 82
3.2.1.2 Người cải trang 87
3.2.2 Cách giải mã độc đáo 91
3.2.2.1 Giải mã ngôn ngữ 93
3.2.2.2 Suy luận lô gíc 98
3.3 Nghệ thuật kể, tả 101
3.3.1 Nghệ thuật kể chuyện 101
3.3.2 Nghệ thuật tả 105
3.3.2.1 Nghệ thuật tả cảnh 105
3.3.2.2 Nghệ thuật tả người 112
KẾT LUẬN 119
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thế Lữ là người “khởi điểm của những khởi điểm” (Đỗ Lai Thúy)
Tên tuổi của ông gắn liền với tiến trình hiện đại hóa của Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Trong giới văn nghệ sĩ Việt Nam hiện đại, Thế Lữ được đánh giá là một “cây bút muôn mầu”, một “cây đàn muôn điệu”, một nghệ sĩ tiên phong trên nhiều lĩnh vực Ông là người có công đầu trong việc xây dựng
phong trào Thơ mới Tập Mấy vần thơ của ông thực sự là một thi phẩm đặc
sắc, ghi nhận đóng góp của Thế Lữ trong thi đàn văn học Việt Nam hiện đại Không chỉ là nhà thơ lớn, đặt nền móng vững vàng cho Thơ mới, Thế Lữ còn
là một nhà báo xuất sắc, một nhà văn có tài, người mở đầu cho một số thể loại văn xuôi nghệ thuật như truyện trinh thám, truyện kinh dị, truyện đường rừng Những trang văn xuôi của ông khi căng thẳng, bí hiểm kì ảo, khi lại dí dỏm hài hước, khi mượt mà mà trữ tình thực sự là những đóng góp quý vào văn xuôi Việt Nam trước Cách mạng Ông từng là cây bút trụ cột của nhóm
Tự lực văn đoàn Sáng tác của Thế Lữ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà văn và độc giả đương thời Thế Lữ cũng là người khai sơn phá thạch xây dựng nền kịch nói Việt Nam Trong nhiều tư cách: người tổ chức, biên kịch, đạo diễn, diễn viên ông đã dành phần lớn thời gian và tinh lực, tận tụy và say mê gây dựng, tạo những thành tựu đáng kể cho kịch nói dân tộc Có thể nói người nghệ sĩ đa tài Thế Lữ đã dành trọn cuộc đời mình cho văn học nghệ thuật Về nhiều mặt hoạt động văn nghệ, ông vừa là người khai phá đầu tiên vừa có những đóng góp xuất sắc Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Thế Lữ
đã để lại một khối lượng lớn các tác phẩm với nhiều đề tài phong phú, có giá trị tư tưởng và nghệ thuật
Trang 71.2 Nếu như Phạm Cao Củng được coi là người mở đầu cho loại hình
văn xuôi trinh thám ở nước ta thì Thế Lữ, Lan Khai, Bùi Huy Phồn là những nhà văn tiếp theo Trên thế giới văn xuôi trinh thám xuất hiện từ lâu, nhưng ở Việt Nam đến nay vẫn là loại hình mới mẻ, cho nên tìm hiểu yếu tố trinh thám trong văn xuôi Thế Lữ là một đề tài cần thiết Thực ra yếu tố trinh thám và màu sắc kinh dị đều xuất hiện trong văn xuôi của Thế Lữ ở giai đoạn này, nó như một cuộc thể nghiệm mới, phiêu lưu mới Đặc biệt với sự sáng tạo của mình, Thế Lữ đã có những đóng góp quan trọng để đưa yếu tố trinh thám vốn
là một yếu tố cận văn học thành một yếu tố trong cấu trúc nghệ thuật với đúng nghĩa của nó
1.3 Qua khảo sát thực tiễn chúng tôi nhận thấy, những bài viết và công
trình nghiên cứu về Thế Lữ và văn xuôi của ông chưa nhiều, chưa toàn diện Đặc biệt, trong đó chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính quy mô, chuyên sâu và hệ thống những sáng tác văn xuôi của Thế Lữ trước Cách mạng tháng Tám - một trong những thành công nổi bật của nhà văn Việc
nghiên cứu Yếu tố trinh thám trong văn xuôi của Thế Lữ trước Cách mạng
tháng Tám giúp chúng ta hiểu sâu hơn những thể nghiệm mới mẻ của ông,
nhận diện rõ hơn những giá trị nghệ thuật của nhà văn
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Là một nhà văn đa tài, Thế Lữ không chỉ là người mở đầu cho
phong trào Thơ mới, mà còn là cây bút tiên phong của một vài thể loại văn xuôi nghệ thuật như truyện kinh dị, truyện trinh thám, truyện đường rừng , nhưng hoạt động nghiên cứu về sự nghiệp văn xuôi của Thế Lữ vẫn chưa được chú ý nhiều, nhất là ở một số truyện có yếu tố trinh thám
2.2 Trước Cách mạng tháng Tám, đến 1980, văn xuôi nói chung,
những tác phẩm có yếu tố trinh thám nói riêng của Thế Lữ bị lãng quên, nhiều tác phẩm bị thất lạc Số bài viết đề cập đến truyện trinh thám của nhà văn rất
Trang 8ít Có thể nói sự nghiệp văn xuôi của Thế Lữ vẫn chưa được sự chú ý của nhiều bạn đọc Phần lớn trong số đó là các bài cảm nhận chung hoặc phân tích những tác phẩm riêng lẻ của nhà văn
Tác giả Phạm Thế Ngũ trong cuốn Việt Nam văn học giản ước tân biên
đã dành 11 trang nói về những truyện kinh dị lãng mạn và truyện trinh thám của Thế Lữ (trong khi phần nói về thơ chỉ chiếm 5 trang rưỡi) Theo Phạm Thế Ngũ, bên cạnh một Thế Lữ mở đường cho Thơ mới còn có một Thế Lữ văn xuôi đặc sắc
Thế Lữ viết và công bố truyện sớm, ngay từ những sáng tác đầu tiên ông đã được bạn đồng nghiệp khen ngợi Giám đốc nhà xuất bản Tân Dân,
sau khi đọc bản thảo Vàng và máu đã vui mừng nói với tác giả: “ông sẽ là một
nhà văn có tài ( ), từ trước đến nay tôi chưa đọc được một quyển truyện nào như thế này” [22]
Nguyễn Tường Tam khi chuẩn bị ra báo Phong hóa (mới) để sau đó thành lập Tự lực văn đoàn, cũng chú ý ngay đến Thế Lữ Trong bài tựa cuốn
Vàng và máu, Khái Hưng phát biểu: “Tôi vẫn mong mỏi sẽ có nhà văn dung
hợp được văn Thái Tây với văn Á Đông để gây một lối văn viết theo óc khoa học vừa vẫn giữ được thi vị của văn Tàu Nhà văn đó ngày nay đã có: đó chính
là Nguyễn Thế Lữ, thi sĩ trong Tự lực văn đoàn” [23] Còn Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại cho rằng: “Vàng và máu của Thế Lữ là một tiểu
thuyết mà tác giả tỏ ra một văn gia có biệt tài Nghệ thuật viết tiểu thuyết của Thế Lữ ở đây đã đạt tới một trình độ khá cao Tài tình nhất là động tác rất đơn giản: hai kẻ vào hang tìm của, một kẻ chết, còn một kẻ không dám trở về với chủ, đến trình ông châu sở và đưa luôn mảnh giấy lấy ở tay kẻ chết Nhờ mảnh
giấy này ông châu khám phá ra được chỗ để của của một vị quan Tàu” [41]
Trong bước đầu của truyện trinh thám hiện đại Việt Nam, Thế Lữ - tác
giả loại hình huyễn tưởng với tác phẩm kinh dị có yếu tố trinh thám như Vàng
Trang 9và máu (1934), Ông Phán nghiện (1937) , lại chính là một trong hai người
mở đầu loại hình văn học phiêu lưu bằng một số truyện trinh thám hấp dẫn với nhân vật phóng viên trinh thám Lê Phong hào hoa, thông minh, tài trí, gây
ấn tượng tốt đẹp trong Mai Hương và Lê Phong (1937), Lê Phong phóng viên
(1937) , khó phai mờ đối với bạn đọc Điều đó cho thấy công lao đi đầu, những đóng góp về phương diện nghệ thuật của Thế Lữ trong thể loại khá độc đáo này Cùng với Phạm Cao Củng, Thế Lữ được coi là hai tác giả mở đầu truyện trinh thám ở Việt Nam
2.3 Từ giữa những năm 1980 đến nay, trong không khí đổi mới mạnh
mẽ của xã hội, của đời sống văn hóa, nhiều tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn, nhiều tập thơ lãng mạn được xuất bản với số lượng lớn Song văn xuôi của Thế Lữ nói chung cũng như các truyện kinh dị, truyện trinh thám vẫn được đánh giá rất cao Tuy nhiên khách quan mà nói, hầu hết các bài viết đều dừng
ở mức độ nêu vấn đề hoặc đề cập tới một vài khía cạnh nghệ thuật trong những truyện trinh thám của Thế Lữ, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu mang tính hệ thống toàn diện, tương xứng với tầm vóc, sự nghiệp văn học của ông
Giai đoạn này có một số bài viết của một số tác giả đã quan tâm tới truyện trinh thám của Thế Lữ như Lê Đình Kỵ, Tế Hanh, Nam Chi, Nguyễn Hoành Khung, Phan Trọng Thưởng, Đỗ Lai Thúy, Phạm Đình Ân, Nguyễn Văn Dân
Nguyễn Hoành Khung trong lời giới thiệu bộ sách 8 tập Văn xuôi lãng
mạn Việt Nam 1930 - 1945 (1989, 1990), giới thiệu về Thế Lữ: “ngôi sao rực
rữ nhất của phong trào Thơ mới thời kỳ đầu, cũng là cây bút văn xuôi đặc sắc, dồi dào, đề tài và bút pháp khá đa dạng Ông được biết trước hết ở loại truyện kinh dị ( ), rồi loại truyện tình lãng mạn, đường rừng ( ) và nhất là loại
Trang 10truyện trinh thám, ông là một trong những người dẫn đầu về loại tiểu thuyết này ở nước ta ” [28; 423]
Lê Đình Kỵ trong lời giới thiệu cuốn Tuyển tập Thế Lữ đã đánh giá cao
