skkn ngữ văn thpt, skkn ngũ văn thpt hay, skkn ngữ văn cấp tỉnh, skkn ngữ văn THPT hay, SKKN ngữ văn tâm trạng bi kịch của nhà văn ... skkn ngữ văn lớp 11, skkn ngữ văn lớp 12, tải skkn ngữ văn thpt, skkn ngữ văn thpt, skkn ngũ văn thpt hay, skkn ngữ văn cấp tỉnh, skkn ngữ văn THPT hay, SKKN ngữ văn tâm trạng bi kịch của nhà văn ... skkn ngữ văn lớp 11, skkn ngữ văn lớp 12, tải skkn ngữ văn thpt
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO …
TRƯỜNG THPT …
TÂM TRẠNG BI KỊCH CỦA NHÀ THƠ TRUNG ĐẠI
GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX QUA BA TÁC PHẨM
“Thu điếu” (Nguyễn Khuyến), “Thương vợ” (Tú Xương), “Sa
hành đoản ca” (Cao Bá Quát).
Người thực hiện: …
…
Trang 21 Lý do chọn đề tài
A PHẦN MỞ ĐẦU
Thời trung đại là một phạm trù được tính từ khi nước nhà giành độc lập ở cuối thế kỷ X cho đến hết thế kỷ XIX, thời kỳ này còn gọi là thời kỳ phong kiến Thời trung đại là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của văn hóa Đại Việt suốt mười thế kỷ Trong đó văn học là một thành tố vô cùng quan trọng tạo nên diện mạo văn hóa dân tộc Nói tới văn học nước nhà, chúng ta không thể không nhắc tới chủ thể sáng tạo của nền thơ ca rực rỡ đó: Văn học nhà nho
Một trong những đặc trưng thi pháp văn học trung đại là tính quy phạm và việc phá vỡ tính quy phạm Một mặt các tác giả tuân thủ những mẫu phạm có tính chuẩn mực mặt khác luôn có ý thức phá vỡ tính quy phạm để bộc lộ cá tính, giải phóng cảm xúc, ghi dấu ấn phong cách cá nhân đậm nét Thời trung đại ý thức cá nhân, cá thể chưa có điều kiện phát triển Người viết văn có một kho điển cố, thi liệu, văn liệu chung, cũng là những hình ảnh, những ngôn từ ước lệ phi ngã Tất cả đều có nguồn gốc ở kho văn chương cổ Trung Hoa mà người viết văn, làm thơ cũng như người đọc văn, đọc thơ phải thông thạo
Tuy nhiên, văn học chân chính thời nào cũng có và ở thời nào nó cũng là hoạt động sáng tạo, nghĩa là chống công thức và chống phi ngã Sức sáng tạo của dân tộc kết tinh ở những cây bút lớn, ở thời nào cũng có cách khẳng định tư tưởng, cá tính và tài nghệ độc đáo của mình
Nhìn vào thực tế giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn THPT ta dễ nhận ra:
Thứ nhất: Thời lượng dành cho phần văn học trung đại khá lớn: Lớp10:
19 tiết, lớp 11: 21 tiết
Thứ hai: Phần thơ trữ tình trung đại với những cây bút một mặt tuân thủ tính quy phạm, mặt khác lại phá vỡ tính quy phạm, tạo nên một luồng gió nhân văn chủ nghĩa đề cao chất trần tục, trần thế của hạnh phúc, đi sâu vào khám phá tâm hồn của con người như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát … là chủ yếu
Thứ ba: Văn học trung đại Việt Nam là văn học nhà nho với chế độ quân chủ chuyên chế độc đoán đã xuất hiện ở những thế hệ nhà nho chính thống đầu tiên như Chu Văn An rồi tới Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Cao Bá Quát… Đó là tấn bi kịch của cuộc xung đột giữa lý tưởng và hiện thực Và ở từng giai đoạn khác nhau, trong mỗi trường hợp cụ thể tấn bi
Trang 3kịch của nhà nho lại có nét riêng biệt: Với Nguyễn Trãi đầy ảo tưởng, với Nguyễn Du và Cao Bá Quát là những nhà nho tỉnh mộng, Nguyễn Khuyến còn
lo “thẹn với ông Đào” thì với Tú Xương là cả sự bế tắc và bất lực Chính bi kịch
đó tạo nên những giá trị chủ yếu trong tác phẩm với cá tính sáng tạo riêng
Ở phạm vi cũng như mục đích của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập tới ba tác giả
