Điều đó đã tác động mạnh tới các hoạt động kinh tế xã hội của người dân đô thị và nông thôn, đặc biệt là đối với người dân nông thôn đó là đời sống được cải thiện, cơ sở hạ tầng được xây
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THẾ DƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH
HOÁ THEO HƯỚNG NÔNG THÔN MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI , 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THẾ DƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH
HOÁ THEO HƯỚNG NÔNG THÔN MỚI
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày… tháng… năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Dương
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Quản lý đất đai, Ban quản lý đào tạo - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Hậu Lộc, tập thể Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê, cấp ủy, chính quyền và
bà con nhân dân các xã, thị trấn trong huyện Hậu Lộc đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài trên địa bàn
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cám ơn các bạn học viên cùng lớp, những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Dương
Trang 51.1 Cơ sở lý luận và pháp lý của hệ thống điểm dân cư 4
1.2 Tình hình xây dựng và phát triển mạng lưới dân cư trong và
1.2.1 Thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư trong và
1.2.2 Thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư và xây dựng
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu quy hoạch xây dựng khu dân cư 26
Trang 62.2.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội huyện Hậu Lộc 28 2.2.2 Đánh giá thực trạng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Hậu
2.3.5 Phương pháp phân loại điểm dân cư nông thôn 30
3.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội 35
3.2 Thực trạng phát triển hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện 52
3.2.3 Thực trạng kiến trúc, cảnh quan trong xây dựng và phát triển
3.2.4 Phân bố không gian mạng lưới dân cư huyện Hậu Lộc 79 3.2.5 Thực trạng hệ thống điểm dân cư theo tiêu chí nông thôn mới 80 3.3 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Hậu Lộc đến
3.3.1 Các dự báo cho định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư 84
Trang 73.3.2 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư 93
3.4 Quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã Phú Lộc 100 3.4.1 Tính cấp thiết và mục tiêu đồ án quy hoạch khu trung tâm xã 100 3.4.2 Khái quát điều kiện tự nhiên và hiện trạng khu trung tâm 100
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
12 GCNQSD Giấy chứng nhận quyền sử dụng
13 NN &PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
14 XDCTCC Xây dựng công trình công cộng
Trang 9DANH MỤC BẢNG
2.2 Phân cấp một số tiêu chí đánh giá điểm dân cư 31
3.1 Tình hình kinh tế của huyện Hậu Lộc qua 3 năm 41 3.2 Một số chỉ tiêu về dân số huyện Hậu Lộc năm 2012 45 3.3 Tình hình lao động của huyện Hậu Lộc qua 3 năm 47 3.4 Diện tích các đơn vị xã, thị trấn huyện Hậu Lộc 55 3.5 Hiện trạng hệ thống điểm dân cư huyện Hậu Lộc năm 2013 57 3.6 Hiện trạng sử dụng đất khu dân cư năm 2013 huyện 58
3.8 So sánh hiện trạng mức độ sử dụng đất trong khu dân cư của huyện 61 3.9 Kết quả phân loại một số tiêu chí đánh giá điểm dân cư 62
3.11 Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư huyện Hậu Lộc năm 2013 67
3.12 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư đến năm 2020
3.13 Kết quả định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư nông thôn 97 3.14 Hiện trạng sử dụng đất khu trung tâm xã Phú Lộc năm 2013 102 3.15 Hiện trạng các công trình khu trung tâm xã Phú Lộc 103 3.16 Quy hoạch sử dụng đất đai khu trung tâm xã Phú Lộc 111 3.17 So sánh cơ cấu sử dụng đất trước và sau quy hoạch 112
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.3 Kiến trúc nhà ở khu vực bán thành thị, trung tâm thương mại 713.4 Kiến trúc cảnh quan các công trình trong khu dân cư đô thị 72
3.6 Kiến trúc một số công trình giáo dục trên địa bàn huyện 743.7 Kiến trúc công trình bưu điện huyện, bưu điện văn hóa xã 763.8 Kiến trức công trình thể dục thể thao huyện, sân vận động xã 77
Trang 11MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang hội nhập sâu rộng cùng thế giới với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Chủ trương của Đảng và nhà nước ta là đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH đất nước, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất Điều đó đã tác động mạnh tới các hoạt động kinh tế xã hội của người dân đô thị và nông thôn, đặc biệt là đối với người dân nông thôn đó là đời sống được cải thiện, cơ sở hạ tầng được xây dựng khang trang, cuộc sống được tổ chức tốt hơn …
Tuy nhiên, ở nước ta trong những năm qua đã xảy ra một số vấn đề trong việc đầu tư phát triển, đó là tập trung xây dựng các khu trung tâm phát triển, các thành phố lớn, các vùng kinh tế trọng điểm, bên cạnh đó việc đầu tư cho phát triển ở vùng nông thôn lại rất thấp và ít được trú trọng Vì vậy muốn thực hiện được mục tiêu phát triển đất nước theo xu hướng công nghiệp hoá thì phải hướng sự phát triển về vùng nông thôn, nhằm khai thác hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên cho sự phát triển Tạo nên sự phát triển cân đối, hài hoà và thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị
Để phát triển vùng nông thôn trước hết phải đầu tư cho phát triển khu dân cư, khu ở, bố trí các công trình phúc lợi công cộng nhằm đáp ứng tốt nhất cho cuộc sống của người dân vì “có an cư mới lạc nghiệp” Từ thực tế hiện nay cho thấy nhiều khu dân cư đang phải chịu những áp lực lớn về trật tự xây dựng, mặt bằng sản xuất cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường, các khu ở bố trí không hợp lý, manh mún nên rất khó cho việc đầu tư phát triển Chính vì vậy việc quy hoạch bố trí hệ thống điểm dân cư một cách khoa học, hợp lý là rất cần thiết
Hội nghị lần thứ V ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII đã chủ trương: “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội
Trang 12nông thôn” và chỉ đạo: “Nghiên cứu giải quyết các vấn đề quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bố trí các điểm dân cư, kết cấu hạ tầng kiến trúc nông thôn Tổ chức cuộc sống, bảo vệ và cải tạo môi trường sống”
Như vậy việc quy hoạch hệ thống điểm dân cư, tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan xây dựng các công trình phúc lợi công cộng là điều kiện cần thiết cho phát triển vùng nông thôn
Trong những năm tới cơ cấu nền kinh tế của huyện sẽ chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Nghề nghiệp chính của nhân dân trong huyện là sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản, khai thác nhiều tiềm năng có sẵn của địa phương, nhiều dự
án quan trọng của tỉnh được đầu tư tại huyện Hậu Lộc nên công tác thu hồi đất làm dự án thực hiện giải phóng mặt bằng xây dựng các khu tái định cư cho nhân dân là hết sức quan trọng Các điểm dân cư nông thôn trên địa bàn huyện đều ở mức chưa hoàn chỉnh, hệ thống giao thông, cấp nước, cấp điện còn hạn chế Các công trình công cộng như: trường học, nhà văn hoá, sân thể thao còn nhỏ hẹp, chưa đủ diện tích, tiêu chuẩn, chất lượng còn thấp, đất ở nông thôn chưa đáp ứng đầy đủ, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của toàn xã hội nên huyện Hậu Lộc cần phải quy hoạch phát triển hệ thống điểm dân cư