Thế Lữ ở những “Truyện lạ” Ông viết: “Yêu cầu của việc làm báo đã đưa anh đến một lĩnh vực khá bất ngờ, nó sẽ chiếm một tỉ lệ quan trọng và góp phần làm nên diện mạo riêng trong sự nghiệp thơ văn của Thế Lữ: tôi muốn nói đến các “truyện lạ” theo kiểu Edgar Allan Poe và các truyện trinh thám
của Thế Lữ, từ Vàng và máu (1934), Bên đường Thiên lôi (1936) , loại sáng
tác này cho ta thấy một Thế Lữ có tài quan sát, có óc phân tích sắc bén, có trí tưởng tượng dồi dào, cho nên dù ít đề cập vấn đề gì quan trọng về xã hội và nhân sinh, nó vẫn được đón nhận và tìm đọc một cách thích thú Cho đến nay, trong lịch sử văn học Việt Nam không thấy có tên tuổi nào đáng được xếp bên cạnh Thế Lữ trong loại sáng tác khá độc đáo này” [29] Tiếp đến, trên tạp chí
Văn học số 7, năm 1997, có bài Thế Lữ - Nghệ sĩ hai lần tiên phong của Phan Trọng Thưởng, tác giả đã khẳng định: “Chỉ sau khi tập Mấy vần thơ ra đời
được ít lâu, Thế Lữ đã dần chuyển sang lĩnh vực văn xuôi với hai sở trường là
tiểu thuyết ly kỳ rùng rợn và tiểu thuyết trinh thám như: Vàng và máu (Đời nay - 1934), Bên đường Thiên lôi (Đời nay - 1936), Mai Hương và Lê Phong
(Đời nay - 1937) " [44] Tác giả còn chú ý sự thay đổi về thể loại của Thế Lữ kéo theo cả sự thay đổi về thế giới nghệ thuật trong sáng tác của ông: “Nếu ở Thơ mới, ông thích ngao du lên cõi Tiên; ở truyện trinh thám ông thích mạo hiểm vào cõi Đời, thì ở truyện ly kỳ rùng rợn ông lại thích phiêu lưu vào cõi
Trang 11khoảng thời gian tám, chín năm làm việc trong Tự lực văn đoàn, Thế Lữ còn viết và công bố nhiều tác phẩm văn xuôi nghệ thuật, đó là truyện ma quái đường rừng, truyện trinh thám (hòa vào những truyện gần cùng loại của Phạm Cao Củng, Lan Khai, Tchya, tức Đái Đức Tuấn và những truyện không thuộc hai loại này) Văn xuôi nghệ thuật của Thế Lữ cũng có một vẻ đẹp riêng, hấp
dẫn, cho thấy một khía cạnh khác đáng lưu ý ở tài năng Thế Lữ” [7; 68] Tế
Hanh cũng cho rằng “Ngoài thơ ra, Thế Lữ còn là một nhà văn có tài, một nhà báo xuất sắc Sự đóng góp của Thế Lữ trong văn xuôi trước Cách mạng tháng Tám thật là đáng kể” (Báo văn nghệ, số 23, 10/6/1983)
Các bài viết trên, có bài điểm qua về nội dung tư tưởng, nghệ thuật của một số truyện mang yếu tố trinh thám, có bài khẳng định những đóng góp mới
mẻ của Thế Lữ đối với nhóm Tự lực văn đoàn ở loại truyện này, có bài đề cập đến một vài khía cạnh nổi bật trọng truyện trinh thám của Thế Lữ Nhưng nhìn chung các bài viết mới chỉ dừng lại ở đôi nét khái quát về yếu tố trinh thám trong truyện của ông
Qua tập hợp các bài báo cũng như những ý kiến của giới phê bình, có
thể tập trung ở một số điểm sau đây: thứ nhất, Thế Lữ là một trong những người khai mở ra thể tài trinh thám trước 1945; thứ 2, văn phong của Thế Lữ
hiện đại, cách viết điềm tĩnh, tự tin và mang nhiều thông điệp ẩn tàng về xã hội hôm nay Trên tinh thần kế thừa và phát triển những ý kiến đánh giá, nhận xét của giới nghiên cứu, phê bình cũng như ở các bài báo, luận văn của chúng
tôi sẽ đi sâu làm rõ Yếu tố trinh thám trong văn xuôi Thế Lữ trước Cách mạng
tháng Tám để có một cái nhìn chuyên sâu, cụ thể, chi tiết về thể tài trinh thám
trong sáng tác của Thế Lữ
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu, khám phá giá trị về yếu tố trinh thám trong văn xuôi Thế Lữ trước Cách mạng tháng Tám Từ đó khẳng
Trang 12định tài năng và những đóng góp của tác giả vào tiến trình văn học hiện đại Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về yếu tố trinh thám và văn xuôi trinh thám Vận dụng những kiến thức lý luận trên vào việc tìm hiểu yếu tố trinh thám trong văn xuôi Thế Lữ trước Cách mạng tháng Tám
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Yếu tố trinh thám thể hiện trong cả hai bình diện nội dung và hình thức trong văn xuôi Thế Lữ trước Cách mạng tháng Tám
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đi vào khảo sát một số tác phẩm có yếu tố trinh thám trong văn xuôi trước Cách mạng tháng Tám của Thế Lữ,
bao gồm những truyện: Vàng và máu (1934), Gói thuốc lá (1934), Mai Hương
và Lê Phong (1937), Lê Phong phóng viên (1937), Những nét chữ (1937),
Đòn hẹn (1937)
Ngoài ra chúng tôi cũng tìm hiểu một số sáng tác có yếu tố trinh thám của các nhà văn khác cùng thời để so sánh, đồng thời chỉ ra thành tựu riêng của Thế Lữ trong thể loại truyện này
6 Những đóng góp mới của đề tài
Vận dụng lí thuyết về thể loại và phương pháp luận nghiên cứu văn học
để chỉ ra những giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật trong các tác phẩm
trinh thám của Thế Lữ
Khẳng định sự độc đáo của Thế Lữ trong truyện trinh thám, đồng thời chỉ ra vị trí của nhà văn trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại
Trang 137 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Văn xuôi trinh thám và sự xuất hiện của Thế Lữ
Chương 2: Cốt truyện và mô típ hình tượng trong truyện trinh thám của
Thế Lữ trước Cách mạng tháng Tám
Chương 3: Một số thủ pháp nghệ thuật thể hiện yếu tố trinh thám trong
văn xuôi Thế Lữ trước Cách mạng tháng Tám
Trang 14NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: VĂN XUÔI TRINH THÁM VÀ SỰ XUẤT HIỆN
CỦA THẾ LỮ
1.1 Yếu tố trinh thám và văn xuôi trinh thám trong văn học thế giới
1.1.1 Khái quát những nghiên cứu về văn học trinh thám
Theo Van Dine, trong Hai mươi quy tắc để viết truyện trinh thám
(American Magazine, 1928), “Truyện trinh thám là một trò chơi trí tuệ” [54] Thể loại văn học này đòi hỏi rất cao về tư duy lý trí, nhất là trong việc tổ chức các sự kiện nhằm tạo “độ căng” cho câu chuyện
Theo các nhà nghiên cứu, truyện trinh thám và truyện đậm yếu tố trinh thám hiện đại trên thế giới có lịch sử khoảng dưới hai trăm năm, xuất hiện gần như đồng thời ở nhiều nước vào đầu thế kỉ XIX với các tên tuổi tiêu biểu như Edgar Allan Poe (1809 - 1849), Honoré de Balzac (1799 - 1850), Charlas Dickens (1812 - 1870), Arthur Conan Doyle (1859 - 1930) Người được coi
mở đầu là E .Poe do ông có những tác phẩm hoàn chỉnh sớm nhất về loại hình, gây ấn tượng sâu sắc với hình tượng viên thám tử tài danh Charles Auguste Dupin
Sau này, tiểu thuyết trinh thám rất phát triển ở nh mà tên tuổi tiêu biểu là nữ nhà văn gatha Christie (1890 - 1976) với hình tượng thám tử Hoecull Poirot Lịch sử văn học thế giới cũng ghi nhận nhiều tên tuổi khác, nổi bật là nhà văn Pháp (gốc Bỉ) Geoges Simenon (1903 - 1989)
Khi mới ra đời, văn học trinh thám chỉ được coi là văn học "hạng hai",
"á văn học", "cận văn học", có địa vị thấp kém Nó không được coi là nghệ thuật đích thực mà giống như những "thứ phẩm" văn chương có giá trị mua
Trang 15vui, giải trí cho đời sống thị dân tẻ nhạt Tuy nhiên khi văn học đại chúng dần dần trở thành một bộ phận lớn mạnh trong đời sống tinh thần của nhân loại, thái độ và đánh giá về văn học trinh thám cũng khác đi Có rất nhiều lời biện
hộ cho thể loại này mà tiêu biểu là bài viết của các cây bút đã từng thử sức với truyện trinh thám như nhà văn G.K Chesterton (Anh) - người được coi là
kế tục xuất sắc E .Poe, nhà văn G.L.Borges (Achentina)
G.K.Chesterton trong các bài tiểu luận về truyện trinh thám đã biện hộ
và chỉ ra nhiều quan điểm phê bình hiện đại về truyện trinh thám như: "A defence of detective stories" (Một sự biện hộ của truyện trinh thám), "Errors about detective stories" (Những sai lầm về truyện trinh thám) Về đại thể, ông lật lại cái nhìn quen thuộc của nhiều người Theo nhà văn, truyện trinh thám được đọc với nhiều nhiệt tình, hứng khởi phần lớn bởi chúng có "tính nghệ thuật", nhưng nhiều người không nhận ra rằng có những truyện trinh thám hay, có tính nghệ thuật Chúng đặt ra rất nhiều vấn đề có ý nghĩa với cuộc sống hiện đại Ông đối thoại với những qui kết giản đơn về truyện trinh thám Trinh thám không phải chỉ là những câu chuyện giật gân chết chóc, mà thực
sự là một sự khải minh về cả nhận thức lẫn nghệ thuật, tạo nên những hứng thú mang tính thẩm mĩ
Jorges Luis Borges trong Edgar Poe và truyện trinh thám khẳng định:
E .Poe là người phát minh ra thể loại truyện trinh thám Truyền thống của
