1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình

114 526 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đất đai, thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đất đai; thực trạng khiếu kiện đất đai của các cơ quan có thẩm quyền t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

VŨ THỊ PHƯỢNG

GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN VỀ ĐẤT ĐAI

Ở HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

VŨ THỊ PHƯỢNG

GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN VỀ ĐẤT ĐAI

Ở HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐINH VĂN ĐÃN

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Vũ Thị Phượng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ của nhiều tập thể và cá nhân Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Trước hết, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo – TS Đinh Văn Đãn - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và chính sách; các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn; Ban Quản lý đào tạo Sau đại học Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo và cán bộ UBND huyện Yên Khánh, UBND xã Khánh Hòa, Khánh Phú, Khánh Hồng và Thị trấn Yên Ninh cùng các hộ nhân dân trên địa bàn huyện Yên Khánh đã tạo điều kiện và

hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập số liệu

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn những người thân trong gia đình

và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả

Vũ Thị Phượng

Trang 5

1.3 Đối tượng, nội dung, phạm vi nghiên cứu đề tài 3

2 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU

2.1 Một số lý luận về khiếu kiện, giải quyết khiếu kiện về đất đai 5

2.1.4 Nguyên nhân phát sinh khiếu kiện về đất đai 10 2.1.5 Các nguyên tắc giải quyết khiếu kiện về đất đai 12 2.1.6 Những tác động của khiếu kiện về đất đai đối với đời sống kinh tế xã hội 14 2.1.7 Nội dung giải quyết khiếu kiện về đất đai 15 2.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết khiếu kiện về đất đai 16 2.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết khiếu kiện về đất đai 18

Trang 6

2.2.1 Tình hình và kinh nghiệm giải quyết khiếu kiện về đất đai của một số

2.2.2 Thực tiễn công tác giải quyết khiếu kiện về đất đai ở Việt Nam 23

3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 32

4.1 Thực trạng giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh 40 4.1.1 Thực trạng khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh 40 4.1.2 Thực trạng giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh 54 4.1.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giải quyết khiếu kiện

4.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện về đất đai giai

4.2.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện về đất đai 84

Trang 7

TT Yên Ninh : Thị trấn Yên Ninh

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

3.1 Tình hình phân bố, sử dụng đất huyện Yên Khánh 2011 -2013 31 3.2 Cơ cấu các ngành kinh tế từ năm 2011 – 2013 33 3.3 Tình hình dân số, lao động huyện Yên Khánh 2011 – 2013 35 3.4 Số hộ tiến hành điều tra ở các xã, thị trấn 37 4.3 Tổng hợp tình hình khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh 40 4.4 Tổng hợp số vụ khiếu kiện về tranh chấp đất đai ở huyện Yên Khánh từ

4.11 Đánh giá về công tác giải quyết khiếu kiện đất đai của cơ quan có thẩm

4.12 Ý kiến của cán bộ về những khó khăn trong công tác giải quyết khiếu

4.13 Ý kiến của người dân, cán bộ về nguyên nhân công tác cấp GCNQSDĐ

4.14 Đánh giá của người dân về những hạn chế của đội ngũ cán bộ trực tiếp

giải quyết khiếu kiện đất đai ở huyện Yên Khánh 77 4.15 Ý kiến của người dân về công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

4.1 Tổng hợp loại đất phát sinh khiếu kiện ở huyện Yên Khánh 484.2 Kết quả giải quyết khiếu kiện đất đai thông qua hòa giải ở huyện

4.3 Tình hình giải quyết khiếu kiện đất đai ở huyện Yên Khánh 67

Trang 10

DANH MỤC HỘP

4.1 Ngày nay, bọn trẻ thường nghĩ đến lợi ích bản thân… 46

4.2 Giá trị đạo đức bị đảo lộn… 47

4.3 Khiếu kiện đất đai phát sinh nhiều theo từng đơn vị xã 49

4.4 Không ai chịu thừa nhận mình sai 49

4.5 Giá đền bù như thế thì chúng tôi làm sao chấp nhận được… 52

4.6 Ngày xưa, các quy định không như vậy… 53

4.7 Hoà giải khiếu kiện đất đai giúp giảm tải áp lực cho UBND huyện 61

4.8 Bao giờ có tiền thì kiện tiếp… 65

4.9 Càng ngày, các khiếu kiện đất đai ngày càng phức tạp … 66

4.10 Giải quyết khiếu kiện về đất đai rất mất thời gian… 73

4.11 Hiếm khi thấy Nhà nước xin lỗi dân… 73

4.12 Khó đến đâu, xin ý kiến đến đó… 75

4.13 Bức xúc lắm, nhưng cơ chế như vậy… 75

4.14 Giải quyết có tình, có lý thì khó lắm… 78

Trang 11

1 MỞ ĐẦU

1.1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, không có đất đai là không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, không có quá trình lao động nào diễn ra và không có sự tồn tại của xã hội loài người Không những vậy, đất đai còn có vai trò rất quan trọng đi đôi với sự phát triển của xã hội, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng lớn trong khi đất đai lại có hạn, điều đó đã làm cho quan hệ giữa người với người và với đất đai ngày càng trở nên phức tạp

Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là những năm gần đây tình hình khiếu kiện về đất đai ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp

về tính chất, nhất là ở những vùng đang đô thị hóa nhanh Các dạng khiếu kiện về đất đai phổ biến trong thực tế là: khiếu kiện về bồi thường, hỗ trợ tái định cư; về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; về quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất đai, và đặc biệt là các khiếu kiện về tranh chấp về đất đai như: tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp do lấn, chiếm đất; tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; tranh chấp đất đai trong các vụ án ly hôn,

Các khiếu kiện đất đai diễn ra gay gắt và phát sinh ở hầu hết các địa phương

và luôn là vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội Nguyên nhân

cơ bản do sự biến động các mối quan hệ trong quản lý và sử dụng đất đai đã tác động đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, do các thế lực thù địch, phản động và một số phần tử cơ hội chính trị lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đã kích động, lôi kéo người khiếu nại, tố cao tập trung đông, vượt cấp Mặt khác, việc giải quyết khiếu kiện còn nhiếu bất hợp lý, thiếu những quy định cụ thể, rõ ràng, mâu thuẫn, chồng chéo, đường lối xử lý chưa thống nhất, cơ quan nhà nước đôi khi còn buông lỏng công tác quản lý, đã làm tăng tính chất gay gắt của

vụ việc và có nơi trở thành “điểm nóng” ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an

Trang 12

ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đất đai, thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đất đai; thực trạng khiếu kiện đất đai của các cơ quan có thẩm quyền trong những năm gần đây, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp giải quyết có hiệu quả các khiếu kiện đất đai nhằm nâng cao hiện quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai, đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp cho công dân là vấn đề có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn Yên Khánh là một huyện nông nghiệp thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, nằm

ở phía Nam, cách trung tâm thành phố Ninh Bình 5 km theo đường Quốc lộ 10 Phía Bắc giáp khu công nghiệp, khu dịch vụ tổng hợp, trung tâm văn hoá tỉnh Ninh Bình

Do đó, Yên Khánh có nhiều tiềm năng cho việc thúc đẩy kinh tế Sau 20 năm tái lập huyện (từ 01/09/1994 đến nay), cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh và cả nước, huyện Yên Khánh đã có những bước phát triển đáng kể ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển kinh tế, những vấn đề bất cập xảy ra trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện cũng diến biến ngày càng phức tạp

Sau khi có Luật đất đai năm 2003, việc giải quyết khiếu kiện đất đai ở huyện Yên Khánh có nhiều chuyển biến tích cực, đi vào nề nếp Các vụ khiếu kiện kéo dài giảm rõ rệt, công tác giải phóng mặt bằng các công trình được đảm bảo tiến độ Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết các khiếu kiện đất đai vẫn còn nhiều bất cập, tình khiếu kiện diễn ra ngày càng tăng, nhiều sai phạm trong giải quyết khiếu kiện đặc biệt là khiếu kiện về tranh chấp đất đai chưa được khắc phục, hiệu quả giải quyết chưa cao, nhiều vụ việc vẫn còn tồn đọng,

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 13

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về khiếu kiện về đất đai

- Đánh giá thực trạng giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giải quyết khiếu kiện đất đai trên địa bàn huyện Yên Khánh;

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện về đất đai

ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình

1.3 Đối tượng, nội dung, phạm vi nghiên cứu đề tài

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh

Chủ thể đề tài hướng vào nghiên cứu bao gồm:

