Bảng 4: Yêu cầu về kỹ năng của lao động chia theo hình thức sở hữu Bảng 5: Yêu cầu về kỹ năng của lao động chia theo nhóm ngành Bảng 6: Kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Kinh tế - Quản tr
Trang 1DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trang 2ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1 Trung tâm Dịch vụ việc làm thanh niên Hà Nội
2 Trung tâm Dịch vụ hỗ trợ đào tạo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
3 Trung tâm Hỗ trợ sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc Gia
4 Các đơn vị, doanh nghiệp có mối liên hệ thường xuyên với Trung tâm Dịch
vụ và Hỗ trợ sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội
5 Các Khoa đào tạo chính quy trực thuộc Viện Đại học Mở Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH 5
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1 TỔNG QUAN VỀ VIỆC LÀM 10
1.1.1 Khái niệm việc làm 10
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc làm đối với sinh viên tốt nghiệp 10
1.2 TỔNG QUAN VỀ KỸ NĂNG 11
1.2.1 Khái niệm Kỹ năng 11
1.2.2 Khái niệm kỹ năng mềm 13
1.2.3 Tầm quan trọng của kỹ năng mềm đối với sinh viên 13
1.3 KHÁI NIỆM ĐÁP ỨNG VÀ ĐÁP ỨNG CÔNG VIỆC 19
CHƯƠNG II YÊU CẦU CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CỦA SINH VIÊN VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 20
2.1 PHÂN TÍCH CÁC YÊU CẦU CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG VỀ KỸ NĂNG ỨNG VIÊN 20
2.1.1 Cách tiếp cận vấn đề 20
2.1.2 Đặc tính của mẫu nghiên cứu 21
2.1.3.Kết quả nghiên cứu sau khi phân tích các mẫu thu thập 23
2.2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG KỸ NĂNG CỦA SINH VIÊN VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI, NHẬN XÉT KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA DOANH NGHIỆP 29
2.2.1 Khảo sát thông qua phản hồi của các doanh nghiệp đang sử dụng lao động là sinh viên, sinh viên đã tốt nghiệp của Viện Đại học Mở Hà Nội. 29
2.2.2 Khảo sát bằng phiếu điều tra tới sinh viên. 36
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 46
3.1 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 46
3.1.1 Đảm bảo tính đồng bộ của các giải pháp 46
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn và khả thi của giải pháp: 46
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 46
3.2.1 Giải pháp thứ nhất: Xây dựng kế hoạch hành động tăng cường hỗ trợ kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng mềm cho sinh viên 46
Trang 43.2.2 Giải pháp thứ hai: Xây dựng kênh thông tin hai chiều về việc làm giữa
doanh nghiệp và sinh viên. 51
3.2.3 Giải pháp thứ ba: Tổ chức các chương trình tuyển dụng, thực tập cho sinh viên. 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 56
1 PHIẾU KHẢO SÁT SINH VIÊN 56
2 PHIẾU KHẢO SÁT THÔNG QUA DOANH NGHIỆP 59
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH
Hình ảnh:
Hình 1: Mô hình các kỹ năng cần có đối với sinh viên mới tốt nghiệp
Bảng biểu:
Bảng 1: Đặc tính mẫu nghiên cứu theo loại hình doanh nghiệp
Bảng 2: Đặc tính mẫu nghiên cứu theo nhóm ngành
Bảng 3: Yêu cầu về kỹ năng đối với sinh viên mới tốt nghiệp phân theo hình thức sở hữu và nhóm ngành
Bảng 4: Yêu cầu về kỹ năng của lao động chia theo hình thức sở hữu
Bảng 5: Yêu cầu về kỹ năng của lao động chia theo nhóm ngành
Bảng 6: Kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh theo đánh giá của đơn vị sử dụng lao động
Bảng 7: Kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Công nghệ theo đánh giá của đơn vị sử dụng lao động
Bảng 8: Kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Luật theo đánh giá của đơn vị sử dụng lao động
Bảng 9: Kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Kiến trúc – Mỹ thuật theo đánh giá của đơn vị sử dụng lao động
Bảng 10: Kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Ngoại ngữ theo đánh giá của đơn vị sử dụng lao động
Bảng 11: So sánh kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh: tự đánh giá, đánh giá của đơn vị sử dụng lao động với yêu cầu của đơn vị tuyển dụng
Bảng 12: So sánh kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Công nghệ: tự đánh giá, đánh giá của đơn vị sử dụng lao động với yêu cầu của đơn vị tuyển dụng Bảng 13: So sánh kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Luật: tự đánh giá, đánh giá của đơn vị sử dụng lao động với yêu cầu của đơn vị tuyển dụng
Trang 6Bảng 14: So sánh kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Kiến trúc – Mỹ thuật:
tự đánh giá, đánh giá của đơn vị sử dụng lao động với yêu cầu của đơn vị tuyển dụng
Bảng 15: So sánh kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Ngoại ngữ: tự đánh giá, đánh giá của đơn vị sử dụng lao động với yêu cầu của đơn vị tuyển dụng
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong giai đoạn hiện nay, tính cạnh tranh về chất lượng, trình độ của người lao động là rất lớn, đặc biệt đối với đối tượng lao động chất lượng cao, được đào tạo từ các trường Đại học, Học viện Theo điều tra năm 2013, sinh viên
có bằng đại học từ 21 - 29 tuổi đang thất nghiệp là 101.000 người Đây thực sự là con số đáng buồn khi vẫn có rất nhiều các đơn vị, doanh nghiệp không tìm được
đủ nhu cầu nguồn nhân lực
Nguyên nhân chính là cầu nối giữa sinh viên và doanh nghiệp chưa được gắn kết, thông tin về nguồn việc làm chưa được sinh viên tiếp cận Bên cạnh đó, việc sinh viên và sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng cả về chuyên môn lẫn các kỹ năng bổ trợ cũng là một vấn đề dẫn đến sinh viên chưa tiếp xúc được với các vị trí công việc
Thực tế cho thấy mặc dù giáo dục đại học đã rất nỗ lực nâng cao chất lượng đào tạo trong suốt thời gian qua nhưng thực tế xã hội cho thấy rất nhiều sinh viên ra trường không xin được việc làm và rất nhiều nhà tuyển dụng không tuyển được lao động phù hợp với yêu cầu Trong nhiều năm trở lại đây, việc tuyển dụng nhân viên của các cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài, đều trở nên công khai rộng rãi và phổ biến Các ngày hội việc làm được
tổ chức thường xuyên, đó là nơi gặp gỡ của lãnh đạo các cơ sở sử dụng lao động
và những người có nhu cầu việc làm Số người cần việc làm tham gia các ngày hội việc làm lên đến hàng chục nghìn người, hồ sơ nộp vào các cơ quan thông báo tuyển dụng thường xuyên là hàng trăm, hàng nghìn bộ Tuy nhiên, theo số liệu của nhà tổ chức chỉ có 30% doanh nghiệp tuyển được người phù hợp trong các ngày hội việc làm và các doanh nghiệp chỉ tuyển được 60% chỉ tiêu đề ra Các cơ quan, doanh nghiệp có uy tín có khi hàng năm không tìm được người phù hợp vào các vị trí quan trọng trong đơn vị Trong khi đó, sinh viên tốt nghiệp đại học hàng năm lên đến hàng chục ngàn người Dường như đã có một khoảng cách khá xa giữa các kỹ năng được trau dồi trong trường đại học và nhu cầu đặt ra từ thực tế của các doanh nghiệp, cơ quan Có vẻ như muốn nâng cao chất lượng đào tạo đại học thì một trong những mục tiêu cần phấn đấu là làm cho khoảng cách này trở nên ngắn hơn