với ba văn bản trong chương trình THPT: Cao Bá Quát với Sa hành đoản ca, Nguyễn Khuyến với Thu điếu và Tú Xương với Thương vợ Soi rọi tấn bi kịch
của nhà thơ để thấy được điểm chung cũng như nét riêng, từ đó giúp giáo viên cũng như học sinh chiếm lĩnh văn bản thấu đáo hơn, khai thác sâu hơn giá trị cơ bản đích thực Bởi xét đến cùng, trong thơ trữ tình, nhân vật trữ tình xuất hiện để bộc lộ nỗi niềm trước cuộc sống Đó là con người mang hình thức vô danh, tự bộc lộ mình bằng cảm xúc, ý nghĩ, cái nhìn bằng thế giới nội cảm
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 11 - THPT (lớp học sinh trình độ đại trà)
- Chương trình SGK, SGV Ngữ Văn THPT và tài liệu tham khảo
- Phạm vi nghiên cứu: Thơ trữ tình trung đại: Cụ thể: Tiết 6: Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến); Tiết 9,10: Thương vợ (Trần Tế Xương); Tiết 14,15: Bài
ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát) của chương trình ngữ văn THPT lớp 11
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Thơ là tiếng nói độc bạch Bởi vậy đọc thơ trữ tình trung đại cũng chính
là để hiểu hồn người nhưng thơ trung đại lại độc bạch trong tính quy phạm và
những nhà thơ tài năng đã phá vỡ tính quy phạm để bộc lộ tâm hồn
- Đây là những nhà thơ tài hoa, có những tư tưởng lớn, khát vọng lớn
- Hiểu được tâm hồn của người làm thơ
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã thực hiện các phương pháp sau: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp thống
kê, phương pháp khảo sát, phương pháp thực nghiệm và phương pháp tổng hợp
5 Giả thiết khoa học và dự báo về những đóng góp mới của đề tài
- Từ trước đến nay dạy văn học trung đại người dạy luôn tuân thủ cấu trúc thể loại nhưng những cây bút có tài năng luôn phá vỡ cấu trúc đó để biểu hiện tâm trạng Người viết đã phá vỡ những giới hạn để bộc lộ tâm trạng của mình
bởi trữ tình là độc bạch Nếu dạy như xưa nay thì học sinh cũng khó để thấy
được sự phá vỡ tính quy phạm trực tiếp bộc lộ cái tôi của những nhà thơ có tài năng, đặc biệt ở ba tác giả: Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Cao Bá Quát Khi chúng tôi thể nghiệm qua giờ dạy thì thấy rằng học sinh đã đọc và tranh luận với chính bản thân mình Giờ học sôi nổi, mở hơn
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1 Cơ sở lý luận
Tác giả theo nghĩa chung nhất là người sản xuất ra các sản phẩm của sáng
tạo trí tuệ, của tình cảm Tác giả văn học chỉ chủ thể của các sáng tác văn học, người sáng tạo ra những giá trị văn học Tác giả là phạm trù quan trọng để xác định diện mạo đặc sắc cho sự tiến triển của một quá trình văn học Ứng với mỗi thời kỳ văn học có một kiểu tác giả sáng tạo ra những giá trị tiêu biểu cho thời
kỳ ấy Từ lâu các nhà nghiên cứu đã thống nhất nhận diện thời trung đại có ba loại hình tác giả tiêu biểu Đó là loại hình nhà nho hành đạo, loại hình nhà nho ở
ẩn và loại hình nhà nho tài tử
Việt Nam không phải nơi phát tích của một trong ba học thuyết Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, càng không phải là nơi một trong ba học thuyết trên phát triển đến đỉnh cao như Nho, Lão ở Trung Quốc, Phật giáo ở Nhật Bản Nhưng hơn bất cứ học thuyết nào trong tam giáo, Nho giáo có vai trò ảnh hưởng quyết định đến lịch sử văn học Việt Nam cũng như một số nền văn học khác trong khu vực: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên … Nền văn học viết Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển liên tục từ cuối thế kỷ X-XIV, lực lượng sác tác văn học chủ yếu là các nhà sư Sau đó Nho giáo dần dần chiếm ưu thế và đạt tới mức toàn thịnh ở thế kỷ XV Ở vị trí ý thức hệ chính thống, Nho giáo chi phối sâu sắc tới văn học nghệ thuật trên nhiều mặt và qua nhiều nhân tố khác nhau “Tất