đô thị, khu dân cư nông thôn hợp lý, huyện xác định xây dựng nông thôn mới
là nhiệm trọng yếu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
Xuất phát từ những thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứ đề
tài: “Thực trạng và định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện
Hậu Lộc - tỉnh Thanh Hoá theo hướng nông thôn mới”
1.2 Mục đích - yêu cầu
1.2.1 M ục đích
- Nghiên cứu, đánh giá các điểm dân cư trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá theo hướng nông thôn mới, nhằm phát hiện những vấn đề bất cập và khả năng cải tạo hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện
Trang 13- Định hướng phát triển hệ thống khu dân cư đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, góp phần cải thiện môi trường dân sinh của huyện
- Xây dựng mô hình quy hoạch chi tiêt điểm khu trung tâm xã
- Định hướng quy hoạch phải dựa trên các cơ sở khoa học: tiềm năng
về đất đai, nguồn vốn đầu tư, lao động…, dựa trên các chính sách, chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương nhằm đem lại tính khả thi cao nhất, tuân thủ các quy định theo tiêu chuẩn Việt Nam và pháp luật Nhà nước
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý của hệ thống điểm dân cư
1.1.1 M ột số khái niệm cơ bản về khu dân cư
Khi nghiên cứu về điểm dân cư ở nông thôn trước hết phải nói đến làng Làng là đơn vị nhỏ nhất trong cơ cấu cư dân nhưng làng lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội Tùy vào từng thời kỳ khác nhau cũng như tùy vào từng giai đoạn phát triển của xã hội mà cấu trúc làng xã cũng khác nhau Trong văn hóa tổ chức đời sống tập thể của một nền văn hóa gốc nông nghiệp như Việt Nam làng được coi là đơn vị tụ cư nhỏ nhất nhưng ổn định nhất, là đơn vị phản ánh rõ nhất những đặc điểm cơ bản của văn hóa Việt Nam Làng phản ánh sức năng động của lịch sử, ứng xử cộng đồng, tâm lý tập thể cùng những biểu hiện văn hóa trong các ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Như vậy, khi nói đến “Làng” là đã chứa đựng một cách tương đối hoàn chỉnh một đơn vị cấu thành
cơ bản ở nông thôn (Đỗ Đức Viên, 2005)
a Đất khu dân cư nông thôn
Đất khu dân cư nông thôn là đất chủ yếu để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình công cộng, đất nông nghiệp gắn liền với nhà ở và các loại đất khác thuộc phạm vi ranh giới khu dân cư nông thôn trong địa giới hành chính các xã
Ranh giới của khu dân cư nông thôn được xác định theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; trường hợp khu dân cư nông thôn chưa có quy hoạch được duyệt thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, các điểm dân cư tương tự hiện có
Đối với trường hợp dân cư sinh sống dọc theo kênh, mương, đường giao thông hoặc dân cư ở riêng lẻ thì chỉ thống kê diện tích thửa đất có nhà ở và vườn, ao gắn liền với nhà ở; trường hợp dân cư sinh sống riêng lẻ mà không xác định được phạm vi ranh giới thửa đất ở và vườn, ao gắn liền thì chỉ thống kê diện tích đất ở đã được công nhận, trường hợp thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất ở được xác định tạm thời bằng hạn mức giao đất ở mới do
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định
Trang 15b Khu dân cư (điểm dân cư)
- Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp , họ sống và làm việc theo kiểu thành thị (Vũ Thị Bình, 2006)
- Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định bao gồm trung tâm xã, thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn) được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã
hội, văn hóa, phong tục, tập quán và các yếu tố khác (Vũ Thị Bình, 2006)
c Cơ cấu cư dân
- Cơ cấu cư dân là toàn bộ các điểm dân cư một nước, một tỉnh trong một vùng kinh tế, phân bố trong không gian có phân công liên kết chức năng và hài hoà cân đối trong mỗi điểm và giữa các điểm dân cư trong một đơn vị lãnh thổ (Vũ Thị
Bình, 2006)
- Cơ cấu dân cư là một cấu trúc tổng hợp và tương đối bền vững, là một hình thái tổ chức của cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu vùng Trong cơ cấu cư dân, các mặt cơ bản của các cơ cấu thành phần cũng được biểu hiện như: cơ cấu dân cư, cơ cấu tài nguyên, cơ cấu hạ tầng
1.1.2 M ục tiêu và xu hướng phát triển cư dân
* Mục tiêu
Mục tiêu phát triển cơ cấu cư dân trên toàn bộ lãnh thổ hay vùng là hình thành một mạng lưới các điểm dân cư hài hoà thống nhất với nhau, tương xứng tỷ lệ trong quy mô và cân bằng trong phát triển, nhằm giải quyết các vấn đề sau đây:
- Đáp ứng yêu cầu tổ chức và phát triển sản xuất các ngành nghề kinh tế
- Thoả mãn tốt nhu cầu của nhân dân về việc làm, nhà ở, giao tiếp cũng như các nhu cầu về vật chất, văn hoá tinh thần và nghỉ ngơi giải trí
- Đáp ứng những yêu cầu tạo lập hài hoà và phong phú, đa dạng cảnh quan
và bảo vệ môi trường
- Đáp ứng yêu cầu về phòng hộ, an toàn và an ninh xã hội
Trang 16- Tiết kiệm đất đai xây dựng, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp
* Xu hướng phát triển cơ cấu dân cư
Nhìn chung có hai xu hướng chính trong phát triển cơ cấu cư dân là tập trung hoá các điểm dân cư và trung tâm hoá các cụm, các tổ hợp dân cư
- Tập trung hoá cơ cấu điểm dân cư: Là giảm bớt số lượng các điểm dân cư
quá nhỏ, để tăng quy mô các điểm dân cư, tạo thuận lợi cho tổ chức phát triển sản xuất, tổ chức mạng lưới cơ sở hạ tầng và có điều kiện nâng cao điều kiện sống và lao động của nhân dân (Vũ Thị Bình, 2006)
- Trung tâm hoá cơ cấu điểm dân cư: Là hình thành và phát triển một mạng lưới trung tâm cụm dân cư Đó là mạng lưới các đô thị: đô thị lớn, trung bình trên các vùng lớn, các đô thị vừa và nhỏ ở các vùng nông thôn Phân bố và phát triển mạng lưới các trung tâm cụm dân cư (trung tâm vùng và tiểu vùng, trung tâm cụm xã) sẽ góp phần xoá bỏ dần những khác biệt cơ bản về điều kiện sống và lao động của nhân dân giữa nông thôn và đô thị, giữa các vùng lãnh thổ khác nhau của đất nước thông qua một mạng lưới giao thôngthuận lợi nối liền các trung tâm này với
nhau và vùng ngoại thành với trung tâm (Vũ Thị Bình, 2006)
- Mạng lưới các điểm dân cư của các vùng, các đô thị và nông thôn hiện nay
tuy có khác nhau song trong tương lai cần phải được bố cục và phát triển theo hướng sau:
+ Các đô thị lớn và trung bình đều có ý nghiã nổi trội trong mạng lưới dân cư của trung tâm quốc gia hay vùng Vùng ảnh hưởng của các đô thị này khá rộng lớn chúng cần phải đảm bảo cho nhân dân trong vùng có điều kiện sống tốt Trong tương lai cần phải phát triển mở rộng sản xuất công nghiệp trong phạm vi có thể tăng dần về lao động
+ Các đô thị vừa và nhỏ trong tương lai cần được phát triển cả về chất lượng
và số lượng Các đô thị này cần được tăng cường phát triển sản xuất công nghiệp - dịch vụ, hoàn thiện và mở rộng hệ thống cơ sở hạ tầng, phát triển dân số và lao động thu hút từ nông thôn để chúng không những là các trung tâm chính trị mà còn
là các trung tâm kinh tế - xã hội, văn hoá, tinh thần cuộc sống cộng đồng của dân
Trang 17cư Các đô thị này sẽ góp phần giảm bớt sự tăng dân số quá tải của các đô thị lớn đồng thời kích thích sự phát triển của công nghiệp hoá và đô thị hoá
+ Các làng lớn sẽ phát triển thành các điểm sản xuất công nông nghiệp (thị tứ) chúng là các trung tâm của xã hoặc liên xã và là các điểm tập trung các giải pháp