+ Nhóm chủ thể trong khiếu kiện về đất đai: Hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức kinh tế như hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp, và cơ quan có thẩm quyền

về Quản lý trong lĩnh vực đất đai ở huyện Yên Khánh

+ Nhóm chủ thể giải quyết khiếu kiện về đất đai: UBND cấp xã (cơ quan giải quyết các khiếu kiện về đất đai hoặc tổ chức hoà giải các khiếu kiện về tranh chấp

về đất đai); UBND cấp huyện (cơ quan giải quyết khiếu kiện ở cấp huyện), Toà án nhân dân huyện;

1.3.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu một số vấn đề về lý luận và thực tiễn

về khiếu kiện về đất đai Trong đó, tập trung ở các nội dung cụ thể sau:

Thứ nhất: Công tác quản lý và sử dụng đất đai ở huyện Yên Khánh;

Thứ hai: Nghiên cứu thực trạng giải quyết khiếu kiện về đất đai ở Yên Khánh;

Thứ ba: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh;

Thứ tư: Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi áp dụng tại huyện Yên Khánh nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện về đất đai

Trang 14

1.3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến giải quyết khiếu kiện về đất đai trong đó tập trung nghiên cứu sâu các khiếu kiện về tranh chấp đất đai

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu vấn đề giải quyết khiếu kiện về đất đai tại huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình Tập trung nghiên cứu điểm tại 3 xã và 1 thị trấn Bao gồm: xã Khánh Hòa, xã Khánh Phú, xã Khánh Hồng và Thị trấn Yên Ninh

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2013 Số liệu điều tra tại 4 điểm nghiên cứu tập trung chủ yếu vào năm 2013 Phần giải pháp định hướng đến năm 2020

- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 8/2013 đến tháng 10/2014

Trang 15

2 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT

KHIẾU KIỆN VỀ ĐẤT ĐAI

2.1 Một số lý luận về khiếu kiện, giải quyết khiếu kiện về đất đai

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khiếu kiện

Thực tế, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa rõ ràng về khái niệm khiếu kiện là gì Thuật ngữ khiếu kiện được ghi nhận ở Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, theo đó, “Khiếu kiện” là một từ ghép để nói lên quyền của cá nhân, tổ chức ở nước ta có quyền khiếu nại và khởi kiện về một quyết định hành chính hay hành vi hành chính nào đó mà người khiếu kiện cho rằng trái pháp luật, xâm hại hoặc đe dọa đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Thông qua việc sử dụng thuật ngữ này tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án hành chính năm 1996 và việc sử dụng của các nhà nghiên cứu thì nó được hiểu theo hai cách:

Thứ nhất, theo nghĩa hẹp thì “khiếu kiện” được hiểu là việc cá nhân, cơ quan,

tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị

cá nhân, tổ chức khác xâm phạm Với ý nghĩa này thì khái niệm khiếu kiện đồng nhất với khái niệm khởi kiện (Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, 2000)

Thứ hai, theo nghĩa rộng, “khiếu kiện” là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại đến cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa

án yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị các nhân, cơ quan, tổ chức khác xâm phạm (Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, 2000)

Khái niệm khiếu kiện trong đề tài nghiên cứu này được hiểu theo nghĩa rộng

2.1.1.2 Khiếu kiện về đất đai, giải quyết khiếu kiện về đất đai

Khiếu kiện về đất đai

Khiếu kiện về đất đai là một khái niệm dùng để chỉ việc các cá nhân, cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc Tòa án nhân dân bảo

vệ quyền lợi, lợi ích của họ trong lĩnh vực đất đai

Trang 16

Giải quyết khiếu kiện về đất đai

Giải quyết khiếu kiện về đất đai là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc Tòa án nhân dân tiến hành giải quyết bất đồng, mâu thuẫn của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực đất đai;

2.1.2 Đặc điểm khiếu kiện về đất đai

Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự nên bên cạnh những đặc điểm chung của một khiếu kiện hành chính, khiếu kiện về đất đai còn mang những đặc điểm đặc trưng riêng khác biệt Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, đối tượng của khiếu kiện về đất đai là quyền quản lý, quyền sử

dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng tài sản đặc biệt đó Đất đai là loại tài sản đặc biệt, thuộc quyền sở hữu của Nhà nước

Thứ hai, chủ thể của khiếu kiện về đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền

quản lý và quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng Như vậy, việc các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thực hiện khiếu kiện của mình với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền (Nhà nước) với tư cách là người quản lý hoặc người sử dụng đất

Thứ ba, nội dung của khiếu kiện về đất đai rất đa dạng và phức tạp Hoạt

động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất Đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất) Tất nhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn

Trang 17

Thứ tư, khiếu kiện về đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như:

Có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội

2.1.3 Phân loại khiếu kiện về đất đai

Phân loại khiếu kiện là việc làm cần thiết để hiểu rõ các loại khiếu kiện, là cách thức để tìm kiếm sự trùng lập, chồng chéo của từng loại khiếu kiện, đảm bảo cho quá trình nghiên cứu tiếp cận một cách bao quát, trọn vẹn, hoàn chỉnh, cơ sở khách quan cho việc xác định mô hình giải quyết khiếu kiện tương ứng, trách sự chồng chéo, đổ lỗi cho nhau giữa các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu kiện Việc phân loại có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau:

Theo chủ thể giải quyết khiếu kiện về đất đai bao gồm hai loại: khiếu nại

đến các cơ quan hành chính Nhà nước (UBND các cấp) và khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền;

Theo lĩnh vực liên quan đến quá trình quản lý và sử dụng đất đai thì khiếu kiện bao gồm:

- Khiếu kiện về bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB), hỗ trợ, tái định cư (TĐC): Nhà nước đã tiến hành thu hồi đất, GPMB phục vụ cho các dự án phát triển

Tuy nhiên vấn đề bồi thường và hỗ trợ và tiến hành TĐC cho những diện tích bị thu hồi đất ở nhiều địa phương gặp không ít khó khăn, vướng mắc Một số dự án chưa

có khu TĐC hoặc chưa giải quyết TĐC đã quyết định thu hồi đất ở Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường không đủ để mua nhà ở mới tại khu TĐC Giá đất bồi thường thấp hơn giá đất cùng loại trên thị trường, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị, khu dân cư nông thôn Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp tương tự hoặc không đủ để nhận chuyển nhượng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp để chuyển sang làm ngành nghề khác… dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài;

- Khiếu kiện về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ): Đây là dạng khiếu kiện rất phổ biến hiện nay Dạng này phát sinh

Trang 18

một phần từ sai sót của cơ quan có thẩm quyền, như: Cấp GCNQSDĐ sai sót về tên chủ sử dụng, sơ đồ thửa đất, diện tích Có những trường hợp, không cấp GCNQSDĐ mà không có lý do chính đáng hoặc lý do không rõ ràng Các cơ quan

có thẩm quyền trong quá trình giải quyết lại không giải thích rõ cho dân hiểu lý do tại sao không cấp giấy Quá trình giải quyết hồ sơ diễn ra chậm, gây phiền hà, sách nhiễu gây khó khăn cho người sử dụng đất Một nguyên nhân khác là do quy hoạch treo hoặc do người dân không chấp nhận dù lý do không cấp GCNQSDĐ là chính đáng

- Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản

lý, sử dụng đất đai: Nội dung khiếu kiện này cũng có nhiều dạng, một số người dân

không nắm rõ về Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, Tố cáo nên phát sinh tình trạng vi phạm pháp luật hoặc các trường hợp lấn chiếm, vi phạm quy tắc xây dựng Một số người mặc dù khá am hiểu pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, khi bị phát hiện và

xử phạt thì ngoan cố khiếu nại Bên cạnh đó, cũng có phần trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết như ra quyết định xử phạt sai đối tượng, bị nhầm lẫn, sai tên chủ sử dụng, việc thi hành quyết định xử phạt có sai sót hoặc sai pháp luật, việc ra quyết định không đúng căn cứ pháp luật, việc ra quyết định quá nhẹ hoặc quá nặng hoặc thiếu trách nhiệm, thiếu khách quan;

- Khiếu kiện về tranh chấp đất đai: Đây là loại khiếu kiện chiếm tỷ lệ lớn

nhất hiện nay tại các địa phương Dạng này liên quan nhiều đến việc sử dụng đất đai của các hộ, gia đình, cá nhân Trên thực tế, thường xuất hiện các dạng tranh chấp về đất đai phổ biến sau:

Tranh chấp về quyền sử dụng đất:

Đây là loại tranh chấp luôn có sự tham gia của hai hay nhiều bên Các bên tranh chấp với nhau về quyền quản lý và quyền sử dụng đất Trong loại tranh chấp này có thể chia nhỏ thành các dạng tranh chấp sau:

(1)Tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau về ranh giới giữa những vùng đất được phép sử dụng và quản lý

Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới sử dụng hoặc

do các bên không xác định được với nhau, nó thường xảy ra với các trường hợp đất

Trang 19

đai được chuyển nhượng qua tay nhiều người hoặc do sai sót từ phía cơ quan nhà nước trong quá trình đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ);

