1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao quản lý rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính-BIDV

44 452 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nâng Cao Quản Lý Rủi Ro Hoạt Động Cho Thuê Tài Chính Tại Công Ty Cho Thuê Tài Chính-BIDV
Tác giả Trần Thị Thuỳ Linh
Trường học Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam
Chuyên ngành Cho Thuê Tài Chính
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 561,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho thuê tài chính thực sự là một kênh dẫn vốn quan trọng, được đánh giá là khá hữu hiệu, tạo điều kiện thu hút vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 1

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

TT 5

Viết tắt 5

Cụm từ đầy đủ 5

1 5

BIDV 5

Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 5

2 5

CTTC 5

Cho thuê tài chính 5

3 5

Cty 5

Công ty 5

4 5

Phòng QLRR 5

Phòng Quản lý rủi ro 5

5 5

Phòng QHKH 5

Phòng Quan hệ khách hàng 5

6 5

Phòng QTTD 5

Phòng Quản trị tín dụng 5

7 5

Trang 2

Ngân hàng 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ 6

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương I Quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính 3

1.1 Tổng quan về hoạt động cho thuê tài chính 3

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động cho thuê tài chính 3

1.1.2 Khái niệm hoạt động cho thuê tài chính 6

1.1.3 Đặc trưng của hoạt động cho thuê tài chính 7

1.1.4 Phân loại hoạt động cho thuê tài chính 10

1.1.5 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính 15

1.2 Rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính 18

1.2.1 Khái niệm rủi ro 18

1.2.2 Các loại rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính 19

1.2.2.1 Rủi ro tài chính 20

1.2.2.2 Rủi ro hoạt động 21

1.2.2.3 Rủi ro khác 23

1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro hoạt động cho thuê tài chính .23

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính 25

1.3 Quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính 28

1.3.1 Khái niệm 28

Trang 3

cho thuê tài chính – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam 33

2.1 Tổng quan về công ty cho thuê tài chính – BIDV 33

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 33

2.1.2 Hoạt động và cơ cấu tổ chức của công ty 34

2.2 Thực trạng quản lý rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại công ty cho thuê tài chính BIDV 37

2.2.1.Thực trạng về hoạt động cho thuê tài chính 37

2.2.2 Thực trạng về rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê tài chính – BIDV 45

2.2.2.1 Tình hình Nợ quá hạn 45

2.2.2.2 Tình hình Nợ xấu 48

2.2.2.3 Lãi treo 51

2.2.3 Thực trạng quản lý rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại công ty cho thuê tài chính-BIDV 52

2.2.3.1 Các loại rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính của Công ty cho thuê tài chính-BIDV 52

2.2.3.2 Thực trạng trích lập, sử dụng quỹ dự phòng rủi ro 54

2.2.3.2.Chính sách quản lỷ rủi ro của công ty cho thuê tài chính-BIDV 56

2.3 Đánh giá công tác quản lý rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính-BIDV 59

2.3.1 Kết quả đạt được 59

2.3.2 Hạn chế 61

Trang 4

3.1.Mục tiêu, định hướng phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại

Công ty cho thuê tài chính-BIDV 2009-2010 64

3.1.1 Mục tiêu chung 64

3.1.2 Chỉ tiêu cụ thể năm 2009-2010 64

3.1.3 Định hướng phát triển 2009-2010 65

3.2.Giải pháp nâng cao quản lý rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính-BIDV 66

3.2.1 Thực hiện phân tán rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính 67

3.2.2 Thiết lập các quy trình liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính và thực hiện tốt các quy trình này 68

3.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định 69

3.2.4 Xếp hạng rủi ro hoạt động cho thuê tài chính, tăng cường các điều kiện đảm bảo an toàn khi cho thuê và thực hiện tốt biện pháp xử lý thu hồi nợ .71

3.2.5 Phát triển mạng lưới và nguồn nhân lực 73

3.2.6 Xây dựng hệ thống thông tin quản lý rủi ro hoạt động cho thuê tài chính 75

3.3.Một số kiến nghị 76

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 76

3.3.2 Kiến nghị với Các Bộ, Ban, Ngành chức năng 77

3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 5

TT Viết tắt Cụm từ đầy đủ

1 BIDV Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

Trang 6

Bảng 2.1 : Dư nợ cho thuê 2006-2008

Bảng 2.2 : Cơ cấu dư nợ cho thuê theo loại hình doanh nghiệp 2006-2008Bảng 2.3 : Thị phần của các Công ty cho thuê tài chính hội viên Hiệp hội

Cho thuê tài chính Việt Nam năm 2008Bảng 2.4 : Dư nợ cho thuê và nợ quá hạn 2006-2008

Bảng 2.5 : Tỷ lệ nợ quá hạn theo ngành kinh tế năm 2008

Bảng 2.6 : Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu 2006-2008

Bảng 2.7 : Nợ xấu của các Công ty cho thuê tài chính hội viên Hiệp hội Cho

thuê tài chính Việt Nam năm 2008

Bảng 2.8 : Lãi treo và tỷ lệ lãi treo 2006-2008

Bảng 2.9 : Trích lập dự phòng rủi ro 2006-2008

Bảng 3.1 : Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả 2009-2010

Biểu đồ 2.1 : Cho thuê tài chính nội ngành và ngoại ngành 2006-2008

Biểu đồ 2.2 : Cơ cấu dư nợ theo loại hình doanh nghiệp 2006-2008

Biểu đồ 2.3 : Thị phần của các công ty cho thuê tài chính hội viên Hiệp hội

Cho thuê tài chính Việt Nam năm 2008

Biểu đồ 2.4 : Nợ quá quá hạn 2006-2008

Sơ đồ 1.1 : Cho thuê tài chính hai bên

Sơ đồ 1.2 : Cho thuê tài chính ba bên

Sơ đồ 2.1 : Mô hình tổ chức của công ty cho thuê tài chính BIDV từ tháng

11/2008

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, vì vậy chúng taphải không ngừng đổi mới và phát triển chính mình Với việc gia nhập WTO,nhu cầu về vốn kinh doanh của các doanh nghiệp càng tăng cao, đặc biệt lànhu cầu đổi mới trang thiết bị, máy móc để mở rộng quy mô, nâng cao trình

độ sản xuất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh

Hiện nay, lượng vốn trung và dài hạn đầu tư cho các doanh nghiệp vẫncòn khiêm tốn Kênh huy động vốn quen thuộc vẫn là đi vay vốn ngân hàngthương mại Tuy nhiên việc đi vay vốn ngân hàng, bên cạnh những ưu điểmlâu đời của hình thức tín dụng này, các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trongtài sản đảm bảo cũng như uy tín, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Trong những trường hợp như vậy, một kênh huy động khác mà doanh nghiệp

có thể tìm đến là các công ty cho thuê tài chính Với những ưu điểm củamình, cho thuê tài chính tỏ ra thích hợp với những doanh nghiệp mới thànhlập, có lượng vốn nhỏ

Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam,ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất Việt Nam với hơn 49 năm kinhnghiệm và chủ lực trong lĩnh vực đầu tư và phát triển, đơn vị anh hùng laođộng trong thời kỳ đổi mới Thành lập từ năm 1998, Công ty cho thuê tàichính – BIDV đã có hơn 8 năm kinh nghiệm cung cấp dịch vụ thuê tài chínhcho hàng trăm doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trên phạm vi cảnước với tổng số vốn tài trợ hàng ngàn tỷ đồng Tôn chỉ hoạt động của Công

ty là “Đơn giản, chất lượng và hiệu quả”

Trang 8

Trên thực tê hoạt động cho thuê tài chính của các Công ty cho thuê tàichính ở Việt Nam nói chung và hoạt động cho thuê tài chính của Công ty chothuê tài chính-BIDV nói riêng, trong thời gian qua, cũng đã xuất hiện một sốrủi ro như không thu được tiền thuê, tính chuyển nhượng của tài sản thuêthấp, hiệu quả của dự án không như dự tính

Do đó, để kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo an toàn hoạt động và khôngngừng phát triển, Công ty cho thuê tài chính-BIDV cần phải nhận diện, phântích rủi ro để từ đó có các giải pháp thích hợp để giảm thiểu rủi ro, nâng caochất lượng và an toàn hoạt động

Với suy nghĩ như thế, em đã chọn đề tài “Quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính-Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu trong chuyên đề tốt

nghiệp

Chuyên đề được kết cấu thành 3 chương, gồm:

Chương 1: Quản lý rủi ro hoạt động cho thuê tài chính.

Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính

tại Công ty cho thuê tài chính- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê

tài chính tại Công ty cho thuê tài chính- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam

Trang 9

Chương I Quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính.

1.1 Tổng quan về hoạt động cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính thực sự là một kênh dẫn vốn quan trọng, được đánhgiá là khá hữu hiệu, tạo điều kiện thu hút vốn cho các đơn vị sản xuất kinhdoanh đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Quy mô hoạt động kinhdoanh cho thuê tài chính trên thế giới hiện nay phát triển khá nhanh và tăngtrưởng vượt bậc qua các năm Các sản phẩm của hình thức tín dụng này ngàycàng đa dạng hơn, từ máy fax, máy photocopy, máy tính đến xe tải, máy bay,tàu thủy Trước khi đi vào phân tích về lĩnh vực quản lý rủi ro trong hoạtđộng cho thuê tài chính, việc tìm hiều những nét tổng quan về hình thức tíndụng này sẽ giúp chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động cho thuê tài chính

Hoạt động cho thuê tài chính có nguồn gốc từ việc cho thuê tải sản Từnhững năm 2800 trước Công nguyên tại thành phố Sumerian gần vịnh Ba Tư (hiện nay thuộc Iraq ), giao dịch cho thuê tài sản đầu tiên ra đời với việc chothuê các công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, ruộng đất, nhà cửa Sau

đó, vào khoản năm 1700 trước Công nguyên, vua Babylon đã ban hành nhiềuvăn bản quy định về cho thuê tài sản

Ở các nước có nền văn minh cổ đại như Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, giaodịch cho thuê tài sản cũng đã xuất hiện hàng ngàn năm trước công nguyên.Người Hy Lạp cổ đại là những người đầu tiên phát triển việc cho thuê hầm

mỏ Người Hy Lạp cổ đại cũng tiên phong tạo ra khái niệm ngân hàng chothuê Tài sản thuộc quyền sở hữu của ngân hàng cho thuê đầu tiên được kí kết

Trang 10

vào năm 370 trước công nguyên trong đó bao gồm tên ngân hàng, tiền kí quỹ,tên văn phòng và đội ngũ nhân viên

Đến đầu thế kỷ 19 do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tếhàng hóa hoạt động thuê tài sản đã có sự thay đổi về tính chất của giao dịch

và xuất hiện hình thức cho thuê tài chính đầu tiên ở Mỹ Hoạt động cho thuêtài chính thời kỳ này đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng, chủng loại thiết bịtài sản thuê Những dạng hợp đồng cho thuê tài chính tạm thời bắt nguồn từHoa Kỳ Công ty cho thuê tài chính đầu tiên của Hoa Kỳ United State LeasingCorporation do Henry Shoeld sáng lập vào năm 1952 Công ty đã được thànhlập để phục vụ cho ngành công nghiệp vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt.Các nước châu Âu đã nối gót thành lập những công ty cho thuê vào cuốithập niên 1950 và đầu thập niên 1960 và có những bước phát triển mạnh mẽ ởchâu Á và châu Phi từ thập niên 70 Thập niên 80 đã đánh dấu việc cho thuêtài chính được chấp nhận rộng rãi trên thế giới

Ở Việt Nam, phải đến năm 1995, cùng với sự phát triển của nền kinh tế,nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn ngày càng gia tăng, nghiệp vụ cho thuêtài chính mới bắt đầu được thực hiện dưới hình thức tín dụng thuê mua bằngviệc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra Quyết định số 149/QĐ-NHNN ngày27/05/1995 Theo Quyết định này, các tổ chức tín dụng được thành lập công

ty trực thuộc hoặc văn phòng Tín dụng thuê mua để quản lý và giám sát hoạtđộng tín dụng thuê mua Tiếp theo đó ngày 09/10/1995 Chính phủ ban hànhNghị định 64/CP quy định tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty chothuê tài chính tại Việt Nam Nghị định này đã là cơ sở hướng dẫn và là quyếtđịnh cho hàng loạt các Công ty Cho thuê tài chính ra đời

Mặc dù công ty cho thuê tài chính đầu tiên được thành lập ở Việt Namvào năm 1996 và hoạt động cho thuê cũng đã manh nha ở các ngân hàngthương mại trước đó nhưng mãi đến khi Chính Phủ ban hành Nghị định

Trang 11

16/2001/NĐ-CP vào ngày 02/05/2001 thì hoạt động cho thuê tài chính ở ViệtNam mới thực sự được hình thành Mới đây nhất, chính phủ đã ban hànhNghị định số 95/2008/NĐ-CP sửa đổi và bổ sung một số điều về Nghị định16/2001/NĐ-CP Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật này đã tạo cơ sở và điềukiện thuận lợi cho hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam.

Hiện nay ở Việt Nam đang có 13 công ty cho thuê tài chính được thànhlập dưới các hình thức khác nhau đang hoạt động Trong số đó, có các doanhnghiệp thuộc sở hữu nhà nước, có các doanh nghiệp dưới hình thức công tycho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài, lại có doanh nghiệp thuộc hình thức

đa sở hữu như Công ty cho thuê tài chính liên doanh Lượng vốn cấp theohình thức cho thuê tài chính chiếm tỷ lệ khá nhỏ so với hình thức cấp vốn củangân hàng Trong khi đó, với lợi thế của mình, đáng lẽ loại hình dịch vụ chothuê tài chính phải được phát triển nhanh chóng ở Việt Nam, nơi các doanhnghiệp vừa và nhỏ đang cần thu hút một lượng vốn lớn cho đầu tư cũng nhưcho tái đầu tư mở rộng Dù vậy cũng phải nhìn nhận hoạt động cho thuê tàichính đã phần nào giảm sức ép và gánh nặng cho hệ thống ngân hàng thươngmại trong việc cung ứng vốn đối với doanh nghiệp, đặc biệt là nguồn vốntrung và dài hạn

Các Công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam hiện nay gồm:

+ Các công ty cho thuê tài chính của các Ngân hàng: Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn, Công thương, Ngoại thương, Sài Gòn Thương Tín, Đầu

tư và Phát triển Việt Nam;

+ Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài gồm: Công ty chothuê tài chính ANZ-VTRAC; Cty cho thuê tài chính Kexim và Công ty chothuê tài chính Quốc tế Chailease;

+ Các loại hình khác: Công ty cho thuê tài chính Quốc tế VN (liêndoanh); Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho thuê tài chính Ngân

Trang 12

hàng Á Châu; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho thuê tài chínhCông nghiệp tàu thủy.

1.1.2 Khái niệm hoạt động cho thuê tài chính

* Theo Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC), một giao dịch thuê tàisản thỏa mãn một trong bốn tiêu chuẩn dưới đây đều được gọi là thuê tàichính:

- Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi hết hợp đồng

- Hợp đồng có quy định quyền mặc cả mua bán tài sản tại thời điểmchấm dứt hợp đồng

- Thời hạn hợp đồng bằng phần lớn thời gian hoạt động hữu dụng của tàisản

Trên cơ sở phân loại của IASC, các nước có những quy định cụ thể trongpháp luật về cho thuê tài chính dựa trên điều kiện kinh tế xã hội cụ thể củamỗi nước, có thể nhấn mạnh tiêu chuẩn này hay giảm bớt tiêu chuẩn khácnhưng về cơ bản không có điều gì mâu thuẩn với các tiêu chuẩn chung

* Ở Việt Nam, theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 củaChính phủ về “ Tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính” thì:

“Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phươ ng tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phươ ng tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận

Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho

Trang 13

thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm

ký hợp đồng.”

Điểm khác biệt lớn giữa quan điểm về cho thuê tài chính ở Việt Nam sovới trên thế giới là đối tượng cho thuê là máy móc, thiết bị, phương tiện vậnchuyển và các động sản khác mà không áp dụng cho thuê đối với bất độngsản

1.1.3 Đặc trưng của hoạt động cho thuê tài chính

- Hoạt động cho thuê tài chính phải đáp ứng được những tiêu chuẩn nhấtđịnh như Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC) đưa ra 4 tiêu chuẩn màbất cứ giao dịch thuê nào thỏa mãn một trong bốn tiêu chuẩn sau đều đượcgọi là giao dịch thuê tài chính:

+ Quyền sở hữu tài sản thuê được chuyển giao cho người thuê khi kếtthúc hợp đồng

+ Hợp đồng thuê có quy định quyền chọn mua tài sản thuê khi kết thúchợp đồng với giá trị thấp hơn giá trị thuê tại thời điểm kết thúc hợp đồng.+ Thời gian của hợp đồng thuê chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu íchcủa tài sản thuê

+ Giá trị hiện tại của toàn bộ tiền thuê tối thiểu do người thuê trả tiền lớnhơn hoặc bằng giá trị thị trường của tài sản thuê tại thời điểm ký hợp đồng

- Đa phần các hợp đồng cho thuê tài chính được hai bên ký kết là để đầu

tư cho các tài sản thuê mới Quyền lựa chon tài sản thuê trong các trường hợpđều thuộc về bên thuê, công ty cho thuê tài chính có nghĩa vụ phải mua đúngloại tài sản thuê mà bên thuê đã thỏa thuận hay cam kết với bên cung cấp tàisản

- Tài sản thuê tài chính phải được mua bảo hiểm vật chất đầy đủ trongsuốt quá trình thuê Phí bảo hiểm cho tài sản có thể do bên thuê hoặc bên chothuê thanh toán và được quy định cụ thể trong hợp đồng cho thuê tài chính

Trang 14

nhưng người hưởng thụ trong suốt quá trình thuê phải là bên cho thuê tàichính.

- Hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng không hủy ngang nên bênthuê không được quyền chấm dứt hợp đồng trước hạn, trừ trường hợp do lỗicủa bên cho thuê hoặc bên thuê đề nghị xin chấm dứt hợp đồng trước hạn vàphải được bên cho thuê đồng ý

- Thuê tài chính là một hình thức vay vốn, tài trợ vốn Tổng số tiền thuêtài chính được trả theo một lịch thanh toán do bên cho thuê và bên thuê thỏathuận và được quy định cụ thể trong hợp đồng cho thuê tài chính Thôngthường số tiền thuê tài chính được trả theo định kỳ nhất định mà bên thuê đềnghị Các khoản tiền phải trả trong một kỳ bao gồm tiền gốc và tiền lãi thuê

So sánh giữa cho thuê tài chính và cho vay trung dài hạn

Để các đặc trưng của hoạt động cho thuê tài chính trở nên nổi bật và dễnhận biết, ta có thể làm phép so sánh sau:

Về cơ bản, có thể coi cho thuê tài chính như một loại hình tín dụng trung

và dài hạn vì nó mang những đặc trưng cơ bản của loại hình tín dụng này:

- Bên cho vay (hay bên cho thuê) chuyển giao có thời hạn cho bên đi vay(hay bên đi thuê) một lượng giá trị dựa trên những cơ sở tín nhiệm

- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (hay chothuê) hay nói cách khác là bên đi vay (đi thuê) phải trả thêm phần lãi ngoàivốn vay gốc

Tuy nhiên cho thuê tài chính vẫn có thể phân biệt với tín dụng trung và dàihạn thông thường của ngân hàng qua một số điểm sau:

- Trong cho vay trung và dài hạn thông thường, ngân hàng tài trợ vốnbằng tiền cho khách hàng dùng số tiền đó mua tài sản phục vụ cho sản xuấtkinh doanh Còn trong cho thuê tài chính, bên cho thuê tài trợ cho khách hàngtrực tiếp bằng các tài sản máy móc thiết bị mà khách hàng đang cần dùng

Trang 15

Như vậy, tài trợ bằng cho thuê tài chính đảm bảo sử dụng đúng mục đích vốnvay hơn so với hoạt động cho vay thông thường.

- Lãi suất cho thuê của cho thuê tài chính cao hơn so với lãi suất tín dụngtrung và dài hạn của ngân hàng, do được tính trên cơ sở lãi suất cho vay trung

và dài hạn cộng với một tỷ lệ nhất định các chi phí quản lý tài sản cho thuêcủa bên cho thuê

- Trong giao dịch tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng phần lớn có

sự tham của hai bên là người đi vay và ngân hàng, nhưng cũng có nhữngtrường hợp có sự tham gia của bên thứ ba là người bảo lãnh trong trường hợpngười đi vay không đủ năng lực tài chính Còn trong cho thuê tài chính, bêncạnh sự tham gia của bên thuê, công ty cho thuê tài chính, người bảo lãnh còn

có sự tham gia rất quan trọng của một chủ thể thứ ba là các nhà cung cấp tàisản, nhưng cũng có trường hợp chỉ có hai bên tham gia trong giao dịch mua

và cho thuê lại

- Trong tín dụng trung và dài hạn, người đi vay có quyền định đoạt đốivới tài sản đầu tư bằng tiền vay (tài sản đó thuộc sở hữu của người vay, đượcthế chấp cho ngân hàng) Do đó, khi cần thu nợ thường khó khăn vì xử lý tàisản thế chấp phức tạp Đối với cho thuê tài chính, quyền sở hữu tài sản vẫn dobên cho thuê nắm giữ và bên thuê chỉ có quyền sử dụng tài sản trong thời giancho thuê Vì thế bên thuê không được hạch toán vào tài sản có của mình màchỉ được hạch toán vào tài sản ngoại bảng và tất nhiên cũng không được sửdụng làm vật bảo đảm trong tài sản thế chấp Đồng thời, cũng nhờ vậy mà khixảy ra tình huống xiết nợ thì điều đó dễ dàng cho công ty cho thuê tài chính

để thu hồi tài sản

- Trong tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng thường yêu cầu người vayphải có tài sản đảm bảo và kéo theo nhiều thủ tục giấy tờ Còn trong cho thuêtài chính, tài sản vẫn thuộc sở hữu của bên cho thuê nên người thuê không bị

Trang 16

đòi hỏi có tài sản thế chấp và nhờ đó giảm bớt một số công đoạn thủ tục, giấytờ.

1.1.4 Phân loại hoạt động cho thuê tài chính.

Việc áp dụng cho thuê tài chính có sự cải biến tùy theo điều kiện kinh tế

và môi trường kinh doanh của mỗi quốc gia, nhưng sự khác biệt là khôngnhiều do quan hệ cho thuê hiện nay đã có mối quan hệ toàn cầu, doanh nghiệpcủa một nước hoàn toàn có thể sử dụng sản phẩm được thuê từ một tổ chứcnước ngoài Bên cạnh đó, các công ty cho thuê tài chính, các ngân hàng, tổchức tài chính của các nước phát triển cũng đã thâm nhập vào các nước đangphát triển dưới hình thức thành lập công ty 100% vốn nước ngoài, mở chinhánh hoặc liên doanh Điều này giúp cho thuê tài chính thâm nhập sâu hơnvào các nước đang phát triển và sự khác biệt về quan điểm cho thuê tài chínhgiữa các quốc gia dần dần thu hẹp lại

Theo số đối tác tham gia giao dịch, cho thuê tài chính thường có hai hìnhthức chủ yếu sau:

a, Cho thuê tài chính giản đơn (có sự tham gia của hai bên)

Theo hình thức này, trước khi nghiệp vụ cho thuê xuất hiện, tài sản đượcdùng để tài trợ đã thuộc quyền sở hữu của người cho thuê bằng cách mua tàisản hoặc tự xây dựng Đây là hình thức được các công ty kinh doanh bất độngsản và các công ty sản xuất máy móc thiết bị thực hiện Các tổ chức tài chínhrất ít khi áp dụng hình thức tài trợ này

Ký hợp đồng thuê (1)

Bàn giao tài sản thuê (2)Thanh toán tiền thuê (3)

Sơ đồ 1.1: Cho thuê tài chính hai bên

Trang 17

(1) Bên cho thuê và bên đi thuê ký hợp đồng

(2) Bên cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng và giao tài sản cho bên đi thuê

(3) Theo định kỳ bên đi thuê thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê

b, Cho thuê tài chính thông thường (có sự tham gia của 3 bên) :

Theo hình thức này, có sự tham gia của ba bên là bên cho thuê, bên đi thuê và bên cung cấp Bên thuê được quyền lựa chọn, thỏa thuận với bên cung cấp về sản phẩm Bên cho thuê chỉ thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng của bên đi thuê

(1) (3)

(4) (5)

(6)

(2)

Sơ đồ 1.2: Cho thuê tài chính ba bên

(1) Bên thuê được chủ động lựa chọn máy móc thiết bị, thỏa thuận với nhà cung cấp bằng hợp đồng hoặc bản ghi nhớ

(2) Bên thuê – Bên cho thuê ký kết hợp đồng cho thuê tài chính trên cơ

sở hồ sơ pháp lý, phương án sản xuất kinh doanh, hợp đồng mua máy móc thiết bị, kết quả thẩm định của bên cho thuê đồng ý cho thuê

(3) Bên cho thuê – Nhà cung cấp ký kết hợp đồng mua bán máy móc thiết

bị là tài sản thuê theo thỏa thuận giữa bên thê và nhà cung cấp

(4) Nhà cung cấp giao hàng cho bên thuê, lắp đặt, chạy thử, nghiệm thu tài sản giao nhận

(5) Bên cho thuê thanh toán tiền tiền mua tài sản thuê cho nhà cung cấp

Nhà cung cấp

Trang 18

(6) Bên cho thuê thanh toán tiền thuê tài chính theo hợp đồng cho thuêchính.

Đây là hình thức cho thuê được sử dụng phổ biến nhất, có đến 80% hợpđồng thuê tài chính trên thế giới áp dụng theo phương thức này Các công tycho thuê tài chính đã áp dụng phương thức này là chủ yếu để tài trợ cho doanhnghiệp, đặc biệt là đối với cho thuê thiết bị Sở dĩ như vậy là vì, phương thứcnày có những ưu điểm nổi trội sau đây:

- Về phía bên thuê: Bên thuê được quyền lựa chọn nhà cung cấp, trựctiếp thỏa thuận, đám phán cho nhà cung cấp về những đặc tính của sản phẩmnhằm lựa chọn ra sản phẩm phù hợp nhất, thỏa mãn tối đa yêu cầu của bênthuê

- Về phía bên cho thuê: Bên cho thuê không phải mua sản phẩm trước,như vậy sẽ giảm bớt những chi phí về kho bãi, hao mòn trong quá trình dữ trự

và hơn nữa còn giúp quay vòng vốn nhanh hơn nhờ không phải dự trữ hàngtồn kho

Mặt khác bên thuê trực tiếp nhận sản phẩm từ nhà cung cấp, nhờ vậy bênthuê giảm được rủi ro xảy ra khi bên thuê từ chối nhận hàng do những sai sót

về mặt kỹ thuật Việc lắp đặt bảo dưỡng, sửa chữa sản phẩm đều thuộc nhàcung cấp và bên thuê nên bên cho thuê không phải quan tâm đến tình trạnghoạt động của tài sản

Trên đây là hai hình thức cho thuê cơ bản Từ hai hình thức này còn cónhiều hình thức biến tướng, đó là hình thức cho thuê hợp vốn, mua và chothuê lại, cho thuê giáp lưng

c, Cho thuê hợp vốn:

Đây là hình thức cho thuê đặc biệt kết hợp từ hai hình thức cho thuê cơbản trên Trong hình thức cho thuê này, nhiều bên cho thuê cùng tài trợ chomột bên thuê, trong đó bên cho thuê đứng ra làm đầu mối Hình thức này

Trang 19

được áp dụng khi nhu cầu thuê tài chính của bên thuê vượt quá giới hạn chothuê của một công ty cho thuê tài chính hoặc nhằm phân tán rủi ro hoặc cũng

có trường hợp do bên thuê yêu cầu ( Ở Việt Nam, tổng dư nợ cho thuê tàichính của một công ty cho thuê tài chính không được vượt quá 30% vốn tự cóđối với một khách hàng và 80% vốn tự có đối với nhóm khách hàng có liênquan) Sự liên kết của các bên cho thuê có thể xảy ra theo chiều ngang (giữanhiều nhà sản xuất, giữa các định chế tài chính với nhau ) hoặc theo chiều dọc(giữa các công ty mẹ với các chi nhánh của mình)

d, Mua và cho thuê lại ( tái cho thuê):

Đây là hình thức cho thuê mà trong đó công ty cho thuê tài chính mua tàisản thuộc sở hữu của bên thuê và cho bên thuê thuê lại chính tài sản đó theohình thức cho thuê tài chính để bên thuê tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình Trong giao dịch mua và cho thuê lại, bênthuê đồng thời là bên cung ứng tài sản cho thuê Bên mua và cho thuê lại (gọi

là bên cho thuê) là các công ty cho thuê tài chính được phép thành lập và hoạtđộng tại Việt Nam

Hình thức cho thuê này được sử dụng trong trường hợp nhiều doanhnghiệp thiếu vốn lưu động để khai thác hết tài sản cố định hiện có, nhưng lạikhông đủ uy tín để vay vốn lưu động ở các ngân hàng Đồng thời doanhnghiệp vẫn muốn duy trì năng lực sản xuất hiện có nên không thể bán bớt tàisản cố định của mình Trong hoàn cảnh này, hình thức giao dịch mua và chothuê lại sẽ giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng trên, ngoài ra phương thứcnày cũng có thể được sử dụng như một giải pháp tình thế cho vẫn đề nợ quáhạn mà không phải sử dụng đến biện pháp thanh lý Điều này còn nhằm ngănchặn việc phá sản của doanh nghiệp, đông thời giúp ngân hàng giảm đượcthiệt hại lớn hơn có thể xảy ra khi doanh nghiệp thực sự lâm vào tình trạng

Trang 20

phá sản Có thể coi phương thức mua và cho thuê lại như là sự chuyển hóa từvay ngắn hạn sang tài trợ trung và dài hạn.

e, Cho thuê giáp lưng:

Dù các công ty tài chính có thể tài trợ được cho cả những doanh nghiệpkhông nhận được sự tin tưởng cao từ ngân hàng hoặc các công ty cho thuê tàichính khác nhưng cũng không có nghĩa là tài trợ cho bất cứ ai Ví dụ trongnhững trường hợp doanh nghiệp đã không thực hiện được những hợp đồngtrong quá khứ, hay doanh nghiệp chưa được bên cho thuê biết đến (như cáccông ty nước ngoài chỉ chấp nhận tài trợ cho những công ty lớn của ViệtNam) Trong những trương hợp này, dưới sự đồng ý của bên cho thuê, bênthuê thứ nhất sẽ cho bên thuê thứ hai (người thực sự cần sử dụng tài sản vàothời điểm đó ) thuê lại tài sản mà mình đã thuê từ bên cho thuê Kể từ khi hợpđồng cho thuê lại được kí kết, mọi quyền lợi và nghĩa vụ cùng tài sản thuêđược chuyển giao từ bên thuê thứ nhất sang bên thuê thứ hai Các chi phípháp lý, di chuyển tài sản phát sinh từ hợp đồng này do bên thuê thứ nhất vàbên thuê thứ hai thỏa thuận với nhau Dù bên đi thuê thứ nhất chỉ là trunggian giữa bên cho thuê và bên đi thuê thứ hai nhưng vẫn phải chịu tráchnhiệm pháp lý về việc thực hiện hợp đồng đối với bên cho thuê Bù lại, bên đithuê thứ nhất sẽ nhận được phần chênh lệch giữa hai khoản tiền thuê như làhoa hồng trách nhiệm

f, Cho thuê bằng vốn vay:

Đây cũng là một biện pháp trong trường hợp công ty cho thuê không đủđiều kiện tự tài trợ cho khách hàng Không giống như quan hệ đồng tài trợtrong cho thuê hợp vốn, bên cho thuê sẽ vay vốn từ các ngân hàng hoặc cácđịnh chế tài chính khác để mua tài sản cho thuê Bên cho thuê vẫn là trái chủtrong quan hệ cho thuê, còn bên cho vay là trái chủ của bên cho thuê Hay nóicách khác, vốn tài trợ trong phương thức này bao gồm hai phần, một phần là

Trang 21

vốn của bản thân bên cho thuê và một phần là vốn vay được cung cấp từ cácbên cho vay Vốn vay thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tiền tài trợnhưng không được vượt quá 80% và khoản cho vay được đảm bảo bằng chínhtài sản cho thuê và cam kết chuyển nhượng hợp đồng cho thuê và các khoảntiền thuê.

1.1.5 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính

a) Đối với bên đi thuê:

- Bên đi thuê dễ dàng tiếp cận nguồn tài trợ từ cho thuê tài chính: Do đặc

thù của cho thuê tài chính là quyền sở hữu tài sản thuộc về bên cho thuê, cáccông ty cho thuê tài chính, các công ty tài chính không quá khắt khe trongviệc xem xét uy tín của khách hàng để đưa ra quyết định cho vay Điều nàytạo thuận lợi rất lớn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa

và nhỏ hay các doanh nghiệp mới thành lập Thông thường đối với các khoảnvốn vay trung và dài hạn, các ngân hàng thương mại luôn đòi hỏi tài sản đảmbảo ( thế chấp hoặc cầm cố) và chỉ cho vay tối đa là 80% tổng chi phí thựchiện dự án, nhưng với kênh cho thuê tài chính, doanh nghiệp chẳng nhữngkhông cần ký quỹ đảm bảo hay tài sản thế chấp mà còn có thể được tài trợ đến100% vốn đầu tư Việc không đòi hỏi tài sản đảm bảo còn giúp thủ tục chothuê tài chính được thực hiện nhanh chóng, đơn giản

- Cho thuê tài chính giúp các doanh nghiệp sử dụng linh hoạt đồng vốnhơn thay vì mua tài sản cố định: Thuê tài chính giúp cho bạn tiếp cận đượcvới rất nhiều loại thiết bị, từ những thiết bị văn phòng đơn giản như máyphotocopy, máy tính, xe tải, xe ô tô cho tới các dây chuyền sản xuất hiện đại.Mặc dù thuê tài chính không trực tiếp chuyển vốn cho doanh nghiệp, tuynhiên hình thức này hoàn toàn có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt lượng tiềncần để khởi sự hoặc mở rộng kinh doanh

Trang 22

Kênh tín dụng này cũng cho phép doanh nghiệp được hoàn toàn chủđộng trong việc lựa chọn máy móc thiết bị, nhà cung cấp, cũng như mẫu mãchủng loại phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp mình Ngoài ra nếu doanhnghiệp đã lỡ đầu tư mua tài sản mà thiếu vốn lưu động thì vẫn có thể bán lạicho công ty cho thuê tài chính và sau đó công ty sẽ cho doanh nghiệp thuê lại.Như vậy doanh nghiệp vừa có vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinhdoanh mà vẫn được sử dụng tài sản Kết thúc thời hạn thuê, doanh nghiệpđược quyền ưu tiên mua lại tài sản với giá trị danh nghĩa thấp hơn giá trị thực

tế của tài sản tại thời điểm mua lại

Việc sử dụng tài sản cho thuê không ảnh hưởng đến hạn mức tín dụngcủa doanh nghiệp ( hay nói cách khác là không ảnh hưởng đến nguồn tài trợ

từ vốn vay ngân hàng ) do tài sản đi thuê được hạch toán ngoại bảng Hơnnữa, dù không phải bỏ ngay ra một khoản tiền đểu lớn để mua tài sản nêndoanh nghiệp không bị đọng vốn, có thể sử dụng số tiền đó để phục vụ chonhững hoạt động khác nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh Mặt khác,lịch trả nợ cũng thường được các công ty cho thuê tài chính điều chỉnh linhhoạt, phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Cho thuê tài chính giúp doanh nghiệp hạn chế sự lạc hậu, bắt kịp tôc độphát triển của khoa học công nghệ, qua đó nâng cao năng lực sản xuất: đểtăng cường khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn phải chú ý đến việcđổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất nhằm tăng năng suất hoạt động, tạo

ra những sản phẩm tiến tiến, hạ giá thành sản phẩm Cho thuê tài chính là mộtkênh đáp ứng nhu cầu đó của khách hàng Lợi ích này đặc biệt quan trọngnếu ngành kinh doanh của doanh nghiệp phải dựa nhiều vào các công nghệtân tiến như thế hệ máy tính mới nhất, các công cụ truyền thông, dây chuyềncông nghệ mới hoặc các thiết bị khác Nhiều hợp đồng thuê ngắn hạn có thể

sẽ tiết kiệm hơn là việc sau một hai năm lại mua thiết bị mới Ngoài ra, do các

Ngày đăng: 17/04/2013, 08:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2: Cho thuê tài chính ba bên - Giải pháp nâng cao quản lý rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính-BIDV
Sơ đồ 1.2 Cho thuê tài chính ba bên (Trang 17)
Sơ đồ 2.1:  Mô hình tổ chức của công ty cho thuê tài chính BIDV từ tháng 11/2008 - Giải pháp nâng cao quản lý rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính-BIDV
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức của công ty cho thuê tài chính BIDV từ tháng 11/2008 (Trang 42)
Bảng 2.1:  Dư nợ cho thuê 2006-2008 - Giải pháp nâng cao quản lý rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính-BIDV
Bảng 2.1 Dư nợ cho thuê 2006-2008 (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w