và đầu tư và nâng cao điều kiện sống và lao động của người dân nông thôn, giảm bớt sự cách biệt còn tồn tại giữa nông thôn và thành thị
+ Các làng nhỏ trong tương vẫn còn là nơi ở, nơi sản xuất, nghỉ ngơi của người dân nông thôn và là một thành viên của cơ cấu dân cư Việc quy hoạch và nâng cao hiệu quả các điều kiện sống và lao động cho nhân nhân trong các làng nhỏ này chỉ có thể thực hiện được và đảm bảo trong phạm vi của các đơn vị lãnh thổ lớn hơn như cụm điểm dân cư (xã, liên xã)
+ Các xóm, ấp là các điểm dân cư có quy mô quá nhỏ Điều kiện sống và lao động thấp kém, không đáp ứng được nhu cầu của người dân, phân bố tản mạn, manh mún và không có cơ hội phát triển Các điểm dân cư này trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá cần phải xoá bỏ, sát nhập vào các điểm dân cư lớn hơn (Vũ Thị Bình, 2006)
1.1.3 Phân lo ại hệ thống điểm dân cư
* Căn cứ phân loại điểm dân cư
Khi phân loại điểm dân cư cần căn cứ vào những đặc điểm cơ bản sau:
- Điều kiện sống và lao động của dân cư
- Chức năng của điểm dân cư
- Quy mô dân số, quy mô đất đai trong điểm dân cư
- Vị trí điểm dân cư trong cơ cấu cư dân
- Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế
Trên cơ sở các tiêu chí phân loại trên, hệ thống mạng lưới dân cư nước ta được phân ra thành các loại sau:
a Đô thị rất lớn: Là thủ đô, thủ phủ của một miền lãnh thổ Các đô thị này
là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật, dịch vụ du lịch,
Trang 18giao thông, giao dịch quốc tế của quốc gia, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của
cả nước
b Đô thị lớn: Là loại trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch, giao thông, giao dịch quốc tế của nhiều tỉnh hay một tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ
c Đô thị trung bình: Là các trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch của một tỉnh hay nhiều huyện, có vai trò thúc đẩy
sự phát triển của tỉnh hay một vùng lãnh thổ của tỉnh
d Đô thị nhỏ: Là các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, sản xuất của một huyện hay liên xã, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một huyện hay một vùng trong huyện
e Làng lớn: Là trung tâm hành chính - chính trị, văn hoá, xã hội, dịch vụ kinh
tế của một xã, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một xã hay nhiều điểm dân cư
f Làng nhỏ: Là nơi ở, nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông lâm nghiệp của nhân dân trong một xã
g Các xóm, ấp, trại: Là các điểm dân cư nhỏ nhất, với các điều kiện sống rất thấp kém Trong tương lai các điểm dân cư này cần xoá bỏ, sát nhập thành các điểm dân cư lớn hơn (Vũ Thị Bình, 2006)
Trong Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định cụ thể về việc phân loại đô thị Đô thị được phân thành 6 loại:
- Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc
- Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành
- Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị
- Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị
Trang 19- Đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và
có thể có các điểm dân cư nông thôn (Bộ kế hoạch và Đầu tư, Rural development)
1.2 Tình hình xây dựng và phát triển mạng lưới dân cư trong và ngoài nước
1.2.1 Th ực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư trong và ngoài nước
1.2.1.1 Các nước Tây Âu
Các nước Tây Âu có đặc điểm chung là những nước công nghiệp phát triển
từ lâu, nền nông nghiệp được cơ giới hoá, năng suất lao động trong nông nghiệp nâng cao Do đó số lượng lao động nông nghiệp chỉ chiếm phần nhỏ so với lao động trong công nghiệp và các loại ngành nghề khác Cuộc sống ở nông thôn nhiều khi lại là sự ao ước của người dân đô thị Vương Quốc Anh là một ví dụ
1.2.1.2 Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu
Khác với các nước Tây Âu, Liên Xô và các nước Đông Âu xây dựng nông thôn theo mô hình phát triển nông thôn XHCN
a Liên Xô cũ
Mục tiêu của nhà nước Xô Viết là xây dựng nông thôn tiến lên sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn, hiện đại xoá bỏ sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị Đặc trưng của các điểm dân cư nông thôn ở toàn liên bang là hợp nhất từng bước các nông trang tập thể thành một đơn vị sản xuất lớn hơn, các điểm dân cư rải rác cũng được tập trung lại tạo điều kiện xây dựng các nông trang tập thể, năng suất lao động được nâng lên, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống
Từ sau năm 1960 các điểm dân cư nông thôn được quy hoạch khu ở theo dạng bàn cờ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng công trình Giải pháp mặt bằng được chú ý để bảo vệ địa hình và phong cảnh Nhà ở được tập trung trong các nhà cao 3 - 4 tầng, các công trình hạ tầng kỹ thuật được xây dựng tập trung Các khu vực nông thôn truyền thống được giữ lại và nâng cấp dần theo sự phát triển sản xuất của mỗi khu vực
b Ba Lan
- Trước năm 1960 việc xây dựng nông thôn ở Ba Lan chịu ảnh hưởng cách làm của Liên Xô rõ rêt như: Đất xây dựng, diện tích xây dựng quá rộng, nhà ở một, hai tầng thường bố trí dọc theo đường ô tô
Trang 20- Giai đoạn sau 1960, Ba Lan đã tiến hành phân loại điểm dân cư gắn với việc phân bố sản xuất lớn của nông nghiệp, được chia thành 3 nhóm dân cư:
+ Trang ấp (khu ở)
+ Hợp tác xã
+ Các điểm dân cư thị trấn (huyện)
Đến năm 1963 lại phân nhỏ ra thành nhiều ấp hơn bao gồm:
+ Điền trại và khu ở tại chỗ
+ Trang ấp và khu ở
+ Hợp tác xã với khu ở tập trung
+ Hợp tác xã với điểm dân cư tập trung hoặc thị trấn huyện
- Các điểm dân cư trung tâm có ít nhất 2000 người tham gia sản xuất nông nghiệp Theo kinh nghiệm của Ba Lan, những điểm dân cư dưới 1400 người muốn thoả mãn yêu cầu nâng cao mức sống của nông dân thì đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ tốn kém không đạt hiệu quả kinh tế
- Trong phương án quy hoạch không gian toàn quốc của Ba Lan, người ta cũng
đã xác định hướng phát triển tương lai của đô thị theo hệ thống dải và cụm dựa trên các
đô thị hiện có và dọc các trục giao thông chính trong toàn quốc
1.2.1.3 Các nước châu á
a Ấn Độ
Ấn Độ là một quốc gia đất rộng người đông, đứng thứ 2 ở Châu Á (sau Trung Quốc) Theo các chuyên gia phát triển nông thôn Ấn Độ cho rằng muốn cải thiện điều kiện sống ở các làng xóm cần phát triển các trung tâm nông thôn, các điểm trung tâm này là những điểm cung cấp tối ưu hạ tầng kỹ thuật cần thiết, hỗ trợ các hoạt động kinh tế, dịch vụ xã hội cho khu vực và là một trong những mục tiêu điều hoà cần phải đạt được khi xây dựng nông thôn mới Có 3 hệ thống trung tâm nông thôn được phân cấp và hoạch định như sau:
- Hệ thống trung tâm thứ nhất được gọi là làng trung tâm, có chức năng đảm bảo các dịch vụ cơ bản cho dân cư trong làng cũng như các khu vực xung quanh
Trang 21- Hệ thống trung tâm thứ hai được gọi là trung tâm dịch vụ có nhiệm vụ cung cấp các hoạt động dịch vụ ở mức trung bình
- Hệ thống trung tâm thứ ba - trung tâm phát triển - đáp ứng các nhu cầu dịch
vụ ở mức cao
Các trung tâm trên không chỉ đơn thuần là nơi có hạ tầng kỹ thuật thích đáng
mà còn là các điểm nút để tổ chức toàn bộ hoạt động phát triển cho từng vùng địa phương Đây là xu hướng thịnh hành trong những năm 1960, 1970
b Trung Quốc
Trung Quốc là nước nông nghiệp lâu đời, đất rộng, người đông Dân số trên
