Luận văn đề cập đến vấn đề Sự cần thiết phải xây dựng các tổng công ty NN thực sự trở thành các tập đoàn kinh tế lớn mạnh, là tóm tắt, Tổng kết lại mô hình Tổng công ty Nhà nước cũng như đưa ra các phương hướng để giải quyết tình hình hiện tại để phát triển các DNNN đi lên trong nền kinh tế hội nhập. Giá bán là 3.000d rẻ hơn so với tiền bạn trả cho tài liệu photo thôi nhe. Có điều file word nên rất thuận tiện cho các bạn copy và paste. :)
Trang 1ĐỀ ÁN Những giải pháp phát triển DNNN trong nền kinh
tế hội nhập
Trang 21 Các Tổng công ty Nhà nước có quy mô lớn (Tổng công ty 91,
90) là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế theo
định hướng xã hội chủ nghĩa
2
2 Thành lập các Tổng công ty Nhà nước là một biện pháp để sắp
xếp lại các DNNN
3
3 Thí điểm thành lập các Tổng công ty Nhà nước theo hướng hình
thành và phát triển các tập đoàn kinh tế mạnh là một chủ trương
đúng đắn của Nhà nước ta
3
II/ Tổng kết lại mô hình Tổng công ty Nhà nước 4
3 Những vấn đề đặt ra trong hoạt động sản xuất của Tổng công ty 7
III/ Phương hướng và giải pháp cần làm để củng cố và phát
2 Xử lý mối quan hệ giữa Tổng công ty với các đơn vị thành viên
và giữa các đơn vị thành viên với nhau
13
3 Hoàn chỉnh đồng bộ cơ sở pháp lý quy định về quản lý Nhà
nước, thực hiện quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN nói
chung và các Tổng công ty 90, 91 nói riêng
13
4 Cần tiếp tục sắp xếp lại cơ cấu tổ chức các Tổng công ty và cơ 14
Trang 3cấu các đơn vị thành viên
IV/ Phương hướng, biện pháp xây dựng các Tổng công ty thành
các tập đoàn kinh tế lớn mạnh
15
1 Xây dựng đúng đắn chiến lược kinh doanh và phát triển của
Tổng công ty và công ty thành viên
17
2 Tổ chức lại cơ cấu sản xuất kinh doanh và cơ cấu quản lý phù
hợp với chiến lược kinh doanh và phát triển Tổng công ty đã xác
định
18
3 Xác định đúng đắn định hướng đầu tư phát triển và đổi mới
công nghệ chủ lực của Tổng công ty
19
4 Tổng công ty thực hiện tốt chức năng quản lý thống nhất các
hoạt động xuất nhập khẩu sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
20
5 Quản lý chặt chẽ thống nhất có hiệu quả hoạt động tài chính của
Tổng công ty
21
6 Phối hợp đồng bộ và nâng cao hiệu lực hoạt động của hội đồng
quản trị, cơ quan Tổng giám đốc và ban kiểm soát
22
7 Phát triển và quản lý chặt chẽ các nguồn lực của Nhà nước trong
các doanh nghiệp liên doanh và công ty cổ phần
23
8 Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các Bộ, Tỉnh,
Thành phố trong việc quản lý Nhà nước đối với các Tổng công ty
24
Trang 4Đặt vấn đề
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới kinh tếtheo hướng phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Theo đó,chúng ta khuyến khích sự phát triển mạnh mẽ của tất cả các thành phần kinh
tế Đặc biệt kinh tế Nhà nước mà nòng cốt là các doanh nghiệp Nhà nước(DNNN), phải đủ mạnh để giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
Sức mạnh của DNNN không chỉ thể thể hiện ở quyền lực hành chính củaNhà nước mà còn ở sức mạnh kinh doanh thực sự của doanh nghiệp Thí điểmthành lập các Tổng công ty Nhà nước theo hướng hình thành và phát triển cáctập đoàn kinh tế mạnh là một chủ trương đúng đắn của Nhà nước ta nhằm tổchức lại khu vực kinh tế Nhà nước, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triểnkinh tế đất nước Thực tế hoạt động của các Tổng công ty Nhà nước trongnhững năm qua đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ, ngày càngkhẳng định được vai trò chủ đạo của DNNN trong nền kinh tế Tuy nhiên về
mô hình tổ chức Tổng công ty Nhà nước vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn Đểnâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của Tổng công ty, tiến tới xâydựng một số Tổng công ty đạt được các yêu cầu cơ bản của một tập đoàn kinh