cả làm hình thành trong lịch sử cả vùng một loại hình văn sỹ, văn nghệ, một loại hình văn học nghệ thuật viết cùng những thể loại, theo cùng một quan niệm văn học, cùng những tiêu chuẩn về cái đẹp nghệ thuật” (Trần Đình Hượu)
Văn học nhà nho là phần chủ yếu của văn học viết Việt Nam thời trung đại
Khái niệm này cũng để chỉ văn học do nhà nho viết dưới ảnh hưởng của quan niệm Nho giáo Mọi người đều biết , nhà nho đi học ra làm quan Ra hành đạo làm quan không đơn giản chỉ làm những công việc giấy tờ, hành chính sự vụ mà còn đem hiểu biết về văn hóa, chính trị giảng giải, khuyên bảo, can gián người lãnh đạo, trước hết là vua chúa Nhà nho bao giờ cũng chủ trương nhập thế, chủ
trương lối sống có trách nhiệm với xã hội Vũ trụ nội mạc phi phận sự (Những
việc trong vũ trụ không việc gì không là phận sự - Nguyễn Công Trứ) Nhà nho luôn quan sát, trăn trở, suy tư về cuộc sống xã hội, với những vấn đề mà cuộc sống gợi ra Và khi đứng trước những thay đổi sơn hà, thời cuộc nhiễu nhương
Trang 5vua không ra vua, bề tôi chẳng ra bề tôi thì giấc mộng múa kiếm dưới trăng vỡ
òa Vì thế nỗi đau ngấm ngầm về sự bơ vơ, mất phương hướng càng thêm chua chát ngậm ngùi
Bi kịch của những nhà nho trước hết là tấn bi kịch của cuộc xung đột giữa
lý tưởng và hiện thực Và ta đã chứng kiến trong lịch sử những thế hệ nhà nho
để bảo vệ văn hóa của Nho giáo thậm chí đã phải chết để kết thúc tấn bi kịch đó
Có những nhà nho đã tìm lối thoát khác, một phương thức hữu hiệu khác, trở về với thiên nhiên trong sạch cao khiết (như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến…) Và ở trong từng giai đoạn khác nhau tấn bi kịch của nhà nho lại có nét riêng biệt
Vấn đề này đã được một số nhà nghiên cứu như Trần Đình Hượu,Trần Ngọc Vương…bàn tới trong những chuyên sâu của mình, ở đây chúng tôi muốn
nhắc lại về loại hình nhà nho để thấy được tình huống lưỡng nan trong tâm hồn
nhà nho - bi kịch sâu sắc trong tâm hồn mỗi nhà nho làm nên những giá trị chủ yếu trong thơ trữ tình trung đại
Tác giả nhà nho có ba dạng thức: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử
Nói tới nhà nho hành đạo, chúng ta nghĩ ngay tới kiểu mẫu nhà nho học chữ thánh hiền, tích cực nhập thế với lý tưởng trí quân trạch dân, phò vua giúp đời Nhà nho hành đạo sống đúng với lý tưởng Tu thân - Tề gia - Trị quốc - Bình thiên hạ Họ sống theo đúng chuẩn mực của đạo lý nhà nho Trong thơ ca, nhà nho hành đạo thường để lại cho đời thể tài ngôn chí vô cùng độc đáo và giàu tính nhân văn Ở đó con người bổn phận, trách nhiệm của cá nhân với sơn hà xã tắc được đề cao thành lý tưởng sống Tư tưởng ấy sẽ khích lệ, cổ vũ kẻ sỹ lập công và ghi danh để trả món nợ công danh với vua với nước
Loại hình nhà nho ở ẩn là những con người xuất thân từ cửa Khổng sân Trình thời trẻ cũng theo đuổi nghiệp đèn sách nhưng gặp thời loạn lạc, kỷ cương
đổ nát họ chủ động từ bỏ chốn quan trường về ở ẩn theo triết lý lánh đục về trong để bảo toàn khí tiết thanh cao của một nhà nho trọng danh dự Nhà nho ở