1 tỷ người, trong đó nông dân chiếm xấp xỉ 80% Đơn vị cơ sở ở nông thôn Trung Quốc là làng hành chính (traditional village) Làng truyền thống chia thành hai hay nhiều làng hành chính Toàn quốc có trên 800.000 làng hành chính, mỗi làng có 800 – 900 dân Trong chiến lược hiện đại hoá đất nước, việc phát triển các cộng đồng nông thôn có ý nghĩa quan trọng
Hiện nay, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa là một công trình có hệ thống mang lại lợi ích cho hàng trăm triệu nông dân, đồng thời cũng là một quá trình lâu dài Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu dẫn đường, Chính phủ
hỗ trợ, nông dân xây dựng Giải quyết trước mắt vấn đề nước sinh hoạt cho hàng trăm triệu nông dân; cải tạo và xây dựng mới 1,2 triệu km đường giao thông ở nông thôn; hoàn thiện hệ thống dịch vụ y tế khám, chữa bệnh ở nông thôn và chuyển dịch việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn Đồng thời với những công việc trên, trong việc xây dựng nông thôn mới, Trung Quốc còn áp dụng các biện pháp thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục và y tế khám, chữa bệnh ở khu vực nông thôn
(UBND Huyện Hậu Lộc, 2010)
c Cộng hoà nhân dân Nam Triều Tiên
- Hàn Quốc là nước có diện tích tự nhiên chủ yếu là đồi núi, địa hình chia cắt mạnh, chỉ có khoảng 22% tổng diện tích đất có thể canh tác Trong quá khứ, làng truyền thống ở Hàn Quốc chủ yếu nằm dọc theo các con sông suối, các thung lũng
Trang 22có địa hình bằng phẳng và các tuyến giao thông chính Điểm dân cư thường nhỏ và nằm rải rác, nhà ở bố trí phân tán không có định hướng từ ban đầu khi mới hình thành điểm dân cư
- Hiện nay, việc quy hoạch phát triển làng trực tiếp do cộng đồng dân cư trong làng cùng bàn bạc và xây dựng dưới sự giúp đỡ về kỹ thuật của các nhà chuyên môn do chính quyền cử đến Quan điểm quy hoạch phát triển làng là hiện đại, tiện ích cho sinh hoạt và phát triển sản xuất của người dân nhưng phải đảm bảo duy trì phát triển cảnh quan môi trường và bản sắc văn hóa Các yếu tố cơ bản để đạt mục đích trên là:
+ Cải tạo cấu trúc không gian của các điểm dân cư trên cơ sở kinh tế xã hội hiện tại, đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường
+ Cải tạo tổ chức và nâng cao mức độ phục vụ văn hoá và đời sống
+ Nâng cao tiêu chuẩn nhà ở
+ Cải thiện cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, nước, công trình phúc lợi,…) + Giữ gìn ưu thế cơ bản của các điểm dân cư nông thôn là mối quan hệ trực tiếp của chúng với thiên nhiên
- Giữ nguyên hiện trạng, cải tạo từng phần là hình thức đặc trưng của quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc Khi dự kiến cải tạo một làng người ta cân nhắc sử dụng một cách hợp lý nhất các công trình hiện có và các nhà ở có giá trị, tìm ra và phát triển mối quan hệ mật thiết giữa cấu trúc hình thái của làng với môi trường tự nhiên xung quanh nó Thành phần cơ bản của một làng cải tạo là trung tâm công cộng, đảm bảo mối liên hệ trực tiếp với các khu nhà ở, khu sản xuất với khu nghỉ ngơi giải trí Giao thông trong làng cũng được lưu ý, đường vận chuyển hàng hoá thường được đặt bên ngoài làng Đường trục chính của làng dẫn tới các đầu mối giao thông khu vực, nối các khu chức năng với nhau và với các khu trung tâm công cộng
d Khu vực Đông Nam á
Theo Colins Free stone, trong công trình nghiên cứu các yếu tố về kinh tế
chính trị làng xóm vùng Đông Nam Á (Phòng thống kê huyện Hậu Lộc) đã tổng kết
Trang 23những vấn đề chung nhất trong việc quy hoạch xây dựng làng của một số nước thuộc vùng này theo xu hướng:
- Dân cư bố trí dọc theo kênh rạch hoặc theo đường giao thông và đó cũng là đường giao thông chính liên hệ giữa các điểm dân cư
- Nhà ở bố trí phân tán, không có định hướng từ ban đầu khi mới hình thành điểm dân cư
- Khu ở của điểm dân cư thường rất gần với khu sản xuất
- Các công trình hạ tầng kỹ thuật, các công trình phục vụ công cộng ít được quan tâm trong từng điểm dân cư mà chỉ được bố trí cho từng cụm gồm nhiều điển dân cư, làng nào cũng có một trung tâm công cộng nhỏ, gồm các công trình sinh hoạt văn hoá, hành chính hoặc tín ngưỡng chung như đình chùa, chợ…
- Quy mô làng xóm thường nhỏ, nằm rải rác trong hệ thống đồng ruộng canh tác Trong thời gian gần đây các nước Đông Nam Á đã có nhiều cố gắng đưa ra các chương trình phát triển kinh tế vùng nông thôn để ổn định phát triển kinh tế và ổn định xã hội
Thái Lan là một nước lớn trong vùng Đông Nam Á, là nước có khối lượng nông sản xuất khẩu khá lớn Cả nước có khoảng 53000 làng xóm, với kế hoạch định hướng phát triển 5 năm một lần, Chính phủ đã xây dựng được 32 dự án phát triển các vùng nông thôn với sự tham gia của nhiều Bộ, ngành, nhờ đó mà đới sống của nhân dân được cải thiện đáng kể
Chính sách kinh tế của Thái Lan là ưu tiên phát triển giao thông, đặc biệt là giao thông đường bộ, xác định giao thông là huyết mạch, là cầu nối để phát triển, giao lưu kinh tế giữa thành thị và nông thôn, bên cạnh đó cũng luôn chú trọng đến việc đầu tư các công trình các công trình cơ sở hạ tầng khác cho vùng nông thôn Tuy vậy, việc phân hoá giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị vẫn còn lớn Đó cũng là đặc trưng cơ bản trong việc phát triển kinh tế tại các điểm dân cư tại các nước vùng Đông Nam Á
Trang 241.2.1.4 Nhận xét chung về thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư các nước trên thế giới
Qua nghiên cứu tình hình phát triển khu dân cư trên thế giới từ Âu sang Á, từ các nước phát triển cao đến các nước đang phát triển Mỗi nước có chế độ chính trị khác nhau nhưng chúng ta thấy rằng muốn phát triển nông thôn nhất định phải xây dựng cơ sở hạ tầng và trên hết phải có một mạng lưới đường giao thông phát triển hợp lý, nhất định phải quy hoạch hệ thống làng xã một cách hợp lý cùng với việc xây dựng trung tâm làng xã trở thành hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá
và là môi trường thuận lợi cho việc tiếp thu văn minh đô thị vào nông thôn Mặt khác muốn quản lý sự di dân hàng loạt từ vùng nông thôn vào đô thị, ngăn cản sự phình to quá cỡ của các thành phố lớn nhất thiết phải “công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn” Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn mang lại sự thay đổi lối sống nông thôn truyền thống sang lối sống văn minh đô thị - thành thị hoá nông thôn Để đạt được điều đó, việc phát triển hạ tầng kỹ thuật luôn luôn giữ vai trò hàng đầu, đặc biệt hệ thống giao thông phải được đầu tư đúng mức mới đem lại sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Việc xây dựng phát triển các điểm dân cư nông thôn tại các nước trên thế giới gắn chặt với nhu cầu thực tại của người dân địa phương về giáo dục, giao thông, điện, nước sạch, bưu chính viễn thông trên cơ sở phát triển tổng thể kinh tế
- xã hội của địa phương Do đó tại các nước phát triển sự tham gia của cộng đồng những người dân địa phương vào công tác lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ngày càng được khuyến khích và chú trọng
Ở Châu Âu nổ bật hơn cả là mô hình làng xóm ở Anh đã đem lại cho con người một cuộc sống thoải mái, khá hiện đại và không khí trong lành Chính điều đó đã thu hút được những người dân đô thị chán cảnh sống ngột ngạt của khói bụi và đông đúc của đô thị để đến với làng quê yên bình và thanh thản Đây là một quốc gia đã thành công trong việc quy hoạch lại mạng lưới dân cư nông thôn của nước mình