truyện trinh thám được hình thành ngay từ những tác phẩm đầu tiên của Poe: bí
ẩn phải được khám phá bằng trí tuệ, bằng những cách thức của tư duy, hình mẫu nhân vật thám tử và bạn thám tử Ông nhấn mạnh: "Trong thời đại cực kì hỗn loạn của chúng ta, có một thứ vẫn còn giữ, giữ một cách khiêm tốn những giá trị truyền thống đó là truyện trinh thám Ta không thể hình dung ra một truyện trinh thám không có phần mở đầu, thắt nút và cởi nút , truyện trinh thám đang tham gia giữ gìn cái trật tự trong một thế giới vô trật tự Đó chính là
Trang 16một chiến công không phải là vô giá trị mà quần chúng cần biết ơn" [31]
T.Todorov trong Thi pháp văn xuôi khách quan và công minh hơn khi ông
nhìn nhận giá trị của thể loại trinh thám từ việc xác nhận chuẩn mực thẩm mĩ đặc trưng của nó: "Trong xã hội của chúng ta không có một chuẩn mực thẩm
mĩ duy nhất, mà có hai chuẩn; không thể dùng những đơn vị đo lường giống
nhau để đo nghệ thuật lớn và nghệ thuật b nh dân [48] Todorov cho rằng:
tiểu thuyết trinh thám thuộc lĩnh vực văn học quần chúng, nó có những chuẩn mực; làm tốt hơn những gì các chuẩn mực ấy đòi hỏi là đồng thời làm kém đi, người nào muốn làm cho tiểu thuyết trinh thám hay hơn là người đó đang làm
"văn chương" chứ không phải tiểu thuyết trinh thám Ông chỉ ra các loại hình của tiểu thuyết trinh thám: tiểu thuyết ẩn ngữ, tiểu thuyết đen, tiểu thuyết
phân vân hồi hộp Sự xuất hiện của các loại hình này thể hiện những bước đi
của tiểu thuyết trinh thám trên con đường phát triển của nó [48]
Việc tồn tại những quan điểm trái chiều trong đánh giá một hiện tượng văn học là bình thường Song ngày nay, khi văn học trinh thám đã có một lịch
sử, với lượng tác phẩm khổng lồ và bút pháp không ngừng vận động thì đã đến lúc chúng ta cần công bằng hơn khi xem xét vấn đề Dù những nghiên cứu về văn học trinh thám ở Việt Nam còn khiêm tốn nhưng đây đó cũng xuất
hiện cái nhìn khá tiến bộ Vũ Đức Phúc, trong bài viết Truyện trinh thám (tạp
chí văn học 6 - 1981) đã đánh giá sâu sắc, toàn diện về truyện trinh thám Ông chỉ rõ truyền thống của truyện trinh thám: tính chất ngắn gọn, tính lôgic chặt chẽ, nhiều tình tiết hồi hộp, nhân vật thám tử sáng suốt, thông minh Tác giả khẳng định, với E .Poe, truyện trinh thám đã được định hình và đến Conan Doyle, truyện trinh thám đã phát triển tới mức một thể loại hoàn chỉnh, đòi hỏi một kĩ thuật viết riêng biệt [42]
Cao Vũ Trân trong bài viết Goegers Simenon và tiểu thuyết trinh thám
Pháp thế XX cho rằng: phẩm chất cơ bản của một tiểu thuyết trinh thám
Trang 17đích thực "phải là tiểu thuyết thực sự, phải là một thể loại văn học chân chính, chứ không phải một tác phẩm chỉ thoả mãn chức năng giải trí, thoả mãn trí tò
mò của người đọc" [50] Nghĩa là, truyện trinh thám cũng nghiên cứu con người và những vấn đề bức xúc của xã hội Tính nghiêm túc của thể trinh
thám được biểu hiện ở đó Nguyễn Chiến trong Bản chất t i ác và sự h nh
thành văn học trinh thám, cũng từ G.Simenon đã khẳng định địa vị của văn
học trinh thám, rằng G.Simenon đã "góp phần đập tan những lí thuyết hồ đồ coi trinh thám là thứ văn học phi chính thống, ngoài lề Ông đã đặt ra cho thể loại những nhiệm vụ mới bằng việc đẩy sự nghiên cứu các bằng chứng xuống hàng thứ yếu và tạo ra dạng tiểu thuyết trinh thám khác nghiên cứu về tính cách, tình cảm và tâm lí con người trong bối cảnh xã hội hiện đại luôn luôn phát triển với mọi thang bậc giá trị thay thế lẫn nhau" [13]
Những nghiên cứu về đặc điểm nội dung, hình thức, chức năng, nhiệm
vụ của thể loại này còn rất nhiều, nhưng do khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình, bài viết tiêu biểu Cần nói đến trước tiên những
"khuôn vàng thước ngọc" của truyện trinh thám đã được khái quát vào những
năm 20 của thế k trước, đó là Mười quy tắc viết truyện trinh thám của Ronal Knox và Hai mươi quy tắc để viết truyện trinh thám của Van Dine Hai tác giả
này đã rút ra công thức chung cho truyện trinh thám trên các vấn đề: tình tiết, thủ pháp cần có và nên tránh Có thể nói, những nguyên tắc này góp phần xác định đặc trưng cơ bản của truyện trinh thám, song nó có mặt trái, đối lập với bản chất của sáng tạo là tạo ra một "công nghệ" viết truyện trinh thám có tính máy móc, công thức, đơn giản Ngày nay, công thức trên đã bị các nhà văn trinh thám hiện đại vượt qua, tuy nhiên có những hằng số vẫn đúng với văn học trinh thám mọi thời
G.K Chesterton cũng có những bài viết nói về tính chất, đặc trưng của truyện trinh thám "Erross about detective stories", "How to write a detective
Trang 18stories" (nguồn đã dẫn), trong đó ông bàn đến quy tắc xây dựng cái bí ẩn, đặc trưng của ý tưởng, mục đích của truyện trinh thám Với văn phong nhẹ nhàng Chesterton khiến người ta có cái nhìn thấu hiểu hơn về thể loại vốn bị
kỳ thị này Đặc biệt, tiểu luận của Laurence Devillairs lại đi từ đặc trưng có phần "phi nghệ thuật" của thể loại này để không nhìn nhận nó như một thứ văn học hạng hai mà là thể loại độc đáo, không lẫn với tiểu thuyết hư cấu thông thường Tiểu thuyết trinh thám được biện hộ, bênh vực từ chính bản thể của nó, không vay mượn, hay núp bóng các thể loại khác Ông đặt ra rất nhiều vấn đề mới mẻ về thể loại, nổi bật là nguyên lý về lí do đầy đủ trong truyện
kể, mà cốt truyện là mục đích cuối cùng chi phối tất cả các thành tố tự sự khác (nhân vật, người kể chuyện, các tình tiết ) và quy định hiện thực phản ánh cũng như ý nghĩa của các tác phẩm Ở truyện trinh thám, mọi cái đều đầy đủ, sáng rõ và đơn nghĩa
Từ việc bao quát những nghiên cứu về yếu tố trinh thám và văn xuôi trinh thám trong văn học thế giới, chúng tôi phần nào hình dung được địa vị của nó trong văn học hiện đại, những đặc trưng tĩnh và động của thể loại này,
và tiềm năng của nó
1.1.2 Một vài đặc trưng cơ bản của truyện trinh thám
Mỗi thể loại đều có những đặc trưng cố định và biến đổi năng động trong từng sáng tác riêng Tính cố định là cái quyết định tác phẩm có thuộc về thể loại trinh thám hay không Vì thế, việc xác định những dấu hiệu cốt lõi của yếu tố trinh thám không thể tách rời đặc trưng của thể loại trinh thám Đặc trưng thể loại sẽ gắn với các vấn đề: chủ đề, cốt truyện, nhân vật và thủ pháp
1.1.2.1 Những truyện ể trong suốt
Một trong những đặc trưng cơ bản của truyện trinh thám là những
truyện kể "trong suốt" Chủ đề của văn học trinh thám là một “diễn ngôn" có trước khi người ta đọc tác phẩm Đó là "hằng số" tư tưởng đặt ra như một mặc
Trang 19định với nhà văn: viết về bí ẩn của tội ác, của cái ác trong cuộc sống, trong mỗi con người và khả năng con người khám phá được những bí ẩn đó bằng sức mạnh trí tuệ Vì thế, yếu tố cấu thành nên nội dung của truyện trinh thám
là tội ác "Văn học trinh thám ra đời để phản ánh đề tài tội ác, có thể có hoặc vắng mặt kẻ sát nhân, nhưng cốt truyện đều xoay quanh việc tìm và phanh phui tội ác" [13] Thực ra đề tài, chủ đề cái ác không chỉ có trong văn học trinh thám mà người ta còn bắt gặp nó trong Kinh Thánh, trong bi kịch Hi Lạp, trong kịch Shakespears Nhưng trong văn học trinh thám, tội ác là một
mô típ lặp lại
Vì thế, nhà văn viết truyện trinh thám thường không suy tư nhiều về tư tưởng khi viết mà chỉ suy tư về ý tưởng: anh ta sẽ viết câu chuyện gì - đó là ý tưởng về một bí ẩn (thường là một tội ác) Mục đích chủ yếu của người viết là
kể một câu chuyện hấp dẫn, ly kì, cuốn hút , tức là nhằm giải trí chứ không phải đưa ra những ý nghĩa sâu xa Truyện trinh thám hay là những tác phẩm hướng tới sự giải trí có tính thẩm m chứ không tầm thường, rẻ tiền và đồng thời cũng cung cấp cho con người nhiều kiến thức về cuộc sống, rèn luyện trí tuệ và đem đến những khoái cảm trí tuệ cho người tiếp nhận Do vậy, một trong những đặc điểm nổi bật của truyện trinh thám là cốt truyện mỏng, sự kiện ít hoặc đơn giản, thậm chí đôi khi khó "đánh lừa" được độc giả trong việc phán đoán thủ phạm
1.1.2.2 Cốt truyện v cái bí n
Cái bí n là yếu tố hạt nhân của cốt truyện trinh thám Sự kiện bí ẩn là
cách thức quen thuộc mở đầu cốt truyện trinh thám Để làm nên cấu trúc cốt
truyện trinh thám cần có các yếu tố cơ bản sau: một bí ẩn xảy ra (thường là tội
ác) xuất hiện ngay ở phần đầu truyện, cuộc điều tra về cái bí ẩn của thám tử, cuối cùng là bí ẩn được làm sáng tỏ bằng lôgic tự nhiên Về công thức cốt truyện trinh thám, Borges có nhận xét: "một sự mở đầu dữ dội, thậm chí
Trang 20khủng khiếp, sau đó ở cuối truyện tất cả được giải quyết ổn thỏa" [61] Các nhà nghiên cứu Pháp xác định "truyện trinh thám gồm ba thành phần cơ cấu Trước hết là xảy ra một vụ phạm pháp; thông thường có nạn nhân bị sát hại hoặc mưu sát, có khi chỉ là một vụ trộm cướp quan trọng, kèm theo hoặc không kèm theo bạo lực Thứ hai là có các nhân vật làm công việc điều tra, thường đó là cảnh sát, thám tử nhà nghề cũng có khi nhân vật điều tra không thuộc dạng ấy mà chỉ là cá nhân tiến hành một cách tự do, tài tử… Cuối cùng
là quá trình tìm ra và truy nã thủ phạm trên cơ sở lập luận theo các dẫn chứng Kết thúc sẽ chấm dứt những suy tư về câu chuyện, bởi ý nghĩa của truyện đã
rõ ràng, người ta gần như không có lý do để đọc lại một bí ẩn đã được làm rõ
Ở điểm này, cũng cần phân biệt giữa văn học trinh thám và văn học tình báo, phản gián Bí ẩn trinh thám là tội ác cá nhân (thường là vụ giết người) còn bí
ẩn tình báo là âm mưu chính trị Van Dine cũng có ý thức phân biệt điều này:
"Nguyên nhân của tội ác cần phải luôn luôn tuyệt đối thuộc về cá nhân Những âm mưu mang tính chất quốc tế và những mưu mô của nền chính trị lớn phải dành cho loại tiểu thuyết phản gián" [54] Nguyễn Chiến cũng phân biệt: "Giữa tiểu thuyết trinh thám và tiểu thuyết tình báo có nhiều nét tương đồng ấy là cốt truyện đặc sắc, tình tiết diễn biến nhanh, nhiều đột biến bất ngờ Những tổ hợp chi tiết tranh đấu của thám tử và tội phạm, của tình báo và
cơ quan phản gián, luôn luôn dẫn dắt người đọc đi vào mê cung hứng thú và hấp dẫn Đó là những bài học trí tuệ rất sâu sắc và hữu ích Dù viết theo lối cổ điển hay hiện đại thì các tác phẩm trinh thám và tình báo đều có giá trị nhận thức, khai mở óc lập luận và biện giải lôgic, để lại cho người đọc những suy nghĩ sâu xa về con người, giáo dục lòng căm thù cái ác, khuyến khích sự hướng thiện, tôn trọng những giá trị nhân bản trong xã hội loài người" [13] Theo chúng tôi, văn học tình báo là một "dị loại" của văn học trinh thám vì cơ bản nó tuôn thủ theo những quy tắc của thể trinh thám
Trang 21Chesterton đã đặt ra những nguyên tắc của việc xây dựng cái bí ẩn (cốt
truyện về cái bí ẩn) trong truyện trinh thám Thứ nhất, nhà văn cần thiết tạo ra
một bí ẩn nhưng không được che giấu nó Đó không phải là bí ẩn tăm tối, mù mịt mà là một bí ẩn nằm trong sự sáng rõ - tức là có khả năng được khám phá,
giải đáp Thứ hai, bí ẩn đó không quá phức tạp nhưng cũng không quá đơn
giản Nhà văn cần lý giải điều bí ẩn nhưng không phải giảng giải như một bài giảng Sự diễn giải bí ẩn chỉ là về chính nó, không về vấn đề sâu xa nào khác
Thứ ba, bí ẩn phải diễn tiến cho đến khi sự thật hiện lên rõ ràng Như vậy, bí ẩn
của truyện trinh thám không "bất khả giải" mà luôn hứa hẹn một khả năng sáng
tỏ, tuy nhiên nhà văn phải làm sáng tỏ một cách bất ngờ bằng những thủ thuật che giấu Che giấu không là mục đích của nhà văn trong ứng xử với người đọc, bởi mục đích của truyện bí ẩn đích thực không phải là đánh lừa mà là làm sáng
tỏ, không phải là sự tăm tối mà là ánh sáng theo dạng hình tia chớp
Như vậy, có thể nói với đặc trưng của cốt truyện trên mà truyện trinh thám trở thành một dạng truyện bí ẩn Carolyn Wells trong bài viết "The technique of the mystery stories" cho rằng: "Truyện trinh thám là một bộ phận của truyện bí ẩn - những truyện mà vấn đề được tạo ra và được giải quyết bởi tác giả, bằng cách nhà văn đưa cho độc giả thông thái cơ hội để tìm ra những câu trả lời" Trong định nghĩa về tiểu thuyết trinh thám của từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia cho rằng: Tiểu thuyết trinh thám là một nhánh của tiểu thuyết tội phạm Đó là tác phẩm có vấn đề trung tâm là điều tra về tội ác (thường là những vụ giết người) bởi một thám tử có thể chuyên nghiệp hoặc
nghiệp dư Tiểu thuyết trinh thám là h nh thức ph biến nhất của cả tiểu thuyết
bí n và tiểu thuyết t i phạm Có thể nói, truyện trinh thám là những truyện mà
ở đó điều bí ẩn được làm sáng tỏ chủ yếu bằng hành động của thám tử
Nếu như T.Todorov gọi tiểu thuyết trinh thám ở dạng cổ điển là "Tiểu
thuyết ẩn ngữ" và miêu tả cốt truyện của nó xuất phát từ nền tảng tính nh
Trang 22nguyên Theo ông, truyện trinh thám không chứa đựng một truyện mà là hai
truyện: Truyện về tội ác và truyện về cuộc điều tra, ở dạng thuần khiết nhất, hai truyện này không có điểm chung nào, truyện thứ nhất kết thúc trước khi bắt đầu truyện thứ hai, và cũng là nguyên cớ dẫn đến truyện thứ hai, Ông xác định đặc trưng của hai truyện: "Truyện thứ nhất, truyện về tội ác, kể lại điều
đã xảy ra thực sự, truyện thứ hai, truyện về cuộc điều tra, lý giải người đọc (hay người kể chuyện) biết điều đó như thế nào” [48] Trong kết cấu tác phẩm, hai truyện này tương ứng với đề tài và cốt truyện Song nhận xét này chỉ đúng với truyện trinh thám cổ điển, bởi ở mỗi tác giả, hai truyện này có vị trí quan trọng khác nhau, tuỳ theo mục đích: nhấn mạnh vào bí ẩn tội ác, những mối âu lo về cuộc sống, hay nhấn mạnh vào khả năng, tài trí của con người trong quá trình lí giải bí ẩn Dù vậy, phát hiện này của T.Todorov đã cho thấy sự lắp ghép có tính hình học khá đơn giản của cốt truyện trinh thám: Luôn song hành hai tuyến truyện có mối quan hệ nhân quả với nhau, một tuyến về bí ẩn của tội ác và một tuyến về sự giải đáp bí ẩn đó (cuộc điều tra) Điều đó cho thấy mô hình cốt truyện trinh thám khá đơn giản, sáng rõ, có sự phân tuyến song lại rất tập trung bởi sức hút của hạt nhân trung tâm là điều bí
ẩn, nó thách thức lối tư duy theo thói quen và chỉ được giải mã bằng một bộ
óc siêu việt có khả năng chỉ ra lôgic của sự vật từ những điều tưởng chừng rời rạc và không quan trọng Ở thể loại truyện trinh thám, trí tuệ đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình tạo dựng và giải quyết bí ẩn, tạo ra "độ căng" của tác phẩm, hấp dẫn độc giả
1.1.2.3 Cấu tr c h nh học của h nh tư ng nhân vật
So với truyện kinh dị và truyện khoa học giả tưởng, truyện trinh thám
là thể loại duy nhất người ta biết trước về nhân vật Sự hiện diện của các nhân vật trong tác phẩm giống như những hình mẫu có s n mà nhà văn chỉ cần áp dụng Bởi thế khi đặt ra nguyên tắc viết truyện trinh thám, Van Dine đã nêu
Trang 23những tiêu chí xây dựng hình tượng "Tiểu thuyết trinh thám bắt buộc phải có một thám tử và một thám tử sẽ không phải là một thám tử nếu anh ta không phá án"; “phải xuất hiện một thi thể trong một tiểu thuyết trinh thám” và "kẻ phạm tội bao giờ cũng phải là một người đóng vai trò ít hay nhiều quan trọng trong câu chuyện, nghĩa là một người nào đó mà độc giả đã biết và gây hứng thú cho họ" [54]
Cấu trúc hình học của hình tượng thể hiện ở mối quan hệ giữa các nhân vật Có thể nhận thấy một tam giác nhân vật thống nhất trong truyện trinh thám: thủ phạm - nạn nhân - thám tử Trong truyện trinh thám cổ điển, hoạt động của ba nhân vật này có trình tự nhân quả: xuất hiện nạn nhân, tiếp đó là hành động điều tra của thám tử, sau cùng là thủ phạm bị phanh phui Còn trong các truyện trinh thám và đậm yếu tố trinh thám hiện đại, tuyến tính này
có thể bị phá vỡ Chỉ có ba nhân vật trung tâm với mối quan hệ không phức tạp, song cấu trúc hình học này làm nên một lát cắt đặc biệt của đời sống Trong một số truyện trinh thám hiện đại sau này, tâm lý và tính cách nhân vật
đã được chú ý khai thác hơn, nhưng đó chỉ là những thể nghiệm để tăng thêm gia vị cho tác phẩm
Cách thức xây dựng nhân vật của truyện trinh thám cũng đứng ngoài những luật lệ, quy tắc thông thường Nhân vật trinh thám khác với nhân vật trong tiểu thuyết thông thường ở chỗ không được tô đậm ở mặt cá thể (như tính cách, tâm lý ) mà được xây dựng như những chức năng đã được quy định với vai trò cụ thể trong câu chuyện Nhân vật có thể không quá trung tính, nhạt nhẽo, nhưng cũng không được mô tả một cách đầy đủ và sâu sắc Chúng tuôn theo yêu cầu của sự hợp lý, cốt làm nổi bật toàn vẹn ý đồ s n có của tác giả
Trong tam giác nhân vật đáng chú ý là mối quan hệ cặp đôi thám tử - tội phạm Đây là cuộc đấu trí ngang ngửa giữa hai trí tuệ đáng gờm, mà ở đó
Trang 24thám tử đóng vai trò kẻ chủ động kiếm tìm, còn tội phạm thì là kẻ phát giác được suy luận của thám tử và luôn tìm cách che giấu, xoá dấu vết hay lẩn trốn Thám tử là nhân vật chính của mọi truyện trinh thám với điểm nhìn chủ đạo Nhân vật này được xây dựng với các đặc điểm quen thuộc: cô đơn, lập
dị, có trí tuệ và óc phán đoán, suy luận hơn người nh ta mang dáng dấp của
kẻ đại diện công lý và pháp luật, màu sắc chính nghĩa đậm nét Vì thế nguyên tắc đặt ra là không bao giờ được để thám tử cuối cùng lại chính là kẻ tội phạm, bởi "Thủ phạm cần phải được xác định thông qua hàng loạt những suy luận lôgic chứ không phải thông qua sự tình cờ, sự ngẫu nhiên hoặc qua sự thú tội tự phát" [54]
1.1.2.4 Những thủ pháp
Thủ pháp của truyện trinh thám chịu quy định bởi những đặc thù của đề tài, chủ đề và mục đích của thể loại Nằm trong phạm vi văn học đại chúng và gắn với mục đích giải trí, văn học trinh thám không đòi hỏi người viết phải quá chú trọng tính văn chương Nhưng với tác động của đề tài tội ác, những bí
ẩn, vùng tối trong đời sống xã hội, truyện trinh thám và truyện đậm yếu tố trinh thám buộc phải có những thủ pháp riêng biệt
Với mục đích “kể một câu chuyện" hấp dẫn được người đọc, nên các thủ
pháp trần thuật của truyện trinh thám nhằm ba mục đích: Thứ nhất, tạo sự bí
ẩn, đánh lạc hướng người đọc, Thứ hai, tạo được sự sáng tỏ, dẫn dắt đến việc giải câu đố bí ẩn, Thứ ba, tạo độ mỏng sự nhẹ nhàng của truyện kể Hầu như
các thủ pháp cụ thể trong truyện trinh thám đều gắn với các mục đích trên
Truyện trinh thám đòi hỏi những cơ cấu trí tuệ của bài toán hình sự vốn rất phức tạp, tính lôgic trong tình tiết, sự kiện cho nên ngôn ngữ phải được tổ chức chặt chẽ, tinh vi, duy lý, khoa học để đảm bảo cho các yêu cầu trên Truyện lôi cuốn từ lối kể chuyện bí ẩn đến cách dẫn dắt, xử lý tình huống chặt chẽ, lôgic, cách sắp đặt các chi tiết hợp lý Tuy bản thân câu chuyện tỉ mỉ, cụ
Trang 25thể, có đầu, có cuối, trong kết nối chặt nhưng không nghĩ thay cho người đọc,
mà từ từ dẫn dắt câu chuyện tới mục đích cuối cùng, có những lát cắt tinh tế
về tâm lý xã hội và sự hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực là nhân tố khiến truyện trinh thám hấp dẫn
Thực tế đã chỉ ra rằng, một câu chuyện trinh thám có sức hấp dẫn, trong cơ cấu của nó phải có những cao trào, đột biến Thế nhưng, muốn đi xa hơn trong việc lôi cuốn người đọc, đó chính là việc xây dựng kết cấu mang nhiều yếu tố bất ngờ, khó lường Sự cộng hưởng từ kết cấu bất ngờ, khó lường và kết cấu chặt chẽ, lôgic giúp truyện phát huy hiệu quả tối đa trong việc tạo ra sự ngạc nhiên cho người đọc Trong truyện trinh thám, lấy tưởng tượng làm điều cốt yếu trong sáng tác, tác giả vừa là người đưa ra ma trận và cũng là người chơi ma trận của chính mình, dù sức tưởng tượng tới đâu nhưng trong quá trình triển khai câu chuyện, người viết phải đảm bảo yêu cầu chặt chẽ của mạch truyện để không tự rơi vào cái bẫy do chính mình đặt ra Những chi tiết, tình tiết, k năng nghiệp vụ , được dựng lên một cách hết sức lôgic, cách dẫn dắt tự nhiên, lôi cuốn trong một kết cấu chặt là ưu điểm nổi bật của hầu hết các truyện
1.2 Nhìn chung về yếu tố trinh thám và văn xuôi trinh thám trong văn học Việt Nam
Truyện trinh thám và truyện đậm yếu tố trinh thám hiện đại ở Việt Nam
ra đời muộn, cho thấy về căn bản không có nguồn mạch bản địa hoặc khu vực
mà ngay từ buổi đầu đã mô phỏng truyện trinh thám hiện đại phương Tây Điều này có thể giải thích từ nhiều góc độ: hoàn cảnh lịch sử, sự cô lập quá lâu với văn minh nhân loại, văn học chịu ảnh hưởng Trung Quốc, bối cảnh xã hội thuần nông trì trệ, không nhiều sự kiện giật gân, tư duy văn học thiên về duy cảm hơn duy lí
1.2.1 Những năm đầu thế k XX, trong ảnh hưởng chung của văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp, truyện trinh thám bắt đầu được thể
Trang 26nghiệm sáng tác Sự phát triển mạnh mẽ của in ấn và báo chí đã kích thích xu hướng viết truyện đăng báo, mà những thể loại văn học giải trí như truyện ái tình, võ hiệp, trinh thám là lựa chọn tối ưu để thoả mãn thị dân
Ở miền Bắc, trong những năm 30, 40 của thế k XX, tác phẩm đậm
tính chất trinh thám đầu tiên là Mảnh trăng thu của Bửu Đình (1903-?), in dài
kỳ trên Phụ nữ tân văn năm 1930 Đây là một "ái tình tiểu thuyết" mang tính
chất vụ án rất hấp dẫn thời bấy giờ Từ cuối thập niên 1930 đến trước 1945 là thời kỳ phát triển nở rộ của tiểu thuyết trinh thám ở Việt Nam, xuất hiện cùng lúc nhiều tác giả viết trinh thám mà các tên tuổi được nhắc đến ngày nay là
Phạm Cao Củng với Vết tay trên trần (1936), Chiếc tất nhu m bùn (1938),
Người m t mắt (1940) Thế Lữ với Lê Phong phóng viên (1937), Mai Hương
và Lê Phong (1937), Gói thuốc lá (1940) , Bùi Huy Phồn với Hai giờ đêm nay, Lá thư màu thiên thanh (1943), Nguyễn Ngọc Cầm với Người nấu xác
(1935) Trong đó, Phạm Cao Củng và Thế Lữ là hai nhà văn đã tiến gần hơn
cả đến hình thức hiện đại của truyện trinh thám phương Tây Tuy nhiên nhà văn trinh thám thành danh đầu tiên trong Văn học Việt Nam lại chính là Phạm
Cao Củng Trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan có viết: "Trong các
tiểu thuyết trinh thám của Thế Lữ, Bùi Huy Phồn và Phạm Cao Củng chỉ có tiểu thuyết của Phạm Cao Củng là có phần đặc sắc hơn"
Ở miền Nam, tác giả viết truyện trinh thám đầu tiên là Biến Ngũ Nhy
với tác phẩm Kim thời d sử (Ba Lâu ròng nghề đạo tặc), đăng trên Công luận
báo từ năm 1917 đến 1919, Phú Đức với Châu v hiệp phố - “một câu chuyện
trinh thám mang tính chất võ hiệp kỳ tình”, được độc giả say mê So với nhiều nhà văn đương thời, nghệ thuật tiểu thuyết của ông đã tiến gần hơn với trinh thám hiện đại bằng kiểu kết cấu liên hoàn có lẽ học được từ lexanđre Dumas
và một ngôn ngữ tiểu thuyết khúc chiết, trong sáng, học tập được từ ngữ pháp phương Tây
Trang 27Tuy nhiên, truyện trinh thám và truyện đậm yếu tố trinh thám thời kỳ này được sáng tác chủ yếu phục vụ nhu cầu giải trí, còn non về k thuật và phần lớn học tập máy móc mô hình truyện trinh thám phương Tây Vì thế
chưa thuần khiết, ý thức về thể loại ở các nhà văn chưa thật rõ ràng Thứ nhất,
ngôn ngữ và các thủ pháp còn mang dấu ấn của văn học trung đại, lẫn vào
màu sắc của văn chương Tàu Thứ hai, còn chưa phân biệt trinh thám với loại
truyện phiêu lưu, ái tình, kinh dị Rất nhiều phụ đề trên bìa sách thể hiện sự hỗn hợp về thể loại: "Trinh thám - mạo hiểm - nghĩa hiệp", "tâm lý - trinh thám - ái tình tiểu thuyết" Có hiện tượng này là do những năm đầu thế k
XX, quán tính của văn học trung đại còn mạnh và phong trào dịch truyện Tàu, truyện Pháp đã ảnh hưởng đến việc sáng tác truyện trinh thám, ngoài ra do chạy theo phong trào viết truyện đăng nhật báo nên thường tác phẩm không được đầu tư k càng
Như vậy, dù đã cố gắng phỏng theo mô hình tiểu thuyết trinh thám, các nhà văn Việt Nam đầu thế k XX vẫn chưa thực sự có quan niệm rõ ràng về thể loại
1.2.2 Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, do hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt đã phá hu một trong những nền tảng cơ bản để văn học trinh thám
có thể tồn tại và phát triển, đó là một tầng lớp người đọc thị dân, chủ yếu tập trung ở các đô thị, những người có nhu cầu lớn đối với văn học giải trí
Sau năm 1954, ở một số đô thị lớn miền Nam vẫn còn tầng lớp người đọc này nên văn học trinh thám có điều kiện tồn tại, mặc dù không đóng vai trò chủ lưu và có được ảnh hưởng lớn về mặt xã hội
Ở miền Bắc, văn học trinh thám rẽ sang một nhánh khác, tồn tại dưới dạng một biến thể (biến tấu) của nó là văn học tình báo/ phản gián Chiến tranh và những vấn đề nóng bỏng của chính trị đã khiến thể loại tình báo phát triển mạnh mẽ trong cả lĩnh vực sáng tác và dịch thuật Rất nhiều truyện tình
Trang 28báo của Liên Xô được dịch vào những năm 70, 80, 90 của thế k XX Quãng thập niên 80 chính là thời điểm ra đời của nhiều cuốn tiểu thuyết tình báo Việt
Nam nổi tiếng như X30 phá lưới (1976), Tấm bản đồ thất lạc (1984) - Đặng Thanh, Ông cố vấn: Hồ sơ m t điệp viên (1988) - Hữu Mai Nhưng chỉ đến khi bộ tiểu thuyết Ván bài lật ngửa của tác giả Nguyễn Trường Thiên Lý (bút
danh của nhà văn Trần Bạch Đằng) ra đời, thì tiểu thuyết tình báo - phản gián Việt Nam mới lại có được vóc dáng tương xứng như nó cần phải có, đáp ứng được nhu cầu của độc giả lúc bấy giờ
Trong thời kì đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội, truyện tình báo tiếp tục được chúng ta dịch và sáng tác Truyện trinh thám có một biến thể khác là truyện điều tra hình sự: trung tâm là cuộc điều tra truy bắt thủ phạm (các chiến s công an thay vai trò thám tử tư) Những truyện này nhằm phản ánh
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ an ninh Tổ quốc, chống phá tệ nạn xã hội, Nguyễn Như Phong là cây bút nổi trội trong thể loại này với các tác phẩm
điều tra hình sự dài hơi được chuyển thể thành phim truyền hình như: C cồn
trắng (2002), Chạy án (2006)
Ở nước ta một vài năm gần đây, thể trinh thám hồi sinh trở lại với một
số tác giả như Trần Thanh Hà Vũ điệu tử thần (2007), Di Li Trại hoa đỏ
(2009) Tác phẩm của họ vừa khai thác chất trinh thám phương Tây, vừa đi tìm những sắc thái riêng Di Li kết hợp trinh thám với thể kinh dị Trần Thanh
Hà kết hợp trinh thám với điều tra hình sự Những bước ban đầu này có thể đang nhen lên niềm hi vọng phát triển về một truyền thống thể loại trinh thám trong văn học Việt Nam
1.2.3 Trở lên là cái nhìn khái lược của chúng tôi về dòng mạch trinh thám Việt Nam hơn một thế kỉ với mục đích tạo điểm tựa cho một cái nhìn về yếu tố trinh thám và văn xuôi trinh thám trong dòng chảy văn học Việt Nam Trên thế giới hiện nay, bên cạnh kiểu truyện trinh thám truyền thống cổ điển
Trang 29(truyện ẩn ngữ), nhiều tác phẩm đã đi đến cấp độ những truyện trinh thám siêu hình: phá bỏ mẫu mực trinh thám truyền thống, vụ án không có kết cục, thủ phạm mãi là một bí ẩn, không nhất thiết phải tìm ra Ở Việt Nam, văn học trinh thám không còn thuần một nghĩa như xưa mà trải rộng bao quát nhiều đề tài, lĩnh vực chi phối con người hiện đại Gần đây, Di Li và một số nhà văn trẻ khác đang rất hứng thú với đề tài này Điều đó chứng tỏ mối giao thoa giữa văn chương nghiêm túc và văn học giải trí Xu hướng các nhà văn Việt Nam thể nghiệm đề tài trinh thám rất đáng khuyến khích trong quá trình văn chương Việt hoà nhập nhiều phương diện với thế giới
1.3 Thế Lữ và con đường đến với thể loại truyện trinh thám
1.3.1 Bối cảnh văn hoá, xã hội Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945
Hiện thực đời sống xã hội không chỉ là đối tượng phản ánh một nền văn học nhất định mà còn là nhân tố làm nảy sinh chính nền văn học ấy Theo mối quan hệ biện chứng này thì vào đầu thế kỉ XX, xã hội nước ta đã xuất hiện đầy đủ tiền đề cho một nền văn học hiện đại ra đời
Sau gần nửa thế kỉ bình định về quân sự, đến khoảng đầu thế kỉ XX thực dân Pháp mới thực sự khai thác thuộc địa về kinh tế Sau hai cuộc khai thác thuộc địa (lần thứ nhất từ năm 1897 đến năm 1914, lần thứ hai từ năm
1919 đến năm 1929), cơ cấu xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc Một
số thành phố công nghiệp ra đời, đô thị, thị trấn mọc lên ở nhiều nơi Những giai cấp, tầng lớp xã hội mới: tư sản, tiểu tư sản, công nhân, dân nghèo thành thị , xuất hiện ngày càng đông đảo Một lớp công chúng có đời sống tinh thần và thị hiếu mới đã hình thành, đòi hỏi một thứ văn chương mới
Từ đầu thế kỉ XX, văn hoá Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hoá phong kiến Trung Hoa, bắt đầu mở rộng tiếp xúc với văn hoá phương Tây mà chủ yếu là văn hoá Pháp Luồng văn hoá mới thông qua tầng lớp trí
Trang 30thức Tây học (phần lớn là tiểu tư sản), ngày càng thấm sâu vào ý thức và tâm hồn người cầm bút cũng như người đọc sách Chữ quốc ngữ đã thay thế chữ Hán, chữ Nôm trong nhiều lĩnh vực, từ hành chính công vụ cho tới văn chương nghệ thuật Chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi tạo điều kiện thuận lợi cho công chúng tiếp xúc với sách báo Nhu cầu văn hoá của lớp công chúng mới đã làm nảy sinh những hoạt động kinh doanh văn hoá, làm cho nghề in, nghề xuất bản, nghề làm báo theo kĩ thuật hiện đại phát triển khá mạnh Viết văn cũng trở thành một nghề kiếm sống tuy rất khó khăn chật vật
Cùng với sự chuyển biến của tình hình xã hội, văn học thời kì đầu thế
kỉ XX đến năm 1945, đặc biệt là từ đầu những năm 30 trở đi đã phát triển hết sức nhanh chóng Một nền văn học nghệ thuật mới được hiện đại hoá Đông đảo nhà văn, nhà báo, nhà phê bình, nhà dịch thuật xuất hiện, có cái nhìn khác
về cuộc sống và văn chương, học thuật cùng với nguyên tắc thi pháp mới, tiếp cận hiện đại với những bộ môn, loại hình và thể loại tương đương châu Âu Điều đó được thể hiện qua sự phát triển về số lượng tác giả và tác phẩm, sự hình thành và đổi mới các thể loại văn học, độ kết tinh ở những tác giả và tác phẩm tiêu biểu, được các tầng lớp công chúng bạn đọc mới, chủ yếu ở thành thị nhiệt tình hưởng ứng
Tốc độ phát triển hết sức nhanh chóng như vậy là do sự thúc bách của thời đại Xã hội Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 đã đặt ra biết bao vấn đề về đất nước, về cuộc sống con người và nghệ thuật đòi hỏi văn học thời kì mới phải giải quyết mà ở những thời kì trước đó chưa từng có Tuy nhiên nhân tố quyết định chính là sự vận động tự thân của nền văn học dân tộc Từ xa xưa, dân tộc ta đã có một sức sống mãnh liệt mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc Giờ đây, sức sống đó được tiếp sức bởi các phong trào đấu tranh yêu nước và cách mạng suốt gần nửa thế kỉ, nhất là
từ sau 1930 với sự ra đời của Đảng cộng sản Tiếng Việt và văn chương Việt
Trang 31là một phương diện biểu hiện của sức sống tiềm tàng mãnh liệt đó Sự phát triển của văn học thời kì này còn do sự thức tỉnh, trỗi dậy mạnh mẽ của "cái tôi" cá nhân ở bộ phận thanh niên trí thức sau hàng trăm năm bị kìm hãm Chính "cái tôi" cá nhân này là một trong những động lực tạo nên sự phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng và những thành tựu rực rỡ của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX theo hướng hiện đại hoá
Hoà chung trong sự phát triển mạnh mẽ đó, chúng ta phải kể đến vai trò của Thế Lữ trong sự phát triển và hoàn thiện một số thể loại góp phần làm cho văn học giai đoạn này thực sự có một diện mạo mới, đa dạng, phong phú mang tính hiện đại
1.3.2 Sự xuất hiện và vị trí, vai trò của Thế Lữ
Thế Lữ tên thật là Nguyễn Đình Lễ, sau đó đổi thành Nguyễn Thế Lữ, bút danh Lê Ta (chỉ dùng khi viết báo), sinh ngày 06 tháng 10 năm 1907 tại
ấp Thái Hà, Hà Nội trong một gia đình viên chức nhỏ Quê bố ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Từ Sơn) tỉnh Bắc Ninh; quê mẹ ở Nam Định Thuở nhỏ ở Lạng Sơn, sau đó về Hải Phòng học sơ học và thành chung Năm
1929, học xong năm thứ ba thành chung thì về Hà Nội thi đỗ dự thính vào trường Cao đẳng M thuật Đông Dương, học được một năm thì bỏ
Thế Lữ thuộc kiểu trí thức nghệ sĩ mới tiểu tư sản trong hoàn cảnh đất nước thuộc địa nửa phong kiến Ông xuất hiện từ năm 1932 và trưởng thành trong 13 năm (1932 - 1945) rực rỡ nhất trong tiến trình hiện đại hoá văn học nước nhà trước Cách mạng tháng Tám Một số bộ môn, loại hình và thể loại văn học nghệ thuật mới chủ yếu chỉ có ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX trở đi đều nhanh chóng quen thuộc đối với Thế Lữ Ông không chỉ là một nhà thơ,
nhà báo, nhà phê bình, dịch giả, nhà hoạt động sân khấu, thành viên của Tự
lực văn đoàn, mà còn là người biên tập nòng cốt, mẫn cán của hai tờ báo Phong hoá và Ngày nay
Trang 32Với những bài thơ đầu nổi tiếng, đặc biệt là Nhớ r ng, đăng trên báo
Phong hoá và báo Ngày nay, rồi in thành tập Mấy vần thơ (1935), Thế Lữ đã
góp phần quan trọng nhất mở đầu phong trào Thơ mới, cũng là nhà thơ tiêu biểu, xuất sắc nhất của Thơ mới buổi đầu
Về văn xuôi nghệ thuật, Thế Lữ cũng có những đóng góp đáng kể ở thể loại truyện trinh thám, truyện huyễn tưởng như là mở đầu một thể tài mới, một cách viết mới Trong khi các tác giả văn học hiện thực phê phán như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao dùng ngòi bút của mình để phơi
bày sự xấu xa, thối nát của xã hội thực dân nửa phong kiến Các nhà văn Tự
lực văn đoàn tập trung miêu tả những câu chuyện tình ngang trái do lề thói
phong kiến cổ hủ gây ra, thì Thế Lữ cho ra đời một loạt sáng tác khác hẳn: ông viết truyện trinh thám và các "truyện lạ" theo kiểu E .Poe Hàng loạt
sáng tác của Thế Lữ như Vàng và máu (1934), Bên đường thiên lôi (1937), Lê
Phong phóng viên (1937), Mai Hương và Lê Phong (1937), Đòn hẹn (1939), Gói thuốc lá (1940), Trại Bồ Tùng Linh (1941) đã gây được tiếng vang lớn
Những sáng tác này cho thấy Thế Lữ là một nhà văn có tài quan sát, có óc phân tích sắc bén, có trí tưởng tượng dồi dào, cho nên dù ít đề cập đến vấn đề
gì quan trọng của xã hội và nhân sinh, nó vẫn được đón nhận và được tìm đọc một cách lý thú Cho đến nay, trong lịch sử văn học Việt Nam, Thế Lữ vẫn là một tên tuổi đáng tự hào trong loại sáng tác khá độc đáo này
Khi gia nhập Tự lực văn đoàn, Thế Lữ càng quan tâm đến nghệ thuật biểu diễn kịch nói nhiều hơn Từ năm 1935 - 1937 ông chuyển hướng mạnh sang hoạt động biểu diễn kịch nói mặc dù vẫn ở trong Tự lực văn đoàn, đều đặn làm biên tập, viết báo, sáng tác và công bố tác phẩm văn chương Ông
thành lập nhóm kịch Thế Lữ ở Hải Phòng, tham gia ban kịch Tinh hoa, ban kịch nh Vũ bằng nhiều công việc như quản lí đoàn kịch, chỉ đạo nghệ thuật
diễn, sắm vai và viết kịch bản Thế Lữ còn là một dịch giả dịch những tài liệu
Trang 33về sân khấu và kịch nói, kịch thơ Nói về vai trò của Thế Lữ trong lĩnh vực
này, Phan Trọng Thưởng trong bài viết Thế Lữ - Nghệ sĩ hai lần tiên phong đã
khẳng định: "Thế Lữ là người đầu tiên đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói ở nước ta trở thành chuyên nghiệp và có công xây dựng nó trở thành một nghệ thuật sân khấu hoàn chỉnh" [44]
Có thể nói, không có nhà thơ nào nổi danh vừa giữ vai trò, vị trí mở đầu cả hai lĩnh vực thơ và văn xuôi như Thế Lữ Về văn xuôi nghệ thuật, Thế
Lữ chọn hướng đi riêng, tập trung vào hai loại hình huyễn tưởng và trinh thám Ông là một trong số rất ít nhà văn đầu tiên góp phần lớn hiện đại hoá truyện truyền kỳ, mở đầu truyện huyễn tưởng hiện đại và cũng mở đầu truyện trinh thám ở Việt Nam
1.3.3 Những yếu t ảnh hưởng đến truyện trinh thám của Thế Lữ
1.3.3.1 Xu hướng tiếp nhận chung của thời đại
Từ những năm 1920, sau chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi lớn lao về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Vì vậy, yêu cầu đổi mới nền văn học nước nhà để bắt kịp các nước trên thế giới đã trở thành một vấn đề vô cùng cấp thiết Trên hành trình
tìm kiếm đổi mới đó, Tự lực văn đoàn - một hàn lâm văn học sang trọng, phát
ngôn cho mọi chuẩn mực giá trị văn học được công chúng xa gần thừa nhận
đã ra đời với tôn chỉ Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An
Nam để xây dựng một nền văn chương tiếng Việt đại chúng Văn đoàn đã quy
tụ được rộng rãi tinh hoa văn nghệ trong cả nước và có ảnh hưởng sâu rộng đến tầng lớp thanh niên trí thức thời ấy Cùng với hệ thống giáo dục nhà
trường Pháp - Việt, một trong những kênh tiếp nhận văn học Pháp nói riêng
và phương Tây nói chung, các nhà tân học đã sớm tiếp xúc với nền văn hoá phương Tây, chịu ảnh hưởng trực tiếp của nền văn minh công nghiệp, mà tiêu biểu là văn hoá Pháp
Trang 34Việc học kĩ, hiểu sâu văn học Pháp và văn học thế giới có tác dụng thực
tế góp phần quan trọng trong việc đổi mới, hiện đại hoá văn chương Việt Nam Có thể thấy ảnh hưởng của trào lưu đó nhất quán trong nhiều trí thức, học giả, tác giả cùng thời từ Nam chí Bắc Trong tiểu thuyết đầu tiên viết theo
kĩ thuật phương Tây: Truyện Thầy Lazazô Phi n (1887), tác giả P.J.B
Nguyễn Trọng Quản đã nói mục đích sáng tác của mình là thực hiện niềm mơ ước "làm cho dân tộc các xứ biết rằng người n Nam sánh trí, sánh tài thì cũng chẳng thua ai" [35], Phạm Quỳnh lại chủ trương "đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hoá Âu Tây để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết" Nguyễn Giang một nhà thơ từng đỗ tú tài Tây, chủ trương Dịch văn thư xã, nhằm đem tiếng Việt: "Cái tiếng của một nước càng nhập được nhiều giọng, nhiều điệu thì một ngày nó càng mềm mại và phong phú thêm lên" [35] Khái Hưng thì tha thiết: "Tôi vẫn mong mỏi sẽ có nhà văn dung hợp được văn Thái Tây với văn Á Đông, để gây một lối văn viết theo óc khoa học mà vẫn giữ được thi vị của văn Tàu" [22]
Như vậy, có thể nói không còn là ý thức của một cá nhân, mà là xu hướng tiếp nhận, đổi mới chung của cả một thời đại Cách tiếp nhận có hai hướng khác nhau: một là bỏ hẳn cái cũ, học theo cái mới; hai là tổng hợp văn hoá phương Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại Con đường này ngay từ bước đầu đã được thế hệ tiên phong nhận thức một cách đúng đắn: không cắt đứt quá khứ mà chỉ tiếp nhận bồi bổ thêm, làm giàu đẹp thêm cho bản sắc vốn có của dân tộc Lịch sử đã đặt lên vai họ một trọng trách thiêng liêng, và đó là một lựa chọn hết sức đúng đắn Thế Lữ chính là một trong những nhà văn rất ý thức, chủ động trong sự kết hợp ấy
1.3.3.2 Quan điểm tiếp nhận văn học phương Tây
Có thể nói Thế Lữ là một trong những nhà tân học đầu thế kỉ XX đã sớm tiếp xúc với nền văn hoá phương Tây, tiêu biểu là văn hoá Pháp Ông
Trang 35từng tâm niệm "Làm sao cho văn học ta không kém gì Âu châu" Ngay từ những năm 1929 - 1930, khi còn là sinh viên trường M thuật, Thế Lữ đã cùng với một số bạn bè như Vũ Đình Liên, Trần Bình Lộc, Nguyễn Đỗ Cung, Ngô Bích San tổ chức một "Salon" văn chương nhỏ, mục đích chuyên thảo luận về sự đổi mới văn học, nghệ thuật để theo kịp đà phát triển các nước Thế
Lữ cùng các văn sĩ trong "Salon" văn học đã tập viết văn quốc ngữ, dịch một
số tiểu thuyết nổi tiếng của Pháp ra tiếng Việt Với ý thức chủ động tiếp nhận
để sáng tạo nền quốc văn mới, Thế Lữ khẳng định mục đích sáng tác của mình: "Tôi muốn viết văn, viết báo để ta cùng “mở mày mở mặt”: Pháp họ có nhà văn thì mình cũng có nhà văn Họ làm báo, viết văn, thì ta cũng làm được [56] Cùng với thơ ca, Thế Lữ đã tích cực thử nghiệm ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó hoạt động sôi nổi nhất là báo chí Công việc dịch thuật cũng có ảnh hưởng nhất định đến văn xuôi của Thế Lữ đặc biệt là kết cấu tác phẩm, cấu trúc câu văn Ông sáng tác truyện lạ kiểu “E .Poe” và truyện trinh
thám Lê Phong phóng viên chính là cuốn sách viết theo yêu cầu của báo Nó
đề cập đức tính cần có của người phóng viên: xông xáo đến tận cùng nơi người ta khoá trái sự thật để phanh phui chân lý Cộng thêm chủ trương của
Tự lực văn đoàn lúc ấy là kêu gọi thanh niên bài trừ óc mê tín dị đoan, luyện
óc khoa học, chống phong trào tiểu thuyết thần bí hoang đường Ngoài ra
cũng không thể không nhắc đến mục đích kinh tế: do báo Phong hoá đang bị
ế, ông chủ bút Nhất Linh đã giục Thế Lữ viết Nắm bắt được thị hiếu của độc giả đương thời, ông đã cho ra đời hàng loạt truyện trinh thám và kinh dị với
óc quan sát và phân tích lôgic sắc bén, giàu trí tưởng tượng mới lạ của phương Tây, nhưng vẫn đặt nó trong bối cảnh gần gũi của đất nước và cảm nhận quen thuộc của người dân Việt Nhờ vậy, tác phẩm của ông đã được độc giả thích thú đón nhận
Thế Lữ lúc sinh thời đã thích đọc đủ loại sách trinh thám chọn lọc Ngoài Edgar Poe, Conan Doyle, ông còn đọc tác phẩm của Maurice Leblanc
Trang 36nhà viết truyện trinh thám Pháp (cùng thời với Conan Doyle ở nh), nổi tiếng với loạt truyện nhân vật chính là tên trộm quý tộc hào hiệp Arsene Lupin, được công chúng ở các nước dùng tiếng Pháp yêu thích không kém gì Sherlock Holmes ở các nước nói tiếng nh đầu thế kỉ XX Thế Lữ cũng rất yêu thích những truyện của gatha Christie - nữ văn sĩ người nh Bà đã sống ở Pari từ năm 15 tuổi, từng chịu ảnh hưởng sâu sắc Edgar Poe và Conan Doyle, với hai nhân vật thám tử nổi tiếng Hoecull Porót và Bà Marple (Miss
Marple) Christie được coi là Nữ hoàng trinh thám, và là một trong những nhà
văn quan trọng và sáng tạo nhất của thể loại này Ông còn say mê nghiền ngẫm các loại tư liệu hình sự, tài liệu dạy cách điều tra khám phá bí mật của các cơ quan cảnh sát, toà án Đam mê này chính là một trong những điều kiện quan trọng để Thế Lữ là một trong những người mở đầu thể loại truyện trinh thám sau này
Có thể nói, đến Thế Lữ truyện trinh thám đã có một bước phát triển mới, được khẳng định như một thể loại văn học riêng và là sự tổng hợp Đông
- Tây thú vị, từ sự gặp gỡ và tiếp nhận sáng tạo văn học phương Tây
1.3.3.3 Môi trường sống thuở ấu thơ
Đối với sự nghiệp sáng tác của mỗi nhà văn, nhà thơ thì những kí ức của tuổi thơ, môi trường sống thời thơ ấu (gia đình, xã hội, thiên nhiên, văn hoá) đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành thế giới nghệ thuật của nhà văn Nhà phê bình Hoài Thanh có lần từng nói: "Người ta viết văn bằng ấn tượng lúc 5,7 tuổi" Điều này không riêng gì có ở một số nhà văn, nhà thơ, mà đi vào tìm hiểu Thế Lữ chúng tôi cũng thấy như vậy
Thế Lữ sinh năm 1907, tại ấp Thái Hà, Hà Nội Quê bố ở Phù Đổng, quê mẹ ở Nam Định Ngay từ nhỏ Thế Lữ đã phải sống trong hoàn cảnh gia đình ngang trái, con một bà mẹ không được gia đình nhà chồng công nhận, cậu bé Lễ từ nhỏ đã thấm thía những nỗi cay đắng của tình đời Bố ông làm
Trang 37sếp ở ga Lạng Sơn nên có một thời gian dài Thế Lữ sống ở Lạng Sơn Ở đó cậu bé đã sống trong tâm trạng luôn phải dằn nén những tình cảm của mình với mẹ và cả với u (vợ chính thức của cha), vì bà không muốn cậu thương nhớ mẹ và cũng không thích cậu tỏ ra quí mến u Vì thế, theo Thế Lữ kể lại:
"Ở Lạng Sơn, tôi sống trong sợ hãi và thương nhớ" [47] Trong truyện Gió
ngàn của Thế Lữ, nhân vật cậu bé Nọng Mai, 12 tuổi nhưng quyến luyến yêu
mến Ché Sao - cô gái người Thổ 16 tuổi, thường quan tâm chăm sóc cậu như chị em với một tình cảm khó tả Điều đó cho thấy cậu bé luôn khao khát tình yêu thương, sự trìu mến của tình mẫu tử
Kí ức Lạng Sơn không phai mờ của mười năm đầu đời đã trở thành một nhân tố quan trọng trong thế giới nghệ thuật của Thế Lữ Mảnh đất Lạng Sơn
- nổi danh là đất ma thiêng, nước độc, với khung cảnh thiên nhiên huyền ảo
và những câu chuyện rùng rợn do người thân kể đã tạo cho ông có trí tưởng tượng phong phú, kỳ lạ Theo hồi ký của Thế Lữ được Xuân Diệu ghi lại, thì ngay từ nhỏ khi ở Lạng Sơn, Thế Lữ đã được tiếp xúc với những truyện ghê sợ: "Ngày còn bé, những khi ở với cha, lêu lổng, không ai ngăn giữ Trong khi ấy tiếp xúc với thiên nhhiên, thì cái sợ nhiều hơn là cái đẹp Rừng núi đầy
vẻ bí mật Chuyện người lớn kể cho nghe toàn những truyện ghê rợn: chuyện
để của, chuyện thổ phỉ, chuyện ma cà rồng, ma gà; ông chú xem họ xử chém người ở bên kia biên giới, về kể làm tôi sợ" [16] Điều này phần nào cũng có thể lí giải vì sao tác giả hay viết những truyện kinh dị với bối cảnh là không gian núi rừng với những châu Kao Lâm, những hang Văn Dú, hang thần
(Vàng và máu), Hay Lũng Luông (Gió ngàn) Nhân vật phần nhiều là những
người Thổ, Mán, mụ Ké với những cái tên hết sức lạ lẫm, với những trang phục, phong tục tập quán gợi lên sự khác lạ, bí ẩn Trong thơ cũng vậy, hình ảnh thiên nhiên mây nước quạnh hiu, hoang dại: những rừng thiêng, bóng cả cây già, hùng vĩ nhưng thâm u; cả nhân vật con hổ chúa tể "oai linh
Trang 38của rừng thẳm" Cũng chính là thế giới luôn trở đi trở lại trong sáng tác của ông Đó là dấu ấn của kí ức Lạng Sơn mà mười năm thơ dại đầu đời cậu bé sống với bao câu chuyện huyền bí của núi rừng Rồi hiện thực cuộc sống xứ Lạng với những cuộc săn bắn thú dữ trong rừng, giết hổ, giết gấu, chuyện kể cảnh xử tử ghê rợn bên kia biên giới Tất cả đọng lại trong trí óc non nớt của cậu bé giàu tưởng tượng biết bao nhiêu là câu chuyện hãi hùng, ghê rợn về rừng núi
Có thể nói, những kí ức Lạng Sơn là chất liệu có thực của cuộc sống
mà bản thân đã trải nghiệm, được Thế Lữ huyền thoại hoá, kinh dị hoá vào sáng tác của mình với một tư duy sáng tạo độc đáo, kết hợp với những yếu tố phương Tây mới lạ mà ông được tiếp cận trên ghế nhà trường Pháp - Việt
Đến khi Thế Lữ về Hải Phòng sống với mẹ, mẹ ông hay kể cho ông nghe chuyện trong kinh thánh Abrahan dâng con mình cho Chúa, nên trong con người Thế Lữ có thêm một phần tính cách thần bí Và có lẽ những năm tháng đẹp đẽ đó luôn là dấu ấn mang giá trị tinh thần đẹp nhất góp phần làm nên tư chất của một nhà văn, nhà nghệ sĩ tài hoa để sau này sáng tạo ra những truyện đậm yếu tố trinh thám nổi tiếng được nhiều người biết đến
Ngoài ra, bản thân Thế Lữ còn là một con người luôn phá bỏ những lề lối trói buộc: “Cái ý phá những lề lối trói buộc là nhất quán trong tôi; trước đây khi tôi viết truyện, tôi cũng muốn phá thói quen Trong người mình chứa chất những tình cảm mạnh mẽ về yêu đương, nhưng đương thời đã có bao nhiêu người viết truyện tình rồi, mình còn viết làm gì nữa; cho nên tôi tìm kiếm về một phía khác, một mạch khác” [24] Dường như ông luôn sợ sự nhàm chán của chính mình và sự nhàm chán của công chúng Cho nên lúc nào ông cũng say sưa tìm kiếm, khám phá con đường riêng của mình để đi vào thế giới vô biên của nghệ thuật
Trang 39Như vậy, môi trường sống thời thơ ấu, những kí ức tuổi thơ là những vốn liếng đầu tiên không thể thiếu để nuôi dưỡng tâm hồn các nhà văn, nhà thơ Những kí ức đó đóng vai trò cực kì quan trọng đối với sự hình thành thế giới nghệ thuật của họ Với Thế Lữ, những kí ức tuổi thơ là nguồn nguyên liệu phong phú giúp ông xây dựng thành công "lâu đài truyện trinh thám"
Trang 40CHƯƠNG 2 CỐT TRUYỆN VÀ MÔ TÍP HÌNH TƯỢNG TRONG TRUYỆN TRINH THÁM CỦA THẾ LỮ
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
2.1 Kiểu cốt truyện
Một tác phẩm văn học là một công trình thẩm m bao gồm nhiều bộ phận, nhiều yếu tố hợp thành Sự thành công của một cuốn truyện không phải chỉ cần có những sự kiện ly kỳ, những tình huống gay cấn, những bức tranh thiên nhiên đẹp gợi cảm mà cần có cốt truyện hấp dẫn
Theo T điển văn học (bộ mới, 2004): “Cốt truyện là thuật ngữ chỉ sự
phát triển của hành động, của tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác
phẩm tự sự và kịch, đôi khi cả trong tác phẩm trữ tình” Còn theo T điển
thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục, 2000): “Cốt truyện là chuỗi các sự kiện
được tạo dựng trong tác phẩm tự sự và kịch, nằm dưới lớp lời trần thuật, làm nên cái sườn của tác phẩm” Các ý kiến trên đều cho thấy, cốt truyện chính là diễn biến của hành động và các sự kiện nhằm biểu đạt những giá trị tư tưởng của nhà văn
Trong truyện trinh thám, cốt truyện giữ một vai trò quan trọng Nhà văn sắp xếp các tình tiết, sự kiện để giữ bí mật của tội phạm cho đến cùng, tạo nên
sự hấp dẫn, khiến người đọc luôn ở trong trạng thái căng thẳng, có hứng thú cùng với thám tử tham gia vào trò chơi trí tuệ Tuy nhiên, nằm trong dòng chảy chung của nền văn học có nhiều đổi mới, cốt truyện của truyện trinh thám Thế Lữ, bên cạnh những đặc điểm truyền thống, đã có nhiều điểm được cách tân cho phù hợp với tâm lý tiếp nhận của độc giả lúc bấy giờ Cốt truyện của Thế Lữ ít khi đi theo mạch thẳng mà thường bị chi phối bởi ý đồ sắp xếp chi tiết, lựa chọn tình huống, diễn biến tâm lí của nhân vật Cốt truyện không