Trang 8Với những cách tiếp cận vấn đề như trên, một nghiên cứu đánh giá mức
độ đáp ứng với công việc của sinh viên tốt nghiệp đại học dựa trên kết quả tổng hợp các yêu cầu về kỹ năng của các ứng viên qua các thông tin tuyển dụng Trung tâm Dịch vụ và Hỗ trợ sinh viên nhận thấy thiết yếu phải phát triển nguồn việc làm, thực tập cho sinh viên của Nhà trường để hỗ trợ người học tìm được công việc phù hợp với năng lực chuyên môn sau khi được đào tạo tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Xuất phát từ những lý do trên đây, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài “Các
giải pháp phát triển nguồn việc làm cho sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội”
2 Mục đích của đề tài:
Đề tài “Các giải pháp phát triển nguồn việc làm cho sinh viên Viện Đại
học Mở Hà Nội” đưa ra các giải pháp, nhóm giải pháp:
+ Tạo cơ hội tiếp cận công việc, cơ hội thực tập cho sinh viên ngay khi còn ngồi trên ghế giảng đường;
+ Nâng cao tỷ lệ có việc làm và việc làm đúng chuyên ngành được đào tạo sau khi sinh viên tốt nghiệp
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thông tin tuyển dụng của các đơn vị, doanh nghiệp
- Kỹ năng của sinh viên đang theo học Viện Đại học Mở Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Các đơn vị, doanh nghiệp đăng tải thông tin tuyển dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng và trực tiếp tại Trung tâm Dịch vụ và Hỗ trợ sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội
- Các sinh viên năm thứ 4, thứ 5 (đối với Khoa Tạo dáng Công nghiệp, Khoa Kiến trúc) và các sinh viên năm thứ 3, thứ 4 (đối với các Khoa còn lại trong Viện)
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu:
- Sử dụng phương pháp phân tích nội dung (content analysis) sau khi đã thu thập các Thông tin tuyển dụng của tổ chức, doanh nghiệp qua website, Tạp chí tuyển dụng và trực tiếp tại Trung tâm Dịch vụ và Hỗ trợ sinh viên
- Điều tra, khảo sát kỹ năng của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội
Trang 10CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN VỀ VIỆC LÀM
1.1.1 Khái niệm việc làm
Theo trang thông tin điện tử của Công đoàn bưu điện Việt Nam: Việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi người vì nhờ nó con người có điều kiện tạo thu nhập để đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình và các thành viên trong gia đình, đồng thời là điều kiện để con người tham gia vào các hoạt động xã hội, quan hệ xã hội, qua đó khẳng định vai trò, giá trị xã hội của mình
Việc làm là một hiện tượng xã hội đặc biệt, được nhìn nhận dưới nhiều
góc độ khác nhau, thí dụ: “Việc làm là một quan hệ sản xuất nảy sinh do có sự
kết hợp giữa cá nhân người lao động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách thức kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo khuôn khổ của quá trình kinh tế”
Điều 13, Bộ luật lao động, việc làm được định nghĩa: “Mọi hoạt động tạo
ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều thừa nhận là việc làm”. Với định nghĩa này, việc làm được hiểu đầy đủ hơn, làm thay đổi nhận thức chật hẹp trước đây, tạo yếu tố thuận lợi về tâm lý, tránh sự mặc cảm hoặc thái độ không đúng với một số công việc cần thiết trong đời sống hàng ngày
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc làm đối với sinh viên tốt nghiệp
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội Đặc biệt đối với sinh viên mới tốt nghiệp thì việc làm có vai trò hết sức quan trọng
- Đối với sinh viên
+ Giải quyết được vấn nạn thất nghiệp sau khi có bằng đại học theo thống kê năm 2013 có gần 72000 cử nhân thất nghiệp
+ Đối với sinh viên mới tốt nghiệp thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để tự nuôi sống bản thân mình không phụ thuộc vào gia đình
Trang 11+ Là nơi để sinh viên thể hiện những mơ ước của mình với sự nhiệt huyết của tuổi trẻ, long đam mê với công việc
- Đối với xã hội
+ Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu
thành nên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực Khi sinh viên có việc làm thì xã hội đó sẽ phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong
xã hội , có ít các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, sinh viên được hoàn thiện dần về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người sinh viên có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người
+ Sinh viên có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời
sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của sinh viên, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội Ngoài ra khi không có vệc làm cho sinh viên mới ra trường sẽ tạo ra các
hố ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị
- Đối với Nhà trường
+ Mỗi sinh viên tốt nghiệp ra trường có việc làm và việc làm tốt khẳng định chất lượng đào tạo của Nhà trường
+ Sinh viên tốt nghiệp có việc làm là kênh thông tin quảng bá hình ảnh chất lượng nhất
1.2 TỔNG QUAN VỀ KỸ NĂNG
1.2.1 Khái niệm Kỹ năng
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống
Để giải thích nguồn gốc hình thành kỹ năng có lẽ không có cơ sở lý thuyết nào tốt hơn 2 lý thuyết về phản xạ có điều kiện (được hình thành trong thực tế cuộc sống của cá nhân) và phản xạ không điều kiện (là những phản xạ
Trang 12bẩm sinh mà cá nhân sinh ra đã sẵn có) Trong đó, kỹ năng của cá nhân gần như thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện, nghĩa là kỹ năng được hình thành từ khi một cá nhân sinh ra, trưởng thành và tham gia hoạt động thực tế cuộc sống Ví dụ: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản trị chỉ được hình thành trong hoạt động công việc của một cá nhân
Bản thân chúng ta sinh ra chưa có kỹ năng về một khía cụ thể nào (trừ
kỹ năng bẩm sinh) nhất là kỹ năng công việc, đó là lý do hình thành hệ thống đào tạo nghề nghiệp hiện có ở bất kỳ quốc gia nào Như vậy, đa số kỹ năng mà chúng
ta có được và hữu ích với cuộc sống của chúng ta là xuất phát từ việc chúng ta được đào tạo Và như thế, nền tảng của sự thành công của chúng ta trong cuộc sống là do 98 % là do được đào tạo và tự đào tạo rèn luyện kỹ năng, chỉ có 2 %
là kỹ năng bẩm sinh tham gia vào sự thành công của chúng ta
Vì sao phải cần có kỹ năng?
Khi tham gia vào bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc sống của chúng ta đều đòi hỏi chúng ta phải thỏa mãn những kỹ năng tương ứng
Ví dụ: Nghề tư vấn thì tương ứng là nhà tư vấn phải có những kỹ năng tư vấn; nghề luật sư thì phải có kỹ năng hành nghề luật sư Như thế bất kỳ hoạt động hay nghề nghiệp nào mà chúng ta tham gia thì chúng ta đều phải đáp ứng những kỹ năng mà hoạt động hay nghề nghiệp đó đòi hỏi nếu không chúng ta không thể tham gia cuộc chơi
Có những loại kỹ năng nào?
Có người đã phân loại kỹ năng thành 2 loại cơ bản là kỹ năng cứng và
kỹ năng mềm Kỹ năng cứng là kỹ năng mà chúng ta có được do được đào tạo từ nhà trường hoặc tự học, đây là kỹ năng có tính nền tảng Loại thứ 2 là kỹ năng mềm là loại kỹ năng mà chúng ta có được từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc thực tế nghề nghiệp Kỹ năng mềm là loại kỹ năng cực kỳ phong phú và không kém phần quan trọng như kỹ năng cứng Kỹ năng mềm có thể là: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đàm phán… Để thành công trong cuộc sống, chúng ta phải thỏa mãn cả kỹ năng cứng và kỹ năng mềm; phải vận dụng linh hoạt và phù hợp hai loại kỹ năng cơ bản này trong cuộc sống và công việc
Trang 131.2.2 Khái niệm kỹ năng mềm
Kỹ năng “mềm” chủ yếu là những kỹ năng thuộc về tính cách con người, không mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải là kỹ năng
cá tính đặc biệt, chúng quyết định khả năng bạn có thể trở thành nhà lãnh đạo, thính giả, nhà thương thuyết hay người hòa giải xung đột Những kỹ năng
“cứng” ở nghĩa trái ngược thường xuất hiện trên bản lý lịch - khả năng học vấn của bạn, kinh nghiệm và sự thành thạo về chuyên môn Bạn có phải là một người
dễ chịu? Tận tâm? Bạn giao tiếp có ấn tượng không? Giải quyết các vấn đề có hiệu quả không? Đây chính là các dạng câu hỏi ưa dùng để xác định được mức
1.2.3 Tầm quan trọng của kỹ năng mềm đối với sinh viên
a Trong cuộc sống
Giao tiếp xã hội giữa con người và con người đã góp phần tạo nên những truyền thống, nghi thức, quy tắc đạo đức, giá trị, chuẩn mực xã hội, và cả luật pháp Tất cả cùng nhau tạo nên những nền tảng của xã hội loài người Có thể
Trang 14nói giao tiếp xã hội là một trong những thuộc tính đặc biệt và duy nhất giúp loài người khác biệt so với các sinh vật khác Đó là sự tương tác giữa con người với con người với một cá nhân, tập thể, một cộng đồng Có thể nói con người không thể sống mà thiếu đi sợi dây liên kết với xung quanh Ngày nay khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc tạo ra sự kết nối ngày càng mở rộng Điều đó làm cho sự tương tác của con người với con người không chỉ theo chiều rộng mà còn phát triển theo cả chiều sâu Do đó ngoài các kỹ năng giao tiếp con người còn phải chuẩn bị cho mình rất nhiều kỹ năng như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng học và tự học, kỹ năng lãnh đạo bản thân… Kỹ năng mềm cần thiết cho tất cả mọi người từ nam đến nữ, người già người trẻ , cho dù bạn vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường hay bạn đã đi làm Với các bạn sinh viên, việc học tập trau dồi kỹ năng mềm lại càng quan trọng Khi trở thành sinh viên, môi trường thay đổi Khi còn là một học sinh , chúng ta chỉ biết học thế nào cho giỏi , để đậu vào đại học Được bố mẹ lo lắng chu đáo cho từng cái
ăn cái mặc, cho nên chúng ta cũng không mấy quan tâm đến thế giới bên ngoài Nhưng khi trở thành một sinh viên lại khác , chúng ta phải tự học , làm quen với cuộc sống tự lập , nhất là các bạn sinh viên đi học xa nhà Sinh viên phải làm quen với cuộc sống mới , với những con người mới đến từ các vùng miền khác nhau
Không chỉ làm quen với cuộc sống mới mà các bạn còn phải làm quen với phương pháp học tập mới Nếu như các bạn vẫn áp dụng phương pháp học tập như phổ thông đến lớp nghe thầy cô giáo giảng, ghi chép bài, và chỉ học tập
và làm bài theo đúng những yêu cầu của thầy cô giáo đưa ra, không có bất kỳ sự sáng tạo nào khác trong học tập thì việc học như vậy ở đại học của bạn sẽ không mang lại cho bạn kết quả học tập cao như bạn mong muốn Để đạt được kết quả học tập cao trong trường đại học ngoài việc lắng nghe thầy cô giáo giảng, tiếp thu ý kiến của thầy cô, bạn còn cần phải tự mình nghiên cứu những tài liệu liên quan đến học tập, bạn cần phải sáng tạo trong học tập Môi trường học đại học yêu cầu bạn không chỉ tiếp thu ý kiến từ phía thầy cô mà bạn cần phải nêu lên ý kiến của chính bản thân mình, điều này yêu cầu bạn cần tự tin trong giao tiếp Hơn thế nữa hiện nay rất nhiều trường đại học đào tạo theo hình thức tín chỉ yêu cầu kỹ năng học và tự học ở sinh viên với những buổi thuyết trình cũng như
Trang 15phản biện rất sôi nổi và bổ ích trên lớp.Vậy nếu như bạn không tự tin, không trau dồi kỹ năng thuyết trình, làm việc nhóm, mạnh dạn nói trước đám đông cũng như
kỹ năng học tập bạn có thể đạt được kết quả tốt không
Tại Việt Nam, trong nhiều năm gần đây bộ GD-ĐT đã nhiều lần lên tiếng đề cập đến kỹ năng mềm cũng như tầm quan trọng của kỹ năng mềm Ta
có thể nhận thấy điều đó qua việc đại học Quốc Gia đưa ra yêu cầu phải có chứng chỉ kỹ năng mềm Chứng chỉ kỹ năng mềm là một trong các điều kiện để được công nhận tốt nghiệp và cấp bằng Chứng chỉ kỹ năng mềm có thể sẽ trở thành điều kiện để công nhận tốt nghiệp cho sinh viên các trường sau này.Việc được trang bị kỹ năng mềm đầy đủ và sớm sẽ giúp sinh viên nhanh chóng thích ứng , hòa nhập môi trường học tập, lao động Việc trang bị kỹ năng mềm càng sớm càng có lợi cho sinh viên, vì khi đó sinh viên có được động lực, sự tự tin, lý tưởng để theo đuổi ngành nghề, có phương pháp để làm việc nhanh chóng, có khoa học… Sinh viên biết tạo cho mình những điều kiện thuận lợi để hỗ trợ phát triển năng lực ngành nghề (như có khả năng giao tiếp để trao đổi chuyên môn cùng bạn bè, trao đổi chuyên môn với giảng viên chuyên ngành…
b Trong môi trường làm việc sau này
Kỹ năng mềm đóng vai trò chất xúc tác quan trọng giúp cá nhân trang bị những phương pháp làm việc có khoa học, nhanh chóng Người đã được trang bị
kỹ năng mềm biết phương pháp tự tạo cho bản thân điều kiện thuận lợi, những
cơ hội để phát triển năng lực chuyên môn, và hòa nhập môi trường làm việc sản xuất một cách nhanh chóng và thuận lợi
Trong quá trình tuyển dụng:
Hầu hết các nhà quản lý và nhà tuyển dụng đều than phiền nhân viên trẻ thiếu và rất yếu về kỹ năng mềm, đa số không đáp ứng được yêu cầu công việc
dù họ có bằng cấp rất tốt
Một nghiên cứu khác của L&A cho thấy, khoảng 70% sinh viên ra trường khó xin việc vì không có kinh nghiệm và thiếu các kỹ năng cần thiết Cơ hội tìm được công việc thích hợp, lương cao, môi trường tốt ở các công ty lớn hay tập đoàn nước ngoài là khá xa vời Ở các công ty, tập đoàn có bề dày hoạt động lâu năm và tổ chức hoàn chỉnh, việc một nhân viên thiếu kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, nói chuyện trước đám đông, kỹ năng lập kế
Trang 16hoạch, kỹ năng làm chủ bản thân…là hạn chế khiến họ khó có thể hòa đồng và tồn tại lâu
Ví dụ: Intel từng thất vọng khi tuyển 2.000 nhân viên cho dự án đầu tư vào Việt Nam nhưng chỉ có 40 ứng viên đủ trình độ kiến thức lẫn kỹ năng mềm
40 ứng viên này không dễ tuyển vì các ứng viên hầu như không nhận thức được thế mạnh bản thân, hoặc biết nhưng không thể hiện được khả năng nổi trội của mình và thường bối rối khi nói về bản thân Một ví dụ khác: Trong một buổi phỏng vấn tuyển dụng vào công ty A, đang trao đổi về nghiệp vụ kinh doanh, nhà tuyển dụng bỗng bất ngờ hỏi câu hỏi chẳng ăn nhập gì với công việc đang tuyển, ví dụ: “Theo em, khi phi một con dao vừa dùng để phết bơ thì mặt nào sẽ tiếp đất, mặt phết bơ hay không phết bơ?” Thật ra, ý đồ của các nhà tuyển dụng qua những câu hỏi “vu vơ” là nhằm kiểm tra kỹ năng mềm của các ứng viên Sẽ không có đáp án cụ thể nào cho câu hỏi này mà ứng viên phải thuyết phục được nhà tuyển dụng tin vào đáp án của mình “Chính vì vậy, việc học và đào tạo kỹ năng mềm cần được xem là vấn đề được quan tâm đặc biệt”, ông Đức lưu ý
Từ các ví dụ trên ta có thể thấy thực trạng tuyển dụng hiện nay các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến bằng cấp,kỹ năng chuyên môn của các ứng viên mà kỹ năng mềm là một yếu tố quan trọng tác động đến quyết định
tuyển dụng của doanh nghiệp
Khi đi làm:
Để có một công việc làm và giữ được việc làm đó, tất yếu bạn phải được đào tạo đủ kỹ năng chuyên môn đáp ứng các yêu cầu tối thiểu của vị trí công việc Nha sỹ phải biết hàn răng sâu Thư ký phải biết đánh máy trên 100 từ một phút Kế toán dứt khoát phải biết tính toán số liệu, định khoản và lập bảng cân đổi Vậy thì, nếu chuyên môn của các Nha sỹ đều như nhau, bạn sẽ chọn Nha sỹ nào để đến chăm sóc răng mình đây? Chắc phải là Nha sỹ nào đó tính tình dễ chịu, trả lời chu đáo các câu hỏi của bạn chứ không phải người đối xử với bạn như một con số trong một hàng dài dãy những cái miệng được đánh số đúng không? Bạn sẽ chọn thư ký nào khi quỹ thời gian của mình eo hẹp? ngươi thư ký
có thái độ tích cực, trách nhiệm và là người luôn sẵn sàng giúp đỡ; hay là người cứng nhắc, một người ít khi thừa nhận lỗi lầm của mình?
Trang 17Tương tự như vậy với kế toán Người có đạo đức nghề nghiệp cao và người biết động viên khuyến khích đồng nghiệp là người sẽ có khả năng thăng tiến trong nghề nghiệp và phát triển trong tổ chức nhất
Trong những tình huống nói trên, và với tất cả mọi người cũng vậy , kỹ năng mềm là rất quan trọng
Trong khi kỹ năng chuyên môn (kỹ năng “cứng”) của bạn chỉ giúp bạn bước chân qua cánh cửa thì kỹ năng con người, kỹ năng mềm của bạn mới là thứ giúp mở ra thêm cho bạn hầu hết các cánh cửa phía trước Đạo đức nghề nghiệp, thái độ đối với công việc, kỹ năng giao tiếp, trí tuệ tình cảm và đức tính, giá trị
cá nhân khác là những kỹ năng mềm không thể thiếu để bạn phát triển nghề nghiệp Với các kỹ năng mềm, bạn có thể phát triển thành một người lãnh đạo Giải quyết vấn đề, phân quyền, xây dựng đội nhóm sẽ dễ dàng hơn cho bạn nếu bạn có kỹ năng mềm tốt Làm thế nào để hài hòa với mọi người và thể hiện một thái độ tích cực đó là điều cốt lõi cho thành công của bạn
Khoảng trống kỹ năng:
Khi lực lượng lao động của công ty có rất nhiều kỹ năng chuyên môn nhưng lại thiếu các kỹ năng mềm, như vậy là có khoảng trống Các kỹ năng mềm đồng hành cùng các kỹ năng cứng và chính nó giúp cho các kỹ năng cững được phát huy đến hết mức Chẳng hạn nếu bạn rất giỏi kiếm khách hàng, nhưng lại không giỏi để giữ họ, vậy là có khoảng trống kỹ năng Nếu công ty bạn có tỷ lệ nhân viên bỏ việc cao trong khi lại phải giữ những người đã quen việc, chắc chắn
đó là có khoảng cách kỹ năng Khi bạn có rất nhiều nhà quản lý nhưng lại không
có những người lãnh đạo đúng nghĩa – đó chính là khoảng trống kỹ năng mềm
Trên thực tế, bất kỳ khi nào bạn không thể vốn hóa các kiến thức, kinh nghiệm và tay nghề trong nhóm, trong tổ chức thì bạn phải đánh giá lại mức độ giao tiếp và các kỹ năng quan hệ con người (interpersonal skills) đang có trong
tổ chức của mình
Môi trường tổ chức làm việc đã tạo ra những động lực về kỹ năng quan
hệ con người mà chúng ta không thể xem nhẹ Hành động lắng nghe, trình bày ý tưởng, giải quyết mâu thuẫn và thúc đẩy một môi trường làm việc cởi mở và trung thực tất cả đều nằm ở chỗ làm thế nào để giữ được mối quan hệ giữa con người với nhau Đó là những mối quan hệ cho phép người ta tham gia một cách
Trang 18đầy đủ vào các dự án, đề án của nhóm, thể hiện sự tôn trọng và đánh giá cao người khác và sẵn sàng giúp đỡ nhau trong công việc Là một người quản lý, bạn càng phải nhận thức được vai trò kỹ năng mềm quan trọng thế nào trong đội nhóm, trong tổ chức của mình và bạn không chỉ phải phát triển các kỹ năng đó cho riêng mình mà phải cả trong tổ chức Những lĩnh vực kỹ năng bạn cần quan tâm là:
Trách nhiệm giải trình của cá nhân
Mức độ hợp tác
Kỹ năng đàm phán cá nhân
Giải quyết mâu thuẫn
Khả năng thích ứng và linh hoạt
Truyền đạt giao tiếp rõ ràng
Suy nghĩ sáng tạo
Huấn luyện và kèm việc
Bạn càng thấy nhiều những cái đó xung quanh mình có nghĩa là kỹ năng mềm của con người đang có và đang phát huy tác dụng trong tổ chức của bạn Những kỹ năng này sẽ có tác động lớn đến thái độ mà một người sẽ thể hiện ra trong giao tiếp với đồng nghiệp, khách hàng, người quản lý giám sát cũng như với các đối tác liên quan đến tổ chức Thái độ của một người tích cực bao nhiêu, mối quan hệ cá nhân của người đó tốt bấy nhiêu Điều này sẽ thúc đẩy mãnh liệt hiệu quả đội nhóm và nhờ đó nó định hướng dẫn dắt các cá nhân đóng góp mạnh
mẽ hơn vào tầm nhìn, chiến lược của tổ chức
Kỹ năng mềm đang ngày càng quan trọng như kỹ năng cứng trong lực lượng lao động ngày nay Chỉ thuần túy được đào tạo tốt về kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn là chưa đủ nếu không được phát triển các kỹ năng mềm, kỹ năng quan hệ con người, xây dựng đội nhóm giúp người ta giao tiếp, tương tác và hợp tác với nhau hiệu quả hơn Những kỹ năng con người này đang trở nên thiết yếu hơn bao giờ hết với các tổ chức trong bối cảnh phải tìm ra các cách có ý nghĩa để duy trì sức cạnh tranh và năng suất lao động Mỗi kỹ năng mềm đều thiết yếu đối với sự phát triển cá nhân cũng như thành công của tổ chức, phát triển chúng đóng một vai trò quan trọng và thực sự rất cần thiết
Trang 191.3 KHÁI NIỆM ĐÁP ỨNG VÀ ĐÁP ỨNG CÔNG VIỆC
Theo từ điển tiếng Việt đáp ứng là đáp lại theo đúng như đòi hỏi, yêu cầu (Trung tâm Từ điển Vietlex, 2007: 123) Trong nghiên cứu này, đáp ứng với công việc được hiểu là đáp lại những đòi hỏi, yêu cầu của công việc Người có khả năng đáp ứng với công việc là những người có đủ năng lực để hoàn thành tốt các yêu cầu, đòi hỏi của công việc Chủ thể đáp ứng với công việc trong nghiên cứu này chính là những người lao động có trình độ đại học (sinh viên chuẩn bị ra trường của Viện Đại học Mở Hà Nội), hay nói cách khác là sinh viên đã tốt nghiệp đại học ngành kinh tế Mức độ đáp ứng với công việc của sinh viên tốt nghiệp đại học ngành kinh tế chính là mức độ hoàn thành các yêu cầu, đòi hỏi của công việc dựa trên năng lực mà những sinh viên tốt nghiệp đại học ngành kinh tế tích lũy được
Trang 20CHƯƠNG II YÊU CẦU CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CỦA SINH VIÊN VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
2.1 PHÂN TÍCH CÁC YÊU CẦU CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG VỀ KỸ NĂNG ỨNG VIÊN
2.1.1 Cách tiếp cận vấn đề
Sử dụng phương pháp phân tích nội dung (content analysis), nghiên cứu thực hiện việc phân tích nội dung của 2.500 mẫu quảng cáo tuyển dụng trên các báo tuyển dụng lớn của Việt Nam và các thông tin tuyển dụng được gửi trực tiếp tới Trung tâm Dịch vụ và Hỗ trợ sinh viên đối với các ứng viên mới tốt nghiệp đại học để tìm hiểu các yêu cầu của nhà tuyển dụng về các kỹ năng cần có của nhóm nhân viên này Kết quả chỉ ra 3 nhóm kỹ năng (cơ bản, giá trị gia tăng, và dành cho các nhà lãnh đạo tương lai) với 17 kỹ năng cụ thể được các doanh nghiệp tìm kiếm từ các ứng cử viên Nghiên cứu đề nghị mô hình 3 vòng tròn đồng tâm với các thuộc tính vận động hướng tâm để mô hình hóa kết quả tìm được Kết quả của nghiên cứu có thể được sử dụng cho sinh viên, các nhà quản
lý trường đại học, trung tâm đào tạo và huấn luyện, và cả các doanh nghiệp
Bên cạnh các kiến thức chuyên môn cần có được trang bị trong trường đại học, các sinh viên mới tốt nghiệp thường khó kiếm việc làm vì thiếu đi các kỹ năng trong công việc Có rất nhiều nhóm kỹ năng mà một người lao động tri thức cần có Tuy nhiên đâu là các kỹ năng chính mà các nhà tuyển dụng Việt Nam đang yêu cầu đối với nhóm ứng viên mới tốt nghiệp đại học? Nghiên cứu này nhằm trả lời câu hỏi nêu trên Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp các sinh viên có định hướng tốt hơn trong việc trang bị các nhóm kỹ năng phù hợp với yêu cầu của nhà tuyển dụng Mặc khác nó cũng cung cấp các thông tin tham khảo quan trọng cho các đơn vị đào tạo trong quá trình thiết kế chương trình đào tạo gắn với thực tiễn nhu cầu xã hội và nhu cầu học của sinh viên Kết quả của nghiên cứu cũng có nhiều hữu ích cho các nhà tuyển dụng trong việc thiết kế chương
trình tuyển dụng, đào tạo, huấn luyện và phát triển nhân viên của mình
Tiếp cận câu hỏi nghiên cứu loại này có thể nghĩ đến một vài phương pháp thông dụng Thứ nhất là tiếp cận đối tượng là các nhà tuyển dụng của các doanh nghiệp Thứ hai là phỏng vấn các chuyên gia về nhân sự, đào tạo, huấn
Trang 21tiếp nghiên cứu nhu cầu của các sinh viên về vấn đề này Mỗi phương pháp đều
có những ưu nhược điểm riêng Nghiên cứu sử dụng một phương pháp nghiên cứu mới đó là phương pháp phân tích nội dung (content analysis) Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu xã hội học, quản trị học, và tiếp thị Đặc điểm của phương pháp này là phân tích nội dung thông tin trên các tài liệu thứ cấp như các mẫu quảng cáo để rút ra các thông tin trả lời cho câu hỏi nghiên cứu Phương pháp này có ưu điểm là tính khách quan của thông tin được đảm bảo tương đối cao hơn so với các phương pháp như phỏng vấn sâu hay bảng câu hỏi định lượng (phụ thuộc vào quan điểm của người được phỏng vấn hay khảo sát)
Một qui trình phân tích nội dung đi qua 8 giai đoạn và được thiết kế chặt chẽ Bắt đầu xác định mục tiêu phân tích, xây dựng tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu thứ cấp để phân tích, thu thập tài liệu thứ cấp, lựa chọn các nhóm từ, cụm từ, câu văn mang ý nghĩa, phân nhóm các từ, cụm từ, câu văn vào các phân nhóm (mỗi nhóm có nội dung tương đồng, các nhóm có nội dung khác nhau), mã hóa, nhập liệu, phân tích, và hiệu chỉnh
Nghiên cứu này thu thập hơn 2500 mẫu quảng cáo tuyển dụng Từ đây lọc theo tiêu chuẩn chỉ lấy những mẫu quảng cáo đáp ứng ba tiêu chuẩn:
1) Tuyển các vị trí liên quan đến các nhóm ngành (theo quan điểm của nhóm đề tài) mà Viện Đại học Mở Hà Nội đang đào tạo trình độ đại học
2) Tuyển dụng nhân viên mới tốt nghiệp đại học
3) Các yêu cầu tuyển dụng nêu rõ các kỹ năng cần có của các vị trí tuyển dụng Với ba tiêu chuẩn trên, 500 mẫu quảng cáo đáp ứng mục tiêu nghiên cứu được giữ lại để đưa vào phân tích nội dung
2.1.2 Đặc tính của mẫu nghiên cứu
Thông tin từ Bảng 1 cho thấy, mẫu nghiên cứu bao gồm nhiều nhóm doanh nghiệp từ các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, đến các công ty trách nhiệm hữu hạn trong nước, các công ty liên doanh và cổ phần Một điều đặc biệt
là nhóm các doanh nghiệp nhà nước không xuất hiện trong mẫu nghiên cứu Phân tích cả 2.500 mẫu trước khi loại để đánh giá độ lệch của mẫu cho thấy tỷ lệ xuất hiện của các doanh nghiệp nhà nước là rất thấp trong mẫu lớn Cho nên
Trang 22trong mẫu chọn lọc cho nghiên cứu việc các doanh nghiệp nhà nước không xuất hiện là tương đối hợp lý Mặc dù mục tiêu của nghiên cứu không đi vào nghiên cứu loại hình doanh nghiệp, nhưng để có thêm thông tin, nhóm nghiên cứu đã thực hiện trao đổi với 2 chuyên gia tuyển dụng về vấn đề này
Các chuyên gia cho rằng có ba lý do cho vấn đề này:
1) Một bộ phận các doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển đổi thành công ty cổ phần
2) Các doanh nghiệp nhà nước thường không đăng báo khi có nhu cầu tuyển dụng
3) Một số doanh nghiệp nhà nước không ghi rõ là doanh nghiệp nhà nước trên các mẫu quảng cáo tuyển dụng nên đã bị loại ra khỏi mẫu nghiên cứu (theo qui trình của phân tích nội dung)
Nước ngoài TNHH Liên doanh
Bảng 1: Đặc tính mẫu nghiên cứu theo loại hình doanh nghiệp
Theo các số liệu được cung cấp từ Bảng 2, về nhóm ngành đào tạo cần tuyển dụng, ta thấy Kinh tế - Quản trị Kinh doanh có tỷ lệ cao nhất vì các vị trí liên quan đến nhóm ngành này như: nhân viên kinh doanh, nhân viên điều tra thị
Trang 23trường dễ dàng được tuyển dụng và rất nhiều ứng viên mới ra trường có công việc đầu tiên là nhân viên kinh doanh
Nhóm ngành tiếp theo có tỷ lệ tuyển dụng cao đó là nhóm ngành Công nghệ, bao gồm: Công nghệ Thông tin, Công nghệ Điện tử viễn thông và Công nghệ Sinh học Đây là xu hướng của
Tiếp đến là sự phân bổ đều ở các nhóm ngành Luật, Kiến trúc – Mỹ thuật, Ngoại ngữ
KT-QTKD Luật Công nghệ Kiến trúc - Mỹ thuật Ngoại ngữ
Bảng 2: Đặc tính mẫu nghiên cứu theo nhóm ngành
2.1.3.Kết quả nghiên cứu sau khi phân tích các mẫu thu thập
Bảng 2 trình bày kết quả tổng hợp về các nhóm kỹ năng mà các nhà tuyển dụng đang kỳ vọng đối với những sinh viên mới tốt nghiệp ra trường Có 17 nhóm kỹ năng xuất hiện trong mẫu nghiên cứu Có thể tạm phân 17 kỹ năng này thành 3 nhóm chính
Trang 24Nhóm 1 là nhóm các kỹ năng cơ bản, bắt buộc phải có, nếu không có
các ứng viên sẽ rất khó khăn hay không thể được tuyển dụng Nhóm này bao gồm 4 kỹ năng chính: Ngoại ngữ, tin học văn phòng, giao tiếp, và làm việc độc lập Trong đó ngoại ngữ và tin học văn phòng là 2 kỹ năng quan trọng hàng đầu Tuy rất quan trọng nhưng nhóm kỹ năng này chỉ là điều kiện cần để được tuyển dụng, nó chưa phải là điều kiện đảm bảo
Nhóm 2 là nhóm giá trị gia tăng, nhóm này chính là nhóm kỹ năng giúp
các ứng viên thực sự tạo ra sự khác biệt của mình với đối thủ cạnh tranh Nhóm này bao gồm 8 kỹ năng chính là: tổ chức, quản lý, phân tích, làm việc nhóm, tin học chuyên ngành, truyền thông, hoạch định, và đàm phán Đây là rõ ràng là những kỹ năng cao hơn, khó hơn rất nhiều so với nhóm cơ bản Nó thực sự sẽ là những thách thức cho các ứng viên mới dời ghế nhà trường
Nhóm 3 là nhóm dành cho nhà lãnh đạo tương lai Nhóm này bao gồm
các kỹ năng cần có của các nhà lãnh đạo tương lai như: tổng hợp, lãnh đạo, xây dựng và phát triển quan hệ, tổ chức nguồn nhân lực, và ra quyết định
Hình 1 mô phỏng mối liên hệ giữa 3 nhóm kỹ năng phân tích ở trên Ba vòng tròn đồng tâm thể hiện ba nhóm kỹ năng Vòng tròn trong cùng thể hiện nhóm kỹ năng cơ bản, hai vòng tròn kế tiếp lần lượt thể hiện nhóm giá trị gia tăng và nhóm dành cho nhà lãnh đạo tương lai Việc mô hình hóa bằng các vòng tròn thể hiện tính hướng tâm của ba nhóm kỹ năng này Nghĩa là việc phân nhóm của các kỹ năng không bất biến mà sẽ luôn chuyển động Những kỹ năng ngày hôm nay là giá trị gia tăng thì ngày mai có thể sẽ dịch chuyển vào tâm và trở thành nhóm kỹ năng cơ bản phải có Tương tự như vậy với các kỹ năng dành cho nhà lãnh đạo tương lai Hàm ý của mô hình này rất rõ ràng Nó cho thấy kỳ vọng của các nhà tuyển dụng sẽ ngày càng tăng lên theo chất lượng ứng viên Những tiêu chuẩn của ngày hôm nay sẽ trở nên lạc hậu trong tương lai gần Do vậy các ứng viên phải luôn nỗ lực để trang bị cho mình các kỹ năng cần thiết
Trang 25Hình 1: Mô hình các kỹ năng cần có đối với sinh viên mới tốt nghiệp
Có thể thấy rằng không có biến động trong cấu trúc chung 3 nhóm kỹ năng như đã trình bày ở trên khi phân tích giữa các loại hình doanh nghiệp Các khác biệt chủ yếu xuất hiện trong một số các kỹ năng cụ thể Chẳng hạn có sự khác biệt rất rõ nét về nhu cầu ngoại ngữ giữa nhóm công ty trong nước (Trách nhiệm hữu hạn và cổ phần) với nhóm công ty có yếu tố nước ngoài (100% vốn nước ngoài và công ty liên doanh) Nhóm có yếu tố nước ngoài đặt yêu cầu rất cao về kỹ năng ngoại ngữ trong khi nhóm trong nước yêu cầu này tuy cũng cao nhưng không rõ nét bằng Tương tự, kỹ năng làm việc nhóm cũng được nhóm công ty nước ngoài yêu cầu cao hơn so với công ty trong nước
Trang 26TT Kỹ năng Toàn
mẫu
Theo hình thức sở hữu Theo nhóm Ngành
Nước ngoài TNHH
Liên Doanh
Cổ phần
Kinh
tế, QTKD
Công nghệ Luật
Kiến trúc – Mỹ thuật
Ngoại ngữ
Trang 28hẳn so với các doanh nghiệp cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn Đặc biệt, các doanh nghiệp nước ngoài yêu cầu cao hơn hẳn về các kỹ năng như giao tiếp, đàm phán, làm việc nhóm, ngoại ngữ Trong khi đó, doanh nghiệp cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn yêu cầu cao hơn về kỹ năng tin học văn phòng và khả năng làm việc độc lập Kết quả này cũng thể hiện khá rõ sự khác biệt về nhu cầu nhân sự giữa các doanh nghiệp nước ngoài, liên doanh và các doanh nghiệp
cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Các doanh nghiệp nước ngoài, cổ phần có
xu hướng tiếp xúc nhiều hơn với con người (nên quan trọng các kỹ năng gắn với con người như giao tiếp, làm việc nhóm, đàm phán, ngoại ngữ), trong khi các doanh nghiệp cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn có xu hướng làm việc nhỏ
lẻ nên coi trọng các kỹ năng làm việc độc lập, tin học văn phòng
Bảng 4: Yêu cầu về kỹ năng của lao động chia theo hình thức sở hữu
Trong phạm vi đề tài này, nhóm đề tài chủ yếu tập trung đi sâu vào phân tích nhu cầu của doanh nghiệp theo nhóm ngành đã được phân chia cho phù hợp với các nhóm ngành đang được đào tạo tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Tuy cũng không có biến động về cấu trúc các nhóm kỹ năng lớn, nhưng trong từng nhu cầu cụ thể thể hiện rõ sự khác biệt giữa các nhóm ngành Cụ thể các doanh nghiệp kỳ vòng đối với các ứng viên như sau:
+ Nhóm ngành Kinh tế - Quản trị Kinh doanh được kỳ vọng cao ở các kỹ năng như giao tiếp, làm việc nhóm, truyền thông, phân tích, đàm phán, và xây dựng và phát triển quan hệ Đây cũng là nhóm ngành có số kỹ năng trung bình trên một vị trí tuyển dụng cao nhất, khoảng 3,92 kỹ năng
Trang 29+ Nhóm ngành Công nghệ được kỳ vọng cao hơn về các kỹ năng ngoại ngữ, làm việc nhóm, tin học chuyên ngành, tổ chức, truyền thông
+ Nhóm ngành Luật được kỳ vọng về các kỹ năng giao tiếp, phân tích, đàm phán
+ Nhóm ngành Kiến trúc – Mỹ thuật được kỳ vọng vào các kỹ năng như làm việc độc lập và tin học chuyên ngành
+ Cùng với kỹ năng trùng với chuyên môn mà các ứng viên được đào tạo, nhóm ngành Ngoại ngữ được kỳ vọng vào các kỹ năng Tin học văn phòng và khả năng giao tiếp
Ngoại ngữ
Số kỹ năng
Bảng 5: Yêu cầu về kỹ năng của lao động chia theo nhóm ngành
2.2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG KỸ NĂNG CỦA SINH VIÊN VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI, NHẬN XÉT KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA DOANH NGHIỆP
2.2.1 Khảo sát thông qua phản hồi của các doanh nghiệp đang sử dụng lao động là sinh viên, sinh viên đã tốt nghiệp của Viện Đại học Mở Hà Nội
Nhóm nghiên cứu đề tài đã triển khai khảo sát bằng phiếu điều tra tới 183 đơn vị, doanh nghiệp đang sử dụng lao động là sinh viên, sinh viên đã tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội Kết quả nhận được 165 phiếu phản hồi, trong đó có
350 vị trí nhân sự trong doanh nghiệp là sinh viên, sinh viên đã tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
Trang 30Số vị trí nhân sự được chia theo nhóm ngành với số lượng cụ thể như sau:
+ Nhóm ngành Kinh tế, Quản trị Kinh doanh: 80 vị trí
+ Nhóm ngành Công nghệ: 45 vị trí
+ Nhóm ngành Luật: 25 vị trí
+ Nhóm ngành Kiến trúc – Mỹ thuật: 37 vị trí
+ Nhóm ngành Ngoại ngữ: 41 vị trí
Kết quả các kỹ năng của sinh viên, sinh viên tốt nghiệp Viện Đại học Mở
Hà Nội được doanh nghiệp đánh giá theo nhóm ngành cụ thể như sau:
+ Nhóm ngành Kinh tế, Quản trị Kinh doanh (80 sinh viên)
Tên kỹ năng
Số sinh viên được doanh nghiệp nhận xét có kỹ năng
Tỷ lệ trên tổng số sinh viên của nhóm
ngành (%) Nhóm 1: Kỹ năng cơ bản
Trang 31Nhóm 3: Nhà lãnh đạo tương lai
Bảng 6: Kỹ năng của sinh viên nhóm ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh
theo đánh giá của đơn vị sử dụng lao động
Tổng số lượt kỹ năng mà 80 sinh viên nhóm ngành Kinh tế, Quản trị Kinh doanh được doanh nghiệp sử dụng lao động đánh giá là đang sở hữu là 204 Như vậy trung bình 1 sinh viên của nhóm ngành Kinh tế, Quản trị Kinh doanh được doanh nghiệp đánh giá sở hữu 2,59 kỹ năng trong tổng số 14 kỹ năng trong phiếu khảo sát
+ Nhóm ngành Công nghệ (45 sinh viên)
Tên kỹ năng
Số sinh viên được doanh nghiệp nhận xét có kỹ năng
Tỷ lệ trên tổng số sinh viên của nhóm
ngành (%) Nhóm 1: Kỹ năng cơ bản
Nhóm 2: Giá trị gia tăng