Thời gian gần đây, các nước Đông Nam Á có rất nhiều cố gắng đưa ra các chương trình phát triển nông thôn để phát triển kinh tế và ổn định xã hội Các vùng
Trang 25nông thôn được đầu tư cơ sở hạ tầng, mạng lưới đường giao thông phát triển, dịch
vụ công cộng được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện Tuy vậy, chưa có nước nào đạt được mục tiêu cuối cùng là xoá bỏ đói nghèo, nâng chất lượng sống ở vùng nông thôn ngang với đô thị Do vậy mỗi nước cần phải tìm ra một mô hình phát triển nông thôn phù hợp với điều kiện cụ thể của mình
1.2.2 Th ực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư và xây dựng nông thôn ở
Vi ệt Nam
1.2.2.1 Thực trạng kiến trúc cảnh quan khu dân cư nông thôn
Hầu hết các công trình kiến trúc có giá trị tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam đều nằm ở các làng xã Đó là những ngôi đình làng, ngôi chùa và gần đây là những nhà thờ nằm sau luỹ tre làng, là trung tâm chứa đựng mọi sinh hoạt văn hoá của cộng đồng dân cư sống trong làng xã (Đỗ Đức Viên, 2005)
Đời sống ngày càng được cải thiện dẫn đến sự thay đổi trong bộ mặt nhà ở, đến trang trí nội thất của người dân vùng nông thôn Tỷ lệ nhà ngói, nhà kiên cố rất cao, ước khoảng trên 80%, số hộ nông dân đã có nhà riêng lợp ngói, nơi có tỷ lệ cao
có thể tới 95%, tại nông thôn hiện có các nhà mái bằng 2-3 tầng kiên cố, có kiến trúc gần gũi với thành thị
Hiện nay bên cạnh các loại nhà ở dân gian, truyền thống như đã nêu trên; Kiến trúc nông thôn các vùng có các dạng nhà hình ống, thường ở những trục đường chính, những khu đất giãn dân, những khu ven đô thị Nhà ở có xu hướng chuyển dịch ra gần các trục đường chính thuận tiện cho giao thông và kinh doanh dịch vụ Bố cục không gian nhà theo chiều dọc, ảnh hưởng nhiều phố thị Loại nhà trên góp phần cải thiện điều kiện ở, phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ của một
bộ phận dân cư, song nó làm mất đi nét dân gian Đây là một giải pháp tình thế phát sinh do quá trình phát triển không có kiểm soát của một bộ phận dân cư nông thôn
để tiếp ứng với nền kinh tế thị trường (Đỗ Đức Viên, 2005)
* Các tiêu chí phân loại nhà:
- Nhà kiên cố: Gồm các loại nhà biệt thự, nhà xây nhiều tầng hoặc các căn
hộ trong nhà xây nhiều tầng, nhà lắp ghép cấu kiện bê tông cốt thép nhiều tầng, nhà xây mái bằng
Trang 26- Nhà bán kiên cố: Gồm ngôi nhà có tường xây, ghép gỗ, khung gỗ và có mái lợp bằng ngói, tôn, tấm lợp hoặc xây dựng bằng các vật liệu tương đương
- Nhà khung gỗ lâu bền, mái lá: Gồm những ngôi nhà có khung chịu lực làm bằng gỗ có niên đại sử dụng trên 15 năm, mái lợp bằng tranh, tre, nứa, lá, giấy dầu
- Nhà đơn sơ: Các loại nhà ở không thuộc một trong hai nhóm trên
Các công trình công cộng ở làng không chỉ là cổng làng, đường làng, giếng làng mà còn là nhà văn hoá, nhà uỷ ban, nhà trẻ, trường học, trạm xá…ngoài ra là các không gian, các quỹ vật thể khác như: làng, chợ làng và cây đa, bến nước…
- Nhìn chung, các công trình kiến trúc công cộng trong làng xã thường không
to lớn trừ một số công trình đặc bịêt (nhà thờ và một số đình chùa của những làng
có điều kiện đặc biệt) (Đỗ Đức Viên, 2005)
- Ngày nay cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và sự tăng trưởng dân số tuyệt đối tại khu vực nông thôn, kiến trúc nông thôn đã được phát triển với 4 nội dung chính:
+ Ngói hoá và kiên cố hoá nhà ở nông thôn bằng nguồn lực tự có của nhân dân thay thế dần dần nhà tranh vách đất
+ Phát triển các công trình dịch vụ công cộng như trường học, nhà trẻ, đường làng ngõ xóm và các công trình tiện ích công cộng
+ Cải tạo, trùng tu, nâng cấp các công trình di sản văn hoá, tôn giáo, tưởng niệm…
+ Xây dựng phát triển các thị tứ mới ở các vùng nông thôn giữ vai trò là trung tâm xã, tiểu vùng hoặc cụm xã, là đầu mối thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở khu vực nông thôn theo hướng: “ly nông bất ly hương” đã tạo ra một bộ mặt kiến trúc mới cho khu vực nông thôn
- Vào những năm cuối của thập kỷ 70, hưởng ứng Nghị quyết IV và sau này
là Nghị quyết V của Ban chấp hành Trung ương Đảng, cùng với việc quy hoạch đồng bộ xây dựng địa bàn cấp huyện theo các lĩnh vực khác nhau như bố trí lại sản xuất, xây dựng công trình hạ tầng, các công trình phục vụ công cộng, nhà ở cũng được nghiên cứu theo hướng “ cải tạo mạng lưới dân cư trên địa bàn huyện, tổ chức
Trang 27đời sống ở nông thôn” (Đoàn công Quỳ, 2003) công việc nghiên cứu về nhà ở lúc này chia làm hai loại:
+ Nhà ở tại huyện lỵ, thị trấn đưa ra một số mẫu “ thiết kế giống các thành phố” + Nhà ở tại các làng xã nông thôn thì chỉ chú trọng đến nhà ở nông thôn đơn thuần nông nghiệp
- Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về nhà ở nông thôn cho nhiều vùng khác nhau nhưng trong đó có đồ án nhà ở cho vùng cói Thái Bình của nhóm tác giả Trần Trọng Chi: “Đồ án đã nghiên cứu giải quyết đồng bộ, có hệ thống việc tổ chức cuộc sống cộng đồng ở nông thôn vùng cói bắt đầu từ ngôi nhà ở, với giếng nước, nhà vệ sinh, sân vườn, chuồng chăn nuôi rồi đến các công trình văn hoá…” (Lê Trung
Thống, 1979)
Thực tiễn trong vài năm gần đây, nhà ở nông thôn đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ kể cả về số lượng và chất lượng, nhiều làng xã phát triển kinh tế nhiều thành phần, thu nhập cao đã xây dựng nhiều nhà ở 2 - 3 tầng Nhiều nhà kiểu biệt thự đầy đủ tiện nghi, không gian sinh hoạt ngăn nắp hợp lý trên toàn bộ khuôn viên đất ở
đã tạo những nét mới làm thay đổi bộ mặt kiến trúc làng quê truyền thống
1.2.2.2 Mối quan hệ giữa đô thị hoá với phát triển dân cư nông thôn
- Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, nước ta đã có nhiều thay đổi lớn đặc biệt là sự phát triển mạnh về kinh tế, việc gia nhập các tổ chức quốc tế: WTO, ASEAN…đã và đang tạo tiền đề sức mạnh cho phát triển nền kinh tế nước nhà Nhờ chính sách mở cửa, hội nhập với các nước trên thế giới Việt Nam đã và đang tiếp thu những khoa học kỹ thuật hiện đại, ngoài ra với một nền chính trị ổn định Việt Nam đang là địa bàn thích hợp cho các nhà đầu tư nước ngoài Chính vì những
lý do đó mà quá trình CNH - HĐH trên lãnh thổ Việt Nam đang diễn ra rất mạnh
mẽ đã tác động và làm cho quá trình đô thị hoá nông thôn diễn ra rất nhanh
- Quá trình đô thị hoá đã và đang tác động mạnh mẽ làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ảnh hưởng tới việc sắp xếp lại mạng lưới các điểm dân cư trên cả nước, điều đó được thể hiện trên các mặt:
+ Phát triển mở rộng, nâng cấp các thành phố thị xã, thị trấn theo quy hoạch
Trang 28nhằm phát huy tiềm năng của mạng lưới đô thị hiện có, khống chế dân số các thành phố lớn, tạo yếu tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của các đô thị vừa và nhỏ (các thị
xã, thị trấn, thị tứ)
+ Tạo điều kiện đẩy nhanh sự phát triển của các thị trấn huyện lỵ và các thị
tứ Đây là đầu mối quan trọng nối tiếp giữa đô thị và nông thôn
+ Cải tạo từng bước hệ thống điểm dân cư nông thôn Ngay từ những năm
70, Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn Bộ xây dựng đã có những đề án quy hoạch cải tạo và phát triển các điểm dân cư trên địa bàn vùng huyện theo xu hướng này (huyện Đông Hưng - Thái Bình là một ví dụ)
+ Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, có thể đô thị hoá ngay trong từng làng xã trên cả hai mặt cơ bản chuyển lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng từng bước cơ sở hạ tầng, xây dựng phát triển và hoàn thiện khu dân cư, cải thiện đời sống nông thôn tiến tới tương