ẩn từ bỏ giấc mơ tham chính là để vui thú điền viên, tìm chốn non kỳ thủy tú, sống hòa mình với tự nhiên Và chính nơi đây hồn thơ cất cánh và để lại cho hậu thế mảng thơ điền viên rất độc đáo Mọi quy phạm, công thức của thơ cổ điển ít nhiều bị hiện thực cuộc sống hóa giải Mảng thơ điền viên đã ghi lại những bức tranh phong cảnh hữu tình, những vần thơ thiên nhiên thanh nhã
Nếu nhà nho ở ẩn đứng trước sự lựa chọn xuất - xử, hành - tàng đã quyết
Trang 6định cách cáo lui theo minh triết bản thân thì nhà nho tài tử sinh ra trong thời buổi lý tưởng của nhà nho bị phá sản, mọi giềng mối bị rối loạn, nhà nho không còn biết tin cậy vào đâu, họ chỉ còn trông vào cái tài và nhân cách của mình Và
kẻ sỹ thời kỳ này chỉ còn biết dựa vào điểm tựa ấy để tồn tại, ứng xử với đời Trong thơ ca trung đại, bên cạnh kiểu con người bổn phận, con người an phận ta bắt gặp con người ý thức cá nhân bắt đầu xuất hiện Họ cậy vào tài năng và nhân cách hơn đời của mình để tự xếp mình đứng cao hơn thế nhân Chính kiểu nhà nho này mang tới cho văn học dân tộc ở giai đoạn cuối của xã hội phong kiến kiểu tác giả thị tài và đa tình vô cùng độc đáo Làm nên một trào lưu văn học nhân đạo với thể tài thi duyên tình rất hấp dẫn Chính loại hình tác giả này là chủ thể thúc đẩy quá trình phá vỡ tính quy phạm của thơ ca cổ điển tích cực nhất nhằm giải phóng cảm xúc, bộc lộ cá tính và cuối cùng là thúc đẩy văn học dân tộc tiếp cận với văn học hiện đại phương tây
Việc phân loại trên là một thao tác cần thiết để nhận diện ra đặc trưng phong phú của thơ ca trung đại, làm nên diện mạo một nền văn học trung đại rực
rỡ trong tiến trình lịch sử văn học nước nhà Đây là tiến trình một đi không trở lại nhưng mãi mãi ghi dấu ấn sâu sắc trong đời sống tâm hồn dân tộc Bởi xét đến cùng lịch sử văn học dân tộc là lịch sử tâm hồn dân tộc
2 Cơ sở thực tiễn
Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản văn học đòi hỏi người giáo viên có năng lực thẩm văn tốt, có nghệ thuật sư phạm để tổ chức, dẫn dắt Bên cạnh đó, vốn tri thức văn học sử vững vàng và cách đọc liên văn bản cũng mang yếu tố quyết định đến việc tạo hứng thú, sức hấp dẫn và khoa học trong giờ dạy văn Nếu thiếu đi cái nhìn liên văn bản, tri thức văn hóa học, người dạy rất dễ rơi vào tình trạng “thấy cây nhưng không thấy rừng”, không nhận ra dòng chảy liên tục của văn hóa trong đó có văn học Người dạy thiếu đi một cái nhìn tham chiếu, so sánh Hoặc giả có so sánh thì rơi vào tư duy so sánh hơn kém, một lối tư duy tối
kị trong dạy văn Trên thực trạng chung đó, chúng tôi đề xuất hướng tiếp cận dưới cái nhìn tham chiếu với mục đích vừa nhận ra cái độc đáo, riêng biệt của mỗi phong cách tác giả đồng thời thấy được sự gặp gỡ, thống nhất ở một loại hình tác giả, một thời kì văn học Nhất là văn học trung đại, một loại hình có sự gián cách về thời gian lịch sử và văn hóa đối với học sinh hiện nay và ít nhiều đối với giáo viên Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận tâm trạng bi kịch của nhà thơ trung đại giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX qua ba tác phẩm nhằm tạo hứng thú học văn và rèn kĩ năng sống cho học sinh trong giờ đọc văn Bởi xét đến cùng văn học là nhân học và lịch sử văn học dân tộc là lịch sử
Trang 7tâm hồn dân tộc.
II Tâm trạng bi kịch của nhà thơ trung đại giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX qua ba tác phẩm “Thu điếu”, “Thương vợ”, “Sa hành đoản ca”.
1 Thu điếu (Nguyễn Khuyến)
Cùng nằm trong chùm thơ thu được đánh giá là tam tuyệt nhưng Thu điếu
có nét đặc sắc riêng về thể hiện cảnh thu và sự tương hợp giữa cảnh và tình Đó
là sự cộng hưởng giữa mối sầu ủ sẵn trong cảnh và niềm cô đơn ẩn sâu trong lòng người
Là nhà thơ của làng quê Việt Nam, gần suốt đời mình ông gắn bó với thôn
quê, hòa hợp và thấu hiểu mảnh đất quê nhà Vì thế, cảnh vật làng quê trong thơ
ông hiện lên chân thực và giản dị Đọc Thu điếu ta đã như được đắm mình vào
một không gian thu của vùng tác giả Sự giàu có những hình ảnh, chi tiết gợi tả đầy tính hiện thực trong bài thơ cho ta ấn tượng đó
Nét riêng của hồn quê Bắc Bộ, cái hồn dân dã được gợi lên từ khung ao hẹp, từ cánh bèo, từ ngõ trúc quanh co Không khí mùa thu được gợi lên từ sự
dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh vật Ở màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt Ở đường nét, sự chuyển động: sóng hơi gợn tý, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng.Ở sự hòa sắc tạo hình: cái thú vị của bài Thu điếu là ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi (Xuân Diệu) Ở đây, tất cả sự vật được
nhắc tới đều xứng hợp với nhau, như tuân theo một trật tự: ao thu nhỏ nên
thuyền câu bé, gió nhẹ nên sóng gợn tý: Trời xanh nên nước thêm trong; khách vắng teo nên người ngồi câu cũng trầm ngâm yên lặng; đặc biệt mảng màu xanh
của nước, của tre hòa hợp với màu xanh của trời
Cảnh vật được miêu tả ở bài thơ nổi bật nhất với đặc điểm trong và tĩnh Ao nước trong có thể nhìn thấy đáy (trong veo) Sóng biếc phản chiếu màu mây trời,
màu cây cối Trời ít mây nên càng nổi bật màu xanh ngắt Bên cạnh phạm trù
trong là thuộc tính tĩnh: mặt ao lặng (lạnh lẽo), sóng hơi gợn (gợn tý), gió khẽ đưa lá vàng, khách vắng teo, tiếng cá đớp động nghe như có như không, càng
làm tăng sự yên ắng, tịch mịch của cảnh vật
Đến với Thu điếu là đến với vẻ đẹp của cảnh thu gần gũi, thân thuộc cho mùa thu làng cảnh Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ Đến với Thu điếu là đến
với cõi lòng ẩn kín đầy tâm sự của thi nhân qua mọi yếu tố cấu thành của bài
thơ: từ ngữ, vần, nhịp, sự đối xứng, hòa thanh, phối sắc Đến với Thu điếu không
Trang 8phải đến với câu chuyện câu cá bởi phải chăng đó chỉ là cái cớ để mượn cảnh nói tình theo lối đề vịnh
Nói câu cá nhưng thực ra là để đón nhận trời thu, cảnh thu vào cõi lòng
Một cõi lòng yên tĩnh, vắng lặng, một tâm trạng u hoài Cõi lòng đó được thể hiện qua sự cảm nhận độ trong veo của nước, của sóng, của lá, của trời, âm
thanh của cá… Đặc biệt tâm sự của người viết được bộc lộ qua các từ láy: lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng và cả vần eo tử vận tài tình Từ lạnh lẽo không chỉ nói về
khí lạnh tỏa ra từ mặt nước cùng vẻ hiu hắt của cảnh vật mà còn gợi nghĩ đến cái
gì như là nỗi u uẩn trong lòng nhà thơ Tẻo teo vừa miêu tả kích thước bé tý của
chiếc thuyền câu lại vừa góp phần đưa đến cho người đọc suy nghĩ: mọi sự vật như đang cố thu mình lại để không làm ảnh hưởng tới không khí trầm mặc mà
nhân vật trữ tình muốn có Cùng với từ lơ lửng đã diễn tả tài tình trạng thái phân thân hay mơ màng của người ngồi câu giữa ao thu lặng Và nét vẽ quanh co -
một mặt tạo hình được sự ngoắt ngoéo của ngõ xóm hút sâu vào màu xanh tre trúc, mặt khác đem đến cho chúng ta ít nhiều liên tưởng về tình trạng không thông thoát của những ý nghĩ đang làm cho tác giả phải muộn phiền Đặc biệt
vần eo một loại “tử vận” oái oăm, khó làm được thi nhân sử dụng một cách thần
tình, góp phần diễn tả một không gian thu nhỏ, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của thi nhân
Nói Thu điếu nhưng xem ra nhân vật trữ tình không mấy quan tâm đến chuyện câu cá Nhà thơ nếu không chăm chú dõi nhìn cảnh sắc mùa thu thì cũng
dễ hút hồn vào cái màu xanh thăm thẳm của bầu trời Cho đến khi:
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo Nhà thơ trở về với việc câu cá một cách hờ hững Bởi vậy nên dù với ý cá đâu có đớp động dưới chân bèo hay cá đâu như đang đớp động dưới chân bèo thì
cũng đều thấy rõ tâm trạng không phân định đâu là hư, đâu là thực, thấy rõ nhân vật trữ tình không quan tâm gì đến việc câu cá
Thực ra nghịch lý trên không có gì khó hiểu Trong văn thơ truyền thống
lấy việc câu cá để từ chối việc làm quan, coi câu cá là việc câu người, câu quạnh, câu lười như trong thơ của Bạch Cư Dị, thơ của Lục Du (đời Tống), hay như Nguyễn Trãi: Thương ta lâu nay bị cái mũ nhà nho làm hỏng việc Vốn ta là người chỉ ưa cày nhàn câu quạnh thôi (Ta dư cửu bị nho quan ngộ Bản thị canh
nhàn điếu tịch nhân – Đề canh ẩn đường của Từ Trọng Phủ)
Rõ ràng việc câu cá trong bài thơ là một cái cớ nghệ thuật Câu cá mà
Trang 9không cần được cá, câu cá mà ở tư thế bất động thế kia khác nào ngư ông từ bao thế kỷ trước hiện về, hiện về trong tâm thế hoài cổ đến xa xăm để tìm lại cái gì nơi quá vãng Con thuyền trên chiếc ao thu đã dẫn tâm linh nhà thơ tới cái niềm nguồn cội với bao nhiêu thao thức tủi hờn Tâm sự, tâm trạng của một nhà nho
khí tiết, nó chỉ nhẹ như tiếng đớp động dưới chân bèo của con cá kia thôi mà
vọng vào tâm tưởng như một khúc đoạn trường thăm thẳm, mênh mông giữa trời thu cao rộng ngút ngàn Tính đa nghĩa, đa tầng, sự hàm súc của văn chương với
tài năng của nhà thơ cho ta một định nghĩa đích thực: văn chính là người.
Như vậy song song với việc cảm thụ vẻ đẹp tươi trong có phần quạnh quẽ của cảnh vật, người đọc đã thực sự thấu hiểu niềm tâm trạng riêng của thi nhân Tâm trạng u hoài là yếu tố thứ nhất khiến nhà thơ tìm tới biểu hiện và bộc lộ
một cách trọn vẹn trong Thu điếu Vậy tại sao tác giả lại có tâm trạng ấy? Muốn
lý giải một cách thấu đáo ta phải đặt nó trong chỉnh thể của toàn bộ sáng tác Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến vốn tiêu biểu cho người nho sỹ thành công trên con đường học vấn và hoạn lộ trong môi trường đào tạo của chế độ phong kiến Thế nhưng khi Nguyễn Khuyến đạt tới đỉnh cao danh vọng - làm đến hàng Tổng Đốc, thì ông lại quày quả xin cáo quan về ở ẩn Bi kịch bắt đầu từ đây Trước hết là tình thế rối ren trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn, tiếp đến Pháp chiếm Hưng Hòa… Chế độ phong kiến trở thành gánh nặng của lịch sử, không đủ khả năng đưa đất nước thoát khỏi họa ngoại xâm và nô dịch Hệ tư tưởng mà nhà nho từng tôn thờ đã trở nên lỗi thời Loại hình nhà nho như Nguyễn Khuyến bó tay trước những đòi hỏi của thời cuộc Và hơn ai hết, Nguyễn Khuyến ý thức sâu sắc về tất cả những điều đó Ông luôn cảm thấy băn khoăn, bứt rứt vì mình không được làm gì hơn cho đất nước, không đủ dũng khí xả thân nơi hòn tên mũi đạn như nhiều chí sỹ Cần Vương khác Nguyễn Khuyến luôn cảm thấy cô độc và sợ mọi người không hiểu cho mình, coi thường mình Điều duy nhất mà ông có thể làm
là tỏ thái độ bất hợp tác với kẻ thù dân tộc, lui về quê ở ẩn nhằm giữ gìn tiết tháo, nhân cách và cũng để quên đi những dằn vặt đớn đau Nhưng muốn quên
mà không quên được Hơn thế tại chốn ẩn dật, ông lại phải đối diện với muôn sự phức tạp của cuộc đời Không phải khó hiểu khi ta thấy tâm sự buồn, u uẩn, day dứt chi phối trong sáng tác của Nguyễn Khuyến, dù ông có viết về đề tài nào đi nữa
2 Thương vợ (Trần Tế Xương)
Thương yêu, kính trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm
Trang 10thơ viết về vợ Và Thương vợ là một trong những bài thơ xuất sắc nhất Trong Thương vợ cũng như nhiều sáng tác khác của Tú Xương viết về bà Tú nhưng
thực ra luôn có sự song hành của hai hình tượng: hình tượng bà Tú được thể hiện một cách nổi bật trực tiếp và hình tượng ông Tú được khắc họa một cách gián tiếp nhưng vẫn rất sắc nét, sâu sắc
Nhìn chung, thơ của Tú xương phức tạp nhưng vẫn thống nhất ở một điểm:
Đó là nỗi đau trước sự đảo ngược giá trị xã hội Trong khi thơ Nguyễn Khuyến lựa chọn sự vinh nhục, thì thơ Tú Xương vạch trần hiện thực, xem giá trị nào là thật, giá trị nào là giả Vì ở thời Tú Xương - cuối thế kỷ XIX khi bắt đầu xảy ra
sự va chạm giữa xã hội phong kiến và nền văn minh tư sản, dưới ách thống trị thực dân, cuộc sống tưởng như xây dựng trên nền tảng bất khả xâm phạm, bỗng nhiên bị phủ định không thương xót, cái tưởng là thiêng liêng, là bất di bất dịch bỗng trở thành lỗi thời, thảm hại, lố lăng Mọi giá trị xã hội đều bị đảo lộn dưới
áp lực của đồng tiền và biến đổi kinh tế xã hội Mọi sự vật đều bị cái giả bao trùm che đậy Nỗi bất hạnh của cuộc đời trào ra nên ông thể hiện quan niệm về con người thông qua nhân vật trữ tình là chính bản thân mình Và con người trong thơ Tú Xương là con người bế tắc quay lưng lại với xã hội và bị xã hội đẩy
ra lề
Cả đời Tú Xương đi tìm chân lý lẽ sống trong thi cử để có danh vọng Con đường danh vọng bế tắc nên ông uất ức Ông tìm lẽ sống trong con đường dạy học, con đường dạy học làm ông thất vọng Tìm lẽ sống ở giai tầng nho sĩ thì kẻ
sĩ khoanh tay đứng nhìn, người làm cách mạng, kẻ đào ngũ, người bơ vơ giữa ngã ba đường như Tú Xương lại không dám vượt rào chắn lịch sử Cả ba con đường đi tìm lẽ sống đều bế tắc, ba lý do tồn tại cả đời người đã mất Tú Xương
quay về gia đình, sào huyệt cuối cùng Và Thương vợ là tâm tư của một kẻ sống
thừa khi về với gia đình đời thường Ông ý thức được nỗi đau đó đến tột bậc khi bày tỏ tình cảm của mình với vợ Ông đã đi trước Nam Cao nửa thế kỷ đủ nhận
ra cái tận cùng của nỗi đau đời thừa và đã chết mòn trong cuộc đời sống mòn Quanh năm buôn bán ở mom sông
Câu thơ ngắn gọn đã phản ánh cụ thể chi tiết không gian, địa điểm và công
việc làm ăn của bà Tú Hai từ quanh năm nói lên được nỗi vất vả, tảo tần của bà
Tú triền miên hết ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác Vòng quay vô tận của thời gian cùng với sự tăng cấp ý được sử
dụng để diễn tả sự vất vả từ thời gian (quanh năm), nghề nghiệp (buôn thúng bán mẹt) cho đến không gian địa điểm làm ăn: mom sông.
Mom sông là nơi chênh vênh với ba bề là nước, nó gợi lên sự bất trắc, hiểm