tế, cần phải tổng kết, đánh giá lại mặt mạnh, mặt yếu của mô hình Tổng công
ty, từ đó có biện pháp, chính sách tăng cường, củng cố, nâng cao hiệu quảhoạt động của Tổng công ty, lựa chọn các Tổng công ty Nhà nước quan trọng,hoạt động có hiệu quả, có khả năng và điều kiện để xây dựng thành lập đoànkinh tế mạnh Trong bài viết này em xin đề cập đến một số phương hướng,biện pháp nhằm giải quyết vấn đề trên
Trang 5Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,Đảng và Nhà nước luôn nhận thức rõ sự cần thiết phải có một khu vực kinh tếNhà nước đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả để giữ vững vai trò điều tiết nềnkinh tế, tạo chỗ dựa vật chất cho Nhà nước trực tiếp điều tiết vĩ mô nền kinh
tế Một hệ thống các DNNN hoạt động có hiệu quả là một tác nhân quan trọng
để Nhà nước làm đối tượng với các thành phần kinh tế khác trong việc kìmchế những sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế do các thành phần kinh tế
tư nhân gây ra (do chạy theo lợi nhuận đơn thuần), kìm chế sự lũng đoạn củacác thành phần kinh tế khác trong từng ngành hàng, lĩnh vực cụ thể Nhờ đó,Nhà nước có thể hướng nền kinh tế đó theo chiến lược đã chọn Các DNNN làlực lượng vật chất để Nhà nước ta thực hiện sử định hướng XHCN Muốn xâydựng chủ nghĩa xấ hội, nhất thiết Bộ phận sở hữu này phải được củng cố, pháttriển, phải được xem vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để xây dựng chủnghĩa xã hội Không có các nhân tố kinh tế xã hội chủ nghĩa đủ sức liên kết,
dẫ dắt các thành phần kinh tế khác đi theo quỹ đạo của CNXH, chắc chắn sẽkhông thể có được CNXH Đặc biệt, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thìđiều đó là tất yếu Nếu hệ thống các DNNN không được củng cố, lớn mạnh,không đủ sức mạnh vật chất để trụ vững trong cạnh tranh, Nhà nước XHCN
sẽ không thể có lực lượng vật chất để điều tiết hoạt động của nền kinh tế đitheo định hướng XHCN
Để đảm bảo cho các DNNN đủ làm đối tượng với các doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế khác, chúng ta đang xucs tiến xây dựng các tập
Trang 6đoàn kinh doanh mạnh của Nhà nước mà bước đầu là việc thành lập các Tổngcông ty 91 (Quyết định 91/Ttg) và 90 (Quyết định 90/Ttg) việc thành lập cácTổng công ty này nhằm tập trung vốn, kỹ thuật để tăng cường sức cạnh tranh,
tự vươn lên giành vị trí chi phối ngành hàng hoặc một số ngành hàng, trởthành xương sống của nền kinh tế Các Tổng công ty Nhà nước hiện naychiếm khoảng 80% sản lượng và vốn của khu vực DNNN, có khả năng chiphối toàn Bộ nền kinh tế Việt Nam
2 Thành lập các Tổng công ty Nhà nước là một biện pháp để sắp xếp lại các DNNN.
Nhằm khắc phục sự dàn trải và nâng cao hiệu quả hoạt động của cácDNNN, thời gian qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách sắp xếp lạiDNNN Đặc biệt, ngày 7/3/1994, thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định sốs90/Ttg và 91 Ttg thành lập 18 - Tổng công ty có quy mô quốc gia và 73Tổng công ty có quy mô nhỏ hơn Gọi tắt là các Tổng công ty 91,90 Theo cácquyết định này thì tất cả các Tổng công ty (được thành lập trước đó) không đủđiều kiện về vốn, tài sản phải hạ cấp Hiện nay, các Tổng công ty Nhà nướcnày thu hút gần 1100 DNNN là thành viên hạch toán độc lập hoặc phụ thuộc,chiếm khoảng 30% tổng số DNNN đang hoạt động và khoảng 70% doanhnghiệp do trung ương quản lý Tính đến cuối năm 1999, cả nước có5.925DNNN, mặc dù số lượng DNNN giảm gần 50% so với năm 1989 songDNNN vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
3 Thí điểm thành lập các Tổng công ty Nhà nước theo hướng hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế mạnh là một chủ trương đúng đắn của Nhà nước ta.
Các Tổng công ty hiện nay về cơ bản là doanh nghiệp 100% vốn Nhànước, vận hành theo cơ chế “công ty mẹ”, “công ty con” Đây chính là bướckhởi đầu cho việc hành thành cáctập đoàn kinh tế lớn, kinh doanh đa ngành,
có hiệu quả và sức cạnh tranh cao Tại hội nghị sơ kết mô hình Tổng công tyNhà nước, nhìn chung, lãnh đạo các Tổng công ty đều tán thành ý kiến thíđiểm mô hình “công ty mẹ, công ty con” Tổng giám đốc Tổng công ty dệtmay, ông Bùi Xuân Khu nói: “công ty mẹ - công ty con là mô hình rất linh
Trang 7hoạt và hoạt động theo dạng tập đoàn lớn Mô hình này sẽ đem lại hiệu quả và
sự hợp tác cao hơn trong công việc” Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Thuỷ sảnViệt Nam cho biết: “ công ty mẹ- công ty con là mô hình tập đoàn kinh tế cóquy mô lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trường áp dụng mô hình này,Tổng công ty Thủy sản Việt Nam sẽ có phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh
đa ngành, đa nghề, nhiều lĩnh vực Công ty mẹ sở hữu số lượng vốn lớn, giữ
cổ phần chi phối trong công ty con Bên cạnh các tổ chức sản xuất, kinhdoanh còn các tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm ”
Để nâng cao sức cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổngcông ty tiến tới xây dựng một số Tổng công ty đạt được các yêu cầu cơ bảncủa một tập đoàn kinh tế, trước hết phải tổng kết, đánh giá lại để thấy sẽ mặtmạnh mặt yếu của từng Tổng công ty, thứ hai là có biện pháp, danh sách tăngcường, củng cố các Tổng công ty, thứ ba là lựa chọn các Tổng công ty Nhànước quan trọng hoạt động có hiệu quả để xây dựng thành lập tập đoàn kinh
tế mạnh
II Tổng kết lại mô hình Tổng công ty Nhà nước
1 Mô hình tổ chức Tổng công ty Nhà nước
Hiện nay, các Tổng công ty Nhà nước được tổ chức theo quyết định số90/ Ttg và 91/Ttg ngày 7/3/1994 của thủ tướng Chính phủ gọi tắt là Tổngcông ty 90 và Tổng công ty 91 Các Tổng công ty này vận hành theo cơ chế
“công ty mẹ” và “công ty con”; tổ chức gồm: Hội đồng quản trị (HĐQT);Tổng giám đốc (TGĐ), Ban kiểm soát; các đơn vị thành viên
Tổng công ty 90 và Tổng công ty 91 được phân biệt dựa trên quy mô v
ốn pháp định, số lượng doanh nghiệp thành viên; cấp có thẩm quyền quyếtđịnh thành lập, phê chuẩn điều lệ và bổ nhiệm nhân sự Bộ máy của Tổngcông ty
Việc lựa chọn mô hình Tổng công ty như trên, lúc đầu, sự hoạt động cóthể chưa có hiệu quả so với mô hình doanh nghiệp hoạt động độc lập thànhlập theo quyết định 338; song, cái được lớn là giảm đáng kể số lượng doanhnghiệp trực thuộc Bộ quản lý ngành hay cấp hành chính địa phương cũng như
Trang 8giảm số lượng doanh nghiệp không cần thiết, tiếp tục duy trì qua sắp xếp lạikhi đưa vào Tổng công ty Cái được lớn và cơ bản tạo cho Bộ và cấp hànhchính địa phương thực hiện đúng đắn chức năng quản lý Nhà nước đáp ứngyều cấp thiết việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực hoạt động của Bộ máy quản
lý hành chính hiện nay
2 Các kết quả bước đầu.
Hiên nay, cả nước có 17 Tổng công ty 91, 74 Tổng công ty 90 Các Tổngcông ty này đã dung nạp gần 1100 DNNN làm thành viên, tương đương 70%
số DNNN đo trung ương quản lý; chiếm s80% tổng số vốn và giá trị sảnlượng của DNNN Do đó, các Tổng công ty Nhà nước không những chi phối
cơ bản khu vực DNNN mà còn chi phối cả nền kinh tế Kết quả bước đầu nhưsau:
* Các Tổng công ty Nhà nước đã đi vào ổn định, khắc phục khó khăn, vươn lên đạt kết quả đáng kể về sản xuất, kinh doanh.
Hầu hết các Tổng công ty đều đạt mức tăng trưởng được giao về tổngsản lượng sản xuất, tổng doanh thu, nộp ngân sách, lãi, lỗ, thu nhập bình quânngười lao động, kim ngạch xuất khẩu nhập khẩu và một số chỉ tiêu quan trọngkhác đầu tăng trưởng qua các năm Có một số Tổng công ty ngày càng lớnmạnh, có thêm lực phát triển, hoạt động có hiệu quả, ổn định, vững chắc; nhưTổng công ty Bưu chính - Viễn thông, Tổng công ty dầu khí, Tổng công tyThan, Tổng công ty điện lực, Tổng công ty Hàng Không, Tổng công ty Ximăng, Tổng công ty Thuốc lá, Tổng công ty Rượu bia, nước giải khát, Tổngcông ty Xăng dầu
Các Tổng công ty này không chỉ đạt được các chỉ tiêu hiện tăng trưởng
mà thị phần của ngành ngày càng được mở rộng, tỷ lệ huy động năng lực sảnxuất cao
* Các Tổng công ty ngày càng thể hiện được sức mạnh kinh tế và kinhdoanh, khẳng định vai trò, tác dụng của nó trên thực tế đối với hầu hết cácngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của nền kinh tế nước ta
Trang 9Các Tổng công ty có sức mạnh cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh vàthị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước Một số loại sản phẩm của một sốngành kinh tế do các Tổng công ty sản xuất đã và đang có vị trí đứng ở thịtrường nước ngoài, tạo khả năng tự cân đối được kim ngạch xuất nhập khẩunhhư ngành Rượu - bia - nước giải khát, thuốc lá, Than, May mặc, Dầu khí.Nhìn chung các Tổng công ty có khả năng và thực lực để thực hiện cácnhiệm vụ và chiến lược phát triển ngành do Chính phủ giao Các Tổng công
ty 91 v à 90 đã được tổ chức và hoạt động ở tất cả các ngành kinh tế - kỹ thuậtquan trọng của đất nước Do tiềm hợp vê số lượng các doanh nghiệp thànhviên và nguồn lực tích tụ, tập trung vốn, vào động, khoa học công nghệ, trình
độ tổ chức quản lý, nên các Tổng công ty đã có vai trò chủ đạo và chi phối cảtrong sản xuất và thị trường đối với các ngành kinh atế Đối với một số ngànhkinh tế lớn, vai trò tác dụng của Tổng công ty ở chỗ tạo lập được trật tự trongsản xuất và thị trường tiêu thụ thông qua cơ chế thống nhất quản lý và điềuhành toàn Tổng công ty và trực tiếp ký hợp đồng vơí các hộ tiêu thụ lớn, ổnđịnh, lâu dài Điểm hình nhất là Tổng công ty Than, Tổng công ty Điện lựctrong quản lý thống nhất các đầu mối tiêu thụ Còn hầu hết các Tổng công tyđều quản lý thống nhất được các đầu mối thị trường xuất nhập khẩu
* Đa ngành, đa lĩnh vực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó
có ngành chủ đạo mang tên của Tổng công ty.
Thực tế hoạt động đã khẳng định được hướng hoạt động kinh doanh đangành, đa lĩnh vực của các Tổng công ty là đúng đắn, nâng cao được hiệu quả
và vị trí của mỗi Tổng công ty trong cơ chế kinh tế thị trường đa thành phầnvới mở cửa với thị trường bên ngoài, thích ứng được với các tình huốngchuyển đổi của nền kinh tế Kinh nghiệm và thực tế hiện nay cho thấy đadạng hoá hoạt động theo đa ngành, đa lĩnh vực có ngành kinh tế chủ lực làthiết thực, đem lại hiệu quả cao đối với các Tổng công ty
3 Những vấn đề đặt ra trong hoạt động sản xuất của Tổng công ty.
Qua gần 6 năm hoạt động, bên cạnh những thành tích đạt được, mô hìnhTổng công ty Nhà nước cũng đã Bộc lộ một số mặt còn yếu kém
Trang 103.1 Về tổ chức và các mối quan hệ, chức năng phân cấp hoạt động 3.1.1 Vai trò của Hội đồng quản trị
Theo điều lệ mẫu Tổng công ty, cơ cấu và Bộ máy của mô hình Tổngcông ty mới gồm có: HĐQT, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và Bộ máy giúpviệc Tổng công ty được quản lý bởi HĐQT và được điều hành bởi Tổnggiám đốc Nhưng trong thực tế thời gian qua, vai trò của HĐQT trong cácTổng công ty hầu như rất mờ nhạt Có một số Tổng công ty đã hoạt động vàinăm rồi mà vẫn chưa đủ số lượng thành viên HĐQT Cá biệt, có Tổng công tycho tới tận đầu năm 1999 mới có chủ tịch HĐQT Theo báo cáo của ban đổimới quản lý doanh nghiệp trung ương thì “Qua thực tế hoạt động cho thấymột số thành viên HĐQT không đủ năng lực dù thiếu am hiểu chuyên mônquản lý, chưa gắn bó với hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty”
Và chức danh Chủ tịch HĐQT cũng gây nhiều tranh cãi trong giới doanhnghiệp Nhiều người cho rằng, Chủ tịch HĐQT là một chức danh “hữu danh
vô thực, là nơi để giải quyết chính sách” cho các cán Bộ đã quá tuổi nhưngchưa về hưu Phát biểu tại hội nghị tổng kết mô hình Tổng công ty, hầu hết ýkiến của các đại biểu đều cho rằng, thời gian qua HĐQT đã không khẳng địnhđược vị trí của mình trong Tổng công ty Điều đó một phần do cơ chế, chínhsách chưa rõ ràng, nhưng phần chủ yếu vẫn là cán Bộ thành viên của HĐQTkhông đủ năng lực để đảm nhận nhiệm vụ mới mẻ này, đặc biệt là chức danhHĐQT
3.1.2 Mối quan hệ giữa HĐQT và ban Tổng giám đốc.
Cho đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc trong các quyết định về quyềnđại diện chủ sở hữu tài sản Nhà nước trong DNNN, vai trò và trách nhiệm củaChủ tịch HĐQT chưa được xác định rõ nên đôi khi vẫn chưa có sự phối hợpnhịp nhàng giữa HĐQT và ban TGĐ Cùng một số vốn được giao nhưng cảChủ tịch HĐQT và TGĐ đều phải ký nhận Như vậy, trách nhiệm thì tập thểnhưng người điều hành chỉ là Tổng giám đốc HĐQT tuy có trách nhiệm giámsát nhưng vốn của các DNNN lại không thuộc quyền sở hữu của mình Do đó,trách nhiệm và quyền hạn của HĐQT cũng bị giới hạn Hiện nay, giám đốccủa các doanh nghiệp thành viên chủ lực hầu hết chưa tham gia HĐQT của
Trang 11Tổng công ty vì muốn tách chức năng quản lý và chức năng điều hành, nhưngthực tế hai chức năng này gắn bó tới hiệu quả kinh doanh của Tổng công ty.
Có nơi HĐQT trong khi chưa thực hiện tốt chức năng Chủ yếu như xây dựngchiến lược, quyết định dự án đầu tư, lựa chọn cán bộ nhưng lại sa vào lĩnhvực điều hành của Tổng giám đốc Có nơi Tổng giám đốc quyết định các vấn
đề thuộc quyền hạn của chủ tịch HĐQT Lại có nơi chủ tịch HĐQT lại baobiện công việc điều hành của giám đốc Thực tế hiện nay cho thấy, nơi nào uytín và trình độ của chủ tịch HĐQT cao hơn thì thường can thiệp vào hoạt độngkinh doanh, lấn quyền của giám đốc, biến HĐQT thành cơ quan chủ quản củadoanh nghiệp Ngược lại, nơi nào trình độ và uy tín của Tổng giám đốc caohơn thì vai trò của HĐQT trở lên mờ nhạt Sở dĩ có tình trạng trên là vì quyềnhạn và trách nhiệm ở đây được phân công không xuất phát từ lợi ích kinh tế
mà hoàn toàn xuất phát từ năng lực quản lý hành chính
3.2 Mối quan hệ giữa Tổng công ty với các đơn vị thành viên và giữa các đơn vị thành viên với nhau.
* Sự dính kết “hữu cơ” giữa các doanh nghiệp thành viên với Tổng công
ty chưa thực sự tồn tại; động lực xây dựng Tổng công ty đối với các đơn vịthành viên bị thả nổi, không phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn Tổngcông ty
Sau khi tham gia vào Tổng công ty, các DNNN thành viên hầu như hạchtoán độc lập Họ phải tự “xoay sở”, tự lo công ăn việc làm, tự lo lỗ, lãi, cácTổng công ty gần như không có vai trò gì Đặc biệt sau khi Chính phủ banhành nghị định số 44/1998/NĐ - CP (ngày 29/6/98) và việc chuyển DNNNthành Công ty cổ phần, một số doanh nghiệp trong các Tổng công ty Nhànước đã được thí điểm tiến hành cổ phần hoá Điều đó có nghĩa là các doanhnghiệp này đã tách hoàn toàn khỏi sự kiểm soát của Tổng công ty và hoạtđộng theo một luật mới: luật công ty
Theo số liệu điều tra ở TPHCM và Hà Nội thì chỉ có khoảng 13% cácdoanh nghiệp (mà đa phần là nhỏ hay hoạt động chưa có hiệu quả) là cần cóTổng công ty Điều này cho thấy mô hình Tổng công ty chỉ có một phần tácdụng với một số doanh nghiệp chưa khẳng định được trên thị trường và một
số các doanh nghiệp đặc thù Còn phần lớn các doanh nghiệp khác thì mô
Trang 12hình Tổng công ty là không cần thiết và không ít doanh nghiệp đang mongmuốn “độc lập” với cả Tổng công ty.
Điều này cho thấy, sự điều hành của Tổng công ty với các công ty thànhviên chưa đem lại hiệu quả cao, chưa hội tụ được các anh tài từ các công ty vềvới Tổng công ty Hiện tại có không ít ý kiến đề nghị trực tiếp hoặc gián tiếpxem xét lại mô hình tổ chức Tổng công ty và điều lệ hoạt động của nó
Ngoài ra, chính tư tưởng độc lập theo nghị định 388/HĐBT đã làm một
số đơn vị thành viên của các Tổng công ty không liên kết được với nhau,hoạt động rời rạc, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn Tổng công
ty Thậm chí các doanh nghiệp thành viên còn cạnh tranh lẫn nhau, gây thiệthại đến lợi ích của Nhà nước
* Khác với các tập đoàn kinh tế của nước ngoài, mối quan hệ giữa “công
ty mẹ” và “công ty con” là mối quan hệ mang tính hữu cơ chặt chẽ, “công tymẹ” chi phối hoạt động của công ty con bằng các quan hệ tài chính, thịtrường, ở các Tổng công ty của Việt Nam, mối quan hệ này chỉ mang tính
“hành chính”, “cơ học” Tổng công ty điều hành hoạt động của các doanhnghiệp thành viên bằng các quyết định, bằng các ràng buộc về quyền lợi vànghĩa vụ của doanh nghiệp với Tổng công ty Điều này phản ánh một thựctrạng là, nếu Tổng công ty thực hiện vai trò của mình thì vô hình chung nó đãbiến mình thành cấp chủ quản cản trở hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp thành viên
Sở dĩ có mâu thuẫn trên là vì các Tổng công ty Nhà nước được thành lậpchủ yếu bằng con đường hành chính tổ chức chứ không áp dụng những yếu tốcủa kinh tế thị trường Theo cách thức này, các DNNN trong cùng một ngànhđược gom góp lại và được tham gia vào một tổ chức gọi là Tổng công ty Nhànước Có những DNNN tham gia vào Tổng công ty không phải là tự nguyện
mà bị gò ép, họ thậm chí không có quyền quyết định vận mệnh của chínhmình Tất cả những điều này đã không tạo ra được sự gắn kết cần thiết giữacác đơn vị thành viên với Tổng công ty và do đó không phát huy được sứcmạnh tổng hợp của Tổng công ty
3.3 Thiếu sự phân công, phân cấp cụ thể, rõ ràng về quản lý Nhà nước
và thực hiện quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN giữa chính phủ với
Trang 13Bộ quản lý ngành, Bộ chức năng và UBND cấp tỉnh, cấp huyện nên mối quan
hệ giữa Tổng công ty với các cơ quan quản lý Nhà nước rất phức tạp, có quá nhiều đầu mối, trách nhiệm giải quyết công việc không rõ ràng và khó xác định trách nhiệm khi xảy ra hậu quả.
Hiện tại đại diện quyền sở hữu Nhà nước được dàn trải ở nhiều cơ quanđại diện làm nảy sinh nhiều vấn đề phiền hà cho doanh nghiệp, tạo ra nhiều sơ
hở trong cơ chế quản lý vốn và tài chính của doanh nghiệp mà hậu quả khólường hết cho cả các cơ quan quản lý Nhà nước lẫn doanh nghiệp
3.4 Qua thực tế hoạt động có một số Tổng công ty đang đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức sắp xếp lại như: Tổng công ty đá quý và vàng (Tổng công
ty 91), Tổng công ty cơ khí năng lượng và mỏ (Tổng công ty 90).
3.5 Tình trạng thiếu vốn của các DNNN là phổ biến và nghiêm trọng.
Tổng công ty Nhà nước tuy được ưu tiên các điều kiện vật chất, nguồn lực đểphát triển nhưng tình hình cũng không sáng sủa hơn Năm 1998, vốn Nhànước bình quân của Tổng công ty 91 là 3661 tỉ đồng (260 triệu USD) Nhưngtrong số 17 Tổng công ty 91 có tới 14 Tổng công ty (82%) có mức vốn Nhànước dưới mức vốn bình quân, trong đó 6 Tổng công ty (35%) có mức vốnNhà nước dưới 1000 tỉ đồng Điều đó có nghĩa là chỉ có 3 Tổng công ty 91 cóvốn Nhà nước là lớn
Đối với Tổng công ty 90, tình hìnhh vốn còn đáng buồn hơn Hơn 20%
số Tổng công ty 90 vốn Nhà nước chỉ có dưới 100 tỉ đồng, trong đó ở 13Tổng công ty vốn từ ngân sách cấp cho mỗi Tổng công ty chỉ được dưới 40 tỉđồng
Với quy mô vốn nhỏ hẹp như vậy, e rằng các Tổng công ty khó mà thựchiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của mình
III Phương hướng và giải pháp cần làm để củng cố và phát triển các Tổng công ty.
1 Chấn chỉnh Bộ máy tổ chức của HĐQT và xử lý lại mối quan hệ giữa chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc.
Trang 14* Hội đồng quản trị cần được chấn chỉnh cả về cơ cấu tổ chức và chấtlượng hoạt động Bài kết luận hội nghị sơ kết mô hình Tổng công ty của PhóThủ tướng Ngô Xuân Lộc nêu rõ “chuẩn bị tốt về mặt nhân lực Nâng caochất lượng hoạt động của HĐQT để đủ sức gánh vác nhiệm vụ Chủ tịchHĐQT và các thành viên của HĐQT phải là những người thuộc lĩnh vực hoạtđộng của Tổng công ty, có kiến thức chuyên môn sâu rộng, am hiểu nội tìnhcủa doanh nghiệp mà mình đang quản lý Tham gia vào HĐQT có một số cácgiám đốc của các công ty đầu đàn của Tổng công ty Tổng giám đốc Tổngcông ty Dệt - May Việt Nam Bùi Xuân Khu nói: “Mô hình HĐQT cần hết sứcgọn nhẹ Thành viên HĐQT phải là những người giỏi chuyên môn, am hiểungành nghề thì mới có thể xây dựng các chiến lược, chính sách đúng đắn Bêncạnh đó có thể lập hội đồng cố vấn để giúp đỡ cho HĐQT.
Theo ý kiến của Thủ tướng chính phủ và của ban đổi mới quản lý doanhnghiệp trung ương thì trong thời gian tới nên thí điểm mô hình chủ tịchHĐQT kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty Một số Tổng công ty đồng tìnhvới giải pháp này “Việc chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty làhoàn toàn đúng” ông chủ tịch HĐQT Tổng công ty xây dựng số 1 nói Nhưngcũng có ý kiến cho rằng, chủ tịch HĐQT không nên kiêm nhiệm Tổng giámđốc Tổng giám đốc Tổng công ty điện lực Việt Nam Hoàng Trung Hải đềnghị: “HĐQT nên chỉ có một số ít thành viên chuyên trách như: chủ tịch vàtrưởng ban kiểm soát, còn các thành viên khác nên kiêm nhiệm Chủ nhiệmHĐQT phải là người quản lý có nhiều kinh nghiệm, năng động, có khả năngquản lý, đã kinh qua công tác lãnh đạo doanh nghiệp ít nhất 3 năm Tổnggiám đốc không nhất thiết là thành viên HĐQT và do HĐQT chọn và đề cử đểchính phủ phê chuẩn Đối với DNNN, chủ tịch HĐQT không nên kiêm nhiệmTổng giám đốc để thực hiện được các chức năng khác nhau mà không bịchồng chéo và công tác giám sát được tốt hơn” Tổng giám đốc Tổng công tyhàng không cũng nói: “Đối với Tổng công ty hàng không Việt Nam đề nghịkhông áp dụng mô hình chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm Tổng giám đốc để tránh
sự lẫn lộn giữa đại diện sở hữu Nhà nước và người điều hành trong Tổngcông ty”
Trang 15* Xét cả về phương diện pháp lý và trên thực tế, thì vị trí, chức năng,nhiệm vụ và quyền lực giữa HĐQT và Tổng giám đốc vẫn chưa đủ rõ ràngnên người ta cảm thấy Tổng công ty là một cơ thể có “hai đầu” vừa HĐQTvừa Tổng giám đốc mà quyền lực của HĐQT thì cao nhất trên phương diệnquản lý, còn Tổng giám đốc quyền lực cao nhất trên phương diện điều hành.Thật ra thì khó có thể tách bạch giữa quản lý và điều hành, vì có quản lý nàolại không có điều hành và có điều hành nào lại không có quản lý? cho nên để
xử lý mối quan hệ giữa chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc Tổng công ty, cầnphân biệt rõ chức năng của HĐQT và nhiệm vụ của ban Tổng giám đốc trongtừng lĩnh vực cụ thể: xác định, định hướng chiến lược phát triển, quản lý vốn,
sử dụng lao động, quản lý dự án đầu tư, quản lý bổ nhiệm cán Bộ Nghiêncưua phương thức giao vốn cho HĐQT và HĐQT giao lại vốn cho Tổng giámđốc và các doanh nghiệp thành viên Triển khai việc HĐQT tuyển chọn Tổnggiám đốc và ký hợp đồng theo quy định và sự hướng dẫn của chính phủ Kýhợp đồng là để xác định rõ cơ sở pháp lý về chức trách và quyền hạn củaTổng giám đốc trong việc quản lý điều hành Tổng công ty theo đúng hợpđồng Mặt khác để khắc phục tình hình Tổng công ty có hai cơ quan đứng đầugây khó khăn, chồng chéo, sự phân định không rõ ràng giữa HĐQT và Tổnggiám đốc như hiện nay Bên cạnh đó, chính phủ cũng sẽ khẩn trương nghiêncứu thí điểm giải pháp tập trung quyền lực vào một chức danh là chủ tịchHĐQT kiêm Tổng giám đốc ở một số Tổng công ty
2 Xử lý mối quan hệ giữa Tổng công ty với các đơn vị thành viên và giữa các đơn vị thành viên với nhau.
Cần phải tạo ra các liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong Tổngcông ty Để làm được điều đó, các doanh nghiệp này cần phải được phân côngchuyên môn hoá trong sản xuất, cần hợp tác với nhau về công nghệ hoặc hỗtrợ nhau về vốn Công ty có thể liên kết dưới dạng công ty mẹ, công ty con