đương cuộc sống ở đô thị (Lê Trung Thống, 1979)
1.2.2.3 Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển khu dân cư
Trong quá trình phát triển, các điểm dân cư (đô thị và nông thôn) ở nước ta phần lớn được hình thành và phát triển một cách tự phát Vì vậy mà tình trạng xây dựng lộn xộn, manh mún, không thống nhất, không đồng bộ, sử dụng đất không hiệu quả, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước đối với đất khu dân cư đồng thời cũng gây khó khăn cho việc tu sửa cải tạo và xây dựng mới Chính vì vậy, hiện nay Nhà nước ta đã ban hành các một số văn bản về quy định và quản lý trong quy hoạch và phát triển khu dân cư
+ Các xã đồng bằng không quá 300 m2
Trang 29+ Các xã trung du miền núi, hải đảo không quá 400 m2
- Điều 86 luật đất đai năm 2003 “Đất sử dụng để chỉnh trang, phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn” đã quy định:
+ Việc sử dụng đất để chỉnh trang, phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt và các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
- Thông tư số 30/2004/ BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Theo công văn số 5763/BTNMT - ĐKTK ngày 25/12/2006 của Bộ Tài Nguyên Môi Trường về việc hướng dẫn định mức sử dụng đất áp dụng trong công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã hướng dẫn áp dụng định mức cho 10 loại đất: Đất y tế, đất văn hoá, đất giáo dục, đất thể thao, đất thương nghiệp dịch vụ, đất giao thông vận tải, đất thuỷ lợi, đất công nghiệp, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn
Đối với định mức sử dụng đất trong khu dân cư được quy định như sau:
Bảng 1.1 Định mức sử dụng đất trong khu dân cư
Loại đất
Khu vực đồng bằng ven biển
Khu vực miền núi trung du Diện tích
(m2/người
Tỷ lệ (%)
Diện tích (m2/người
Tỷ lệ (%)
- Đất tiểu thủ công nghiệp 8 -11 9 - 13 8- 11 8 - 11
(Nguồn: công văn số 5763/BTNMT - ĐKTK ngày 25/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Trang 30b Những quy định về quản lý đất đai và quản lý quy hoạch xây dựng
* Quản lý đất đai
Quản lý đất đai theo quy hoạch đã được ghi cụ thể trong Luật Đất đai hiện hành Trong phạm vi điểm DCNT bao gồm các loại đất phân theo các mục đích sử dụng như: đất ở; đất nông nghiệp (đất vườn, ao thả cá trong khuôn viên của hộ gia đình và có thể có một số đất nông nghiệp khác nằm xen kẽ trong dân cư, do UBND
xã quản lý sử dụng); đất lâm nghiệp (nếu có); đất chuyên dùng; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng (nếu có)
Theo quy định của Luật Đất đai, Nhà nước thống nhất quản lý các loại đất và giao cho hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức sử dụng theo đúng mục đích và có hiệu quả
- Đất ở của mỗi hộ gia đình được quy định hạn mức cụ thể tuỳ theo từng địa phương dựa trên căn cứ điều 83, 84 của Luật Đất đai năm 2003
- Các loại đất chuyên dùng phục vụ yêu cầu xây dựng các công trình hạ tầng
cơ sở và phục vụ lợi ích công cộng phải được sử dụng theo đúng mục đích trên cơ
sở phương án quy hoạch thiết kế đã được phê duyệt
* Quản lý quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn
Quy hoạch xây dựng cho khu vực nông thôn là công việc được triển khai thực hiện đối với từng điểm dân cư nông thôn kể cả điểm dân cư nông thôn là trung tâm xã, thị tứ, trung tâm cụm liên xã Công tác quy hoạch xây dựng điểm DCNT bao gồm quy hoạch xây dựng các điểm DCNT mới và quy hoạch cải tạo xây dựng phát triển các điểm DCNT hiện có
Phương án quy hoạch xây dựng và phát triển một điểm DCNT mới, hoặc quy hoạch cải tạo xây dựng một điểm DCNT hiện có, sau khi đã được phê duyệt sẽ trở thành căn cứ để triển khai công tác xây dựng Đồng thời nó cũng là cơ sở pháp lý cùng với hệ thống pháp luật và chính sách của nhà nước làm căn cứ để quản lý công tác cải tạo, xây dựng và kiểm soát quá trình thay đổi làm cho điểm dân cư được phát triển theo đúng ý đồ đã được xác định
Việc quản lý quy hoạch trước hết là đối với việc sử dụng đất đai cho thiết kế đường xá, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật và
Trang 31môi trường nông thôn Cần phải quản lý tốt và triển khai cải tạo hoặc xây dựng từng bước các phần đất này theo đúng mục đích mới có thể thực hiện được mục tiêu phát triển lâu dài các điểm dân cư
Đối với đất ở của từng hộ gia đình trong điểm dân cư hiện có, khi tiến hành quy hoạch cải tạo nếu có những kiến nghị về điều chỉnh đất đai cần có phương án đền bù thoả đáng khi trưng dụng đất phục vụ lợi ích công cộng hoặc dồn đổi giữa các chủ sử dụng đất với nhau Để thực thi các giải pháp này cần có sự phân tích vận động đối với chủ sử dụng đất thông qua hoạt động của cơ quan chính quyền và các
+ Nhà ở đô thị phải được xây dựng phù hợp với quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn và các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng nhà ở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; hình thành các tiểu khu nhà ở, khu dân cư tập trung vừa và nhỏ, phân bố hợp lý, không tập trung dân cư quá đông vào các thành phố lớn
+ Phấn đấu đạt chỉ tiêu bình quân 15 m2 sàn/người vào năm 2010 và 20 m2sàn/ người vào năm 2020 (Bộ xây dựng 2009, thông tư 34/2009/TT - BXD ngày 30/9/2009)
- Nhà ở nông thôn
+ Phấn đấu để từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng chỗ ở của các hộ dân cư nông thôn Phát triển nhà ở nông thôn gắn với việc phát triển và nâng cấp hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
Trang 32+ Phát triển nhà ở nông thôn phải đảm bảo phù hợp với điều kiện sản xuất, đặc điểm tự nhiên và tập quán sinh hoạt của từng vùng, sử dụng có hiệu quả quỹ đất sẵn có và khuyến khích phát triển nhà nhiều tầng để tiết kiệm đất, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang đất ở
+ Khuyến khích huy động nội lực của hộ gia đình, cá nhân khu vực nông thôn tự cải thiện chỗ ở kết hợp với sự giúp đỡ hỗ trợ của cộng đồng, dòng họ, các thành phần kinh tế
+ Phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành chương trình hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số và các hộ thuộc diện chính sách
+ Phấn đấu hoàn thành việc xoá bỏ nhà ở tạm (tranh, tre, nứa lá) tại các khu vực nông thôn vào năm 2020 Diện tích nhà ở bình quân tính theo đầu người đạt 14 m2 sàn/người, nhà ở nông thôn có công trình phục vụ sinh hoạt và sản xuất dịch vụ phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường
+ Dự kiến đến năm 2020, diện tích nhà ở bình quân đạt 18m2/gười, tất cả các
điểm DCNT đều có hệ thống cấp, thoát nước đảm bảo tiêu chuẩn quy định (Bộ xây dựng 2009 - thông tư 34/2009/TT - BXD ngày 30/9/2009)
* Định hướng phát triển kiến trúc cảnh quan
- Chủ trương của Đảng và nhà nước ta trong những năm trước mắt là tiếp tục
ưu tiên đầu tư phát triển nông thôn Đến năm 2010 để 100% số xã có trường cấp 1,
2 và trạm y tế Phấn đấu để 100% xã có đường ô tô đến được trung tâm xã, tổ chức lại các khu dân cư nông thôn, hầu hết các hộ đều có điện, nước để dùng để đời sống xã hội ở nông thôn trở nên an ninh, văn minh và ổn định (Bộ xây dựng 2004,
định hướng QH nhà ở đến năm 2020)
Theo định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2020:
- Phát triển kiến trúc tại các làng, xã có liên quan trực tiếp với cơ cấu quy hoạch chung của các đô thị phải được dựa trên quy hoạch chi tiết xây dựng, có sự tham gia của dân cư và cộng đồng; cần lưu ý giữ lại di sản kiến trúc, thiên nhiên của làng, xã; bổ sung những chức năng còn thiếu, kết hợp hiện đại hoá kết cấu hạ tầng
Trang 33Công trình mới được tạo lập phải tuân thủ các quy định về quản lý kiến trúc và quy hoạch đô thị
- Hình thành tổng thể kiến trúc tại các thị tứ, trung tâm xã, cụm xã trên cơ sở tuân thủ các quy định của quy hoạch xây dựng; khuyến khích phát triển các công trình xây dựng ít tầng, mái dốc, kế thừa hình thức kiến trúc truyền thống, gắn bó hài hoà với khung cảnh thiên nhiên, phù hợp với điều kiện khí hậu của địa phương
+ Hướng phát triển kiến trúc gắn với việc hình thành các thị trấn, thị tứ giữ vai trò là trung tâm xã, cụm xã: Các thị trấn, thị tứ gắn với vùng nông nghiệp trước khi xây dựng đều phải lập quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết
+ Hướng cải tạo, chỉnh trang và phát triển kiến trúc tại các làng xã: Việc phát triển kiến trúc tại các làng, xã thuộc các vùng nôngnghiệp cần lưu ý bảo tồn được các truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán riêng bệt của từng địa phương
d Một số chương trình phát triển nông thôn trong thời kỳ đổi mới
Trong những năm qua, việc phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta luôn nhận được sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước, nhiều chương trình phát triển
đã được thực hiện, tập trung vào hỗ trợ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
* Chương trình phát triển nông thôn mới cấp xã
Kể từ năm 2001, Ban Kinh tế Trung ương cùng với Bộ NN & PTNT, các Bộ, Ngành và địa phương đã bắt đầu triển khai xây dựng mô hình điểm “Phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hóa” tại các vùng sinh thái Chương trình phát triển nông thôn đã được triển khai tại 14 xã điểm của Bộ
Trang 34NN & PTNT (tăng lên 18 xã trong năm 2004) và khoảng 200 xã điểm của các địa phương (Đỗ Đức Viên, 2005)
Chương trình phát triển nông thôn cấp xã bao gồm 5 nội dung cơ bản:
- Phát triển kinh tế hàng hóa với một cơ chế phù hợp, khai thác được lợi thế của địa phương, có thị trường tiêu thụ
- Phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với nền nông nghiệp hàng hóa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá
- Xây dựng khu dân cư văn minh
- Tăng cường công tác y tế, văn hoá, giáo dục trong nông thôn và xây dựng đội ngũ cán bộ
- Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, phát huy vai trò của cán bộ tổ chức quần chúng, thực hiện tập trung dân chủ (Đỗ Đức Viên, 2005)
Sau 3 năm thực hiện bên cạnh những kết quả đạt được, mô hình đã bộc lộ một số tồn tại:
- Một số xã đã quá chú trọng đến đầu tư xây dựng cơ bản mà chưa quan tâm đúng mức đến phát triển sản xuất Có mô hình còn quá thiên về nông nghiệp, chưa
có đầu tư thoả đáng vào phát triển ngành nghề, công nghiệp nông thôn, dịch vụ và các vấn đề văn hóa - xã hội Đa số các dự án còn dàn trải chưa làm nổi bật được các trọng tâm để tập trung triển khai thực hiện
- Quy hoạch phát triển các xã điểm chưa thực sự phù hợp do quá chú trọng đến dự án đầu tư, đòi hỏi số vốn đầu tư lên đến hàng chục tỷ đồng Do vậy hầu hết các bản quy hoạch thiếu tính khả thi, không thực tế, không phản ánh đúng nhu cầu thiết thực của người dân
- Ngoài ra, còn có một số vấn đề tồn tại khác như khả năng huy động vốn, tổ chức quản lý và thực hiện chương trình,… vì vậy làm ảnh hưởng tới sự thành công của chương trình (Đỗ Đức Viên, 2005)
- Tuy nhiên, những chương trình hay dự án này hoặc mới chỉ giải quyết một
số khía cạnh riêng rẽ hoặc nhằm mục tiêu xoá đói, giảm nghèo cho những vùng đặc biệt khó khăn, vùng nghèo mà chưa mang tính toàn diện, tổng thể nhằm tạo ra một
Trang 35phong trào phát triển nông thôn mang tính sâu rộng, bền vững có khả năng nhân rộng trên phạm vi cả nước (Đỗ Đức Viên, 2005)
- Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
491/QĐ-TTg quy định Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 21/8/2009, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Thông tư số: 54/2009/TT-BNN&PTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới Đây là hai văn bản quan trọng của Đảng và nhà nước mang tầm nhìn chiến lược để phát triển toàn diện nông thôn nước ta, nhằm mục đích tạo sự cân đối trong quá trình phát triển giữa nong thôn và thành thị Sau một năm thực hiện Quyết định của Thủ tướng, phong trào xây dựng nông thôn mới đã được triển khai sâu rộng tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước
- Ngày 07/6/2010, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá đã ký Quyết định số 2005/QĐ-UBND phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2010 - 2020, định hướng đến năm 2030 Mục tiêu của đề án là: 100% các xã hoàn thành quy hoạch nông thôn mới vào năm 2011; đến năm 2012, hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới tại các xã điểm do tỉnh chỉ đạo, năm 2014, hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới tại các xã điểm do huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo; đến năm
2015, có 117 xã đạt tiêu chí nông thôn mới Trong giai đoạn 2015 - 2020, phấn đấu xây dựng thêm 233 xã đạt tiêu chí nông thôn mới, đưa tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới lên 350 xã, đạt tỷ lệ 60% tổng số xã trong toàn tỉnh Định hướng đến năm
2030, phấn đấu 100% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới
- Mục đích của việc lựa chọn xã thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới là nhằm thực hiện hóa mô hình nông thôn mới trên thực tế ở các vùng, miền trong tỉnh
để rút kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện và làm cơ sở cho triển khai diện rộng
- Tiêu chí để lựa chọn xã điểm xây dựng mô hình nông thôn mới là xã có hệ thống chính trị ổn định, vững mạnh, đội ngũ cán bộ nhiệt tình, hăng hái, có năng lực, tâm huyết với công việc và nhân dân đồng thuận với chủ trương tham gia xây dựng điểm nông thôn mới; có kinh tế - xã hội phát triển, kết cấu hạ tầng và đời sống nhân dân khá so với toàn huyện; là xã đại diện cho các vùng, miền trong tỉnh
Trang 361.2.3 M ột số công trình nghiên cứu quy hoạch xây dựng khu dân cư
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển khu dân cư và những quy định của Nhà nước về quản lý, quy hoạch xây dựng phát triển hệ thống điểm dân cư, nhiều nhà khoa học đã có những nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực này
- Ngay từ những năm 70, việc quy hoạch đô thị và nông thôn Bộ Xây Dựng
đã có những đồ án quy hoạch cải tạo phát triển các điểm dân cư trên địa bàn vùng huyện theo xu hướng cải tạo từng bước các điểm DCNT, các chòm xóm nhỏ được gộp lại tạo thành các điểm dân cư tương đối lớn, tập trung, thuận tiện cho việc xây dựng các công trình công cộng phúc lợi [khoảng 600 dân (200 hộ)]
- Mô hình “nhà ở và lô đất gia đình vùng nội đồng” đã triển khai ở xã Đại áng - huyện Thanh Trì - Hà Nội, mô hình giải quyết 2 vấn đề:
+ Tiết kiệm và tận dụng đất đai có hiệu quả
+ Cải thiện điều kiện vệ sinh ở gia đình và thôn xóm