(2) Tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong quan hệ thừa kế

Đây có thể là trường hợp người có quyền sử dụng đất chết không để lại di chúc và những người thừa kế theo pháp luật không thỏa thuận được với nhau về việc phân chia di sản thừa kế hoặc không hiểu biết về các qui định của pháp luật thừa kế nên dẫn đến việc phát sinh tranh chấp hoặc cũng có thể người có quyền sử dụng đất trước khi chết có lập di chúc để lại thừa kế quyền sử dụng đất nhưng di chúc đó trái pháp luật;

(3) Tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong quan hệ

li hôn giữa vợ và chồng

Đây là trường hợp khi ly hôn, hai vợ chồng không tự thỏa thuận được việc phân chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nên yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền chia theo công sức đóng góp của mỗi người;

(4) Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người

thân trong những giai đoạn trước đây mà qua các cuộc điều chỉnh ruộng đất đã được chia, cấp cho người khác;

(5) Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của dòng

họ, nhà thờ tổ, thánh thất, chùa chiền…do hoàn cảnh đất nước, do yếu tố lịch sử để

lại, các cơ sở này được Nhà nước mượn, trưng dụng, sử dụng vào các mục đích khác nhau nay họ đòi lại;

(6) Tranh chấp giữa đồng bào dân tộc ở địa phương với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới; giữa đồng bào địa phương với các nông trường, lâm trường

và các tổ chức sử dụng đất khác;

(7) Tranh chấp giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện, xã với nhau Đây

là những tranh chấp diễn ra ở các khu vực có vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế nhưng sự phân chia ranh giới hành chính chưa rõ ràng dẫn đến tranh chấp phát sinh

Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử

dụng đất:

Trang 20

Đây là loại tranh chấp mà một bên trong quan hệ đất đai vi phạm, làm cản trở tới việc thực hiện đến quyền của bên kia hoặc một bên không thực hiện đúng

và đầy đủ nghĩa vụ của mình Tranh chấp này có một số dạng như: Tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất Hiện nay đây là loại tranh chấp phổ biến và có số lượng, mức độ phức tạp lớn nhất, đặc biệt là các tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Tranh chấp về mục đích sử dụng đất

Các tranh chấp này hiện nay cũng diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là tranh chấp trong nhóm đất nông nghiệp, đó là tranh chấp giữa đất trồng lúa và đất nuôi tôm, giữa đất trồng cây hàng năm với đất trồng cây lâu năm, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư… trong quá trình phân bổ và qui hoạch sử dụng đất

Các KKĐĐ trên đây phát sinh giữa những chủ thể sau:

Thứ nhất, phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau (bao gồm giữa

hộ gia đình, cá nhân với nhau giữa hộ gia đình, cá nhân với tổ chức; giữa tổ chức với tổ chức) liên quan đến quyền và nghĩa vụ sử dụng đất

Thứ hai, phát sinh giữa những người sử dụng đất với cơ quan nhà nước (cơ

quan công quyền) liên quan đến việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân

về đất đai;

2.1.4 Nguyên nhân phát sinh khiếu kiện về đất đai

Mỗi khiếu kiện về đất đai đều có nguyên nhân, tuy tính chất, mức độ, phạm

vi khác nhau nhưng nhìn chung các khiếu kiện về đất đai đều gây ra những hậu quả làm ảnh hưởng đến đời sống xã hội Do đó, cần phải tìm ra nguyên nhân để đề xuất những biện pháp hiệu quả nhằm giải quyết, ngăn ngừa và hạn chế tối đa những tranh chấp có thể xảy ra Từ thực tế của hiện tượng khiếu kiện về đất đai có thể chỉ

ra một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Nguyên nhân khách quan

Do sự thay đổi cơ chế quản lý đất đai theo cơ chế thị trường làm cho đất đai ngày càng trở nên có giá Mặt khác, do sự gia tăng dân số trong khi diện tích đất có hạn; do sửa đổi Luật cư trú với các điều kiện nới lỏng cho phép công dân được tự

Trang 21

do cư trú; khuyến khích, tạo điều kiện cho người nước ngoài, Việt kiều được mua nhà tại Việt Nam đã làm góp phần phát sinh tranh chấp, khiếu kiện về đất đai

Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, chính sách, pháp luật đất đai và các chính sách, pháp luật liên quan

đến đất đai thiếu tính thống nhất, không đồng bộ qua các thời kỳ; Luật Đất đai, Bộ Luật Tố tụng dân sự, Luật Khiếu nại tố cáo, Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ

án hành chính còn chồng chéo, mâu thuẫn, không thống nhất Chính sách, pháp luật

về đất đai chưa theo kịp cơ chế kinh tế thị trường, đặc biệt là chính sách tài chính đất đai chưa điều tiết hoặc đã điều tiết, phân phối nhưng chưa hợp lý phần giá trị tăng thêm mang lại từ đất khi sử dụng đất cho các dự án đầu tư như trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, TĐC cho người có đất bị thu hồi

Thứ hai, do nhận thức của người dân về sở hữu đất đai không đồng nhất với

các quy định của Pháp luật; vẫn còn tồn tại các phong tục, tập quán truyền thống, hương ước, luật tục với những quy định lạc hậu về sở hữu đất đai chưa được loại bỏ

đã "ăn sâu, bám rễ" trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng vốn ít có điều kiện

tiếp xúc với pháp luật Trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng (đặc biệt là những người dân sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa hoặc người dân có trình độ học vấn thấp) vẫn tồn tại quan niệm đất đai là của ông cha, tổ tiên để lại Hoặc cũng có một số người dân quan niệm rằng đất đai là của Nhà nước nhưng khi Nhà nước đã giao cho sử dụng ổn định lâu dài và cấp GCNQSDĐ thì là của họ Chính vì nhận thức không đúng này nên trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai ngày càng trở lên có giá thì tình trạng KKĐĐ ngày càng tăng

Ngoài ra, còn do các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ có nhiều biến đổi, anh em, con cháu,… không đoàn kết, mâu thuẫn về quyền lợi, lợi ích, …phát sinh khiếu kiện về đất đai

Thứ ba, do cơ chế quản lý, sử dụng đất đai lỏng lẻo, chưa đầy đủ và phù

hợp Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương cải cách hành chính nhưng kết quả thu được chưa tích cực Có thể thấy công tác quản lý đất đai còn bộc lộ nhiều yếu kém

Sự phân công, phân cấp cho quá nhiều ngành làm cho việc quản lí thiếu thống nhất, chặt chẽ Công tác phân vùng qui hoạch làm chậm, thiếu đồng bộ Việc giải quyết

Trang 22

tranh chấp, khiếu nại, tố cáo còn yếu và chưa nghiêm túc Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất… ở nhiều điều phương vẫn thể hiện sự tùy tiện, việc lơi lỏng trong thanh kiểm tra về đất đai, việc chậm trễ trong cấp GCNQSDĐ là lý do của rất nhiều KKĐĐ nảy sinh và lan rộng Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức thực hiện công vụ liên quan đến đất đai còn thiếu gương mẫu, tùy tiện trong quản lý, vi phạm chế độ quản lý và sử dụng đất đai

Thứ tư, do công tác giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về đất đai còn dựa vào

cảm tính chủ quan, nể nang, chưa đúng pháp luật và thiếu công bằng;

Công tác xét xử các vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất tại Tòa án còn bộc lộ những hạn chế, lúng túng nhất định khi áp dụng pháp luật về đất đai, pháp luật dân sự, đường lối chính sách của Nhà nước về đất đai trong từng giai đoạn lịch

sử dẫn đến một số bản án, quyết định của Tòa án còn chưa thật sự chính xác thiếu khách quan Chất lượng xét xử của Tòa án trong một số vụ chưa cao, có vụ án phải xét xử đi xét xử lại nhiều lần, kéo dài; có những vụ án có sai lầm trong áp dụng pháp luật, cấp trên phải sửa đổi hoặc hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới

Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai ở các địa phương nhìn chung hiệu quả chưa cao, thiếu kịp thời, chưa dứt điểm còn để tồn đọng nhiều đơn thư chưa giải quyết

Thứ năm, do việc thực thi chính sách pháp luật đất đai nói chung và pháp

luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng, công tác cấp GCNQSDĐ nói riêng còn nhiều tồn tại, thiếu sót;

Thứ sáu, công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật chưa thực sự

được coi trọng, vẫn mang nặng tính hình thức, chưa hiệu quả

Tuy nhiên, việc khiếu kiện ở mỗi địa phương khác nhau còn có những nguyên nhân đặc thù và việc tìm ra những nguyên nhân đó phải căn cứ vào thực tế sử dụng đất, và phong tục tập quán của từng địa phương để xây dựng được những giải pháp tốt nhất nhằm giải quyết có hiệu quả từng vụ tranh chấp

2.1.5 Các nguyên t ắc giải quyết khiếu kiện về đất đai

Giải quyết KKĐĐ là mong muốn của các bên khiếu kiện vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ đồng thời cũng là trách nhiệm của Nhà nước bởi Nhà

Trang 23

nước là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai Khi KKĐĐ không được giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng sẽ tác động đến sự ổn định xã hội, quá trình phát triển đất nước Bởi vậy khi giải quyết khiếu kiện về đất đai, đòi hỏi phải tuân thủ triệt để

ý nghĩa kinh tế mà còn bao hàm ý nghĩa chính trị - pháp lí

Đây là nguyên tắc rất cơ bản trong hoạt động giải quyết KKĐĐ, đòi hỏi khi xem xét, giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong quan hệ pháp luật đất đai đều phải thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân, bảo vệ quyền lợi cho người đại diện của chủ sở hữu, bảo vệ thành quả cách mạng về ruộng đất, không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân nghĩa là đất đai không thuộc sở hữu riêng của bất cứ tổ chức, cá nhân nào Các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư, hộ gia đình chỉ là chủ thể có quyền quản lý và quyền sử dụng đất Việc sử dụng đất của họ phải đảm bảo đúng qui hoạch, kế hoạch, mục đích sử dụng đất, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường

2) Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích việc tự hòa giải, thương lượng trong nội bộ quần chúng nhân dân

Đây là nguyên tắc thể hiện tư tưởng đổi mới trong quá trình Nhà nước điều hành các quan hệ xã hội về đất đai Xét cả về lý luận và thực tiễn, khi quyết định tham gia vào một quan hệ nào đó, cái mà người ta mong muốn đạt được nhất chính là một lợi ích nào đó Trong quan hệ đất đai cũng vậy, lợi ích là mối quan tâm hàng đầu của các bên Nếu lợi ích của người sử dụng đất không được bảo đảm thì việc giải quyết khiếu kiện cũng không mang lại hiệu quả như mong muốn Do đó khi giải quyết cần phải hài hòa lợi ích kinh tế của các bên

Trang 24

Mặt khác nguyên tắc này cũng đòi hỏi khi giải quyết khiếu kiện, cần khuyến

khích các bên tự hòa giải, thương lượng với nhau, nhất là các khiếu kiện về TCĐĐ

Đây là cơ sở quan trọng đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự, tiết kiệm thời gian và làm giảm áp lực lên các cơ quan giải quyết cấp trên

3) Nguyên tắc giải quyết KKĐĐ phải nhằm mục đích ổn định tình hình kinh tế, xã hội, gắn việc giải quyết KKĐĐ với việc tổ chức lại sản xuất, tạo điều kiện cho lao động ở nông thôn có việc làm phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Vì KKĐĐ ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội nên khi giải quyết tốt KKĐĐ sẽ góp phần làm cho tình hình kinh tế - xã hội được ổn định, phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống nhân dân Khi giải quyết khiếu kiện cần căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng đất ổn định lâu dài Mặt khác, vì giải quyết KKĐĐ là một nội dung của QLNN do đó mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết khiếu kiện phải chú ý gắn liền với việc tổ chức lại sản xuất, tạo điều kiện cho lao động ở nông thôn có việc làm phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế vì thế cũng cần chú ý đến đặc điểm của từng vùng để có hướng giải quyết phù hợp

2.1.6 Những tác động của khiếu kiện về đất đai đối với đời sống kinh tế xã hội

Hiện nay, KKĐĐ diễn ra phổ biến với số lượng ngày càng tăng, tính chất, mức độ càng phức tạp và phạm vi ngày càng rộng Điều này đã gây áp lực lớn đến các mặt của đời sống kinh tế xã hội

Về phương diện chính trị: các KKĐĐ phát sinh nếu không giải quyết kịp

thời, triệt để thì có thể gây mất lòng tin trong nhân dân từ đó làm giảm hiệu quả trong việc thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Về phương diện kinh tế: khi các khiếu kiện xảy ra trước hết nó ảnh hưởng

trực tiếp đến tâm lý, thời gian, tiền bạc của các bên sau đó làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan nhà nước Bên cạnh đó nó có thể làm ngưng trệ, đình đốn các hoạt động sản xuất kinh doanh, gây thiệt hại đến lợi ích của các bên, lợi ích của nhà nước và xã hội

Trang 25

Về phương diện xã hội: Các KKĐĐ là một trong nguyên nhân gây nên rạn

nứt trong mối quan hệ tình cảm giữa cha mẹ, vợ chồng, anh chị em… từ đó phá vỡ các chuẩn mực đạo đức xã hội, trong nhiều trường hợp còn dẫn đến việc vi phạm hình sự kéo theo hàng loạt phức tạp khác tác động tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự xã hội

Như vậy khi xem xét tác động của KKĐĐ đối với các mặt của đời sống xã hội, chúng ta thấy được mức độ nguy hại cũng như tính cấp bách trong việc tìm ra các giải pháp hiệu quả để giải quyết các khiếu kiện này nhằm ổn định xã hội, tạo đà cho phát triển kinh tế đất nước

2.1.7 Nội dung giải quyết khiếu kiện về đất đai

Nghiên cứu nội dung giải quyết khiếu kiện về đất đai chúng tôi tập trung vào nghiên cứu phương thức giải quyết khiếu kiện về đất đai Trước hết, về thực trạng giải quyết KKĐĐ ở huyện Yên Khánh chúng tôi phân biệt rõ mối quan hệ chủ thể tham gia quan hệ đất đai

Một là, khiếu kiện thể hiện mối quan hệ giữa người sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý trong lĩnh vực đất đai Bao gồm các loại khiếu kiện sau: khiếu kiện về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, khiếu kiện về việc cấp, thu hồi GCNQSDĐ, khiếu kiện về quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất đai;

Hai là, khiếu kiện thể hiện mối quan hệ giữa các các nhân, tổ chức bình đẳng

về quyền và nghĩa vụ trong việc sử dụng đất bao gồm tất cả các khiếu kiện về tranh chấp đất đai

Theo Luật Đất đai năm 2003 quy định các KKĐĐ được giải quyết theo các phương thức sau: (1) Hoà giải; (2) Giải quyết bởi cơ quan hành chính; (3) Giải quyết thông qua Toà án

Về hoà giải KKĐĐ: Theo Quy định của Luật đất đai năm 2003 và Điều 159

Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, hoà giải KKĐĐ được thực hiện theo ba bước sau đây:

(1) Các bên tự thương lượng

(2) Hoà giải cơ sở

(3) Hoà giải tại UBND cấp xã nơi có KKĐĐ

Trang 26

Về giải quyết KKĐĐ tại cơ quan hành chính

UBND cấp xã có thẩm quyền giải quyết đối với những khiếu kiện về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, khiếu kiện về việc cấp, thu hồi GCNQSDĐ, khiếu kiện

về quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất đai mà không có thẩm quyền giải quyết những khiếu kiện về TCĐĐ;

UBND cấp huyện, cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tất cả các KKĐĐ mà đương sự không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ được qui định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003

Về giải quyết TCĐĐ tại Toà án nhân dân

TAND giải quyết các KKĐĐ mà đương sự có GCNQSDĐ hoặc có một trong các loại giấy tờ qui định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003

2.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết khiếu kiện về đất đai

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác giải quyết khiếu kiện về đất đai Trong nghiên cứu này, chúng tôi nêu ra một số yếu tố chủ yếu sau:

- Trình độ nhận thức, sự am hiểu pháp luật của cá nhân, tổ chức đề nghị được giải quyết KKĐĐ

Thực tế, trình độ nhận thức, sự am hiểu pháp luật các quy định của Nhà nước cá nhân, tổ chức trực tiếp gửi đơn đề nghị được giải quyết các KKĐĐ phát sinh ảnh hưởng rất lớn tới quá trình giải quyết các KKĐĐ phát sinh Cá nhân, tổ chức nắm rõ được các quy định của Pháp luật về đất đai nói chung và trình tự thủ tục hành chính liên quan đến KKĐĐ nói riêng sẽ là cơ sở để thực hiện việc hoà giải hoặc giải quyết KKĐĐ được tiến hành thuận lợi, đạt hiệu quả

Bên cạnh đó, nhận thức của cá nhân, tổ chức cũng ảnh hưởng đến việc tiếp cận các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực đất đai Từ đó, hạn chế việc gửi đơn đề nghị giải quyết KKĐĐ không hợp lý, gây khó khăn cho công tác giải quyết các KKĐĐ

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhận thức của cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết KKĐĐ

Trong những năm gần đây, số lượng các KKĐĐ ngày càng tăng, trong đó có nhiều vụ tranh chấp có tính chất phức tạp, đa dạng Trong khi đó, các cơ quan Nhà

Trang 27

nước có thẩm quyền giải quyết KKĐĐ lại hạn chế về nguồn nhân lực Đội ngũ cán

bộ, công chức ngoài việc thiếu về số lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ để giải quyết cũng còn hạn chế Do đó, không thể giải quyết nhanh chóng, kịp thời những KKĐĐ phức tạp, đặc biệt là các vụ việc có tính chất nhạy cảm, phức tạp, nếu không giải quyết kịp thời sẽ phát sinh thành “điểm nóng” lôi kéo nhiều người tham gia tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị - xã hội

- Công tác thu hồi, đền bù và giải phóng mặt bằng

Ở nước ta, đất đai đặc biệt được coi là một tài sản và quyền tài sản có giá trị

Vì thế, khi tiến thành thu hồi, thực hiện bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất gặp nhiều khó khăn, việc khiếu kiện từ đó phát sinh rất nhiều và khó giải quyết Giải quyết có hiệu quả công tác thu hồi, đền bù, GPMB có ý nghĩa trong việc các quan hệ đất đai được điều chỉnh phù hợp với lợi ích Nhà nước, của xã hội và của người sử dụng đất, góp phần thúc đẩy sự phát triển và ổn định của nền kinh tế

- Công tác cấp GCNQSDĐ

Có rất nhiều KKĐĐ phát sinh nguyên nhân của yếu từ GCNQSDĐ Bởi GCNQSDĐ là một trong những căn cứ để phân định thẩm quyền giải quyết KKĐĐ giữa cơ quan hành chính nhà nước và tòa án nhân dân Do đó, trên thực tế nếu người dân chưa được cấp GCNQSDĐ khi xảy ra KKĐĐ việc giải quyết sẽ gặp nhiều khó khăn Thực hiện tốt, đúng quy định của Pháp luật về cấp GCNQSDĐ sẽ làm giảm áp lực cho các cơ quan hành chính khi giải quyết các KKĐĐ

- Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về đất đai

Nhìn chung, trong những năm qua, hiệu quả công tác giải quyết KKĐĐ đã

có những chuyển biến tích cực Cơ chế, chính sách về giải quyết KKĐĐ ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn Tuy vậy, vẫn còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng đơn

từ KKĐĐ ngày càng phức tạp về tính chất và mức độ Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là do các cơ quan chuyên môn thực hiện việc cấp GCNQSDĐ còn chậm, việc giải quyết hồ sơ, thủ tục về đất đai chậm so với thời gian quy định, gây lãng phí về thời gian, về kinh tế; chậm cập nhật ngày biến động địa giới hành chính, chưa điều chỉnh kịp thời hệ thống bản đồ địa chính…

Trang 28

Do đó, việc thanh tra, kiểm tra, giám sát là một hoạt động rất quan trọng và cần thiết nhằm giảm thiểu các trường hợp KKĐĐ Trên cơ sở thanh tra, kiểm tra, những sai phạm đã được phát hiện cũng như chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới những sai phạm trên, ngành thanh tra đã đưa ra những kiến nghị nhằm chấn chỉnh, xử lý kịp thời, nghiêm minh để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác giải quyết KKĐĐ

- Công tác tuyên truyền ở địa phương

Các hoạt động tuyên truyền ở địa phương, đặc biệt là công tác tuyên truyền

về GPMB, đền bù, hỗ trợ TĐC, tuyên truyền phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,… có ảnh hưởng lớn đến nhận thức của người dân trong hoạt động sử dụng đất đai Nếu công tác đó tốt, góp phần ổn định tình hình, phản ánh kịp thời các vướng mắc của nhân dân với chính quyền địa phương và góp phần tháo gỡ các vướng mắc về đất đai, từ đó hạn chế các khiếu kiện về đất đai Nếu công tác tuyên truyền chưa tốt sẽ có tác động ngược lại Đồng thời, công tác tuyên truyền không chỉ giúp người dân nâng cao nhận thức, am hiểu pháp luật, mà còn giúp đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp quản lý đất đai nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, từ đó trong công tác quản lý, giải quyết các KKĐĐ cũng thuận lợi hơn

2.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết khiếu kiện về đất đai

2.2.1 Tình hình và kinh nghiệm giải quyết khiếu kiện về đất đai của một số nước phát triển

2.2.1.1 Úc: Kinh nghiệm giải quyết khiếu kiện về giá đất

Công tác QLNN về đất đai tại Úc do cơ quan quản lý đất đai của các Bang giữ nhiệm vụ chủ trì Các cơ quan này đều phát triển theo hướng sử dụng một phần đầu tư của chính quyền bang và chuyển dần sang cơ chế tự trang trải chi phí Trong lĩnh vực đất đai, các tổ chức cơ quan quản lý đất đai nói chung và cơ quan định giá đất nói riêng của từng bang có sự khác nhau Văn phòng Định giá đất của mỗi bang đều do Tổng định giá đứng đầu Đa số đều có sự quản lý về chuyên môn của cơ quan quản lý đất đai Tổng định giá là một người có chuyên môn cao, là một quan chức độc lập được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật bởi Thống đốc bang để giám sát hoạt động định giá đất Tổng định giá là người chịu trách nhiệm QLNN về

Trang 29

giá đất, giám sát, thẩm định, quyết định và công bố giá đất vào ngày 01 tháng 7 hàng năm do Văn phòng định giá đất tổ chức thực hiện; kết quả định giá đất là độc lập dựa trên dữ liệu của thị trường bất động sản

Việc giải quyết khiếu kiện về giá đất

Đây là quyền của các chủ sở hữu bất động sản Việc khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện thực hiện qua các bước:

Bước 1 Khiếu kiện đối với kết quả định giá

Nếu một tổ chức, cá nhân cho rằng một giá trị định giá của Nhà nước là không chính xác thì tổ chức, cá nhân cần gửi một đơn khiếu kiện (bằng văn bản) tới Văn phòng định giá Việc khiếu kiện được thực hiện trong vòng 60 ngày, kể từ ngày tổ chức, cá nhân nhận được thông báo về thuế lần đầu tiên từ các cơ quan có thẩm quyền

Bước 2 Giải quyết khiếu kiện

Tổng định giá chỉ đạo Văn phòng định giá xem xét, giải quyết khiếu nại của

tổ chức, cá nhân về giá đất trong thời gian 45 ngày Kết quả giải quyết do Tổng định giá ký gửi cho tổ chức, cá nhân

Bước 3 Định giá đất độc lập

Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết, trong vòng 21 kể từ ngày nhận được văn bản giải quyết của Tổng định giá, tổ chức, cá nhân có thể thuê chuyên gia định giá độc lập để xem xét lại kết quả định giá Khi nộp đơn xem xét định giá, tổ chức, cá nhân cần nộp một khoản phí theo quy định

Nếu kết quả của chuyên gia định giá độc lập lớn hơn 10% so với kết quả định giá thì giá trị định giá đó sẽ được chấp thuận và phí nộp đơn khiếu nại sẽ được hoàn lại cho người khiếu nại

Bước 4 Lựa chọn khiếu kiện khác

Nếu vẫn không hài lòng với kết quả xem xét lại giá trị định giá của chuyên gia độc lập, tổ chức, cá nhân đó có thể khởi kiện lên Tòa án về đất đai và định giá theo quy định của Tòa án tối cao

2.2.1.2 Trung Quốc: Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp đất đai

Luật quản lý đất đai của Trung Quốc được xây dựng vào các năm 1954,

1975, 1978 và 1982 và tiến hành sửa đổi mới nhất vào năm 2003 (có hiệu lực năm

Trang 30

2004) Theo đó, công tác giải quyết TCĐĐ của Trung Quốc luôn luôn nhấn mạnh vai trò của công tác thương lượng và hòa giải, đặc biệt là sự tham gia của các cơ quan QLNN nhằm làm cho công tác giải quyết TCĐĐ của Trung Quốc giải quyết nhanh chóng, kịp thời tránh tiêu tốn thời gian và tiền bạc của nhân dân Công tác giải quyết TCĐĐ luôn có sự tham gia của cơ quan quản lý đất đai trước khi vụ việc được đưa ra Tòa án

Theo quy định của Luật quản lý đất đai của Trung Quốc, việc giải quyết TCĐĐ được thể hiện theo cơ chế sau:

Khi phát sinh TCĐĐ người dân có xu hướng tự thương lượng với nhau thông qua hòa giải nhằm tìm ra một giải pháp thích hợp

Quốc vụ viện thay mặt Nhà nước chỉ đạo thực hiện và tổ chức hòa giải TCĐĐ, Bộ Đất đai và Tài nguyên là cơ quan thuộc Quốc vụ viện được giao trách nhiệm ban hành các văn bản pháp luật giải quyết các TCĐĐ Trường hợp các vụ tranh chấp không thể hòa giải được thì vụ việc sẽ chuyển sang Ủy ban nhân dân các cấp để giải quyết Đầu tiên UBND sẽ đưa ra những khuyến nghị Nếu các bên không đồng ý thì UBND có quyền đưa ra các quyết định Quyết định này sẽ có hiệu lực thi hành nếu các bên không có kháng cáo lên UBND cấp trên trực tiếp Quyết định của cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp có hiệu lực thi hành

- Tranh chấp về quyền chủ sở hữu hoặc quyền sử dụng đất sẽ được giải quyết thông qua đàm phán giữa các bên, nếu đàm phán không thành công, sẽ do chính quyền địa phương giải quyết;

- Tranh chấp giữa các đơn vị sẽ được giải quyết bởi chính quyền địa phương

ở cấp trên cấp quận, tranh chấp giữa cá nhân hoặc giữa cá nhân và đơn vị sẽ được giải quyết ở cấp thị xã hoặc cấp quận hoặc cấp cao hơn;

- Nếu các bên liên quan không chấp nhận quyết định của chính quyền địa phương, tranh chấp sẽ được đưa ra tòa án trong vòng 30 ngày sau khi các bên nhận được thông báo về quyết định;

Tuy nhiên, các tranh chấp về tài sản gắn liền với đất đều được giải quyết ở Tòa án và người nông dân được phép đưa khiếu kiện ra tòa, tuy nhiên, theo báo cáo năm 2007 của ADB, hiện tại, các khiếu kiện này không thể xử lý ở tòa do mức phí cao và các hạn chế khác

Trang 31

Trong các dạng tranh chấp về đất đai, Trung Quốc đặc biệt chú ý đến các tranh chấp về lĩnh vực GPMB Theo đó, các tranh chấp liên quan đến GPMB được giải quyết cụ thể như sau:

Về đền bù thiệt hại: Chính sách đền bù thiệt hại, GPMB của Trung Quốc thể hiện rõ trong các văn bản của họ đều đầy đủ, kịp thời điều chỉnh linh hoạt theo thực tế Việc đền bù thiệt hại, GPMB không chỉ thực hiện đối với các dự án sử dụng đất mới để xây dựng các công trình, mà còn để cải tạo, chỉnh trang chính bộ mặt của đô thị đó

Về phương thức đền bù thiệt hại: Nhà nước Trung Quốc thông báo cho NSDĐ biết trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn là một năm Người dân có quyền lựa chọn các hình thức đền bù thiệt hại bằng tiền hoặc nhà tại khu ở mới

Về giá đền bù thiệt hại theo giá thị trường và Nhà nước quy định theo từng khu vực và chất lượng nhà

Về TĐC, các khu TĐC và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ và kịp thời, thường xuyên đáp ứng yêu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử dụng khác nhau

2.2.1.3 Thái Lan: Công tác định giá đền bù khi thu hồi đất

Thái Lan là đất nước cho phép hình thức sở hữu cá nhân về đất đai, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Do vậy, về nguyên tắc Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất để làm bất cứ việc gì đều phải có sự thỏa thuận về sử dụng đất giữa chủ dự án với chủ đang sử dụng khu đất đó (chủ sở hữu) trên cơ sở một hợp đồng

Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù

Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường

Về giá đất để làm căn cứ bồi thường thiệt hại, các bên căn cứ mức giá do một

Ủy ban Chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá thị trường

Trang 32

2.2.1.4 Hàn Quốc: Đạo luật về thu hồi đất cho các công trình công cộng

Theo pháp luật thu hồi đất và bồi thường của Hàn Quốc, Chính phủ Hàn Quốc sẽ thành lập Ủy ban về bồi thường với vai trò là cơ quan tư vấn về quyền của người dân Thành viên của Ủy ban này là quan tòa, luật sư, cơ quan công chứng, giáo sư và quan chức của các cơ quan liên quan, ít nhất 1/3 số thành viên phải là người dân bị ảnh hưởng và hầu hết các khiếu kiện được xử lý ở Ủy ban này

Đối với các khiếu kiện liên quan đến vấn đề thu hồi đất và TĐC, người dân

bị ảnh hưởng sẽ thành lập Ủy ban công dân (RC) để tham vấn về kế hoạch TĐC, bao gồm bồi thường, vị trí TĐC và các giải pháp khôi phục đời sống Thông qua

RC, người dân sẽ yêu cầu mức bồi thường cụ thể, cũng như các vấn đề hỗ trợ khác, hoặc có thể khiếu kiện để hủy dự án

Chính sách, pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở Hàn Quốc có những điểm đáng lưu ý sau đây:

- Quy trình tham vấn và cưỡng chế.Việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất

được thực hiện theo phương thức tham vấn và cưỡng chế với các bước cụ thể sau: (i) Thu thập, chuẩn bị các quy định về tài sản và đất đai có liên quan đến việc thu hồi đất; (ii) Xây dựng và công bố phương án bồi thường; (iii) Thành lập Hội đồng bồi thường; (iv) Đánh giá và tính toán tổng số tiền bồi thường; (v) Yêu cầu tham vấn bồi thường; (vi) Hoàn tất hợp đồng bồi thường

- Về thời điểm xác định giá bồi thường, trường hợp thu hồi đất thông qua

hình thức tham vấn thì thời điểm xác định giá bồi thường là thời điểm các bên đạt được thỏa thuận đồng thuận về phương án bồi thường

- Về xác định giá bồi thường, chủ thực hiện dự án không được tự định giá mà

do ít nhất hai cơ quan định giá thực hiện Đây là các tổ chức tư vấn về giá đất hoạt động độc lập theo hình thức doanh nghiệp hoặc công ty cổ phần có chức năng tư vấn về giá đất

- Về bồi thường đất và tài sản trên đất bị thu hồi Bồi thường đối với đất được thực hiện dựa trên giá đất ở từng khu vực do Chính phủ công bố hàng năm

theo Luật Công bố giá trị và Định giá bất động sản

- Về TĐC khi thu hồi đất ở Chủ thực hiện dự án có trách nhiệm xây dựng

Trang 33

khu TĐC, trả tiền di dời hoặc trả tiền cho quỹ TĐC Khu TĐC phải có hệ thống cơ

sở hạ tầng đảm bảo cuộc sống của người dân Người bị thu hồi đất ở được ưu tiên mua đất TĐC với giá ưu đãi thấp hơn 80% so với chi phí phát triển Diện tích mỗi mảnh đất TĐC rộng từ 165 m2 - 265 m2 …

2.2.2 Thực tiễn công tác giải quyết khiếu kiện về đất đai ở Việt Nam

Khi gõ cụm từ “khiếu kiện đất đai” trên công cụ tìm kiếm Google, chỉ trong 0,16 giây đã cho khoảng 101.115 kết quả, còn khi gõ cụm từ “TCĐĐ” thì cho 649.000 kết quả Chỉ một minh chứng đơn giản như vậy đã cho thấy khiếu kiện, tranh chấp về đất đai đã và đang là một vấn đề gây nóng bỏng, nhức nhối đối với Nhà nước, và gây bức xúc trong nhân dân Thực tế cho thấy trong hơn một thập kỉ nay KKĐĐ có xu hướng gia tăng Tình hình KKĐĐ xảy ra ở khắp các tỉnh trên cả nước với các mức độ khác nhau Bên cạnh một số lượng lớn các đơn KKĐĐ được gửi đến cơ quan hành chính Nhà nước giải quyết, cơ quan tòa án cũng đã thụ lí không ít các vụ kiện dân sự

Đối với cơ quan hành chính:

Theo Bộ Tài nguyên & Môi trường, từ năm 2008 đến nay, số vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai chiếm từ 60% đến 70% trên tổng số các vụ việc khiếu nại, tố cáo trong cả nước Riêng tại Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận số vụ việc tranh chấp, khiếu nại tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai thường chiếm trên 98%

Còn theo thông báo mới nhất từ Tổng Thanh tra Chính phủ thì trong năm 2013 tình hình KKĐĐ của công dân có diễn biến phức tạp Trong nửa đầu năm 2013, số vụ khiếu kiện giảm so với cùng kỳ năm 2012 Tuy nhiên, từ giữa tháng 6, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân có phần gia tăng về số lượt người, số đoàn đông người

và tính chất mức độ gay gắt hơn

Một số vụ việc đã được các cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết đảm bảo đúng quy định, chính sách pháp luật của nhà nước, đã ổn định nay tiếp khiếu kiện với thái độ gay gắt Trong khoảng nửa đầu năm 2013, số lượt người đến các cơ quan chức năng khiếu kiện tăng 50%, số đoàn đông người tăng 30%, 10% số tỉnh thành có số vụ khiếu kiện đông người tăng và 70% đơn thư khiếu nại là về đất đai,

Trang 34

trong đó nổi lên nhiều nội dung như giải quyết khiếu kiện liên quan đến bồi thường,

hỗ trợ, GPMB, TCĐĐ, đòi lại đất cũ…

Đối với cơ quan tố tụng:

Theo số liệu của TANDTC: “chỉ tính riêng tranh chấp về quyền sử dụng đất (không tính tranh chấp về tài sản gắn liền với đất) thì năm 2010 ngành Tòa án thụ lý 20.694 vụ; năm 2011 thụ lý 21.102 vụ; năm 2012 thụ lý 21.989 vụ Trong đó, tranh chấp về đất cho mượn, lấn đất, chiếm đất chiếm khoảng 50% trên tổng số các vụ án TCĐĐ; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chiếm trên 27% ” Theo số liệu của VKSNDTC: Từ 01/7/2004 đến 30/12/2013, Toà án các cấp thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm 349.612 vụ việc dân sự, trong đó, số vụ việc tranh chấp liên quan đến đất đai là 75.168 vụ việc, chiếm tỷ lệ 21,5%

Các tranh chấp dân sự Toà án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết phân loại như sau: Tranh chấp quyền sử dụng đất 36.666 vụ việc (chiếm tỷ lệ 52,5% số vụ việc liên quan đến đất đai); tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 15.495 vụ việc (chiếm tỷ lệ 22,1%); tranh chấp quyền sử dụng đất trong các vụ án hôn nhân và gia đình 7.304 vụ việc (chiếm tỷ lệ 10,5%); tranh chấp thừa kế quyền

sử dụng đất 6.405 vụ việc (chiếm tỷ lệ 9,2%); tranh chấp hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất 1.154 vụ việc (chiếm tỷ lệ 1,7%); tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất 1.218 vụ việc (chiếm tỷ lệ 1,6%); tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất 408 vụ việc (chiếm tỷ lệ 0,6%); tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất 218 vụ việc (chiếm tỷ lệ 0,4%)

Qua số liệu thống kê nêu trên cho thấy, từ khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành, việc khiếu kiện liên quan đến đất đai vẫn diễn biến phức tạp thể hiện qua:

số vụ khiếu kiện về đất đai có xu hướng tăng lên qua các năm; tập trung ở các khiếu kiện liên quan đến TCĐĐ như tranh chấp về đất cho mượn, lấn đất, chiếm đất (khoảng 50%) và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (khoảng 27%); tính chất mức độ các vụ tranh chấp ngày càng gay gắt, phức tạp; thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài, phải qua nhiều cấp giải quyết; nhiều vụ tranh chấp giải quyết không triệt để dẫn tới khiếu kiện đông người

Trang 35

Kinh nghiệm trong giải quyết khiếu kiện về đất đai ở đồng bằng sông Cửu Long

Những năm gần đây, tình hình khiếu kiện về đất đai ở các tỉnh Nam bộ diễn

ra khá gay gắt, tình trạng khiếu nại vượt cấp kéo đông người về các cơ quan Trung ương khá phổ biến ở nhiều địa phương trong khu vực Nguyên nhân chính của việc khiếu kiện, tái khiếu, khiếu tố vượt cấp, đông người là do các địa phương khi thu hồi đất chỉ chú trọng đến việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC và chi hỗ trợ một phần để đào tạo, chuyển đổi việc làm cho người bị thu hồi đất, chứ chưa quan tâm đầy đủ đến các chính sách chăm lo đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất Từ thực tiễn công tác giải quyết khiếu kiện ở Đồng Tháp trong thời gian qua, có thể nêu lên một

số kinh nghiệm trong giải quyết khiếu nại đông người như sau:

- Khi có khiếu kiện đông người lên Trung ương thì Chủ tịch UBND các địa phương phải trực tiếp chỉ đạo, nếu vì lý do bất khả kháng thì cần bố trí người có trách nhiệm để trực tiếp đối thoại với công dân, trong các trường hợp cần thiết thì phối hợp với cơ quan có thẩm quyền sở tại có biện pháp hành chính để buộc công dân phải chấp hành và trở về địa phương, chấm dứt tình trạng phó mặc cho các cơ quan Trung ương và trụ sở tiếp công dân Việc giải quyết khiếu nại phải đảm bảo trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo

- Các địa phương phải công khai, nhất quán các quy hoạch, tránh mâu thuẫn giữa các quy hoạch tổng thể, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng Bên cạnh đó, phải quy định rõ quyền lợi người dân sống trong vùng quy hoạch nhưng chưa thực hiện quy hoạch để người dân yên tâm

- Hàng năm, các địa phương cần ban hành quyết định quy định giá đất tại địa phương sát đúng với giá thị trường để người dân thực hiện đúng nghĩa vụ đóng thuế

sử dụng đất

Ngoài ra, để hạn chế khiếu nại kéo dài, phức tạp, vượt cấp, đông người chúng ta cũng cần phải thực hiện nghiêm túc các yêu cầu sau:

Một là, phải tăng cường công tác tiếp dân, đối thoại với công dân để khi giải

quyết đảm bảo chính xác, khách quan có tình, có lý và có tính thuyết phục cao

Trang 36

Hai là, phải nắm chắc tình hình tranh chấp trong phạm vi quản lý của ngành, địa phương mình để kịp thời giải quyết, nhất là những vụ khiếu kiện đông người; việc giải quyết phải được thực hiện ngay từ cơ sở, hạn chế khiếu nại vượt cấp; không để vụ việc diễn biến phức tạp trở thành khiếu kiện đông người

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để nâng cao hiệu lực, hiệu quả

công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với thủ trưởng các cấp, các ngành trong việc chấp hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo Kiên quyết xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thiếu trách nhiệm trong công tác giải quyết khiếu nại,

tố cáo của công dân và những người lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để kích động, lôi kéo gây rối làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội

Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao

nhận thức, hiểu biết về pháp luật cho công dân để họ thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng quy định của pháp luật; hạn chế khiếu kiện không đúng cơ quan thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đông người, vượt cấp trái với quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo nhằm góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,

tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

Trang 37

3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Yên Khánh là đơn vị hành chính được thành lập theo Nghị định số 59/1994/NĐ/CP của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/9/1994 Huyện được hình thành trên cơ sở 9 xã thuộc huyện Tam Điệp và 10 xã thuộc huyện Kim Sơn

Yên Khánh là huyện nằm về phía Đông Nam tỉnh Ninh Bình, có toạ độ địa

lý từ 20º07´ đến 20º16´ độ vĩ Bắc và từ 105º07´ đến 106º10´ độ kinh Đông Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 13.905,77 ha, có vị trí địa lý như sau:

(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Yên Khánh)

Trang 38

- Phía Đông Bắc giáp huyện Ý Yên và Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định;

- Phía Đông Nam giáp huyện Kim Sơn;

- Phía Tây Bắc giáp Thành phố Ninh Bình;

- Phía Tây Nam giáp huyện Yên Mô

Trên địa bàn huyện có tuyến đường Quốc lộ 10 chạy qua với chiều dài 12 km

là cầu nối giao lưu kinh tế xã hội giữa Thành phố Ninh Bình với huyện Kim Sơn, đường 481B, 480B, 480C chạy qua địa bàn nhiều xã trong huyện Hệ thống sông chảy qua huyện khá dầy như sông Đáy, sông Vạc, sông Mới… Vị trí địa lý khá thuận lợi trên đây là điều kiện cơ bản để huyện Yên Khánh giao lưu kinh tế, văn hóa với các vùng lân cận Mặt khác với quy mô diện tích vừa phải, đất đai bằng phẳng lại gần các khu vực trọng điểm phát triển kinh tế của Ninh Bình nên huyện Yên Khánh có điều kiện để phát huy tiềm năng đất đai và các nguồn lực khác nhằm phát triển kinh tế - xã hội

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Yên Khánh là huyện đồng bằng thuần nhất, địa hình tương đối bằng phẳng, cao trình đất đai có xu hướng giảm dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo thành lòng chảo và ô trũng ở một số khu vực ven đê Khu vực thấp nhất thuộc các xã Khánh Thành, Khánh Công, Khánh Thủy thường hay bị ngập úng vào mùa mưa

lũ, độ cao trung bình 0,6-3m so với mực nước biển, đất đai chủ yếu là đất phù sa không được bồi đắp hàng năm

Địa hình phân thành hai vùng nông nghiệp Khu vực 9 xã phía Nam giáp Kim Sơn là vùng đất thịt, khu vực các xã phía bắc là vùng đất cát và đất cát pha Đất giàu chất dinh dưỡng tạo thuận lợi cho phát triển nông nghiệp (trồng lúa, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày), công nghiệp (chế biến lương thực, thực phẩm

Trang 39

tháng 2, nhiệt độ trung bình tháng 170C - 17,40C, nhiệt độ thấp nhất là 6,10C, mùa hè nhiệt độ trung bình là 270C, tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8, nhiệt độ trung bình 29,10C, nhiệt độ cao nhất là 39,30C Tổng nhiệt độ khá lớn nhưng phân bố theo hai mùa lại chênh lệch nhau, tổng nhiệt độ vụ chiêm xuân chỉ bằng 60-70% tổng nhiệt độ vụ mùa Mức nhiệt này đảm bảo cho cây trồng vụ đông xuân phát triển nếu

bố trí giống và thời vụ thích hợp

- Chế độ mưa: Tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1.890-1.950mm nhưng lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm Trong 6 tháng mùa mưa, lượng mưa chiếm 75-80% lượng mưa cả năm nên dễ gây ngập úng ở các khu vực trũng Mùa đông chủ yếu là mưa nhỏ và mưa phùn

- Chế độ ẩm: Do vị trí địa lý nằm gần biển nên độ ẩm không khí tương đối cao, bình quân cả năm từ 83-87% Tháng có độ ẩm lớn nhất và nhỏ nhất chênh lệch không nhiều, tháng 2 có độ ẩm cao nhất là 90%, tháng 10 có độ ẩm thấp nhất là 81%

- Gió: Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả năm là 2,3-2,5m/s Mùa đông hướng gió thịnh hành là đông bắc với tần suất 60-70%, từ giữa đến cuối mùa đông gió có xu hướng lệch dần về phía đông, tốc độ gió trung bình 2,4-2,6m/s, những ngày đầu của các đợt gió mùa thường có gió cấp 4 và cấp 5 Mùa hè hướng gió thịnh hành từ đông đến đông nam với tần suất 50-70%, tốc

độ gió trung bình 1,9-2,2m/s, tốc độ gió xảy ra cực đại (khi có mưa bão) là 40m/s, đầu mùa hạ có gió tây khô nóng, ngoài ra Yên Khánh còn chịu ảnh hưởng của gió đất và gió biển, gió đất thịnh hành theo hướng Tây, Tây Nam và gió biển thịnh hành theo hướng Đông Nam

3.1.1.4 Thủy văn, thủy lợi

- Hệ thống sông ngòi

Yên Khánh có mạng lưới sông ngòi khá dày, gồm các sông: sông Đáy, sông Vạc, sông Mới, sông Dưỡng Điền, sông Năm Xã, sông Tiên Hoàng Với tổng chiều dài gần 85km, phân bố rộng khắp trong huyện, mật độ sông là 0,53km/km2, các sông thường theo hướng tây bắc - đông nam ra biển

Trang 40

Sông Đáy là chi lưu của sông Hồng đi qua địa phận Yên Khánh từ cống Đồng Quan đến cống Tiên Hoàng dài 38km Sông Đáy phần hạ lưu chảy qua Yên Khánh vừa chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều, đồng thời lại chịu ảnh hưởng của dòng chảy sông Hồng qua sông Đào Nam Định và dòng chảy từ thượng nguồn của sông Hoàng Long đổ về Vào mùa cạn, lưu lượng của sông Đáy nhỏ nhưng được bổ sung nước từ sông Hồng qua sông Đào, mực nước sông Đáy Hmax=0,9-1,1m,

Hmin=0,1-0,2m Vào mùa lũ, lưu lượng lớn, mực nước dâng cao Sông Đáy cung cấp nguồn nước tưới cho tỉnh Ninh Bình nói chung và huyện Yên Khánh nói riêng thông qua các cống dưới đê, âu thuyền và cũng là sông góp phần tiêu thoát lũ cho các xã phía nam của huyện Yên Khánh Với mực nước của sông Đáy như trên, trong khi độ cao của đồng ruộng thay đổi từ 0,5-1,0m nên việc tưới tiêu tự chảy khó thực hiện, chủ yếu là phải dùng trạm bơm và tiêu tự chảy khi bị úng

Sông Vạc là ranh giới giữa huyện Yên Khánh và huyện Yên Mô, đi qua địa phận Yên Khánh từ Thuần Đầu đến Đức Hậu dài 13,3km, có chiều rộng trung bình

từ 50-60m phía thượng lưu và 60-70m phía hạ lưu, sâu trung bình từ 0,5)m Sông Vạc là trục tiêu chính của vùng nam Ninh Bình nói chung và huyện Yên Khánh nói riêng Nhận nước mưa chảy ra sông Đáy tại cửa Kim Đài, ngoài nhiệm vụ tiêu nước, sông Vạc còn có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho phần lớn diện tích của huyện Nếu gặp lũ sông Hồng, sông Hoàng Long hay sông Đáy có phân lũ thì mực nước tại cửa Kim Đài dâng lên cao cản trở khả năng tiêu nước của sông Vạc

cos(-4,0)-(-Tóm lại, với tình hình thủy văn và nguồn nước như trên, về vụ đông xuân

nguồn nước sông Đáy, sông Vạc đã đảm bảo đủ nguồn tưới nước cho phần lớn diện tích canh tác của huyện thông qua các cống dưới đê và các âu thuyền Đối với vụ mùa, đã tranh thủ tiêu tự chảy cho toàn bộ diện tích canh tác của huyện với tần suất mực nước sông dưới 50% Khi mực nước sông có tần suất trên 50% thì toàn bộ diện tích phải bơm để chủ động tiêu úng, có khả năng tiêu tự chảy khi gặp triều thấp

3.1.2 Các nguồn tài nguyên

3.1.2.1 Tài nguyên đất

Đất đai là yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp Với tổng

Ngày đăng: 09/09/2015, 16:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Tình hình phân bố, sử dụng đất huyện Yên Khánh 2011 -2013 - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 3.1 Tình hình phân bố, sử dụng đất huyện Yên Khánh 2011 -2013 (Trang 41)
Bảng 3.2: Cơ cấu các ngành kinh tế từ năm 2011 – 2013 - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 3.2 Cơ cấu các ngành kinh tế từ năm 2011 – 2013 (Trang 43)
Bảng 3.3 Tình hình dân số, lao động huyện Yên Khánh 2011 – 2013 - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 3.3 Tình hình dân số, lao động huyện Yên Khánh 2011 – 2013 (Trang 45)
Bảng 4.3 Tổng hợp tình hình khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.3 Tổng hợp tình hình khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh (Trang 50)
Bảng 4.4: Tổng hợp số vụ khiếu kiện về tranh chấp đất đai ở huyện Yên Khánh từ năm 2011 – 2013 - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.4 Tổng hợp số vụ khiếu kiện về tranh chấp đất đai ở huyện Yên Khánh từ năm 2011 – 2013 (Trang 53)
Bảng 4.5: Nhóm chủ thể tham gia khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh từ năm 2011 – 2013 - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.5 Nhóm chủ thể tham gia khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh từ năm 2011 – 2013 (Trang 55)
Bảng 4.6:  Nguyên nhân phát sinh các vụ khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.6 Nguyên nhân phát sinh các vụ khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh (Trang 60)
Bảng 4.7: Kết quả giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh từ năm 2011 – 2013 - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.7 Kết quả giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh từ năm 2011 – 2013 (Trang 65)
Bảng 4.8: Ý kiến của người dân về nguyên nhân hoà giải chiếm tỷ lệ cao - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.8 Ý kiến của người dân về nguyên nhân hoà giải chiếm tỷ lệ cao (Trang 67)
Bảng 4.9: Nguyên nhân hòa giải cơ sở không đạt được kết quả cao - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.9 Nguyên nhân hòa giải cơ sở không đạt được kết quả cao (Trang 73)
Bảng 4.10: Đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với việc giải quyết - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.10 Đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với việc giải quyết (Trang 74)
Bảng 4.12: Ý kiến của cán bộ về những khó khăn trong công tác - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.12 Ý kiến của cán bộ về những khó khăn trong công tác (Trang 80)
Bảng 4.13. Ý kiến của người dân, cán bộ về nguyên nhân công tác cấp - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.13. Ý kiến của người dân, cán bộ về nguyên nhân công tác cấp (Trang 82)
Bảng 4.14: Đánh giá của người dân về những hạn chế của đội ngũ cán bộ trực - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.14 Đánh giá của người dân về những hạn chế của đội ngũ cán bộ trực (Trang 87)
Bảng 4.15: Ý kiến của người dân về công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật - Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Bảng 4.15 Ý kiến của người dân về công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w