- Bên cạnh đó còn có một số dự án về quy hoạch dân cư nông thôn nước ta đó là: + Quy hoạch huyện Đông Hưng - Thái Bình Trong phương án quy hoạch này, từ 1400 điểm dân cư trên toàn địa bàn huyện được tổ chức lại còn khoảng 100 điểm, tổ chức thành 7 cụm xã, ở đó xây dựng trạm trại kho tàng, xây dựng các công trình hạ tầng kiến trúc không gian khu ở được xây dựng hợp lý phù hợp tạo điều kiện cho phát triển dân cư trên địa bàn (Viện Quy hoạch thiết kế Nghệ Tĩnh - 1977) + Quy hoạch sản xuất và xây dựng huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An (1977) Theo đồ án này, toàn bộ 360 điểm dân cư sẽ được bố trí gọn lại còn 54 điểm có quy
mô từ 1000 - 5000 người, cứ 2 đến 3 điểm dân cư đủ dân số để xây dựng một trung tâm có các công trình văn hoá phục vụ công cộng như: nhà trẻ, trường học, thư viện, nhà văn hoá nhằm phục vụ tốt nhất cho đời sống nhân dân (Bộ xây dựng
2009 - thông tư 32/2009/TT/BXD ngày 10/9/2009)
- Dựa trên các tiêu chí phân loại điểm DCNT của Tổng cục Địa chính (nay là
Bộ Tài nguyên Môi trường) năm 2000 nhiều nhà khoa học đã đánh giá thực trạng, phân loại và định hướng phát triển hệ thống điểm DCNT như: công trình nghiên cứu cứu của Đoàn Công Quỳ trên điạ bàn huyện Kinh Môn - Hải Dương, Nguyễn
Trang 37Thị Hồng Hạnh trên địa bàn huyện Thường Tín - Hà Tây, Nguyễn Danh Hùng trên địa bàn huyện Từ Sơn - Bắc Ninh, Cù Ngọc Thọ trên địa bàn huyện Gia Lâm - Hà Nội, Nguyễn Thị Hải Yến trên địa bàn huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Đình Trung trên địa bàn huyện Chí Linh – tỉnh Hải Dương …
- Xây dựng mô hình quy hoạch chi tiết trung tâm xã và điểm dân cư nông thôn huyện Chí Linh – tỉnh Hải Dương của nhóm tác giả Vũ Thị Bình và các cộng
sự năm 2008 :
+ Đồ án đã đưa ra mô hình quy hoạch khu trung tâm xã (xã Nhân Huệ và xã Hoàng Tiến) với mục tiêu cải tạo bộ mặt nông thôn theo hướng đô thị hóa, văn minh, tiến bộ nhằm tạo ra sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường của địa phương
+ Nhìn chung những nghiên cứu ứng dụng này đã có ý nghĩa rất lớn trong quy hoạch mạng lưới dân cư của mỗi địa phương Tuy nhiên tính khả thi của các đồ
án này còn chưa cao, quy hoạch vẫn ở tầm khái quát, phần lớn chưa có quy hoạch chi tiết cho từng điểm dân cư Do vậy các điểm dân cư được bố trí vẫn manh mún, phân tán, chưa hợp lý, chưa đồng bộ, công tác xây dựng kiến trúc cảnh quan khu dân cư phát triển một cách tự phát có thể theo quy hoạch hoặc không theo quy hoạch gây khó khăn cho việc bố trí các công trình công cộng phục vụ cho các khu dân cư
Trang 38
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống điểm khu dân cư, cảnh quan nhà ở, các
công trình công cộng, môi trường sinh thái và tình hình sử dụng đất trong khu dân
cư đô thị và khu dân cư nông thôn huyện Hậu Lộc
* Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống điểm dân cư đô thị và nông thôn trên địa
bàn huyện Hậu Lộc – Tỉnh Thanh Hoá
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội huyện Hậu Lộc
2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường huyện Hậu Lộc
a Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý, địa hình,địa chất, khí hậu, thuỷ văn
b Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nhân văn
c Cảnh quan môi trường
d Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội
- Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xu hướng phát triển
- Dân số, lao động, việc làm, thu nhập và mức sống dân cư
- Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng: hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
+ Tình hình sử dụng đất của huyện Hậu Lộc
- Tình hình quản lý sử dụng đất huyện Hậu Lộc
- Hiện trạng sử dụng đất huyện Hậu Lộc năm 2012
- Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế xã hội tác động đến việc hình thành và phát triển các điểm dân cư
2.2.2 Đánh giá thực trạng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Hậu Lộc
- Thực trạng điểm dân cư và tình hình sử dụng đất trong khu vực đô thị và nông thôn huyện Hậu Lộc
Trang 39- Phân loại hệ thống điểm dân cư
+ Mục tiêu phân loại và một số chỉ tiêu phân loại
+ Phân loại điểm dân cư và kết quả phân loại điểm dân cư
- Thực trạng kiến trúc cảnh quan trong xây dựng và phát triển điểm dân cư + Kiến trúc nhà ở trong khu dân cư
+ Kiến trúc cảnh quan các công trình công cộng trong khu dân cư
2.2.3 Định hướng phát triển mạng lưới dân cư huyện Hậu Lộc đến năm 2020
- Các dự báo cho định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư
+ Định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện đến năm 2020
+ Quan điểm sử dụng đất trong khu dân cư
+ Tiềm năng đất đai cho xây dựng mở rộng các khu đô thị và các khu dân cư
- Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư
+ Định hướng phát triển điểm dân cư đô thị
+ Định hướng phát triển điểm dân cư nông thôn
+ So sánh cơ cấu sử dụng đất trong khu dân cư trước và sau định hướng
+ Một số giải pháp để thực hiện định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư
2.2.4 Xây d ựng mô hình quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã
- Lựa chọn địa bàn
- Xây dựng mô hình quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã Phú Lộc
2.2.5 Gi ải pháp thực hiện định hướng phát triển mạng lưới dân cư huyện Hậu Lộc
- Giải pháp về chủ trương chính sách
- Giải pháp về vốn
- Giải pháp về quy hoạch
- Giải pháp khác
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Ph ương pháp thu thập số liệu, tài liệu
- Nguồn số liệu thứ cấp: Thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan Nhà nước, các sở, các phòng ban trong huyện, các thư viện, trung tâm nghiên cứu Một
số tài liệu cần thu thập: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện và các xã, niên
Trang 40giám thống kê năm 2013 của huyện, báo cáo QHSDD của huyện, tình hình phân bố dân cư, lao động trên địa bàn huyện, hệ thống các bảng biểu thống kê, kiểm kê đất đai năm 2013, các văn bản pháp luật có liên quan đến tình hình sử dụng đất khu dân cư
- Nguồn số liệu sơ cấp: Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra trực tiếp thông qua bộ câu hỏi có sẵn đến từng xã, trưởng thôn và điều tra bổ sung từ thực địa Tổng số phiếu điều tra là 129 phiếu
2.3.2 Ph ương pháp xử lý số liệu
Phương pháp thống kê: Số liệu về thống kê đất đai được xử lý bằng phần mềm EXCEL
2.3.3 Ph ương pháp minh hoạ bản đồ
Sử dụng phần mềm Microstation để xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Hậu Lộc và bản đồ quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã
2.3.4 Ph ương pháp lựa chọn phương án
Phương pháp dựa trên việc xây dựng và lựa chon phương án khả thi Trong
quá trình xây dựng định hướng quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã, dựa trên phương pháp này tiến hành xây dựng một số phương án thiết kế quy hoạch chi tiết căn cứ vào các chỉ số kỹ thuật và định hướng sử dụng đất của các công trình khu dân cư Trên cơ sở đó tiến hành đánh giá, phân tích và lựa chọn phương án hợp lý
và hiệu quả nhất
2.3.5 Ph ương pháp phân loại điểm dân cư nông thôn
2.3.5.1 Phân cấp một số chỉ tiêu phân loại điểm dân cư nông thôn
- Việc phân loại hệ thống điểm dân cư để thấy được đặc điểm, tính chất, quy
mô của từng điểm dân cư Từ đó xác định được vai trò và vị trí của các điểm dân cư
đó trong quá trình phát triển, sẽ là căn cứ để đưa ra những định hướng cho phát triển
hệ thống điểm dân cư trong tương lai một cách hợp lý
- Dựa trên các tài liệu:
+ Các tiêu chí của tiêu chuẩn Việt Nam số 4418 năm 1987 hướng dẫn lập đồ
án quy hoạch xây dựng huyện;
+ Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày
16/4/2009 của Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới